Chương
16
THÌ
RA LỆNH BÀ GIẢ NGỦ
Svastika
là con nhà nghèo, hồi nhỏ chưa từng được đi học. Năm
mười hai tuổi mới bắt đầu được Sujata dạy cho chút ít
về văn hóa. Chú nói năng chưa được hoạt bát, cho nên trong
khi kể lại những gì mà Bụt đã kể về cuộc đời niên
thiếu của người, chú đã ngập ngừng nhiều lúc và phải
nhờ những người ngồi nghe chuyện đỡ lời cho. Hôm ấy
ngoài thầy Ananda và chú Rahula, còn có hai người ngồi nghe
chú kể. Đó là một ni sư tuổi đã lớn, tên là ni sư Mahapajapati
và một thầy khoảng ba mươi lăm tuổi tên là thầy Assaji.
Chiều
hôm ấy chú Rahula đã giới thiệu hai vị này với Svastika
rồi. Chú rất cảm động khi biết ni sư Mahapajapati chính là
lệnh bà Gotami, dì của Bụt và đã nuôi Bụt từ khi tấm
bé. Bà là người phụ nữ đầu tiên được xuất gia và gia
nhập vào giáo đoàn của Bụt. Hiện bà làm ni trưởng lãnh
đạo hơn bảy trăm vị nữ khất sĩ. Bà mới cùng một phái
đoàn các ni sư từ miền Bắc xuống để thăm viếng Bụt
và tham khảo ý kiến của người về việc tu chỉnh giới
luật của ni chúng. Chú Svastkia nghe nói quý vị ni sư mới
tới Rajagaha chiều hôm qua. Chú Rahula là cháu của bà. Biết
bà sẽ rất vui mừng được nghe Svastika kẻ lại những gì
xảy ra trong rừng Uruvela những Bụt sắp thành đạo và những
tuần lễ sau ngày Bụt thành đạo, chú Rahula chắp tay cúi
đầu rất thấp để chào vị ni trưởng vì chú đã từng
được nghe Bụt kể về bà và đã có sẵn rất nhiều cảm
mến, và chú có cảm tưởng bà cũng thương chú như thương
chú Rahula cháu ruột của bà vậy. Nghĩ như thế chú cũng tự
xưng cháu với bà.
Sau
khi giới thiệu bà, chú Rahula lại giới thiệu thầy Assaji,
Svastika không nhớ tên này dù Bụt đã có nhắc đến tên thầy
trong câu chuyện mà người đã kể cho bọn thiếu nhi trong
rừng Uruvela. Mắt Svastika sáng lên khi chú biết thầy Assaji
là một trong năm vị sa môn đã tu khổ hạnh với Bụt ngay
tại quê hương của chú. Chú đã từng nghe Bụt nói rằng
sau khi thấy Bụt ngưng tu khổ hạnh, bắt đầu uống sữa
và ăn cơm thì năm người này bỏ Bụt đi tu chỗ khác. Vậy
mà bây giờ không biết trong trường hợp nào mà thầy Assaji
lại trở nên một vị khất sĩ đệ tử của Bụt và đang
tu hành dưới sự chỉ dẫn của người, ngay tại tu viện
Trúc Lâm. Chú dự tính sẽ hỏi Rahula về việc này.
Trong
câu chuyện chú kể, chính ni sư Gotami đã đỡ lời cho chú
nhiều nhất. Nhiều khi bằ đặt câu hỏi để chú có cơ hội
nói thêm về những chi tiết của câu chuyện, những chi tiết
không mấy quan trọng đối với chú nhưng hình như rất quan
trọng đối với bà. Ví dụ như những chi tiết về mớ cỏ
Kusa mà chú đã dâng lên Bụt để người trải làm tọa cụ
dưới cây bồ đề. Ni sư đã hỏi: “Cỏ đó, con cắt ở
đâu? Cứ mấy ôm thì con cắt cỏ mới để dâng cúng cho Bụt?
Con dâng bớt cỏ cho Bụt như thế thì trâu con có đủ cỏ
để ăn ban đêm hay không? Và con có bị chủ trâu đánh mắng
hay không? ...
Câu
chuyện chú kể đã xong đâu, còn nhiều lắm. Chú xin phép
ngưng lại nơi đây. Chú thưa với mọi người là chú sẽ
xin kể tiếp ngày mai, nhưng trước khi từ giã, chú muốn được
hỏi ni trưởng một vài câu hỏi mà chú đã ấp ủ trong lòng
gần mười năm nay, có thể là ni trưởng sẽ trả lời được
cho chú. Nghe chú nói thế, ni sư Gotami mỉm cười nhìn chú:
- Chú
cứ hỏi, nếu trả lời được, thì ta sẽ trả lời ngay.
Svastika
muốn biết nhiều chuyện lắm. Trước hết chú muốn biết
khi thái tử Siddhatta vén màn định từ giã lệnh bà Yasodhara
thì lệnh bà đang ngủ thật hay là đang giả ngủ? Rồi khi
người hầu cận thái tử Siddhatta đem thanh kiếm, chuỗi ngọc,
mớ tóc và con ngựa Kanthaka về tới kinh đô thì hoàng thượng,
hoàng hậu và lệnh bà Yasodhara đã nghĩ gì, nói gì và làm
gì? Trong sáu năm vắng mặt, cái gì đã xảy ra cho những người
thân yêu của Bụt tại Kapilavatthu? Và ai nghe tin Bụt thành
đạo trước? Ai đi đón Bụt? Và đến khi Bụt về thì cả
kinh thành đón rước ra sao?
- Chú
hỏi nhiều câu hỏi thật, ni sư Gotami mỉm cười hiền hậu
nhìn Svastika. Để ta trả lời sơ lược cho chú. Trước hết
là chuyện Yasodhara có thật là đang ngủ khi Siddhatta từ giã
hay không. Chuyện này cho chắc chắn, chú phải hỏi ni sư Yasodhara,
nhưng theo ta, thì lúc ấy Yasodhara không ngủ. Chính Yasodhara
đã soạn đủ nón giày và áo dạ hành để sẵn bên hành
lang. Chính Yasodhara đã vào bao Channa thắng yên cương vào cho
con Kathanka. Vậy Yasodhara biết chắc là đêm ấy thái tử sẽ
bỏ đi. Làm sao mà Yasodhara có thể ngủ trong một tâm trạng
như thế được, hả chú Svastika? Ta nghĩ rằng Yasodhara đã
làm như đang ngủ để tránh cho Siddhatta và cho mình giây phút
khó khăn của sự giã biệt. Chú chưa biết, chứ mẹ của
Rahula tính tình cương nghị lắm, Yasodhara hiểu được chí
hướng của Siddhatta và đã âm thầm yểm trợ cho Siddhatta,
điều đó ta biết rõ hơn ai hết ở trong cung, bởi vì ta là
người thân cận và làm việc với công nương Yasodhara nhiều
hơn ai hết.
Rồi
ni sư Gotami kể tiếp những gì đã xảy ra trong cung điện.
Buổi sáng ấy, nghe tin Siddhatta đã bỏ đi rồi, trong cung náo
động, ai cũng bàng hoàng hoảng hốt, chỉ trừ có Yasodhara.
Vua Suddhodana giận dữ, quát tháo quân hầu, quát tháo mọi
người, trách họ đã không giữ gìn để cho thái tử ra đi.
Bà Goatmi nghe tin vội chạy qua tìm Yasodhara. Yasodhara không nói
gì, chỉ ngồi thầm lặng khóc. Quan phụ chính đại thần
tổ chức nhiều toán người sai đi bốn ngã tìm kiếm thái
tử. Toán người ngựa đi về phương Nam đã gặp được Channa,
đang trở về với con ngựa Kanthaka. Channa ngăn họ không cho
họ đi về phương Nam tìm thái tử. Channa nói:
- Quý
vị hãy để yên cho thái tử tu hành. Tôi đã cầu xin hết
lời, đã khóc lóc đã van nài, nhưng thái tử đã một lòng
một chí muốn đi tìm đạo. Với lại thái tử đã đi vào
chốn thâm sơn. Núi rừng trùng điệp, lại thuộc về một
vương quốc khác, thì các vị đi tìm làm sao được?
Khi
Channa trở về tới cung điện, anh ta dập đầu tạ tôi rồi
đem thanh kiếm, chuỗi ngọc và mớ tóc dâng lên vua. Lúc ấy
hoàng hâu Goatmi và lệnh bà Yasodhara cũng đang đứng bên cạnh
vua. Thấy Channa khóc, vua không nỡ buộc tội. Vua hỏi han mọi
chuyện, than vãn hồi lâu, rồi truyền cho Channa đem gươmg
báu, chuỗi ngọc và mớ tóc của thái tử giao lại cho lệnh
Yasodhara cất giữ. Không khí của cung điện thật là buồn
bã. Vua ở luôn trong biệt điện nhiều ngày liên tiếp không
chịu ra thiết triều. Quan phụ chính đại thần Vessamitta phải
thay vua xử lý mọi công việc chính sự.
