Chương
11
TIẾNG
SÁO CANH KHUYA
Udayin,
Devadatta, Kimbila, Mahnama, Kaludayi và Anuruddha là những người
bạn thường đến chơi với Siddhatta để luận bàn chính trị
và đạo đức cùng với Ananda và Nanda, họ sẽ là những người
thần tử thân cận nhất của Siddhatta sau này khi chàng lên
nối ngôi vua. Những cuộc đàm luận kéo dài sau tiệc rượu,
và chiều ý các bạn, Siddhatta đã để cho những đoàn vũ
nhạc của hoàng gia trình diễn có khi đến suốt đêm. Devadatta
thường nói thao thao bất tuyệt về chính trị. Udayin và Mahanama
là những người hưởng nứg nhiều nhất và thảo luận về
những điểm mà Devadatta đưa ra ma không biết mệt mỏi.
Siddhatta nói rất ít. Có khi giữa một hội ca vũ, nhận thấy
Anuruddha ngồi ngủ gục không tỏ ý gì tha thiết với các
cuộc vui, chàng nắm tay Anuruddha đưa ra vườn. Hai người im
lặng ngắm trăng và nghe tiếng suối róc rách chảy. Anuruddha
là em ruột của Mahanama. Hai người đều là con trai của thân
vương Amiriodana, chú ruột của Siddhatta. Anuruddha tính tình
hòa nhã, diện mạo xinh đẹp, thường được các công nương
để ý theo dõi, nhưng chàng không để tâm tới chuyện tình
duyên. Có khi Siddhatta và Anuruddha ngồi chơi ngoài ngự viên
thật khuya, và khi tiếng đàn hát trong cung đã im bặt chàng
mới lấy ống sáo ra thổi dưới ánh trăng vằng vặc. Lúc
này các vương tử và bạn bè đều say sưa hoặc mệt mỏi
nên đã được mời vào an nghỉ trong cung tại các phòng dành
cho tân khách. Sau khi sắp đặt đâu đấy xong xuôi và cho bọn
người hầu đi ngủ, Copa thường đi đốt một lò trầm nhỏ
và đem ra vườn. Nàng lặng lẽ đặt lư trầm lên bệ
đá rồi ngồi xuống trên một chiếc ghế gần bên để lắng
nghe tiếng sáo dìu dặt bỗng trầm trong canh khuya.
Thấm
thoát mà đã đến ngày Yasodhara mãn nguyệt khai hoa. Vương
phi khuyên con ở lại nội cung để sinh nở mà đừng về quê
ngoại ở Ramagama, bởi chính bà cũng đang cư trú ở Kapilavatthu.
Bà bàn với hoàng hậu ma và sắp đặt mời các bà mụ giỏi
nhất trong kinh đô về cung để giúp Yasodhara. Ngày Yasodhara
lâm bồn, hoàng hậu Gotami có mặt mà vương phi Pamita mẹ của
Yasodhara cũng có mặt. Mọi người yên lặng chuẩn bị giờ
ra đời của em bé. Trong cung, một bầu không khí nghiêm trọng
bao phủ. Vua Suddhodana không có mặt ở đây nhưng Siddhatta biết
rằng phía bên kia cung điện phụ vương chàng cũng đang khắc
khoải chờ đợi. Mới vừa đây, Yasodhara còn ngồi với chàng,
khi bắt đầu kêu đau, Yasodhara đã được các thị nữ vực
vào phòng trong. Bây giờ là vào giữa trưa, nhưng bỗng dưng
trời tối sầm lại như có bàn tay ai che mát mặt trời. Siddhatta
ngồi ngoài này, cách nàng tới hai lớp cửa, nhưng những tiếng
rên siết của nàng từ bên trong đưa ra chàng đều nghe rõ
mồn một. Càng lúc niềm lo lắng của chàng càng lớn thêm,
rồi những tiếng đau đớn của Yasodhara vọng lên không ngớt.
