Chương
21
HỒ
SEN
Bọn
trẻ đi rồi, Bụt đứng dậy đi thiền hành. Người đi ra
phía bờ sông. Người vén cao chéo áo, lội qua sông. Qua sông,
Bụt theo con đường giữa hai ruộng lúa đi tới cái hồ sen
quen thuộc. Người dừng lại bên hồ.
Ngắm
những ngó sen, lá sen và hoa sen trong hồ. Bụt thấy vị trí
và hình dáng khác nhau của mỗi thứ. Bụt biết những củ
sen không bao giờ vượt ra khỏi bùn, Bụt biết có những cọng
sen còn đang nằm dưới mặt nước, có những lá sen còn cuốn
lại, một nửa ở dưới nước, một nửa ở trên không. Có
những bông sen đã trồi lên khỏi mặt nước nhưng búp còn
ngậm. Có những bông sen đang hé nở. Có những bông sen đã
nở lớn. Lại có những cái gương sen không còn mang theo cánh
sen nào. Có những bông sen màu trắng, có những bông sen màu
xanh, có những bông sen màu hồng. Quán sát hồ sen, Bụt thấy
con người cũng vậy. Mỗi người có một căn tính khác nhau.
Devadatta không giống Annda, Yasodhara không giống phu nhân Pamita
mẹ nàng, Sujata không giống Bala. Tính tình, đức độ, sự
thông minh và tài trí mỗi người một khác. Con đường giải
thoát mà Bụt đã tìm ra cần được diễn bày nhiều cách
để có thể thích ứng với mọi lớp người. Khi Bụt dạy
dỗ bọn trẻ con trong xóm, người đã tự nhiên tìm được
những phương tiện để diễn giải đạo lý cho chúng hiểu.
Những phương tiện này có thể được gọi là những cánh
cửa mở ra để con người đi vào và hiểu được giáo pháp:
có thể gọi đó là những pháp môn. Vậy pháp môn là kết
quả tự nhiên giữa sự tiếp xúc giữa Bụt và quần chúng,
chứ không phải là do sự sắp đặt đơn phương của Bụt
khi ngồi dưới cội bồ đề. Nghĩ như vậy, Bụt thấy rằng
đã đến lúc người cần trở lại với xã hội con người.
Trở lại để cho vành xe chánh pháp bắt đầu chuyển động
trên con đường gieo rắc những hạt giống của đạo giải
thoát. Bốn mươi chín ngày đã đi qua từ khi đạo tỉnh thức
đã được chứng đạt. Bụt quyết định trưa mai sẽ rời
tụ lạc Uruvela, tạm biệt khu rừng êm mát bên sông Neranjara,
tạm biệt cây bồ đề và bọn trẻ. Bụt định đi tìm hai
vị đạo sư của mình là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta. Bụt
tin rằng hai vị này nếu được Bụt chỉ bày sẽ có thể
đạt tới quả vị giác ngộ rất mau chóng. Bụt dự tính
sau khi giúp hai người này, Bụt sẽ đi tìm năm người bạn
đồng tu khổ hạnh để giúp họ, và sau đó người mới trỏ
về Vương Xá gặp quốc vương xứ Magadha.
Sáng
hôm sau, Bụt mặc áo ca sa mới, ôm bát và đi vào thôn Uruvela
khi trời còn mờ sương. Người tìm tới nhà Svastika. Bụt
báo tin cho chú bé biết là người sẽ rời khỏi Uruvela sáng
nay. Svastika thức các em dậy. Tất cả đều buồn rầu khi
nghe tin Bụt sắp đi. Bụt xoa đầu từng đứa để từ giã.
Svastika và mấy đứa em muốn đưa tiễn Bụt ra khỏi làng,
nhưng Bụt còn muốn từ giã Sujata, cùng với bọn trẻ, người
đi vào xóm. Khi Bụt đến nhà Sujata thì cô bé đã dậy. Nghe
tin Bụt sắp đi, Sujata khóc. Bụt nói:
- Ta
phải tạm xa các con để đi lo cho tròn trách vụ, nhưng ta
hứa là sẽ trở lại đây thăm các con mỗi khi có dịp thuận
lợi. Ta cám ơn các con. Các con nhớ sống và làm theo những
lời ta dặn, như thế là các con sẽ không bao giờ xa cách
ta. Sujata, con hãy lau nước mắt và cười lên đi.
Sujata
lấy chéo áo sari lau nước mắt và gượng cười để Bụt
vui lòng. Bọn trẻ đưa Bụt ra cổng làng.
Tới
bờ sông, vừa định chia tay với bọn trẻ thì Bụt trông
thấy một sa môn trẻ từ phía ruộng đi lên. Thấy Bụt, vị
sa môn này chắp tay chào rồi nhìn sững Bụt . Một lúc sau,
ông ta mới nói:
- Sa
môn, dáng điệu ngài trầm tĩnh lắm. Thần sắc ngài rạng
rỡ. Ngài tên là gì, và ai là vị đạo sư của ngài?
Bụt
trả lời:
- Tôi
tên là Siddhatta Gotama. Tôi đã học với nhiều thầy, nhưng
hiện tại thì không ai làm thầy của tôi cả, còn thầy, thầy
tên gì và đang đi đâu?
Vị
sa môn đáp:
- Tôi
là sa môn Upaka. Tôi mới từ đạo tràng của đạo sư Uddaka
Ramaputta tới.
- Đạo
sư Uddaka có mạnh giỏi không, thầy?
- Đạo
sư Uddaka mới tịch cách đây mấy hôm.
Nghe
nói đạo sư Uddaka đã tịch, Bụt thở dài. Như vậy là Bụt
không có dịp để giúp ông ta. Bụt hỏi thêm:
- Vậy
thì thầy đã có dịp thọ giáo với đạo sư Alara Kalama chưa?
Sa
môn Upaka nói:
- Tôi
cũng đã từng được học với đạo sư Alara Kalama. Đạo
sư cũng đã tịch rồi.
Như
vậy là hai vị thầy đầu mà Bụt từng theo học đã theo
nhau tịch. Bụt hỏi thêm:
- Vậy
thầy có biết sa môn Kondanna không?
Upaka
đáp ngay:
- Có,
tại đàng tràng cũ của đạo sư Uddaka, tôi có nghe nói rằng
sa môn Kondanna, cùng với bốn vị sa môn bạn hữu hiện đang
tu ở Isipatana, trong vườn Nai, gần thành Baranasi. Sa môn Gotama,
xin ngài cho phép tôi từ biệt. Tôi còn phải đi trọn ngày
hôm nay mới tới được nơi tôi muốn tới.
Bụt
chắp tay từ giã sa môn Upaka, rồi quay lại bọn trẻ. Người
nói:
- Các
con, bây giờ ta sẽ lên đường đi Baranasi. Ta sẽ đi tìm gặp
năm người bạn tu khổ hạnh của ta.Thôi nắng đã lên rồi,
các con về đi.
Nói
xong, Bụt chắp tay từ giã. Người đi dọc theo bờ sông đi
về hướng Bắc. Người biết rằng con đường này tuy dài
hơn, nhưng dễ đi hơn. Sông Neranjara đi lên hướng Bắc và
sẽ đổ vào sông Hằng. Gặp sông Hằng, người sẽ theo bờ
sông đi ngược về phương Tây. Chừng sáu ngày đường Bụt
sẽ tới làng Pataligrama. Tại đây người sẽ vượt ngang sông
Hằng. Bên kia sông là kinh đô Baranasi của vương quốc Kasi.
Bọn
trẻ chắp tay đứng nhìn Bụt cho đến khi người đi khuất.