Con
Kanthaka sau khi được trả về tàu ngựa từ chối không ăn
uống gì. Mấy ngày sau nó qua đời. Channa rất thương tiếc.
Mấy Channa nói với Yasodhara làm lễ hỏa thiêu cho nó.
Ni
sư Gotami kể tới đó thì chuông thiền tọa buổi tối đã
vọng lên. Mọi người đều tỏ vẻ tiếc vì phải bỏ dỡ
câu chuyện, nhưng thầy Ananda bảo không nên bỏ giờ thiền
tọa, dù câu chuyện có hay cách mấy đi nữa, và thầy mời
mọi người chiều hôm sau lại tới liêu xá thầy. Svastika
và Rahula chắp tay làm lễ ni sư Gotami, thầy Anada và thầy
Assaji để trở về liêu xá của thầy Sariputta. Đôi bạn thân
đi bên nhau im lặng không nói. Tiếng chuông chậm rãi bây giờ
đây đã bắt đầu dồn dập đổ hồi. Svastika theo dõi hơi
thở và thầm đọc bài kệ nghe chuông: “lắng lòng nghe, lắng
lòng nghe - tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm”.
Chương
17
CHIẾC
LÁ PIPPALA
Ngồi
dưới gốc cây Pippala, sa môn Gotama tập trung hết định lực
và quán chiếu vào nội thân. Tinh lực của ông đầy dẫy
và niệm lực của ông hùng hậu. Ông thấy cơ thể của ông
như một dòng sông đang trôi chảy bất tuyệt và những tế
bào trong cơ thể là những giọt nước xô đẩy nhau trên dòng
sinh khởi, trưởng thành và biến diệt. Ông không tìm thấy
một cái gì đồng nhất và bất biến có thể gọi là ngã
cả. Xen lẫn trong trong dòng sông cơ thể ông nhận thấy có
một dòng sông khác: đó là dòng sông cảm thọ, trong đó mỗi
cảm giác là một giọt nước. Những giọt nước cảm giác
này cũng xô đẩy nhau trong quá trình sinh khởi, trưởng thành
và biến diệt của chúng. Có những cảm giác dễ chịu, có
những cam giác khó chịu, có những cảm giác không dễ chịu
cũng không khó chịu. Tự thân của những cảm giác cũng vô
thường và luôn luôn sinh diệt giống như tự thân của các
tế bào trong cơ thể. Với định lực vững chắc, sa môn Gotama
khám phá ra dòng sông tri giác đang trôi chảy len lõi giữa
các dòng sông cơ thể và dòng sông cảm giác. Những giọt
nước trong dòng sông tri giác cũng xô đẩy nhau và ảnh hưởng
lẫn nhau trên đà sinh trưởng và hoại diệt của chúng. Thế
giới là thế giới của tri giác; tri giác chính xác thì thực
tại hiển lộ, tri giác sai lầm thì thực tại chìm lặn. Tri
giác sai lầm làm phát sinh bao nhiêu cảm giác khổ đau trong
dòng sông cảm thọ. Con người sở dĩ lặn hụp trong khổ
đau là vì nhận thức sai lầm của mình: vô thường thì cho
là thường, vô ngã thì cho là ngã, không sinh diệt thì cho
là có sinh diệt, cùng chung một tự tính mà lại cho là riêng
lẻ tách biệt. Sa môn Gotama quán chiếu những hiện tượng
tâm ý thường được xem là nguồn gốc của các cảm thọ
khổ đau: những tâm lý sợ hãi, giận dữ, căm thù, kiêu mạn,
ganh ghét, tham đắm và u mê. Chánh niệm bừng tỏ nơi ông
như một mặt trời. Đem mặt trời chánh niệm ấy soi vào
lòng của các hiện tượng tâm lý kia, ông thấy rằng bản
chất của chúng đều là sự u mê. Tên nó là vô minh. Tên
nó là mờ ám. Tên nó là sự thiếu sáng suốt. Chìa khóa của
giải thoát vì vậy là sự đập tan u mê, là thể nhập vào
lòng của thực tại để có một cái biết trực tiếp và
chân thực về thực tại. Cái biết này không phải là cái
biết của trí thức suy luận. Cái biết này là phải là cái
biết trực tiếp của kinh nghiệm, của thực chứng. Ngày xưa,
Siddhatta đã tìm đủ cách để chế ngự sợ hãi, chế ngự
giận dữ, chế ngự tham đắm, nhưng những phương cách ấy
không có hiệu quả, vì chúng chỉ là sự đè nén và đàn
áp. Ngày nay Siddhatta biết được bản chất của chúng là
u mê: giải tỏa u mê và đi tới sự hiểu biết, tức là làm
cho chúng tự tan rã, như khi mặt trời lên thì tự khắc bóng
tối tan biến. Sự hiểu biết này là kết quả của công trình
quán chiếu. Giải thoát không phải là kết quả của một
sự lẫn tránh thực tại, giải thoát trái lại là hiểu biết
được tự thân của thực tại để đạt tới tự do, để
cắt đứt mọi sợi dây khống chế.
Sa
môn Gotama mỉm cưòi. Ông thấy một chiếc lá Pippala in trên
nền trời xanh, đuôi lá hướng về phía đất và phe phẩy
như đang gọi ông. Chiếc lá này một thực tại mầu nhiệm.
Nhìn chiếc lá ông thấy mặt trời và trăng sao. Nếu không
có mặt trời, nếu không có ánh sáng và sức nóng, chiếc
lá không thể nào có mặt. Cái này có vì cái kia có. Ông lại
thấy một đám mây bay lửng lơ trong lòng chiếc lá. Nếu không
có đám mây thì không có mưa và nếu không có mưa thì không
làm gì có chiếc lá. Ông thấy đại địa. Ông thấy thời
gian. Ông thấy không gian. Ông thấy tâm thức. Tất cả đều
đang có mặt trong chiếc lá. Vũ trụ có mặt trong chiếc lá
và với chiếc lá. Điạ, thủy, hỏa, phong, không thời, phương,
thức, tất cả đều có mặt với chiếc lá trong giờ phút
này. Cái này có thì cái kia có, và ông thấy thực tại của
chiếc lá cùng thực tại của bản thân ông là một. Chiếc
lá dường như chỉ mới có mặt từ đầu mùa Xuân năm nay,
nhưng thật ra chiếc lá đã có mặt không biết tự bao giờ.
Trong ánh nắng đã có sẵn chiếc lá. Trong đám mây bay đã
có sẵn chiếc lá. Trong cây đã có sẵn chiếc lá, và trong
Siddhatta, đã có sẵn chiếc lá. Chiếc lá thực ra chưa từng
bao giờ sinh, chiếc lá chỉ được biểu hiện ra mà thôi.
Sa môn Siddhatta cũng chưa bao giờ từng sinh, sa môn Siddhatta
cũng chỉ được hiểu hiện. Những ý niệm sinh diệt và con
mất là những ý niệm phát xuất từ nhận thức sai lầm,
từ vô minh. Tự thân của chiếc lá Pippala cũng như tự thân
của sa môn Gotama chưa từng bao giờ sinh diệt. Sự có mặt
của một hiện tượng kéo theo sự có mặt của tất cả mọi
hiện tượng trong vũ trụ. Cái một bao hàm tất cả, và cái
tất cả được có mặt trong cái một.
Chiếc
lá không có cá thể biệt lập, không có một cái ngã thường
tại bất biến. Sa môn Gotama cũng vậy, ông không thể có mặt
biệt lập với vũ trụ vạn hữu, ông không có một cái ngã
thường tại bất biến. Thấy được tính cách trùng trùng
duyên khởi của vạn hữu cũng là đồng thời chứng nghiệm
được sâu xa tính cách vô ngã của vạn hữu. Và vì vậy
chìa khóa mở cánh cửa giải thoát là nguyên lý vô ngã, nguyên
lý duyên sinh.
Một
đám mây trắng bay qua, và chiếc lá Pippala giờ đây đang in
hình trên nền trắng ấy. Đám mây kia chiều nay có thể sẽ
gặp một luồng khí lạnh và sẽ biến thành mưa. Đám mây
là một biểu hiện, mưa là một biểu hiện. Tự thân của
đám mây không có sinh diệt và còn mất. Nếu đám mây biết
điều đó thì khi cần được biến thành mưa, đám mây sẽ
ca hát khi rơi xuống thành giọt trên núi rừng, trên ruộng
lúa. Sa môn Gotama thấy được rằng trong thực tại, không
có gì sinh ra, không có gì mất đi, không có gì từ không mà
trở nên có, không có gì từ có mà trở nên không, và ông
vượt thoát được các ý niệm có không và sinh diệt.
Sa
môn Gotama lấy cái thấy này và soi chiếu lại vào những dòng
sông cơ thể, cảm thọ, tri giác, tâm tư và nhận thức của
con người. Ông thấy hầu hết những khổ đau của con người
đều được phát xuất từ nhận thức sai lầm của con người.