Siddhatta nóng ruột, những tiếng gào của nàng làm nát cả
tâm can thái tử. Chàng không thể ngồi yên một chỗ. Chàng
đứng dậy đi bộ trong phòng, có khi Yasodhara thét lên những
tiếng lanh lảnh làm cho chàng hốt hoảng. Mẹ sinh ra chàng,
hoàng hậu Mahamaya, ngày xưa vì sinh chàng mà đã mệnh chung;
chàng không bao giờ quên sự thật nát lòng này. Bây giờ đến
Yasodhara. Bây giờ đến đứa con của chàng. Sinh đẻ là một
cửa ải mà người đàn bà có chồng phải có lúc vượt qua:
một cửa ải nguy hiểm không cùng. Qua được là sống mà
không qua được là chết, mà có khi chết cả hai mẹ con. Nhớ
đến lời dạy của vị sa môn mà chàng đi thăm mấy tháng
về trước, chàng ngồi lại trong tư thế hoa sen để bắt
đầu điều phục tâm ý. Đây là một giây phút thử thách.
Chàng phải giữ được tâm bình lặng trước những tiếng
thét của Yasodhara. Chàng vừa ngồi lại thì bỗng thấy hình
bóng của một em bé sơ sinh hiện ra trong óc. Hình bóng của
đứa con chàng. Ai cũng mong ước cho chàng có một đứa con,
và sẽ vui mừng cho chàng vì chàng có một đứa con. Chính
chàng, chàng cũng đã ao ước có một đứa con, nhưng bây giờ
đây, trong giờ phút quyết liệt này, chàng cảm thấy có một
đứa con là một biến cố vô cùng quan trọng. Mình chưa tìm
ra được đường đi cho chính mình, mình chưa biết mình đi
về đâu, mà mình sinh con ra há chẳng phải tội nghiệp cho
con lắm sao?
Bỗng
nhiên tiếng la hét của Yasodhara im bặt. Chàng bật người
đứng dậy, Cái gì đang xảy ra? Trái tim của chàng đập mạnh.
Để lấy lại bình tĩnh chàng chú tâm vào hơi thở. Chính
vào lúc ấy có tiếng oe oe của một đứa trẻ vọng ra. Biết
là em bé đã sinh, Siddhatta đưa tay lên mồ hôi trên trán.
Bà
Gotami mở cửa đi ra nhìn chàng, miệng bà mỉm cười. Siddhatta
biết rằng mẹ con Yasodhara đã được bình yên. Hoàng hậu
ngồi xuống phía trước mặt chàng. Bà nói:
- Gopa
đã sinh con trai.
Siddhatta
mỉm cười, nhìn mẹ với cặp mắt cám ơn. Chàng nói:
- Con
đặt tên cho nó là Rahula.
Chiều
hôm đó, Siddhatta được vào thăm hai mẹ con Rahula. Hai mắt
sáng ngời nhìn chàng, tràn đầy hạnh phúc. Bên cạnh nàng
là em bé. Em bé đã được bọc trong lụa, và chàng chỉ thấy
được khuôn mặt bụ bẫm của con. Siddhatta nhìn Yasodhara.
Nàng ra đấu ưng thuận. Chàng cúi xuống bế Rahula lên và
ôm con vào trong hai tay. Yasodhara nhìn theo. Cũng như hồi nãy,
chàng vừa có cảm giác phơi phới lâng lâng mà cũng vừa có
cảm giác lo lắng nặng nề.
Yasodhara
được tĩnh dưỡng nhiều ngày trong cung. Hoàng hậu Gotami săn
sóc nàng thật kỹ lưỡng từ thức ăn đến lò sưởi. Mỗi
buổi chiều, khi về đến tư cung, Siddhatta lại vào thăm hai
mẹ con. Ôm Rahula trong tay, Siddhatta cảm thấy sự quý giá và
mong manh của một mầm sống. Chàng nhớ lại hôm đi đám hỏa
táng của em bé ở xóm nghèo. Em bé là một em bé trai chỉ
chừng bốn tuổi. Xác nó còn để trên giưòng, khi chàng với
Yasodhara tới. Em bé không có một chút sinh khí nào. Thân hình
nó vừa trắng bệch, vừa xanh xao, vừa gầy ốm. Mẹ của
em bé vẫn còn ngồi bên giường vừa chùi nước mắt vừa
khóc kể. Một lát sau, ông thầy Bà la môn tới. Mấy người
láng giềng đã túc trực tại đó từ bao giờ. Họ quấn xác
em bé vào trong vải hồng rồi đặt em bé vào trong một cái
cáng tre mà họ đã làm sẵn để đưa em ra bờ sông. Siddhatta
và Yasodhara đi theo sau, trong đám người nghèo khổ. Ngoài bờ
sông, đã có dựng một hỏa đàn nhỏ, rất đơn giản. Theo
sự chỉ dẫn của ông thầy cúng, người ta khiêng cáng xuống
sông và nhúng xác em bé vào dòng nước. Đó là lễ tẩy tịnh;
người ta tin rằng nước sông Banganga thiêng liêng sẽ rửa
sạch nghiệp chướng của em bé. Rồi người ta đem cáng lên
bờ đặt xuống để nước giọt đi bớt. Một người đàn
ông đi chế dầu thơm vào hỏa đàn. Thi thể của em bé được
đạt lên giàn hỏa. Ông thầy Bà la môn, tay cầm đuốc, vừa
đi quanh hỏa đàn vừa đọc kinh, Siddhatta nhận ra những đoạn
trong kinh Vệ Đà. Đi quanh được ba vòng, ông thầy châm lửa
vào giàn hỏa. Lửa phật cháy, Mẹ và các anh chị của đứa
bé òa lên khóc. Lửa đã bắt đầu táp vào thi thể em bé.