Đứa nào cũng buồn hiu. Sujata lại khóc. Svastika cũng muốn
khóc, nhưng cậu bé cầm lại được. Các em mình còn đứng
đó, khóc sao cho tiện. Cuối cùng Svastika nói:
- Chị
Sujata, em chào chị. Em phải về đưa trâu đi ăn. Các em, ta
về nhà đi thôi. Bala, hôm nay em phải tắm cho thằng Rupak.
Đưa Bhima đây anh ẳm cho.
Trên
con đường bờ sông, bọn trẻ âm thầm đi về xóm cũ.
***
Thầy
Anada là một vị sa môn tính tình nhu hòa rất dễ mến. Người
thầy rất đẹp. Thầy có trí nhớ thật diệu kỳ, bất cứ
Bụt dạy điều gì, thầy đều ghi nhớ không sót một mảy.
Thầy đã nhắc lại mười một điều mà Bụt nói trong kinh
chăn trâu, theo thứ tự trước sau. Vị sa môn trẻ Svastika
nghĩ rằng tất cả những gì mà chú vừa thuật cho thầy nghe,
thầy đều đã ghi vào trong ký ức của thầy đầy đủ.
Trong
khi thuật lại giai đoạn Bụt còn ở trong rừng với bọn
trẻ, Svastika thường thỉnh thoảng ngước mặt nhìn ni sư
Gotami. Chú thấy hai mắt bà lóng lánh. Chú biết bà rất ưa
được nghe những chuyện này chú đã cố gắng thuật lại
với thật nhiều chi tiết. Bà rất vui khi nghe chú kể tới
những chuyện như chuyện bọn trẻ cũng ngồi im lặng ăn quít
với Bụt ở trong rừng.
Rahula
nghe Svastika kể chuyện cũng rất lấy làm thích thú, còn thầy
Assaji nữa. Thầy là người nghe im lặng nhất từ cả ngày
hôm qua cho đến ngày hôm nay. Chú biết thầy là một trong
năm vị sa môn từng tu khổ hạnh với Bụt tại Uruvela. Chú
rất muốn được thầy kể lại cuộc gặp gỡ giữa Bụt
và năm thầy sau sáu tháng xa cách, nhưng chú chưa dám. Vừa
lúc ấy thì ni trưởng Gotami lên tiếng:
- Chú
có muốn đại đức Assaji kể cho chú nghe về những gì đã
xảy ra cho Bụt từ khi Bụt rời khỏi Uruvela không? Đại đức
Assaji đã từng thân cận với Bụt trong suốt mười năm
nay, chính ta cũng chưa được nghe ai kể hết về những gì
đã xảy ta trong mười năm hành đạo của người. Thưa sa
môn Assaji, chúng tôi có thể thỉnh cầu đại đức kể lại
cho chúng tôi nghe về quãng đời đó của Bụt được không?
Thầy
Assaji chắp tay đáp lễ:
- Xin
ni sư cứ gọi tôi bằng thầy, vừa đơn giản vừa thân mật.
Vâng hôm nay chúng ta nghe chú Svastika kể cũng đã nhiều rồi,
và cũng lại gần đến giờ thiền tọa buổi tối. Vậy chiều
mai xin mời ni sư, đại đức Ananda và hai chú sang liêu xá
tôi. Nhớ gì, tôi sẽ xin tường thuật lại hết cho quý vị
nghe.
Chương
22
CHUYỂN
PHÁP LUÂN KINH
Hồi
đó sa môn Assaji vẫn còn tu theo lối khổ hạnh tại vườn
Nai ở Isipatana. Một hôm, sau giờ thiền tọa, thầy Assaji
trông thấy thấp thoáng bóng một vị sa môn đang từ ngoài
xa đi đến. Nhìn kỹ, ông biết đó là Siddhatta. Ông vội báo
cho các bạn cùng biết. Thầy Bhaddiya nói:
- Siddhatta
hồi đó đang tu khổ hạnh với chúng ta thì nửa chừng bỏ
cuộc. Ông ta ăn cơm, uống sữa, vào ra thôn lạc và làm quen
với bọn trẻ trong xóm. Sa môn Siddhatta đã làm cho chúng ta
thất vọng. Vậy nếu ông ấy có tới thăm chúng ta thì chúng
ta cũng không nên đón tiếp nồng hậu làm gì.
Cả
năm người đồng ý là sẽ không ra tận ngõ để đón tiếp
mà cũng không cần đứng dậy khi Siddhatta bước vào.
Nhưng
sự tình đã xảy ra khác hẳn. Thấy Siddhatta bước vào tới
cổng, không ai bảo ai, cả năm người đều tức khắc đứng
dây. Sa môn Siddhatta có phong độ thật uy nghi. Người ông như
tỏa chiếu hào quang. Mỗi bước chân của ông như nói lên
được sức mạnh của tâm linh ông và cái nhìn của ông như
lấy đi hết tất cả mọi ý niệm kháng cự có thể có trong
năm người sa môn đã cùng tu chung với ông thuở trước. Sa
môn Kondanna chạy tới trước. Ông đỡ lấy bình bát trên
tay Siddhatta. Sa môn Mahanama chạy đi múc nước cho Siddhatta rửa
tay và rửa chân. Sa môn Bhaddiya kê một chiếc ghế mời Siddhatta
ngồi. Sa môn Vappa đi tìm một quạt bằng lá cây thốt nốt
để quạt cho Siddhatta. Assaji thì đứng ngớ ngẩn một bên,
chẳng biết làm gì.
Sau
khi Siddhatta đã rửa tay, rửa mặt, rửa chân và ngồi xuống,
Assaji mới biết đi tìm rót một bát nước lạnh đem
tới cho Siddhatta giải khát. Rồi năm người bạn cũ cùng ngồi
quanh Siddhatta. Siddhatta đưa mắt nhìn các bạn, rồi nói:
- Này
quý vị, tôi đã tìm ra đạo giải thoát rồi, và tôi sẽ
chỉ dạy lại cho quý vị.
Nghe
nói như thế, sa môn Assaji nửa tin nửa ngờ. Có lẽ bốn người
kia cũng có cảm tưởng như ông. Mọi người im lặng hồi
lâu. Bỗng Kondanna lên tiếng:
- Sa
môn Gotama! Hồi trước trong thời gian tu với chúng tôi, bạn
đã nửa chừng bỏ cuộc, bạn đã ăn cơm, uống sữa và giao
thiệp với người lớn và trẻ con trong xóm. Làm sao bạn có
thể tìm được đạo giải thoát. Làm sao bạn có thể chỉ
dạy cho chúng tôi về đạo giải thoát?
Siddhatta
nhìn vào mắt sa môn Kondanna, ông hỏi:
- Sa
môn Kondanna, bạn đã quen biết tôi từ gần sáu năm nay. Trong
thời gian ấy tôi đã từng nói dối bạn một lần nào chưa?
Kondanna
giật mình. Ông thẳng thắn nói:
- Sa
môn Gotama nói đúng, Tôi chưa bao giờ từng nghe sa môn nói
một điều không phù hợp với sự thực.
- Vậy
các bạn hãy nghe đây. Tôi đã tìm ra được Đạo Lớn rồi
và tôi sẽ chỉ dạy cho các bạn. Các bạn là những vị sa
môn đầu tiên trên đời được nghe giáo pháp mầu nhiệm
mà tôi đã tìm ra. Giáo pháp này không phải là kết quả của
suy luận. Giáo pháp này là hoa trái của thực chứng. Các vị
hãy đem hết nhận thức thanh tịnh mà nghiêm chỉnh lắng nghe.
Giọng
nói của Bụt mang uy lực tâm linh rất lớn khiến năm người
đều tự động đổi thế ngồi, nghiêm chỉnh hướng về
người. Họ chắp tay lại. Kondanna thành kính nói:
- Xin
sa môn Gotama đem hết lòng xót thương mà dạy cho chúng tôi.