Nếu con người thấy được tính cách vô thường vô ngã của
thực tại thì con người giải thoát được khổ đau. Vô thường
và vô ngã là điều kiện tất yếu của sự sống; nếu không
có vô thường và vô ngã thì không có biến chuyển sinh diệt,
vì vậy không có gì có thể sinh trưởng và phát triển. Hạt
lúa nếu không có vô thường và vô ngã thì không thể mọc
thành cây lúa. Đám mây nếu không vô thường và vô ngã thì
không thể nào biến thành cơn mưa. Em bé nếu không có vô
thường và vô ngã thì không thể lớn lên. Vì vậy chấp nhận
sự sống tức là chấp nhận vô thường và vô ngã. Khổ đau
bắt nguồn từ sự nhận thức vô thường là thường, và
vô ngã là là ngã. Chứng nhập được tự tánh vô thường
và vô ngã của vạn hữu là thoát ra được vòng khổ đau.
Sa
môn Gotama thấy rằng một khi đã chứng nhập được tự tánh
vô thường và vô ngã của vạn hữu thì tự tánh không của
vạn hữu cũng bắt đầu hiển lộ. Không tức là không sinh
cũng không diệt, không có cũng không không, không một cũng
không nhiều, không trong cũng không ngoài, không lớn cũng không
nhỏ, không nhơ cũng không sạch ... Tất cả những ý niệm
về không và có, sinh và diệt, một và nhiều, trong và ngoài,
lớn và nhỏ, nhơ và sạch ... đều do những khuôn khổ hẹp
hòi của tri giác tạo nên. Thâm nhập được vào thể tính
không của vạn pháp, Siddhatta vượt lên trên của tất cả
mọi phạm trù ấy của tri giác.
Đêm
này qua đêm khác, sa môn Gotama ngồi thiền định dưới gốc
cây Pippala, chiếu rọi ánh sáng của thiền định vào thân
tâm và vào vũ trụ. Năm người bạn đồng tu của ông đã
bỏ ông lâu rồi. Bạn tu của ông bây giờ là núi rừng, là
dòng sông, là chim chóc, là hàng vạn côn trùng dưới dất
trên cây. Bạn tu của ông là cây đại thọ Pippala. Bạn tu
của ông còn là ngôi sao Hôm tỏa chiếu rạng rỡ vào ông
lúc ông bắt đầu buổi thiền tọa tối. Đêm nào ông ngồi
thiền định cho tới khuya. Bọn trẻ con trong xóm mỗi khi đem
thức ăn cho ông thường chỉ ở lại một lát vào giờ trưa,
giờ nóng bức nhất trong ngày.
Trưa
hôm ấy, Sujata đem cúng dường ông một bát đề hồ nấu
với sữa và mật ong. Svastika cũng đem đến tặng cho ông một
mớ cỏ Kusa rất tươi để ông trải làm tọa cụ. Svastika
lùa trâu đi rồi, ông có cảm tưởng là nội trong đêm nay,
ông sẽ đạt tới được tận cùng của sự tỉnh thức mầu
nhiệm. Vừa hồi khuya, ông mơ thấy những giác mơ rất lạ.
Trước hết ông thấy ông nằm nghiêng, đầu gối lên dãy
Hy Mã Lạp Sơn, tay trái để trên bờ biển phương Đông, tay
phải đặt trên bờ biển phương Tây, và hai chân chấm bờ
biển phương Nam. Trong giác mơ thứ hai ông thấy từ rốn mình
mọc lên hoa sen lớn và hoa sen này nở lớn như một vành xe,
dâng cao lên tận mây xanh. Trong giác mơ thứ ba ông thấy chim
chóc đủ màu từ bốn phương bay tới quy tụ bên ông, không
biết bao nhiêu mà kể. Những giấc mộng ấy như báo trước
sự thành công của ông.
Chiều
hôm ấy, sa môn Gotama đi thiền hành bên bờ sông, lội xuống
sông tắm gội, rồi lại lên bờ sông đi thiền hành. Khi nắng
bắt đầu tắt bên sông, ông trở lại với gốc cây Pippala
quen thuộc. Nhìn gốc cây với tấm thảm cỏ mới trải, Siddhatta
mỉm cười, Ngồi dưới cây này ông đã thực hiện được
bao nhiều khám phá quan trọng. Ông biết giờ phút mà ông chờ
đợi từ lâu đã sắp đến. Cánh cửa giác ngộ hoàn toàn
sắp được tung mở.
Khoan
thai, Siddhatta ngồi xuống và điều chỉnh thế ngồi trong tư
thế hoa sen. Ông đưa mắt nhìn ra. Dưới kia dòng sông đang
thầm lặng trôi. Những ngọn gió thật nhẹ đang lướt qua
bờ cỏ. Rừng chiều vắng lặng nhưng sống động. Chung quanh
ông có tiếng rì rào của muôn loại côn trùng. Ông nhiếp
tâm theo dõi hơi thở và khép nhẹ đôi mi. Sao Hôm chắc đã
lên rồi.
Chương
18
SAO
MAI ĐÃ MỌC
Chánh
niệm đưa thân tâm và hơi thở trở về một mối. Chánh niệm
sung mãn đưa tới một định lực hùng tráng. Sa môn Gotama
bắt đầu dọi ánh sáng quán chiếu vĩ đại ấy vào tự thân.
Hồi lâu, ông bắt đầu thấy, trong giây phút hiện tại, sự
có mặt của muôn loại chúng sanh ngay trong chính tự thân ông.
Tất cả các loại chúng sanh, từ khoáng, khí, hơi, sương cho
đến rêu cỏ, thảo mộc, côn trùng, cầm thú và loài người
đều có mặt, và có mặt một cách hiện thực ngay trong giờ
phút hiện tại. Ông thấy sự có mặt của tất cả các loại
chúng sanh ấy chính là sự có mặt của ông, không những trong
hiện tại mà cũng là trong quá khứ và trong vị lai. Ông trông
thấy được tất cả những sinh diệt của mình trong các kiếp
quá khứ. Ông trông thấy được tất cả những sinh diệt
của mình trong các kiếp hiện tại. Ông cũng trông thấy được
tất cả những sinh diệt của mình trong các kiếp vị lai.
Ông thấy được sự co giãn và thành hoại của muôn ngàn
thế giới, muôn ngàn tinh cầu, với tất cả những nỗi niềm
đau của từng sinh vật; trong ấy, loài thì do thai sinh ra, loài
thì do trứng sinh ra, loài thì do sự tụ họp biến hóa sinh
ra, loài thì do sự chia cắt phân thân sinh ra. Ông thấy mỗi
tế bào trong cơ thể ông chứa đựng được cả tam thiên
đại thiên thế giới và cũng chứa đựng cả thời gian từ
vô thỉ đến vô chung. Cái thấy ấy là túc mệnh minh. Ông
chứng đạt được trí tuệ này vào cuối canh một.
Sa
môn Gotama tiếp tục đi sâu vào trên con đường khám phá.
Ông thấy tuy vô lượng vô số thế giới từng co giãn, sinh
diệt và thành hoại như thế và tuy vô lượng vô số chúng
sinh từng sinh diệt và thành hoại như thế trong vô lượng
vô số kiếp, nhưng kỳ thực những co giãn, sinh diệt và thành
hoại ấy chỉ là những biểu hiện bề ngoài, chưa từng đụng
tới thực tướng của pháp giới, cũng như trên mặt biển
cả tuy lúc nào cũng có hàng triệu đợt sóng lô nhô xuất
hiện nhưng đại dương chưa bao giờ vì vậy mà có sinh diệt
hay thành hoại. Sóng dường như có còn mất sinh diệt mà nước
không hề có còn mất sinh diệt, và nếu sóng tự biết mình
là nước thì sóng có thể vượt ra ngoài sự sinh diệt còn
mất, đạt tới tâm trạng an ổn và đập tan mọi niềm sợ
hãi. Cái thấy này đưa sa môn Gotama vượt thoát lưới sinh
tử. Ông bất giác mỉm cười. Nụ cười của ông nở như
một bông hoa dù là trong đêm tối. Nụ cười đó như tỏa
chiếu hào quang. Nụ cười ấy là hoa trái của một cái thấy
vi diệu. Cái thấy ấy là lậu tận minh. Sa môn Gotama đạt
tới cái thấy ấy vào cuối canh hai.
Vừa
lúc ấy có tiếng sấm nổ vang trời và những làn chớp giật
tiếp nhau lóe lên như xé rách không gian. Tự hồi nào mây
đen đã kéo đến che lấp hết trăng sao. Giờ đây với tiếng
sấm nổ rền, mưa cũng bắt đầu rơi xuống xối xả. Mưa
rơi ướt hết cả thân hình vị sa môn đang ngồi tĩnh tọa
dưới gốc cây Pippala, nhưng Siddhatta vẫn ngồi yên bất động.
Ông thản nhiên tiếp tục công phu thiền quán.