Siddhatta nhìn Yasodhara. Mắt nàng đẫm lệ. Siddhatta bất giác
cũng muốn khóc. Bé ơi, bé ơi, bé đang đi về đâu?
Siddhatta
trả Rahula lại cho mẹ nó. Chàng đi ra vườn ngự, và chàng
ngồi ở ghế đá một mình cho đến khi màn đêm buông xuống
và một cô thị nữ ra tìm chàng:
- Tâu
điện hạ, lệnh bà cho con đi tìm điện hạ. Hoàng thượng
ngự giá sang thăm.
Siddhatta
đi vào. Đèn đuốc đã được thắp lên sáng trưng trong cung
điện.
Chương
12
CON
NGỰA KANTHAKA
Sức
khẻo của Yasodhara trở lại bình thường, và nàng đã có
thể bắt đầu lại công việc, tuy rằng nàng để khá nhiều
thì giờ lo cho bé Rahula. Một sáng mùa Xuân nọ, Channa đánh
xe song mã đưa Siddhatta và Yasodhara đi ra ngoài thành du ngoạn,
theo lời khuyên nhủ của bà Gotami. Rahula cũng được ẵm theo
và một cô thị nữ tên Ratna cũng được đi theo để săn
sóc bé.
Nắng
ấm đã lên. Lá cây xanh mơn mởn. Hoa nở khắp nơi, những
cây vô ưu và những cây hồng táo nở hoa đầy mình. Chim chóc
ca hát bốn phía. Channa cho xe đi chậm. Có những người dân
quê nhận ra được Siddhatta và Yasodhara. Họ đứng dậy đưa
cả hai tay lên vẫy. Xe đã ra tới bờ sông Banganga. Bỗng nhiên,
Channa ghim cương ngựa lại. Mọi người nhìn về phía trước
mặt. Một người đang nằm chặn giữa đường, tay chân người
đó co quắp lại. Toàn thân người đó run rẫy. Miệng người
đó không ngớt kêu rên. Siddhatta nhảy xuống, lại gần. Channa
cũng buộc cương ngựa vào thành xe, nhảy xuống. Người nằm
bên đường là một người đàn ông, tuổi chưa tới ba mươi.
Siddhatta cầm lấy tay người ấy và ngước mắt hỏi Channa:
- Ngưòi
này trúng gió phải không, Channa? Anh hãy giúp ta xoa bóp và
đánh gió cho ông ta.
Channa
lắc đầu:
- Thưa
điện hạ, đây không phải là triệu chứng của người trúng
gió. Người này mắc phải chứng dịch hạch. Chứng này hiện
chưa có thầy thuốc nào biết cách chữa.
- Khổ
chưa, thái tử Siddhatta nhìn kỹ lại người bệnh. Ta có nên
chở ông ta về cho ngự y xem xét không?
- Thưa
điện hạ, bệnh này ngự y cũng không trị nổi, mà bệnh
này lại hay lây. Nếu ta chở người này lên xe thì bệnh có
thể lây tới lệnh bà, tới cậu Rahula, và tới cả điện
hạ nữa. Xin điện hạ buông tay người ấy ra đi, kẻo nguy
hiểm lắm.