Bụt
nghiêm trang mở lời:
- Này
các vị sa môn, có hai thái cực mà người tu đạo nên tránh:
một là lao mình vào khoái lạc nhục thể, hai là hành hạ
thân xác cho hao mòn. Cà hai con đường đều đưa tới sự
phá sản của thân tâm. Con đường mà tôi đã tìm ra là con
đường trung đạo tránh được hai thái cực ấy và có thể
đem đến trí tuệ, giải thoát và an lạc. Con đường đó
là con đường Bát chánh: nhận thức chân chính, tư duy chân
chính, ngôn ngữ chân chính, hành động chân chính, sinh kế
chân chính, chuyên cần chân chính, niệm lực chân chính và
định lực chân chính. Tôi đã theo con đường bát chánh đó
và đã thực hiện được trí tuệ, giải thoát và an lạc.
Này
các vị, sao gọi là chánh đạo? Sở dĩ gọi là chánh đạo
vì con đường này không phải là con đường trốn tránh đau
khổ mà là con đường đối diện trực tiếp khổ đau để
diệt trừ khổ đau. Con đường bát chánh này là con đường
của sự sống tỉnh thức, vì vậy chánh niệm là khởi điểm.
Có chánh niệm thì sẽ có chánh định, nghĩa là định lực
có tác dụng đưa tới trí tuệ. Nhờ có niệm lực và định
lực chân chính thì nhận thức, tư duy, ngôn từ, hành động,
sinh kế và sự chuyên cần cũng sẽ đi vào chánh đạo. Trí
tuệ được phát sinh sẽ giải thoát được cho người hành
giả tất cả mọi ràng buộc khổ đau và làm phát sinh nơi
người hành gia nguồn an lạc chân chính.
Này
các vị, có bốn sự thật mà người tu phải công nhận: sự
có mặt của những nguyên nhân của các khổ đau ấy, sự
chấm dứt khổ đau và con đường đi tới sự chấm dứt khổ
đau. Bốn sự thật ấy là bốn sự thật mầu nhiệm, gọi
là tứ diệu đế. Này các vị sa môn, đây là sự thật thứ
nhất: Khổ đau, sinh, già, bệnh và chết là khổ; buồn, giận
ghen, tức, lo lắng, sợ hãi và thất vọng là khổ; chia cách
người thân yêu là khổ, chung đụng với người ghét bỏ
là khổ, tham đắm và kẹt vào năm uẩn là khổ.
Này
các vị sa môn, đây là sự thật thứ hai: nguyên nhân của
khổ đau. Vì u muội, vì không thấy và không hiểu được
sự thật về bản thân và về cuộc đời cho nên con người
bị những ngọn lửa của tham đắm, giận hờn, ghen tức,
sầu não, lo lắng sợ hãi và thất vọng đêm ngày đốt cháy
và hành hạ.
Này
các vị sa môn, đây là sự thật thứ ba: sự chấm dứt khổ
đau. Đó là trí tuệ, là hiểu biết, là nhận thức được
sự thật về bản thân và về cuộc đời. Trí tuệ này, cái
thấy này đưa lại sự chấm dứt của mọi sầu đau và làm
phát sinh niềm an lạc.
Này
các vị sa môn, đây là sự thật thứ tư: con đường diệt
khổ. Đó là con đường Bát chánh mà tôi đã trình bày. Bản
chất của Bát chánh đạo được nuôi dưỡng bằng nếp sống
tỉnh thức hàng ngày, đó tức là chánh niệm. Chánh niệm
đưa tới Định và Tuệ, có năng lực giải thoát con người
khỏi mọi niềm đau và đem lại mọi an vui. Tôi sẽ hướng
dẫn cho các vị từng bước trên con đường thực hiện này.
Trong
khi Siddhatta giảng giải về bốn sự thật mầu nhiệm, sa môn
Kondanna bỗng thấy tâm mình bừng sáng. Ông thấy được lập
tức con đường giải thoát thật sự mà lâu nay ông tìm kiếm.
Nét mặt ông rạng rỡ. Thấy thế, Bụt chỉ vào ông và nói
lớn:
- Sa
môn Kondanna! Bạn đã hiểu! Bạn đã hiểu!
Kondanna
chắp tay quỳ xuống bên ghế ngồi của Bụt. Ông thành kính
nói:
- Sa
môn Gotama, xin thầy hãy nhận Kondanna này làm học trò của
thầy. Kondanna biết rằng dưới sự chỉ dạy của thầy, Kondanna
sẽ thành đạt nguyện lớn.
Bốn
vị sa môn kia thấy vậy cũng quỳ xuống cả dưới chân Bụt
và chắp tay cầu xin Bụt nhận họ làm đệ tử. Bụt đỡ
cả năm người dậy. Người bảo họ ngồi lên ghế. Người
cũng ngồi xuống chỗ ngồi cũ của mình. Bụt nói:
- Này
quý vị! Bọn trẻ trong làng Uruvela đã đặt tên cho tôi là
Bụt. Có lẽ quý vị cũng có thể dùng danh từ ấy để gọi
tôi.
Kondanna
hỏi lại:
- Bọn
con nít gọi sa môn Gotama là Bụt? Bụt có nghĩa là “người
tỉnh thức"?
- Đúng
như vậy, và chúng gọi con đường mà tôi tìm ra là “đạo
tỉnh thức". Các thầy nghe có được không?
- Người
tỉnh thức! Đạo tỉnh thức! Hay lắm! Hay lắm! Danh xưng vừa
chính xác, vừa đơn giản và thân mật. Chúng con xin từ nay
gọi thầy là Bụt và nền đạo lý mà thầy tìm ra là đạo
Bụt. Đạo tỉnh thức. Đúng lắm, bởi vì nếp sống tỉnh
thức hàng ngày, như thầy nói, là căn bản cho sự tu hành.
Năm
người đã đồng ý tôn sa môn Gotama làm thầy, bây giờ đều
đồng ý gọi sa môn là Bụt.
Bụt
mỉm cười nhìn họ:
- Xin
các vị tinh tiến tu hành. Con đường đã tìm ra được. Nếu
quý vị thực tập nghiêm chỉnh thì chỉ trong vòng ba tháng
quý vị sẽ đạt tới quả vị giải thoát.
Bụt
ở lại Isipatana một thời gian để dạy dỗ cho năm vị sa
môn. Họ vâng lời Bụt chấm dứt lối tu khổ hạnh. Mỗi
ngày ba vị luân phiên cầm bát đi khất thực trong xóm. Trưa
về, ba người san sẽ thức ăn xin được cho ba người ở
lại, trong đó có Bụt. Bụt ở lại để hướng dẫn sự
tu học cho mọi người. Năm vị tu học rất tinh tiến và ngày
nào cũng đạt được nhiều tiến bộ.
Bụt
dạy cho họ về tự tính vô thường và vô ngã của vạn vật.
Người phân tích cho họ thấy năm uẩn đều như những dòng
sông luôn luôn trôi chảy và biến đổi, trong đó không có
một cái gì có thể gọi là đồng nhất và bất biến. Năm
uẩn tức là thân thể (sắc), cảm giác (thọ), tri giác (tưởng),
tâm hành (hành) và nhận thức (thức).
Bụt
dạy họ quán sát sự trôi chảy của năm dòng sông ấy trong
tự thân của mỗi người để có thể thấy được tính vô
thường và vô ngã của chúng và của vạn hữu, và cũng để
thấy những liên hệ mật thiết và mầu nhiệm giữa vũ trụ
và bản thân mình.
Nhờ
sự tu học tinh chuyên, năm vị dần dần đạt được cái
thấy mầu nhiệm. Người đầu tiên chứng ngộ là Kondanna.
Rồi hai tháng sau là đến phiên Vappa và Bhaddhiya. Cuối cùng
Mahanam và Assaji cũng đạt tới quả vị A la hán.