Tiếp
tục rọi ánh sáng vào cõi tâm, ông thấy chúng sanh đang chịu
đựng vô lượng khổ đau chỉ vì mỗi người mỗi loài không
biết rằng mình đang cùng chung một thể tính với mọi người
và mọi loài khác, và từ sự u mê đó đã làm phát sinh bao
nhiêu phiền não làm rối loạn tâm hồn. Tham đắm, giận hờn
kiêu căng, nghi ngờ, tật đố và sợ hãi ... những tâm niệm
ấy đều phát sinh từ gốc vô minh. Nếu mỗi người biết
tìm cách tĩnh tâm để nhìn lại, để quán chiếu sâu sắc
vào lòng sự vật thì ai cũng có thể đạt tới sự hiểu
biết, và sự hiểu biết này sẽ làm tiêu tán được mọi
phiền não và làm phát sinh được sự chấp nhận và niềm
tin yêu. Ông khám phá ra rằng hiểu biết và thương yêu là
một và nếu không thể hiểu biết thì không thể thương yêu.
Tính tình của một con người, dù ác độc đi mấy, cũng là
do những điều kiện sinh lý, tâm lý và xã hội tạo thành,
Nếu hiểu được điều đó ta sẽ không oán ghét con người
mà chỉ lo chuyển hóa những điều kiện sinh lý, tâm lý và
xã hội. Với một nhận thức như thế ta không còn oán hận
mà chỉ có xót thương. Có xót thương ta mới ra tay hành động
để chuyển hóa con người và chuyển hóa hoàn cảnh. Con đường
mà Siddhatta tìm ra là con đường hiểu biết để xót thương
và hành động. Muốn thương yêu phải hiểu biết. HIểu biết
là chìa khóa của cánh cửa giải thoát. Mà muốn đạt tới
hiểu biết, con người phải sống thức tỉnh trong từng giây
từng phút, thức tỉnh để tiếp xúc, để nhận diện và
để nhìn thấy những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh
ta. Cái nhìn ấy càng ngày sẽ càng sâu sắc, và khi nhìn sâu
được vào lòng một hiện tượng thì hiện tượng đó sẽ
phơi bày chân tướng trước mặt ta. Đó là bí quyết của
chánh niệm. Có chánh niệm thì đời sống được soi sáng
bởi cái nhìn chân thực (chánh kiến), suy tư chân thực (chánh
tư duy), lời nói chân thực (chánh ngữ), hành động chân chính
(chánh nghiệp), sự cố gắng đi về đường chính (chánh tinh
tiến) và sử dụng đúng pháp những trạng thái thiền định
về mục đích giải thoát (chánh định). Con đường này gọi
là con đường thành đạo, là arymarga, là con đường cần
được chỉ bày cho nhân gian. “Chánh niệm là con đường
duy nhất để thực hiện giải thoát và giác ngộ", sa môn
Siddhatta thì thầm. Nhìn thấu vào tâm niệm của mọi loài
chúng sanh. Siddhatta đã chứng được tha tâm minh. Đồng thời
ông cũng đạt tới khả năng có thể thấy có thể nghe tất
cả niềm vui nỗi khổ của mọi loài mà không cần đi tới
tận chỗ. Cùng một lúc ông đạt tới thiên nhãn minh, thiên
nhĩ minh và thần túc minh.
Lúc
ấy, trời đã cuối canh ba. Sấm sét đã im. Mây đen đã cuốn
sạch, và trăng sao lại vằng vặc hiện ra trên bầu trời
trong suốt.
Sa
môn Gotama có cảm giác một cái nhà tù thường giam hãm con
người trong ngàn vạn kiếp đã vừa bị phá tung. Vô minh là
người chủ ngục, vì sự u mê cho nên những vọng động (hành)
đã gợn lên trong tâm thức cũng như mây đen đã giăng bủa
trên bầu trời và che lấp cả trăng sao. Từ những vọng động
của tâm thức mà phát sinh ra sự phân biệt tâm và vật, chủ
thể và đối tượng, ta và người, có và không, còn và mất
(danh sắc, lục nhập, xúc). Từ sự phân biệt ấy phát sinh
sự tù túng (thọ, ái, thủ, hữu). Nhà tù được xây dựng
kiên cố. Trong khổ đau (sinh lão bệnh tử), vô minh lại càng
ngày càng sâu nặng, và bốn bức tường của cái nhà tù càng
ngày càng thêm vững chắc, Càng vùng vẫy, con người càng
thấy những bức tường của nhà tù vững chắc. Chỉ có một
cách mà thôi: đó là nắm lấy người chủ ngục và khám phá
chân tướng nó. Người chủ ngục ấy là vô minh. Phưong pháp
giải trừ vô minh là con đường bát chánh đạo. Mọi khi tên
chủ ngục không còn thì ngục tù bị phá tung, và không bao
giờ còn được xây dựng trở lại.
Sa
môn mỉm cười, thì thầm:
- Này
kẻ cai tù ơi, ta đã nhìn thấy ngươi. Từ bao nhiêu kiếp
rồi, ngươi đã thiết lập bao nhiêu phen những nhà tù sanh
tử. Bây giờ đây những bức tường đã bị phá vỡ, kèo
cột đã bị đập nát. Ta đã nhìn rõ mặt mũi của ngươi
rồi. Từ nay trở đi, ngươi không còn xây được một cái
nhà tù nào nữa”.
Nhìn
lên, Siddhatta thấy sao Mai đã mọc ở chân trời, lấp lánh
như một hạt kim cương lớn. Lâu nay ngồi dưới gốc Pippala,
Siddhatta đã nhiều lần trông thấy ngôi sao này. Nhưng hôm
nay sao Mai hiện ra như một ngôi sao mới, chói sáng và lấp
lánh mừng vui như nụ cười giác ngộ. Siddhatta nhìn sững
ngôi sao Mai rồi buột miệng lên tiếng:
- “Lạ
thay, tất cả mọi chúng sanh dều có sẵn hạt giống của
trí tuệ giác ngộ trong lòng, vậy mà trong ngàn muôn ức kiếp
cứ để cho tự mình lặn ngụp trong biển sinh tử khổ đau.
Thật là đáng thương”.
Siddhatta
biết rằng đạo lớn đã được tìm ra, và hoài bão của
ông đã đạt được. Tâm hồn an lạc, thư thái, ông nghĩ
đến những năm lặn lội kiếm tìm với bao nhiêu gian truân
và nhọc nhằn. Ông nghĩ tới cha, tới mẹ, tới dì, tới Yasodhara,
tới Rahula và tới mọi bạn bè quen thuộc. Ông nhớ tới triều
đình, tới kinh thành Kapilavatthu, tới dân, tới nước, tới
những kẻ cùng khổ thiếu may mắn, và tới những đứa bé
sống lây lất trong các xóm nghèo. Ông hứa sẽ tìm cách đem
ánh sáng của con đường mới, soi tỏ đường đi nước bước
của họ và dìu họ ra khỏi biển khổ. Tình thương nơi ông
dào dạt hơn bao giờ hết bởi vì trí tuệ nơi ông bây giờ
sáng tỏ hơn bao giờ hết.
Bóng
tối đã tan. Nắng đã lên. Chim chóc đã bắt đầu ca hát.
Nắng đã bắt đầu lọc qua những chiếc lá non. Nắng và
lá đẹp một cách lạ kỳ. Sa môn Gotama đứng dậy, rời chỗ
ngồi, ông đi dần ra phía bờ sông.
Trên
bờ cỏ, các bông hoa đủ màu đã lấm tấm nở trong nắng
mai. Nắng như reo mừng trên không gian, trên cành lá và trên
mặt sông. Hình như bước tới đâu ông thấy hoa nở tới
đó. Sầu đau không còn có mặt. Tất cả những mầu nhiệm
của hiện hữu nối tiếp nhau hiển bày trước mắt ông. Tất
ca hôm nay đều như đổi mới, đều như khác lạ. Nền trời
xanh đối với ông cũng là mới lạ. Đám mây trắng đối
với ông cũng là mới lạ. Vũ trụ mới tinh, và tự thân sa
môn Gotama cũng mới tinh.
Vừa
lúc ấy thì Svastika chạy tới. Thấy chú bé chăn trâu, Siddhatta
mỉm miệng cười. Svastika đứng dừng lại. Cậu bé nhìn ông
chăm chăm, hai mắt như bỡ ngỡ và miệng há to. Nó quên cả
chắp hai tay lên trán để chào. Siddhatta gọi:
- Svastika!
Chú
bé giật mình, đáp:
- Dạ!
Rồi
mới chắp tay chào. Nó tiến tới mấy bước nữa, ngừng lại,
rồi lại đứng nhìn Siddhatta trân trân. Cuối cùng nó thẹn
thùng nói:
- Thưa
thầy, hôm nay con trông thầy rất khác lạ.
Vị
sa môn vẫy nó lại gần và ôm nó trong hai tay. Ông hỏi:
- Con
thấy ta khác thế nào?
Úp
mặt vào Siddhatta, Svastika nói:
- Con
không biết. Con chỉ biết là hôm nay thầy khác lắm. Con thấy
thầy như một cái mặt trời.
Siddhatta
xoa đầu cậu bé:
- Vậy
hả con? Con thấy thầy như là cái gì nữa?
Svastika
nhìn lên:
-
Con thấy thầy như bông sen vừa nở. Con lại thấy thầy như
... như ... mặt trăng trên đỉnh núi Gayasisa.
Siddhatta
nhìn vào mặt Svastika:
- Con
là thi sĩ rồi đó. Nào, nói cho thầy nghe đi, tại sao hôm
nay con đến thăm thầy sớm thế? Trâu của con được thả
ăn ở đâu?
Svastika
kể cho Siddhatta nghe là hôm nay cậu không phải thả trâu cho
ăn, vì tất cả mấy con trâu lớn đều được đi cày ruộng.
Chỉ có một con nghé thì được giữ tại chuồng. Hôm nay
nó chỉ cần đi cắt cỏ cho trâu mà thôi. Hồi hôm nó và
mấy em thức dậy vì tiếng sấm sét và vì mưa dột ướt
cả mấy cái chõng tre. Mấy anh em đều phải chổi dậy. Chưa
bao giờ nó thấy có trận mưa lớn và sấm chớp nhiều như
vậy. Cả bọn đều nghĩ đến Siddhatta và đứa nào cũng lo
lắng cho Siddhatta. Chúng ngồi với nhau cho đến khi trời tạnh
mưa mới đi ngủ lại, và khi trời mới sáng, Svastika đã chạy
qua chuồng trâu để lấy quang gánh đi cắt cỏ. Nó muốn ra
sớm để tìm xem Siddhatta có được an lành không, và khi ra
tới bờ sông thì nó gặp Siddhatta.
Vị
sa môn cầm tay Svastika:
- Ngày
hôm nay là ngày vui nhất của thầy. Chưa bao giờ thầy vui
như hôm nay. Nếu được thì chiều nay các con ghé lại cây
Pippala chơi với thầy. Nhớ cho mấy đứa em của con đến
với nhé. Bây giờ thì con hãy đi cắt cỏ cho đầy gánh đi.
Svastika
sung sướng chạy đi, trong khi vị sa môn tiếp tục đi từng
bước một trên bờ sông ngập nắng.
Chương
19
TRÁI
QUÍT CỦA CHÁNH NIỆM
Trưa
hôm ấy khi mang cơm vào rừng cho sa môn Siddhatta, Sujata thấy
ông đang ngồi dưói gốc cây Pippala, đẹp như một buổi sáng
mai. Nét mặt ông rạng rỡ, toàn thân ông tỏa chiếu sự an
lạc và thanh tịnh. Đã hàng trăm lần Sujata trông thấy cảnh
tượng vị sa môn ngồi tĩnh tọa trang nghiêm hùng tráng và
đẹp đẽ dưới gốc cây Pippala, nhưng hôm nay có bé cảm
thấy một điều gì rất khác lạ. Nhìn Siddhatta, Sujata tự
nhiên cảm thấy tất cả những buồn lo của mình tan biến
và niềm vui phát hiện trong lòng cô như một ngọn gió mùa
Xuân. Cô có cảm tưởng rằng cô không còn ham muốn hay mơ
ước một cái gì trên cuộc đời này nữa cả. Tất cả vũ
trụ như đã trở nên hoàn toàn tốt lành, hoàn toàn đẹp
đẽ và trong nhân gian không cần phải nhọc nhằn lo lắng
nữa. Sujata tiến tới mấy bước, Cô bé cảm thấy rất an
ổn và nhận ra rằng niềm an lạc, và thanh tịnh của thầy
đã tỏa chiếu và đi vào trong con người của cô. Siddhatta
mỉm cười nhìn Sujata. Ông nói:
- Con
ngồi xuống đây. Thầy cám ơn con đã cúng dường cơm nước
cho thầy trong suốt thời gian sáu tháng. Hôm nay là ngày vui
nhất của thầy, bởi vì đêm qua thầy vừa tìm ra đạo lớn.
Con hãy vui mừng đi. Mai mốt thầy sẽ ra đi để chỉ bày
cho mọi người con đường thầy mới tìm ra được.
Sujata
nhìn lên, ngạc nhiên:
- Mai
mốt thầy sẽ ra đi? Thầy bỏ chúng con sao?
- Mai
mốt thầy sẽ ra đi, nhưng thầy sẽ không bỏ các con. Trước
khi từ giã các con, thầy cũng sẽ dạy cho các con con đường
thầy mới khám phá.
Sujata
chưa được yên tâm. Cô bé định hỏi thêm, thì Siddhatta đã
nói tiếp:
- Thầy
sẽ ở lại đây với các con ít ra cũng là một tuần trăng
nữa. Thầy sẽ dạy đạo cho các con. Sau đó thầy mới lên
đường, nhưng như vậy không có nghĩa là thầy sẽ xa các
con mãi mãi. Thỉnh thoảng trên đường hành đạo, thầy
sẽ ghé thăm và chơi với các con.
Nghe
nói sa môn sẽ ở lại một tuần trăng trước khi đường,
Sujata mới tạm yên dạ. Cô bé quỳ xuống, mở gói lá chuối
và dâng cơm lên.
Siddhatta
thọ trai, trong khi Sujata ngồi một bên, nhìn vị sa môn đang
thong thả bẻ từng miếng cơm nhỏ chấm vào muối mè để
ăn. Cô thấy lòng hân hoan không biết chừng nào mà kể.
Thọ
trai xong, Siddhatta bảo Sujata đi về, và hẹn xế chiều sẽ
gặp lại cùng với bọn trẻ trong xóm.
Chiều
hôm ấy, bọn trẻ đến rất đông. Ba đứa em của Svastika
cũng đều có mặt. Các cậu con trai đều đã tắm rửa sạch
sẽ và ăn mặc tươm tất. Các cô bé đều choàng sari màu,
Sujata mặc sari lụa màu ngà. Nandabala màu đọt chuối. Bhima
màu hồng. Bọn trẻ ngồi quanh Siddhatta dưới gốc cây Pippala,
rực rỡ như những bông hoa.
Sujata
đã đem đến rất nhiều trái dừa và những thẻ đường
thốt nốt để thết đãi thầy Siddhatta và cả bọn. Chúng
cạy dừa và bẻ ra từng miếng để ăn với nhau rất là vui
vẻ. Đường thốt nốt càng làm cho dừa ngon thêm. Nandabala
và Subas cũng đem theo mấy mươi trái quít. Chúng chia nhau bóc
quít ăn. Sa môn Siddhatta ngồi giữa bọn trẻ, rất vui. Bé
Rupak mời ông một miếng dừa và một miếng đường thốt
nốt, đặt trên một cái lá Pippala . Nandabala dâng ông một
trái quít. Ông tiếp nhận mọi thứ và cùng ăn chung với bọn
trẻ.
Bữa
tiệc ngắn chưa chấm dứt, Sujata đã lên tiếng:
- Thưa
các anh chị, các bạn và các em. Thầy nói hôm nay là ngày
vui của thầy vì Đạo Lớn đã được tìm ra. Sujata cũng cảm
thấy hôm nay là một ngày rất lớn của Sujata. Vậy thưa các
anh chị các bạn và các em; tất cả chúng ta hãy xem này hôm
nay là một ngày vui lớn. Chúng ta họp lại hôm nay để mừng
ngày thành đạo của thầy. Bạch thầy, Đạo Lớn đã thành,
chắc thầy không ở lại với chúng con được lâu. Chúng con
xin thầy dạy cho chúng con những điều mà chúng con có thể
hiểu được, để chúng con được thấm nhuần ơn đức của
thầy.
Nói
xong, Sujata chắp hai tay lại hướng về sa môn Gotama, dáng điệu
kính cẩn và tha thiết. Nandabala và bọn trẻ cũng đều chắp
tay hướng về Siddhatta với vẻ chí thành.
Siddhatta
im lặng. Một lát sau ông ra hiệu cho bọn trẻ bỏ tay xuống,
và nói:
- Các
con là những đứa trẻ thông minh, thế nào các con cũng hiểu
và làm theo được những lời ta dạy. Đạo Lớn mà ta tìm
ra rất sâu kín và nhiệm màu, nhưng nếu người nào chịu
học hỏi hết lòng cũng có thể thấy và hành theo được.
Con đường ta tìm ra được gọi là con tỉnh thức.
Khi
các con bóc một trái quít ra ăn, các con có thể ăn quít một
cách tỉnh thức hay không tỉnh thức. Thế nào gọi là ăn
quít một cách tỉnh thức. Đó là trong khi ăn quít, mình biết
là mình đang ăn quít, mình cảm nhận được hương thơm và
vị ngọt của trái quít. Khi bóc quít mình biết là mình đang
bóc quít, khi gỡ một múi quít bỏ vào miệng, mình biết là
mình đang gỡ một múi quít bỏ vào miệng, khi tiếp xúc với
hương thơm và vị ngọt của múi quít, mình biết là mình
đang tiếp xúc với hương thom và vị ngọt của múi quít.
Trái quít mà chị Nandabala vừa tặng thầy hồi nãy có tất
cả là chín múi. Thầy đã ăn từng múi trong sự tỉnh thức
như thế và thầy thấy được rằng trái quít là rất quý
giá, rất mầu nhiệm. Trong suốt thời gian ăn trái quít thầy
không quên trái quít, vì vậy trái quít có thật đối với
thầy trong thời gian đó. Trái quít có thật thì người ăn
quít cũng có thật và như vậy tức là ăn quít trong sự tỉnh
thức.