Bụt
rất vui mừng. Ngưòi nói:
- Chúng
ta đã có đoàn thể xứng đáng với tên gọi sangha, đoàn
thể của những người biết sống cuộc đời tỉnh thức,
rồi đây quý vị sẽ phải cùng với tôi đem những hạt giống
của đạo tỉnh thức gieo rắc khắp mọi nơi.
Chương
23
NHỮNG
GIỌT NƯỚC CAM LỘ
Bụt
hay dậy sớm, và sau khi ngồi thiền, người ưa đi thiền hành
ngoài trời giữa những hàng cây. Một hôm đang đi thiền hành
ngoài trời, Bụt thất một người đi tới. Lúc ấy nắng
chưa lên và trong sương mù hình dáng của cây cối và của
người khách lạ kia không được tỏ rỏ lắm. Bụt ngồi
xuống một tảng đá gần đó. Người khách lạ đã đến
gần. Nười này chưa thấy Bụt nhưng Bụt đã thấy ông ta.
Đó là một chàng thanh niên chừng ba mươi tuổi, dáng điệu
thanh tú, chàng thanh niên vừa đi vừa lẩm bẩm cái gì trong
miệng, khi anh ta tới gần. Bụt nghe anh ta lẩm bẩm: “Thật
là đáng sợ, thật là ghê tởm”. Chàng thanh niên vẫn chưa
thấy Bụt.
Bụt
lên tiếng:
- Không
có gì đáng sợ, không có gì ghê tởm.
GIọng
Bụt vọng lên rành mạch và ôn tồn trong không khí mát lạnh
của buổi mai. Chàng thanh niên giật mình nhìn sang. Anh ta thấy
Bụt ngồi thảnh thơi trên một tảng đá, phong thái thật
ung dung và trầm tĩnh. Anh tuốt bỏ đôi dép, tiến tới trước
Bụt và lạy xuống, rồi anh ngồi xuống trên một hòn đá
thấp bên cạnh Bụt, Bụt hỏi:
- Cái
gì mà đáng sợ? Cái gì mà ghê tởm?
Chàng
thanh niên bắt đầu kể chuyện mình. Anh ta tên là Yasa, con
của một thương gia giàu có vào bậc nhất nhì ở thành phố
Baranasi. Yasa sống một cuốc sống giàu sang tột bực. Cha mẹ
anh cưng chiều anh và cung cấp cho anh đủ hết phương tiện
để sống trong các thú vui của người giàu có: nhà cao, cửa
rộng, châu báu, tiền bạc, rượu mạnh, kỹ nữ, tiệc tùng,
cuộc vui ... Yasa là một người con trai biết suy nghĩ. Những
năm gần đây, anh bắt đầu thấy lợm vì cái nếp sống trác
táng đó. Anh ta không còn cảm thấy lạc thú gì trong cuộc
sống ấy.
Anh
ta khao khát một đời sống lành mạnh, giống như một người
bị nhốt lâu trong một căn phòng kín mít khao khát khí trời.
Cả đêm hôm qua, bạn bè anh ta quy tụ để ăn uống, đàn
địch và nô đùa với bọn vũ nữ. Thức dậy lúc nửa đêm
Yasa nhìn thấy cảnh tượng cac vũ nữ nằm ngã nghiêng, phơi
bày những chân tướng không đẹp đẽ gì của họ, chàng
cảm thấy không thể nào còn tiếp tục được cuộc sống
trác táng này. Chàng khoác lên người một cái áo, luồn chân
vào một đôi dép và mở cửa đi ra khỏi nhà. Chàng đi ra
cổng trước. Mở cửa cổng trước, chàng đi mà không biết
mình đi đâu. Chàng cứ thế mà đi trong đêm khuya, và tình
cờ Yasa đi về hướng vườn Lộc Uyển. Tới đây thì trời
vừa sáng và Yasa gặp Bụt.
Bụt
dạy:
- Yasa
cuộc đời đầy dẫy những khổ đau mà cũng đầy dẫy những
hiện tượng tượng mầu nhiệm. Đắm mình trong dục lạc,
điều đó chỉ có thể tàn phá sức khỏe của hình hài cũng
như của tâm hồn, và lại tạo thêm khổ đau cho ta. Nếu biết
sống một cuộc đời lành mạnh, không bị vật dục lôi cuốn,
ta có thể tiếp xúc với biết bao cảnh tượng mầu nhiệm
trong cuộc đời. Yasa, con hãy nhìn những thân cây đứng trong
sương mù này. Đó là những hình ảnh vừa đẹp đẽ vừa
mầu nhiệm. Trăng, sao, sông, núi, ánh sáng mặt trời, tiếng
chim hót, tiếng suối reo ... tất cả những biểu hiện đó
của vũ trụ đều mầu nhiệm, đều đẹp đẽ, đều có thể
cho ta những nguồn vui bất tận.
Những
niềm vui này không phá hại sức khỏe của thân thể và của
tâm hồn, trái lại còn nuôi dưỡng được cho thân thể và
tâm hồn. Chính thân thể và tâm hồn con cũng là những hiện
tượng mầu nhiệm, con thử nhắm mắt lại, thở ra thở vào
vài ba hơi, rồi mở mắt ra xem. Con thấy không? Hai mắt của
con có thể nhìn thấy cây, thấy sương, thấy trời, thấy
tia nắng ấm; hai mắt của con thật mầu nhiệm, vì không tiếp
xúc được với hiện hữu mầu nhiệm nên đã có lúc con chán
ghét ngay cả thân thể con và tâm hồn con. Có người chán
ghét thân thể họ, tâm hồn họ và chán ghét luôn cả cuộc
đời cho nên đã đi tự tử. Họ không biết rằng vạn hữu
cũng là mầu nhiệm. Họ chỉ thấy được mặt khổ đau của
vạn hữu, nhưng khổ đau không phải là bản chất của vạn
hữu. Khổ đau là do thái độ sống và do cách nhìn sai lạc
của con người mà có ...
Yasa
là một chàng trai rất thông minh, những lời của Bụt như
những giọt nước mát tưới vào tâm hồn khô cạn của chàng.
Rất sung sướng, chàng quỳ xuống dưới chân Bụt và xin được
làm học trò xuất gia của Bụt.
Bụt
đỡ Yasa lên. Ngưòi nói:
- Người
xuất gia sống một cuộc đời thanh bạch và khiêm cung, không
nắm giữ tiền bạc, ngủ trong am lá hoặc dưới gốc cây,
ăn bất cứ thức ăn nào xin được và mỗi ngày chỉ ăn một
bữa. Con có thể sống như vậy được không?
- Lạy
thầy, con có thể sống như vậy được.
Bụt
nói:
- Người
xuất gia tu học cần phai đem hết tâm tư và nghị lực để
hoàn thành sự nghiệp giải thoát của mình, để có thể giúp
đời và giúp người, làm vơi bớt những khổ đau trong sự
sống, con có phát nguyện đi theo con đường ấy không?
- Lạy
thầy, con xin phát nguyện đi theo con đường mà thầy chỉ
dạy.
- Vậy
ta sẽ cho con xuất gia. Người xuất gia tu học trong giáo đoàn
ta sẽ được gọi là bikkhu, nghĩa là người khất sĩ. Mỗi
ngày đi xin thực phẩm là để tự nuôi sống mình, để tập
đức khiêm cung, và cũng để có cơ hội tiếp xúc với con
người mà hướng dẫn họ trên con đường đạo hạnh.
Vừa
lúc ấy năm vị sa môn khất sĩ học trò của Bụt cũng ra
tới. Yasa đứng dậy cung kính chào mọi người. Bụt giới
thiệu năm thầy với Yasa, rồi hướng về thầy Kondanna, Bụt
nói:
- Thầy
Kondanna, đây là Yasa, một người trẻ tuổi có chí nguyện
xuất gia. Tôi đã ưng thuận, vậy cúi xin thầy chỉ dạy cho
Yasa về cách mang y, ôm bát, đi khất thực, điều phục hơi
thở, ngồi thiền và đi kinh hành. Yasa, con đi theo thầy Kondanna
đi.