“Này
các con, còn thế nào gọi là ăn quít một cách không tỉnh
thức? Đó là trong khi ăn quít, mình không biết là mình đang
ăn quít, mình không cảm nhận được hương thơm và vị ngọt
của trái quít. Khi bóc quít, mình không biết là mình đang
bóc quít, khi gỡ một múi quít bỏ vào miệng, mình không biết
là mình gỡ một múi quít bỏ vào miệng, khi tiếp xúc với
hương thơm và vị ngọt của múi quít, mình không biết là
mình đang tiếp xúc với hương thơm và vị ngọt của múi
quít. Ăn quít như thế thì không thấy được sự quý giá
và mầu nhiệm của trái quít. Ăn quít mà không biết là mình
ăn quít, thì trái quít không thật sự có mặt. Trái quít không
thật sự có mặt thì người ăn quít cũng không thật sự
có mặt. Các con, đó là ăn quít mà không có sự tỉnh thức.
“Này
các con, ăn quít trong tỉnh thức có nghĩa là trong khi ăn quít
ta xúc tiếp thật sự với trái quít, óc ta không suy nghĩ vẫn
vơ đến những chuyện khác, chuyện của ngày hôm qua, chuyện
của ngày mai, vì tâm ta an trú trong giờ phút hiện tại cho
nên trái quít mới thật sự có mặt. Như vậy, sống tỉnh
thức là sống trong giây phút hiện tại, thân và tâm an trú
trong giây phút hiện tại.
“Người
tu tập phép tỉnh thức khi cầm trái quít trong tay và nhìn
vào trái quít có thể thấy được những điều mà người
khác không thấy. Nhìn trái quít trong tỉnh thức, các con có
thể thấy được cây quít, các con có thể thấy được cây
quít nở hoa trong mùa Xuân, các con có thể thấy được ánh
nắng và giọt mưa đang nuôi lớn trái quít. Nhìn sâu hơn nữa
các con có thể thấy được muôn vật trong vũ trụ đang tiếp
tay nhau để làm cho trái quít có mặt. Nhìn một trái quít
như thế người tu tập phép tỉnh thức có thể thấy được
những sự mầu nhiệm của vũ trụ và đồng thời cũng thấy
được sự giao tiếp trùng trùng của mọi vật trong vũ trụ
đối với nhau”.
“Này
các con, đời sống hàng ngày của chúng ta cũng giống như
một trái quít. Nếu trái quít có thể có chín múi hoặc mười
múi hay mười hai múi, thì mỗi ngày cũng có hai mươi bốn
giờ. Mỗi giờ là một múi quít. Sống một ngày hai mươi
bốn giờ cũng như ăn cả một trái quít: con đường mà ta
tìm ra là con đường sống tỉnh thức suốt hai mươi bốn
giờ một ngày, thân và tâm luôn luôn an trú trong hiện tại.
Ngược lại tức là sống trong quên lãng. Sống trong quên lãng
tức là sống mà không biết mình sống, sống mà không thật
sự tiếp xúc với sự sống, bỏi vì thân tâm mình không an
trú trong hiện tại".
Nói
tới đây, sa môn Gotama gọi:
- Này
Sujata.
- Dạ,
Sujata chắp tay nhìn lên chờ đợi.
- Con
nghĩ sao, khi một người biết sống tỉnh thức, người ấy
làm nhiều lầm lỗi hay ít lầm lỗi?
- Bạch
thầy, khi một người biết sống tỉnh thức, người ấy ít
phạm vào lầm lỗi. Mẹ con thường dạy: làm con gái con phải
có ý tứ khi đi, khi đứng, khi nói, khi cười và khi làm việc.
Con thấy rằng sống có ý tứ cũng như sống tỉnh thức. Nếu
con để tâm vào công việc, nếu con có ý tứ trong khi đi,
đứng, nói, cười thì trong đời sống hàng ngày con tránh
được những ý nghĩ, những lời nói và những động tác
có thể gây nên sự đổ vỡ và làm kẻ khác phiền lòng.
- Đúng
như vậy, Sujata. Khi một người biết sống tỉnh thức, người
ấy biết mình đang nghĩ gì, nói gì và làm gì và vì vậy
người ấy có thể tránh được những ý nghĩ, lời nói và
động tác có thể gây nên khổ đau cho mình và cho kẻ khác.
Này
các con, sống tỉnh thức tức là sống trong giờ phút hiện
tại, và biết được những gì đang xảy ra trong bản thân
mình và hoàn cảnh mình. Sống như thế ta tiếp xúc được
với sự sống, và nếu tiếp tục sống tinh cần như thế
ta có thể hiểu biết được bản thân ta và hoàn cảnh ta
một cách sâu sắc, và sự hiểu biết đưa tới sự chấp
nhận và sự thương yêu. Khi mọi loài hiểu biết nhau, không
còn nhiều khổ đau. Này Svastika, con nghĩ sao? Người ta có
thể thương được không, nếu người ta không hiểu?
- Bạch
thầy, không hiểu thì khó có thể thương. Xin thầy nhìn em
Bhima của con. Có một hôm bé Bhima khóc hoài, khóc cả đêm,
làm cho chị nó là bé Bala nổi cáu lên, phát cho nó một cái
thật mạnh vào mông. Bhima bị chị đánh lại khóc to hơn.
Con đến ẳm Bhima và con biết rằng Bhima đang sốt. Có thể
nó khóc vì đang bị nhức đầu. Con gọi Bala mà nói:
“Này
Bala, hãy tới sờ đầu em mà xem”. Bala tới sờ đầu em,
hiểu ngay. Mặt nó dịu lại. Nó ôm em vào lòng, rồi ru em
với tất cả sự thương yêu. Em Bhima nín khóc, dù nó vẫn
còn sốt. Bạch thầy, đó là nhờ Bala đã hiểu, cho nên con
nghĩ rằng nếu không hiểu thì không thể thương.
- Con
nói đúng lắm, Svastika? Có hiểu mới thương, và có thương
mới biết chấp nhận. Này các con, tập sống cho tỉnh thức
các con sẽ từ từ hiểu: hiểu mình, hiểu người, hiểu vạn
vật và các con sẽ có lòng thương. Đó là những điều sơ
lược về con đường mầu nhiệm mà ta đã tìm ra”.
Svastika
chắp tay:
- Bạch
thầy, chúng con có thể gọi con đường ấy là con đường
tỉnh thức được không?
Siddhatta
cười:
- Được
chứ, các con có thể gọi đạo của ta là đạo tỉnh thức.
Ta cũng ưa cách gọi ấy của các con lắm.
Sujata
chắp tay xin phép nói:
- Còn
thầy là người đã tỉnh thức, đã biết sống tỉnh thức
và sẽ đi dạy đạo tỉnh thức cho mọi người. Vậy chúng
con có thể gọi thầy là người tỉnh thức được không?
Siddhatta
gật đầu:
- Các
con đặt tên cho ta như vậy, ta bằng lòng lắm. Cứ gọi ta
là người tỉnh thức. Cách gọi ấy ta thấy đơn sơ mà thân
mật.
Mắt
của Sujata sáng lên. Cô bé nói:
- Tỉnh
thức nói theo tiếng Magadhi là budh. Người tỉnh thức nói
theo tiếng Magadhi là Buddha. Vậy từ nay chúng con gọi thầy
là Bụt.
Siddhatta
gật đầu. Tất cả bọn trẻ đều hoan hỷ. Nalaka, mười
bốn tuổi, là người con trai lớn tuổi nhất trong bọn. Cậu
lên tiếng:
- Lạy
Bụt, chúng con rất sung sướng được Bụt dạy cho chúng con
về con đường tỉnh thức. Con nghe em Sujata nói gần sáu tháng
nay Bụt ngồi tu dưới gốc của cây Pippala này, và chính đêm
qua Bụt đã thành đạo dưới gốc cây Pippala này. Thưa Bụt,
cây Pippala này đẹp nhất trong rừng. Chúng con muốn đặt
tên cây này là cây tỉnh thức, có được hay không? Cây tỉnh
thức tức là cây Bồ Đề, bởi vì chữ bồ đề (bodhi) cũng
cùng một họ với chữ bụt, cũng có nghĩa là sự tỉnh thức.
Sa
môn Siddhatta Gotama gật đầu. Ông rất hoan hỷ. Ông không ngờ
trong một buổi nói chuyện ngắn ngủi với bọn trẻ nhỏ
trong rừng mà ông đã có tên, đạo của ông mới tìm được
đã có tên, và cây đại thọ nơi ông tìm ra đạo lớn cũng
đã có tên.
Nandabal
chắp tay:
- Chúng
con xin bái biệt Bụt hôm nay. Trời đã gần tối, ít hôm nữa
chúng con sẽ xin trở lại để được Bụt dạy dỗ.
Bọn
trẻ nhất loạt đứng dậy chắp tay búp sen để cám ơn và
từ giã Bụt. Chúng ríu rít vui mừng như một đàn chim. Bụt
cũng vui, Bụt đã quyết định ở lại rừng này trong một
thời gian để chiêm nghiệm về cách đem gieo rắc những hạt
giống của đạo tỉnh thức trong cuộc đời, đồng thời
cũng để có thời gian thể nghiệm đầy đủ niềm an lạc
lớn lao do sự chứng đạo đem tới.
Chương
20
NAI
NGỌC
Mỗi
ngày, Bụt đều có xuống tắm dưới dòng Neranjara. Người
thường đi bách bộ để thiền hành trên bờ sông hoặc ở
những con đường mòn trong rừng do chính dấu chân của ngài
tạo ra. Có khi Bụt ngồi tĩnh tọa trên bờ sông bên dòng
nước chảy. Có khi Bụt ngồi tĩnh tọa dưới cây bồ đề
trong lúc hàng ngàn chim chóc ca hát líu lo trên cành lá. Lời
nguyện xưa bây giờ đã được thực hiện. Bụt biết là
người sẽ trở về Kapilavatthu. Ở đó có nhiều người đang
chờ đợi Bụt. nhưng Bụt cũng nhớ rằng ở thành Rajagaha,
vua Bimbisara cũng đang đợi chờ người. Vua Bimbisara quả là
một người bạn tri kỷ của Bụt. Bụt phải đáp lại tấm
thịnh tình đó trước, và còn năm người bạn đồng tu nữa.
Bụt phải giúp đỡ họ. Họ là những người có khả năng
tiếp nhận đạo giải thoát. Có lẽ năm người ấy cũng chỉ
đang quanh quẩn trong vùng này mà thôi.
Dòng
sông, bầu trời, trăng sao, núi rừng cũng như từng ngọn cỏ
và từng hạt bụi đều trở nên mầu nhiệm đối với Bụt.
Người thấy những năm lang thang tìm Đạo của mình trước
kia không phải là vô ích. Chính nhờ những năm phong trần
ấy mà người thấy được rằng đạo sáng nằm ngay trong
tự tâm mình. Tâm của chúng sinh chính là tâm của giác ngộ.
Hạt giống tỉnh thức nằm ngay trong tâm của mỗi người.
Chúng sanh không cần đi tìm sự giác ngộ ở bên ngoài, bởi
vì mỗi sinh vật chứa đủ trong tự thân tất cả trí tuệ
và hùng lực của toàn vũ trụ. Đây là một phát kiên vĩ
đại của Bụt, và là một tin mừng lớn cho tất cả.
Bọn
trẻ đã rủ nhau trở lại nhiều lần để được Bụt dạy
dỗ. Trong khi tiếp xúc với chúng, Bụt vui mừng nhận ra rằng
đạo lý giải thoát có thể diễn bày bằng một ngôn ngữ
đơn giản và mộc mạc. Bọn trẻ, dù là những em bé chưa
bao giờ đi học cũng có thể hiểu được giáo pháp của Bụt.
Điều này làm cho Bụt phấn khởi. Có một bữa nọ, bọn
trẻ đã tới Bụt với một rỗ quít. Rỗ quít này do Sujata
đem đến. Chúng muốn được cùng ăn quít với Bụt trong sự
tỉnh thức để thực tập lại bài học đầu tiên mà chúng
đã được học về đạo Bụt. Sujata nâng rỗ quít đi mời
từng người. Trước hết cô bé quỳ trước Bụt và nâng
rỗ quít lên trên hai tay, đầu cô bé hơi cúi xuống trong dáng
diệu thành kính. Bụt chắp tay búp sen và tiếp nhận một
trái quít từ trong rỗ. Sujata hướng sang mời Svastika hiện
đang ngồi phía bên trái của Bụt, Svastika cũng chắp tay búp
sen như Bụt để tiếp nhận một trái quít. Sujata làm như
thế cho đến khi mọi người đều đã có trong tay một trái
quít mới trở về chỗ ngồi. Đặt rỗ quít trước mặt,
cô bé cũng chắp tay trước khi lấy lên một trái quít. Bọn
trẻ im lặng, Bụt bảo chúng theo dõi hơi thở và mỉm cười.
Rồi Bụt để trái quít lên trên lòng bàn tay trái, đưa lên,
nhìn vào trái quít để quán tưởng chiêm nghiệm. Bọn trẻ
đồng loạt làm như Bụt. Một lát sau, Bụt từ từ bóc quít,
bọn trẻ cũng làm như người. Thầy trò thong thả ăn quít
trong im lặng, trong tỉnh thức. Khi mọi người đã ăn xong
quít, Bala đi thu hồi tất cả những cái vỏ quít. Bọn trẻ
rất sung sướng được ăn quít với Bụt trong chánh niệm
và Bụt cũng cảm thấy một niềm vui lớn khi được ngồi
thực tập với bọn trẻ quê mùa nhưng rất dễ thương này.
Bọn
trẻ thường trở lại với Bụt vào những buổi chiều. Có
khi Bụt dạy chúng cách theo dõi hơi thở để điều phục
tâm ý trong những khi buồn bực hoặc nóng giận. Có khi Bụt
dạy chúng cách ngồi yên để làm cho tâm trí tĩnh lặng. Có
khi Bụt dạy chúng cách đi thiền hành để học nếm sự thảnh
thơi. Bụt dạy chúng thật kỹ về cách nhìn người và sự
việc: nhìn như thế nào để có thể thấy, có thể hiểu
và có thể thương. Bài dạy nào bọn chúng cũng hiểu được.
Mộ
hôm nọ, Nanbadaal và Sujata quyết định cùng nhau may một chiếc
áo ca sa mới để dâng Bụt. Hai chị em đã để ra một ngày
để làm chuyện này. Chiếc áo ca sa mới này màu gạch, hơi
giống với tấm vải mà Bụt đang choàng. Sujata đã khám phá
được nguồn gốc của tấm vải đó. Đó là tấm vải đã
được phủ lên thi hài của Radha, người ở của nhà cô,
khi còn quàng ngoài nghĩa địa. Radha đã chết vì bệnh thương
hàn. Ba mẹ của Sujata đã nuôi một người ở khác tên là
Purna. Khi biết rằng thầy mình đã phải lấy một tấm vải
ngoài nghĩa địa dể giặt đi mà làm áo ca sa. Sujata như muốn
khóc, và đó là lý do khiến cô bé đi tìm người chị họ.
Ngày
hai chị em đem áo vào dâng, Bụt đang ngồi thiền dưới gốc
Bồ Đề. Hai chị em ngồi im lặng đợi cho đến khi người
xuất thiền mới dâng áo ca sa lên. Bụt rất vui lòng khi có
áo mới. Người nói người sẽ cần đến áo này. Và người
nói người muốn giữ lại tấm vải, để mỗi khi giặt áo
thì có vật khoác lên trên người. Nghe nói thế, Nanbadala và
Sujata quyết định may thêm cho Bụt một chiếc nữa để người
có thể thay được áo ngoài mà đem đi giặt.
Một
hôm nọ, bọn trẻ được nghe Bụt kể một chuyện tiền thân.
Hôm ấy chúng đến khá đông, bé Balagupta hỏi Bụt về tình
bạn. Balagupta là một cô bạn gái của Sujata, mới lên mười
hai tuổi. Sở dĩ Balagupta hỏi Bụt về tình bạn vì ngày hôm
trước cô đã cùng với cô bạn gái là Jatilika có chuyện
xích mích cùng nhau, và hôm nay trước khi đi vào thăm Bụt
cô bé đã định không ghé vào rủ Jatilika cùng đi, nhưng cuối
cùng, Sujata đã ép cô vào rủ Jatilika, Jatilika đã chiều Sujata
mà đi, nhưng khi tới cội bồ đề, đôi bạn ngồi ra hai góc
chứ không ngồi gần sát bên nhau như trong những lần khác.
Bụt
kể cho bọn trẻ nghe về tình bạn giữa một con nai, một
con chim và một con rùa. Theo Bụt thì chuyện này đã xảy ra
từ thời xa xưa, cách đây hàng ngàn năm, lúc Bụt còn là
một con nai. Bọn trẻ ngạc nhiên, nhưng Bụt bảo:
- Trong
những kiếp trước, chúng ta ai cũng đều đã từng làm đất,
làm đá, làm sương, làm gió, làm nước, làm lửa. Chúng ta
ai cũng đã từng làm làm rêu, làm cỏ, làm cây cối, làm côn
trùng, làm cá, làm rùa, làm chim muông, làm thú vật. Điều
này ta tấy rất rõ trong thiền quán của ta. Vậy thì trong
một kiếp trước, ta đã làm một con nai, đó là chuyện rất
thường. Ta còn nhớ, có một kiếp nọ, ta làm một mỏm đá
trên đỉnh núi. Có một kiếp khác nữa, ta đã làm một cây
bông sứ. Các con cũng vậy, chuyện ta sắp kể là chuyện một
con nai, một con chim, một con rùa và một bác thợ săn. Có
thể là một đứa trong các con ngày xưa ấy đã làm con chim,
và một đứa khác làm con rùa.