Yasa
cúi chào Bụt. Thầy Kondanna đưa chàng vào tịnh xá, xuống
tóc cho chàng. Thầy trao cho Yasa một cái y và một cái bát
và dạy cho chàng cách mang y và cầm bát. Y bát này đã được
cúng dường cho thầy từ lâu, nhưng vì có sẵn y bát cũ, thầy
chưa bao giờ dùng tới.
Chiều
hôm ấy, vị trưởng giả thân sinh của Yasa tìm tới vườn
Lộc Uyển. Cha của chàng cho người đi lùng chàng khắp nơi.
Có một gia nhân theo vết dép của Yasa và tìm tới được
vườn Lộc Uyển. Anh ta thấy được đôi dép bằng vàng của
tiểu chủ nằm bên một chiếc ghế đá. Vào hỏi thăm, anh
ta biết là tiểu chủ của mình đang có mặt tại đây. Anh
vội vã về báo tin.
Ông
thân sinh của Yasa tìm tới vườn Lộc Uyển và được gặp
Bụt đang ngồi trên tảng đá. Ông ta đến làm lễ người
rồi chắp tay hỏi:
- Bạch
sa môn, ngài có thấy Yasa con của con không?
Bụt
chỉ chiếc ghế đá bên cạnh người:
- Mời
ông ngồi xuống đây. Yasa đang ở trong tịnh xá. Nó sẽ ra
đây bây giờ.
Ông
thân sinh của Yasa ngồi xuống, Bụt kể cho ông ta nghe về
những gì đã xảy ra sáng nay. Bụt cũng nói cho ông ta nghe
về tâm sự của Yasa và những khao khát của chàng. Người
kết luận:
- Yasa
là một người con trai thông minh và có chí khí. Nó đã tìm
ra được nẻo thoát cho tâm hồn nó, và hiện tại đã có
niềm tin và sự an lạc. Xin ông mừng cho nó.
Tiếp
theo, Bụt dạy cho ông ta về cách sống tỉnh thức để tránh
bớt những khổ đau và phiền muộn, và cũng là để tạo
sự an lạc cho mình và cho những người chung quanh. Nghe Bụt
nói, tâm của ông càng lúc càng như sáng ra. Ông đứng dậy
chắp tay cầu Bụt cho ông ta làm học tại gia của người.
Bụt lặng yên. Một lát sau, người nói:
- Học
trò của tôi là những người biết sống đơn giản, tỉnh
thức, biết tránh sự giết hại sinh vật, biết tôn trọng
tư hữu của kẻ khác, biết tránh việc tà dâm, biết nói
lời chân thật và tránh việc rượu chè say sưa. Này trưởng
giả, nếu ông thấy ông có thể theo được con đường đó
thì tôi chấp nhận ông là học trò tại gia của tôi.
Ông
thân sinh của Yasa quỳ xuống trước mặt Bụt. Ông chắp tay
thành kính nói:
- Con
xin nương tựa nơi thầy, xin thầy chỉ đường đưa lối cho
con trong cuộc đời này. Con xin nguyện làm đệ tử tại gia
của thầy cho đến này con nhắm mắt lìa bỏ cuộc đời.
Bụt
đỡ vị trưởng dậy. Khi đứng lên, vị trưởng giả trông
thấy Yasa đứng hầu sau lưng Bụt. Yasa trong y phục của một
người xuất gia, râu tóc cạo sạch. Vị khất sĩ mới chắp
tay lại thành búp sen, cung kính chào cha, và miệng chàng mỉm
cười. Thần sắc Yasa tỉnh táo và sáng rỡ. Vị trưởng giả
chưa bao giờ thấy con mình tươi vui và hạnh phúc như thế.
Ông chắp tay lại đáp lễ, rồi ông nói:
- Mẹ
của con đang sầu đau và lo lắng ở nhà.
Yasa
đáp:
- Con
sẽ về thăm mẹ con, nhưng con đã phát nguyện theo Bụt sống
đời giải thoát và phục vụ chúng sanh.
Vị
trưởng giả hướng về Bụt:
- Lạy
Bụt, con xin thỉnh ngài và các vị khất sĩ đệ tử xuất
gia của ngài trưa mai đến thọ trai tại nhà con. Xin để cho
người đệ tử mới của ngài đi theo làm thị giả cho ngài.
Chúng con sẽ rất sung sướng được cúng dường một bữa
cơm cho các vị khất sĩ tại nhà và cũng sẽ rất sung sướng
được nghe lời giáo huấn quý báu của ngài về đạo giải
thoát.
Bụt
quay lại nhìn Yasa. Hai mắt của người khất sĩ mới tu lấp
lánh. Bụt gật đầu chấp thuận lời thỉnh cầu của trưởng
giả.
Sáng
hôm sau, Bụt cùng sáu vị khất sĩ đến thọ trai tại nhà
ông trưởng giả. Mẹ của Yasa thấy con mừng rơi nước mắt.
Bụt và sáu vị đệ tử xuất gia được mời ngồi trên những
chiếc ghế có trải tọa cụ. Mẹ của Yasa tự tay dâng cúng
thực phẩm vào bát của Bụt và vào bát của sáu vị khất
sĩ. Bữa cơm diễn ra trong yên lặng. Cha mẹ của Yasa và các
người hầu cận kính cẩn đứng hầu, không ai dám nói với
ai một lời nào. Bữa cơm kết thúc. Sau khi bát đã được
rửa, nước uống đã được dâng lên, vợ chồng ông trưởng
giả chắp tay làm lễ Bụt và ngồi xuống trên những chiếc
ghế thấp phía trước mặt người. Bụt bắt đầu giảng
cho họ nghe về nội dung của năm giới. căn bản tu học của
người đệ tử tại gia. Bụt nói:
- Người
học theo con đường tỉnh thức thì phải biết vun bồi sự
hiểu biết (Trí) và tình thương yêu (Bi) của mình. Năm giới
tức là cách thức sống để thực hiện từ bi và trí tuệ.
Giới
thứ nhất là tránh việc tàn hại sinh mạng. Chúng sinh loài
nào cũng tham sống sợ chết, vì vậy nếu ta thực sự học
theo đạo hiểu biết và thương yêu thì ta phải giữ giới
không sát sanh. Không những ta không được sát hại con người
mà ta còn cố gắng đến mức tối đa để tránh sự sát hại
các loài cầm thú. Giữ giới này là một cách nuôi dưỡng
từ bi và trí tuệ rất hiệu quả.
Giới
thứ hai là không gian lận trộm cắp. Ta không có quyền xâm
phạm vào tư hữu của kẻ khác, và không làm giàu bằng cách
lợi dụng sự khờ dại và bóc lột sức lao động của kẻ
khác, trái lại ta phải biết tìm cách giúp đỡ những kẻ
khốn khổ những phương tiện để họ có thể tự lực mưu
sinh.
Giới
thứ ba là không tà dâm, nghĩa là không xâm phạm đến tiết
hạnh của những người khác và hết lòng trung thực với
người vợ hoặc người chồng của mình.
Giới
thứ tư là không nói dối, nghĩa là không nói những lời trái
với sự thật, không xuyên tạc, chửi rủa, không dùng lời
nói để gây thù hận và loan truyền những tin mà mình không
chắc là có thực.
Giới
thứ năm là không say sưa, không dùng những chất ma túy
và kích thích như thuốc phiện và rượu.
Nếu
ta sống theo được tinh thần của năm giới này, ta sẽ tránh
được cho bản thân, gia đình ta và bạn bè ta mọi đau khổ
và đổ vỡ. Ta sẽ thấy đời ta tươi sáng và hữu ích lên
gấp trăm lần.