Các
con nên biết, có một thời nọ, trên cõi đất của chúng
ta, chưa có mặt của loài người, và cũng chưa có mặt chim
chóc và muông thú. Lúc ấy chỉ có rong rêu dưới nước và
cây cối trên cạn mà thôi. Hồi đó, chúng ta chỉ có thể
là đất đá, sương khói hoặc cây cối. Rồi từ đó mà chúng
ta luân chuyển thành chim chóc, thành các loài cầm thú và thành
con người. Ngay trong kiếp này, chúng ta cũng không phải chỉ
là người. Ta là người nhưng ta cũng đồng thời là cây lúa,
là cây dừa, là trái quít, là dòng sông, là không khí ... bởi
vì không có mặt những thứ đó thì con người cũng không
thể nào có mặt. Cho nên khi các con nhìn cây lúa, trái dừa,
trái quít, dòng sông, các con nên nhớ trong kiếp này tuy mình
là người mình cũng phải nương tựa vào các loài ấy và
mình cũng có thể nói rằng mình là những loài ấy. Thấy
được như vậy mới thật là có hiểu biết và có tình thương.
Chuyện
ta sắp kể cho các con nghe tuy đã xảy ra cách đây hàng ngàn
năm nhưng có thể là đang xảy ta ngay trong giờ phút này. Các
con hãy lắng nghe cho kỹ mà suy nghĩ, để xem mình có dính
líu gì tới những con vật ở trong truyện hay không!
Rồi
Bụt bắt đầu kể. Thuở ấy Bụt là một con Nai ở trong
rừng. Trong rừng có một hồ nước. Dưới hồ nước có một
con Rùa. Bên hồ nước có một cây dương, và trên cây dương
có một con chim Sáo. Nai, Rùa, và Sáo chơi nhau rất thân. Một
hôm có một người thợ săn đi theo hai dấu chân Nai tới bên
hồ, nơi Nai thường xuống uống nước. Ông ta đặt một cái
bẫy bằng những sợi dây da rất chắc ở đó, rồi đi về
nhà. Nhà ông ta không xa bìa rừng là mấy.
Chiều
hôm ấy, tới bờ hồ dể uống nước. Nai bị mắc bẫy, Nai
kêu lên, Rùa và Sáo nghe tiếng Nai. Rùa bò đến, Sáo bay tới.
Thấy Nai bị nạn, Rùa và Sáo bàn nhau phương thức giải cứu
cho bạn. Sáo nói với Rùa: “Chị Rùa ơi, chị có răng khỏe
thì chị hãy gắng gặm cho đứt những chiếc dây da của cái
bẫy này, còn em, em sẽ tìm cách ngăn ông thợ săn lại, đừng
cho ông tới”. Nói xong, Sáo vội vã bay đi.
Rùa
khởi sự gặm các sợi dây da. Sáo bay ra khỏi rừng, tới
nhà người thợ săn và đậu sẵn trên một cành cây xoan trước
cửa nhà, chờ đợi. Trời sáng, người thợ săn cầm lấy
con dao nhọn và mở cửa đi ra. Thấy người thợ săn bước
ra, Sáo vỗ cánh bay tới và lao mình vào mặt ông ta bằng hết
cả sức mạnh. Bị Sáo đạp vào mặt, bác thọ săn choáng
váng. Bác trở lui vào nhà. Bác nằm xuống giường để nghỉ
ngơi chốc lát. Hồi lâu sau bác lại chồm dậy, cầm lấy
con dao nhọn. Lần này, bác đi ra bằng cửa sau, nhưng Sáo đã
biết trước. Sáo đã chực sẵn trên một cành mít ở sân
sau. Khi bác thợ săn mở cửa đi ra. Sáo lại vỗ cách và lao
mình vào mặt bác một lần nữa.
Bị
chim tấn công hai lần liên tiếp, bác thợ săn quay vào nhà.
Bác suy nghĩ: Ngày hôm nay xấu quá, dù ta đi bằng ngõ trước
hay bằng ngõ sau thì cũng bị con chim quái gỡ này ngăn cản.
Thôi ta hãy nghĩ ngơi, để ngày mai sẽ vào rừng.
Sáng
hôm sau, người thợ săn thức dậy sớm. Cầm lấy chiếc dao
nhọn, ông lấy nón đội lên che kín mặt rồi mở cửa đi
ra. Không tấn công ông ta vào mặt được nữa. Sáo lập tức
bay về rừng báo cho hai bạn:
- Bác
thợ săn sắp tới.
Lúc
ấy Rùa đã gặm đứt gần hết các sợi dây a. Chỉ còn có
một sợi nữa thôi là Nai có thể thoát được. Rùa dùng hét
sức bình sinh để gặm, nhưng sợi dây này cứng quá, cứng
như thép. Răng của Rùa gần như là sắp rụng hết và miệng
Rùa chảy máu rất là tội nghiệp. Rùa đã ra sức gặm trong
hai đêm và một ngày, miệng Rùa không chảy máu sao được.
Trong
lúc đó người thợ săn vừa tới. Trông thấy ông ta, Nai hoảng
kinh vùng mạnh một cái. Nhờ vậy sợi dây mà Rùa gặm nửa
chừng bị đứt. Nai vội phóng vào rừng. Lúc đó Sáo đã
bay lên đậu trên cây dương, nhưng Rùa kiệt sức quá, không
bò đi đâu được. Thấy mất Nai, bác thợ săn tức lắm.
Bác lượm lấy Rùa, bỏ vào trong một cái túi da và treo túi
trên một thân cây rồi đi tìm Nai.
Lúc
đó, Nai đang đứng sau một bụi rậm nhìn ra để thăm chừng
các bạn. Nai nghĩ: “Các bạn đã liều thân cứu ta, đến
lượt ta, ta cũng phải liều thân cứu bạn”. Nghĩ như thế,
Nai từ từ bước ra cho người thợ săn trông thấy. Nai làm
ra vẻ kiệt sức và khuỵu hai chân trước xuống.
Người
thợ săn nghĩ:
- Con
Nai này kiệt sức rồi, Ta có thể đuổi theo nó và đâm nó
một nhát.
Ông
ta liền cầm đao đuổi theo Nai. Nai đứng dậy từ từ đi
vào rừng, dụ bác thợ săn đi theo. Sau khi đã dụ được
bác thợ săn đi vào khá sâu trong rừng, Nai vụt chạy thật
nhanh, làm mất dấu chân mình, rồi phóng trở ra hồ nước.
Tới bên cây dương, Nai dùng gạc của mình đẩy cái túi da
của bác thợ săn úp ngược xuống. Nhờ vậy Rùa rơi ra khỏi
túi. Sáo cũng bay tới gần. Nai nói với hai bạn:
- Nhờ
hai bạn mà tôi đã thoát chết về tay người thợ săn. Tôi
cám ơn hai bạn. Người thợ săn sẽ trở lại ngay bây giờ.
Anh Sáo, anh hãy dời tổ anh đi nơi khác, còn chị Rùa, xin
chị bò xuống nước đi thôi. Mau lên, còn tôi, tôi sẽ đi
ngay vào rừng.
Khi
người thợ săn trở lại, ông ta thấy Rùa đã thoát đi đâu
mất. Nai và Sáo cũng bặt tăm. Buồn bã, ông ta đeo túi và
cầm dao đi về nhà.
Bé
Rupak và bé Subash nghe đến chỗ con Rùa gặm những sợi dây
da suốt hai đêm và một ngày khiến cho miệng Rùa chảy máu
thì lấy làm thướng lắm. Chúng nó gần khóc. Kể xong chuyện
tiền thân, Bụt hỏi:
- Các
con nghĩ xem, thuở ấy ta là Nai, còn ai trong các con là Rùa?
Bốn
em bé đưa tay lên. Svastika nhận thấy trong số những người
đưa tay có cả Sujata. Bụt lại hỏi:
- Vậy
ai trong các con là Sáo?
Lần
này Svastika đưa tay lên. Nó nhận thấy có hai đứa nữa cũng
đưa tay lên. Đó là Jatilika và Balagupta.
Sujata
nhìn Jatilika rồi nhìn Balagupta:
- Cả
hai em đều là Sáo, như vậy hai người chỉ là một người.
Sáo mà giận Sáo thì còn ra gì nữa. Tình bạn của chúng ta
không bằng tình bạn giữa Sáo, Rùa và Nai hay sao?
Nói
xong Sujata lại nhìn Balagupta, Balgupta hiểu ý, đứng dậy. Cô
bé tiến tới chỗ Jatilika, đưa hai tay nắm lấy tay bạn. Jatilika
cũng đưa hai tay ôm Balagupta vào lòng, rồi nó ngồi xịch ra
một bên cho Balagupta có chỗ ngồi sát bên nó.
Bụt
mỉm cười:
- Các
con đã hiểu được chuyện tiền thân. Các con nên nhớ rằng
chuyện tiền thân như chuyện ta vừa kể đang xảy ra trong
cuộc sống hàng ngày giữa chúng ta.