Trong
khi Bụt nói, bà mẹ của vị khất sĩ trẻ Yasa rất sung sướng.
Bà thấy được cánh cửa hạnh phúc mở rộng trước mặt
bà. Bà biết chồng mình đã được Bụt chấp nhận là đệ
tử tại gia của người, và điều đó làm bà hân hoan vô
hạn. Bà quỳ xuống chắp tay lại và cầu xin Bụt cho bà làm
đệ tử tại gia.
Sau
đó, Bụt và sáu vị khất sĩ trở về vườn Lộc Uyển.
Chương
24
HÃY
ĐI NHƯ NHỮNG CON NGƯỜI TỰ DO
Tin
Yasa đi xuất gia bắt đầu được loan truyền trong giới bạn
hữu của chàng. Bốn người bạn thân nhất của Yasa là Vimala,
Subahu, Punnaji và Gavampati, một hôm rủ nhau tìm tới vườn
Lộc Uyển. Trên đường đi, Subahu nói:
- Nếu
Yasa chịu đi tu, thì ông thầy của Yasa phải là một người
rất giỏi và giáo pháp của ông ta phải là một giáo pháp
thâm diệu. Tôi biết Yasa ít phục ai lắm.
Vimala
trả lời:
- Không
chắc như thế, có thể là Yasa bốc đồng đi tu một thời
gian mà thôi. Sáu tháng hay một năm sau anh chàng hoàn tục cũng
chưa biết chừng.
Gavampati
nói:
- Anh
Vimalla coi thường Yasa quá. Tôi thấy tánh Yasa trầm lặng và
anh ta thường suy nghĩ chín chắn lắm.
Bốn
người vào gặp Yasa. Yasa đem các bạn mình tới giới thiệu
với Bụt. Yasa bạch:
- Lạy
Bụt, bốn người bạn này của con đều là những người
tốt. Xin Bụt đem lòng thương mở mắt cho họ thấy được
con đường giải thoát.
Bụt
ngồi nói chuyện với bọn trẻ. Vimala ban đầu còn có vẻ
hồ nghi nhưng càng nghe Bụt nó chàng càng thấy thấm. Cuối
cùng Vimala đề nghị với các bạn xin Bụt cho cả bốn chàng
xuất gia theo Yasa.
Bốn
chàng trai trẻ quỳ xuống chắp tay cầu Bụt để được xuất
gia. Thấy cả bốn người đều nhiệt thành và thiết tha,
Bụt ưng thuận. Người giao cả bốn chàng cho khất sĩ Kondanna
dạy dỗ.
Bạn
bè cũ của vị khất sĩ Yasa đông có tới hàng trăm người.
Tin Yasa và bốn người bạn thân đi tu chẳng mấy chốc mà
đã được truyền ra khắp chốn. Hơn một trăm hai chục người
đã tập họp về nhà của Yasa và cùng rủ nhau đến vườn
Lộc Uyển để thăm hỏi. Họ đều là những người trai trẻ,
tuổi từ hai mươi tới ba mươi. Đó là vào một buổi sáng
đẹp trời. Nghe tin họ đến thăm, khất sĩ Yasa ra đón họ
tận ngoài cổng. Thầy thuật cho họ trường hợp đi xuất
gia của mình và nói với họ về Bụt. Cuối cùng, thầy đưa
tất cả một trăm hai mươi người bạn vào yết kiến người.
Một
trăm hai mươi người trẻ vây quanh, Bụt bắt đầu nói chuyện
về con đường thánh, có khả năng đưa tới sự diệt khổ
và đem lại an lạc. Người kể sơ lược về thân thế và
hành trình tìm đạo của người, và nói đến chí nguyện
cứu người giúp đời của tuổi trẻ. Một trăm hai mươi
người trai trẻ ngồi nghe Bụt một cách say mê. Cuối cùng,
năm mươi người trong đám đông đó xin phép được ở lại
xuất gia tu đạo.
Trong
số bảy mươi chàng thanh niên còn lại, có nhiều người cũng
muốn xuất gia, nhưng họ còn kẹt bổn phận gia đình; người
thì có cha, người thì có mẹ, người thì có vợ và con.
Yasa
thỉnh Bụt chấp nhận lời thỉnh cầu của năm mươi người
bạn. Bụt bằng lòng, rất sung sướng, Yasa bạch với thầy:
- Ngày
mai, con xin Bụt cho cho con được về nhà con để khất thực.
Con sẽ có dịp nói chuyện với song thân con về việc cúng
dường y mới và bát mới cho những vị tân khất sĩ.
Tại
vườn Lộc Uyển, từ hôm đó ngoài Bụt đã có cả thảy
sáu mươi vị khất sĩ. Bụt ở lại vườn Lộc Uyển thêm
ba tháng nữa để dạy dỗ và hướng dẫn đại chúng xuất
gia. Trong thời gian ấy hàng trăm vị cư sĩ đã đến vườn
Nai để xin Bụt chấp nhận cho làm đệ tử cư sĩ.
Bụt
dạy các vị khất sĩ về phép quán niệm hơi thở, quán niệm
về thân thể, về cảm giác, về tri giác, về tâm ý và về
đối tượng của tâm ý. Người cũng dạy phương pháp quán
chiếu tự tính duyên khởi của vạn hữu trong thế giới
hiện tượng. Phép duyên khởi là một phép quán rất quan trọng
trong công trình tu tập. Vạn vật nương vào nhau để phát
hiện, tồn tại rồi ẩn diệt; chính vì nương vào nhau nên
mọi vật mới có thể có mặt và vì vậy trong cái một, có
cái tất cả, và cái tất cả cũng không thể có mặt nếu
cái một không có mặt. Phép quán duyên khởi này là cánh cửa,
do đó người tu thoát được ra khỏi sinh tử. Phép quán duyên
khởi cũng có công năng phá trừ những định kiến lâu đời
như định kiến vũ trụ đã được một nguyên do đầu tiên
sinh khởi, dù nguyên do đó là một vị thần linh hay là một
chất liệu làm căn bản cho hiện hữu như đất, nước, lửa
hay là không khí.
Với
tình thương, với ý thức trách nhiệm của một bậc thầy,
cũng như của một anh cả, Bụt chăm sóc và dạy dỗ sáu mươi
vị khất sĩ một cách tận tình. Người lại giao phó cho năm
người đệ tử đầu trách nhiệm dìu dắt các vị khất sĩ
mới học. Kondanna dìu dắt hai mươi vị. Bốn người khác,
Bhaddiya, Vappa, Mahana và Assaji, mỗi người dìu dắt mười vị.
Đại chúng bước những bước rất vững và mạnh trên con
đường tu học.
Khi
thấy phần lớn các vị khất sĩ dưới sự hướng dẫn của
mình đã có được bản chất và tư cách của những người
hành đạo, Bụt tập hợp đại chúng và nói:
- Các
vị khất sĩ, xin hãy nghe tôi nói. Chúng ta là những con người
tự do, không vướng bận và không bị ràng buộc vào bất
cứ một cái gì. Qúy vị đã biết đường đi. Quý vị hãy
tinh tiến dũng mãnh bước trên con đường ấy. Quý vị có
thể rời khuôn viên Lộc Uyển. Hãy đi như những con người
tự do để mang ánh sáng của đạo tỉnh thức đến tận những
chốn hang hố thẳm. Đi để gieo rắc hạt giống giải thoát
và giác ngộ. Đi để đem an lạc đến cho con người. Quý
vị hãy dạy đạo lý giải thoát, nền đạo lý đẹp đẽ
từ đầu đến cuối, từ hình thức cho đến nội dung. Nhân
gian sẽ thừa hưởng được công trình hoằng pháp của quý
vị, còn tôi, tôi cũng sẽ lên đường. Trong ít lâu nữa,
tôi sẽ đi về phương Đông. Tôi muốn về thăm cội bồ đề
và các em bé ở thôn Uruvela, và sau đó tôi sẽ về thăm một
người bạn tri kỷ ở Rajagaha.
Các
vị khất sĩ nghe theo lời Bụt dạy. Một số lớn khoác y
và mang bát lên đường hành hóa. Chỉ còn mươi thầy ở lại
vườn Lộc Uyển với Bụt.
Nhưng
từ mấy tháng nay, tại hai vương quốc Kasi và Magadha, nhiều
người đã nghe nói tới Bụt và các đệ tử của người.
Họ nghe nói có một vị hoàng tử dòng họ Sakya đi tu đã
thành đạo và đang giảng dạy tại vườn Lộc Uyển gần
thành Baranasi. Nghe tin này nhiều vị sa môn từng tu tập lâu
ngày mà chưa đạt ngộ được gì rất lấy làm phấn khởi.
Từ nhiều địa phương khác nhau họ tìm về Isipatana. Nhìều
người đã sung sướng được nghe Bụt thuyết pháp và đã
phát nguyện sống đời xuất gia dưới sự chỉ dạy của
người. Các vị khất sĩ học trò của Bụt đi hoằng hóa
mọi nơi cũng đã bắt đầu đưa về vườn Lộc Uyển rất
nhiều thanh niên muốn được xuất gia. Số lượng học trò
xuất gia của Bụt vì vậy lại tăng lên rất chóng.
Một
hôm Bụt tập họp đại chúng lại. Người nói:
- Các
vị khất sĩ! Tôi nghĩ rằng tôi không cần trực tiếp làm
lễ thọ giới xuất gia cho tất cả những ai muốn sống đời
sống phạm hạnh theo con đường tỉnh thức. Nếu bất cứ
ai muốn xuất gia đều phải về vườn Lộc Uyển gặp tôi,
thì điều đó sẽ gây ra nhiều bất tiện. Điều bất tiện
thứ nhất là các thầy phải bỏ dỡ công việc hoằng hóa
để đưa người giới tử về tận đây. Điều bất tiện
thứ hai là người giới tử không được thọ giới ngay tại
chỗ cư trú của mình với sự có mặt của bạn bè và những
người thân thuộc, trái lại phải đi đường dài có khi mất
cả mười mấy ngày mới tới được đây. Điều bất tiện
thứ ba là tôi bị bắt buộc ở tại đây mãi mãi. Tôi cũng
là một con người tự do như quý vị, và tôi cũng muốn được
tự do đi đâu thì tùy ý tôi. Vì vậy tôi nghĩ rằng các thầy
có thể làm lễ truyền giới xuất gia cho những giới tử
nào hợp đủ điều kiện, và làm lễ ngay tại địa phương
hành đạo của mình.
Đại
đức Kondanna đứng lên chắp tay:
- Lạy
Bụt, như vậy thì xin Bụt dạy cho chúng con phương pháp làm
lễ xuất gia cho người phát tâm tu học để chúng con có thể
làm lấy khi trường hợp xảy ra.
Bụt
nói:
- Thì
quý vị đã từng thấy tôi làm lễ xuất gia cho nhiều người
rồi. Quý vị cũng có thể làm như thế.
Vị
khất sĩ sa đứng dậy trình bày:
- Lạy
Bụt, nhân cách của Bụt rất lớn, thành ra người không cần
phải có nghi thức rườm ra, nhưng đối với chúng con, một
nghi thức tối thiểu để sử dụng trong lúc làm xuất gia
rất là cần thiết. Sư huynh Kondanna, xin sư huynh đề nghị
một nghi thức đi. Có Bụt ở đây, người sẽ chỉ dạy cho
chúng ta thêm.
Khất
sĩ Kondanna im lặng một lát để suy nghĩ, rồi ông lên tiếng:
- Lạy
Bụt, theo con thì việc trước tiên là phải cho người giới
tử cạo sạch râu tóc. Sau đó, giới tử được dạy cho cách
mặc áo ca sa. Khi mặc ca sa vào rồi, giới tử phải vạch
trần vai bên phải ra theo nghi lễ và quỳ xuống trước mặt
vị khất sĩ truyền giới. Vị khất sĩ này bây giờ là đại
diện cho Bụt, vì vậy, giới tử quỳ xuống dưới chân người
là phải. Chắp tay lại thành búp sen, giới tử đọc:
- Con
nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong
cuộc đời này. Con về nương tựa Pháp, con đường của tình
thương và sự hiểu biết. Con về nương tựa Tăng, đoàn thể
của những nguyện sống cuộc đời tỉnh thức". Lặp lại
ba lần như vậy thì giới tử trở nên một vị khất sĩ trong
giáo đoàn của Bụt. Lạy Bụt, con mạo muội đề nghị như
thế, không biết con có phạm vào lầm lỗi nào không?
Bụt
dạy:
- Nghi
thức thầy đề nghị hay lắm. Vậy tôi xin xác định với
đại chúng; quý vị đọc ba lần tam quy dưới chân một vị
khất sĩ thì có thể trở nên một vị khất sĩ.
Đại
chúng hoan hỷ tuân theo lời Bụt dạy.
Sau
đó mấy hôm, vào một buổi sáng đẹp trời. Bụt khoác áo,
cầm bát, một mình rời khỏi vườn Lộc Uyển. Người hướng
về phương Nam, tìm lối vượt sông Hằng để đi về vương
quốc Magadha.
Chương
25
ĐỈNH
CAO CỦA NGHỆ THUẬT
Con
đường này Bụt đã từng đi. Người đi thong thả và ngắm
nhìn cảnh vật. Trời gần trưa, người ghé khất thực ở
một xóm ven đường, rồi người mang bát đi vào một khu rừng
yên tĩnh gần đó để thọ trai. Thọ trai xong, Bụt đi kinh
hành trong rừng và sau đó người tìm một gốc cây im mát
ngồi xuống để tĩnh tọa. Được sống trở lại một mình
trong rừng, Bụt rất hoan hỷ. Người ngồi tĩnh tọa được
hồi lâu thì thấy một đám thanh niên đi ngang. Đây chắc
là những thanh niên con nhà khá giả, bởi vì người nào cũng
ăn mặc tươm tất sạch sẽ. Họ vào khoảng ba mươi người.
Nhiều người cầm nhạc cụ trong tay. Thấy Bụt, họ ngưng
lại, thanh niên đi đầu cúi chào và hỏi người:
- Sa
môn, ông có thấy một cô gái mới chạy ngang qua đây không?
Bụt
hỏi lại:
- Các
bạn tìm cô gái ấy để làm gì?
Người
thanh niên kể lại đầu đuôi câu chuyện. Bọn họ đều là
dân thành phố Banarasi. Họ vào rừng này từ sáng để tổ
chức một cuộc vui. Họ có đem theo nhiều nhạc cụ và một
cô vũ nữ. Sau khi đàn hát, múa nhảy và ăn uống, cả bọn
đều tìm chốn ngã lưng để ngủ trưa. Trong khi mọi người
ngủ trưa, cô gái đã đánh cắp một số những đồ châu
báu trang sức của bọn con trai và bỏ đi mất. Các chàng trai
thức dậy thấy thế rủ nhau đi lùng bắt cô gái.
Bụt
nhìn các chàng trai và trầm tĩnh nói:
- Này
các bạn, trong giờ phút này các bạn nên đi tìm cô gái hay
là nên đi tìm chính các bạn?
Các
cậu con trai ngạc nhiên. Phong thái của ông thầy tu đã đặc
biệt mà câu hỏi của ông ta cũng đặc biệt. Câu hỏi đó
làm các cậu giật mình. Họ rủ nhau ngồi xuống, vây quanh
Bụt. Chàng trai đầu đàn nói:
- Bạch
sa môn, có lẽ chúng con nên đi tìm chúng con trước.
Bụt
nói:
- Sự
sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại, nhưng tâm ta ít
khi chịu an trú trong giây phút hiện tại. Tâm ta hay ưa trở
về quá khứ hoặc vọng đến tương lai. Ta cứ tưởng ta là
ta, nhưng quả thực ta chưa hề thực sự tiếp xúc ta với
ta, bởi vì tâm ta cứ rong ruổi chạy theo những ảo ảnh của
quá khứ và của vị lai. Chỉ có một phương cách duy nhất
để tiếp xúc với sự sống đích thực: đó là trở về
với giây phút hiện tại. Nếu các em biết trở về với giây
phút hiện tại thì các em trở nên tỉnh thức, và lúc đó
các em mới có cơ hội tìm được các em.
Các
em hãy nhìn những đọt lá xanh và ánh sáng mặt trời đang
lọc qua những đọt lá ấy. Các em đã từng có dịp thật
sự ngắm nhìn màu xanh của lá cây trong trạng thái trầm lặng
và tỉnh thức của tâm tư chưa.
Màu
xanh ấy là một khía cạnh vi diệu của sự sống. Nếu các
em chưa bao giờ thực sự nhìn màu xanh ấy thì bây gìờ đây
các em hãy thử nhìn đi.
Các
chàng thanh niên yên lặng. Theo ngón tay trỏ của Bụt, họ
ngước nhìn những ngọn lá xanh đang run nhẹ dưới làn gió
thoảng của buổi trưa hè. Một lát sau, Bụt quay lại với
chàng trẻ tuổi ngồi gần bên người, và nói:
- Em
có ống sáo, vậy em hãy thổi sáo đi.
Chàng
thanh niên hơi ngạc nhiên một chút, nhưng cũng lấy sáo ra.
Ngồi lại ngay ngắn, anh ta đưa sống sáo lên thổi. Mọi người
lắng nghe. Tiếng sáo đượm buồn như tiếng than khóc của
một cuộc tình duyên lỡ dỡ. Trong khi anh thổi sáo, mắt Bụt
không rời khỏi anh.
Khúc
sáo chấm dứt. Rừng trưa đượm buồn. Mọi người im lặng,
Bụt cũng im lặng. Bỗng nhiên người thanh niên thổi sáo quay
lại, cầm đưa ống sáo cho Bụt:
- Sa
môn, ngài thổi sáo đi.
Bụt
mỉm cười. Tất cả các chàng trai đều cười rộ. Ai cũng
cho anh chàng là ngộ nghĩnh. Đã có ai đưa ống sáo để bảo
một vị sa môn thổi bao giờ.
Nhưng
Bụt đã đưa hai tay tiếp nhận ống sáo. Mọi người đều
nhìn về vị sa môn, sự tò mò trong mỗi người được kích
thích.
Bụt
thở những hơi thở thật dài và thật nhẹ, rồi người nâng
ống sáo lên ngang miệng.
Hình
ảnh người con trai thổi sáo năm xưa trong vườn Thượng Uyển
thành Kapilavatthu hiện ra trong Bụt. Đó là một đêm trăng.
Đó là bà Maha Pajapati ngồi trên ghế đá đang im lặng lắng
nghe. Đó là Yasodhara với đỉnh trầm thơm mới đổi. Bụt
bắt đầu thổi sáo.
Tiếng
sáo nhẹ như một làn khói nhỏ lơ lửng và nhẹ nhàng đi
lên từ một mái tranh nghèo nào đó ở ngoại thành Kapilavatthu
trong giờ nấu cơm chiều. Rồi làn khói bỗng nhiên tỏa rộng
trên không gian như một đám mây. Đột nhiên đám mây bến
hình thành một đóa hoa sen ngàn cánh, mỗi cánh hoa một màu
sắc khác nhau lấp lánh trong ánh nắng chiều. Đột nhiên một
người thổi sáo biến thành một ngàn người thổi sáo, tất
cả những mầu nhiệm của vũ trụ đều được chế biến
thành âm thanh, âm thanh muôn màu muôn sắc, âm thanh khi thì
nhẹ như gió thoảng, khi thì mau như tiếng mưa rào, khi thì
trong như tiếng hạc, khi thì đậm đà như tiếng ru con, khi
thì sáng rỡ như ngọc lưu ly, khi thì hùng vĩ như tiếng hải
triều, khi thì im lặng như nụ cười của người đã thoát
ly được sự hơn thua còn mất. Chim chóc trong rừng đã im
hơi lặng tiếng và gió chiều cũng đang thổi rì rào trong
lá. Rừng được bao phủ bởi một không gian thanh tịnh, an
lạc và nhiệm mầu. Tất cả các chàng thanh niên ngồi bên
Bụt đều trở nên tỉnh táo một cách kỳ lạ. Họ hoàn toàn
sống giây trong phút hiện tại, tiếng sáo đưa họ về với
những mầu nhiệm của giây phút hiện tại. Họ có rừng cây,
họ có Bụt, họ có tiếng sáo, họ có nhạc, họ có bản
thân họ. Tiếng sáo đã chấm dứt, nhưng tiếng sáo vẫn còn,
không có chàng thanh niên nào nghĩ tới cô vũ nữ và những
châu ngọc bị đánh cắp.
Họ
ngồi yên lặng rất lâu. Cuối cùng chàng thanh niên thổi sáo
lên tiếng hỏi Bụt:
- Sa
môn, thầy thổi sáo thật hay, con chưa bao giờ nghe ai thổi
sáo diệu kỳ như vậy. Thầy đã học với ai? Con có thể
theo thầy để học thổi sáo được không?
Bụt
mỉm cười:
- Hồi
nhỏ, tôi đã học thổi sáo, nhưng bảy năm nay tôi không có
dịp thổi. Đây là lần thứ nhất tôi thổi sáo trở lại
sau bảy năm, nhưng tiếng sáo bây giờ lại có chất liệu
hơn tiếng sáo ngày trước.
- Tại
sao thế, thưa sa môn? Tại sao sau bảy năm không tập dượt
mà tiếng sáo thầy lại hay hơn?
- Thổi
sáo hay không phải là chỉ do tập dượt nhiều. Sở dĩ tôi
thổi được hay hơn ngày xưa là tại vì tôi đã tìm được
chính tôi. Nghĩa là tôi đã tìm ra được đạo giác ngộ.
Em không thể đạt được tới chỗ tuyệt vời của nghệ
thuật nếu em không lên tới được chỗ tuyệt cùng của tâm
linh. Vì vậy nếu em muốn thổi sáo hay thì em phải tu học
theo con đường tỉnh thức.
Rồi
Bụt bắt đầu giảng cho các chàng thanh niên về đạo giác
ngộ, về bốn sự thật và con đường Bát Chánh. Ba mươi
người thanh niên nghe người giảng đều được tỏ ngộ.
Tất cả đều quỳ xuống tỏ ý xin làm môn đệ xuất gia
của người.
Bụt
vui lòng làm lễ xuất gia họ ngay tại chỗ, và bảo ba mươi
chàng thanh niên tìm ngay về vườn lộc Uyển để gặp đại
đức Kondanna, Ngưòi dặn họ trình bày tự sự với thầy
Kondanna và xin thầy cho cạo bỏ râu tóc, khoác áo khất sĩ
và thọ lãnh những lời chỉ dẫn tu học. Người bảo trong
một tương lai gần họ sẽ được gặp lại người.
Đêm
ấy, Bụt nghỉ trong rừng. Sáng hôm sau, người vượt sông
Hằng, rồi theo bờ sông đi về phương Đông, Người dự định
sẽ ghé thăm bọn trẻ tại thôn Uruvela, trước khi đi về
Rajagaha gặp vua Bimbisara theo lời hứa cũ.