Siddhatta
vẫn không buông tay người bệnh. Chàng nhìn tay người bệnh
rồi nhìn lại tay chàng. Chàng biết chàng là một người mạnh
khẻo, nhưng nhìn thấy người bệnh trạc tuổi mình đang nằm
trước ngưỡng cửa của cái chết, bao nhiêu sự tự hào về
sức khẻo và sự may mắn của riêng mình đột nhiên tan biến
hết nơi chàng. Từ bờ sông, bỗng có tiếng khóc than vọng
lại. Chàng đưa mắt nhìn lên. Lại một đám ma. Lại một
giàn hỏa. Tiếng đọc kinh đã vọng lên chen lẫn với tiếng
khóc than và tiếp đến là tiếng phần phật của giàn lửa
bốc cháy.
Siddhatta
nhìn xuống thì người bệnh dưới chân mình đã tắt thở.
Hai con mắt ông ta còn trợn trừng. Chàng đặt bàn tay người
ấy xuống, đưa tay vuốt mắt người chết. Khi đứng dậy
thì chàng thấy Yasodhara đã đứng dẵn sau lưng chàng không
biết từ lúc nào.
Nàng
nói giọng nhỏ nhẹ:
- Xin
điện hạ xuống rửa tay dưới bến sông. Channa, anh cũng nên
xuống sông rửa tay đi. Rồi chúng ta đánh xe vào xóm báo cho
nhà chức trách địa phương biết để họ lo liệu.
Cuộc
du hành mùa Xuân tới dây là chấm dứt. Siddhatta báo Channa
đánh xe trở về cung điện. Trên đường về không ai nói
với ai một lời nào.
Tối
hôm ấy, Yasodhara nằm mơ thấy toàn là những ác mộng. Trong
giấc mơ đầu, nàng thấy một con bò mộng trắng, trên đầu
có gắn một viên ngọc lớn lấp lánh như sao Bắc đẩu. Con
bò đi từng bước thong thả qua đường phố thành Kapilavatthu
và hướng về cổng thành. Từ đền thờ Indra, có tiếng thiên
thần la lớn: “Nếu không giữ được con bò này lại thì
kinh đô này còn đâu là ánh sáng”. Mọi người trong thành
đều chạy đến cố sức giữ bò lại, nhưng rốt cuộc, không
ai giữ được nó. Con bò thoát ra khỏi thành và đi mất.
Trong
giấc mộng thứ hai, nàng thấy bốn vị vua trời từ trên
đỉnh núi Tu Di phóng hào quang ngay thành Kapilavatthu. Ngọn cờ
đang bay phấp phới trên đền thờ Indra bỗng dưng đập mạnh
và rơi xuống đất. Hoa ở trên trời rơi xuống như mưa, hoa
đủ năm màu, chói lọi. Khắp nơi như mở đại hội, và tiếng
nhạc từ trên không vang dội khắp kinh kỳ.
Trong
giấc mộng thứ ba, nàng nghe tiếng hô to trong không gian: “Giờ
đã đến! Giờ đã đến!”. Nàng hoảng hốt nhìn sang chỗ
Siddhatta ngồi thì không còn thấy Siddhatta ở đấy. Những
chiếc hoa lài cài trên tóc nàng bỗng rơi xuống sàn nhà và
biến thành tro bụi. Tất cả những áo mão và đồ trang sức
mà Siddhatta để lại trên ghế chàng bây giờ bỗng biến thành
một con rắn đang trườn ra phía cửa. Trong hoảng hốt, nàng
nghe tiếng rống của con bò trắng từ phía ngoài thành. Nàng
nghe tiếng phần phật của ngọn cờ trên đền thờ Indra,
và nàng nghe tiếng hô lớn trong không gian: “Giờ đã đến!
Giờ đã đến!”.
Yasodhara
thức giấc. Trán nàng toát mồ hôi. Quay sang phía Siddhatta,
nàng lay chàng dậy:
- Anh,
anh ơi, anh thức dậy đi anh.
Siddhatta
vẫn còn thức. Chàng đưa tay vỗ về Yasodhara. Chàng nói:
- Em
vừa mới mơ thấy gì đó? Hãy kể cho anh nghe đi.
Yasodhara
kể lại những giấc mộng của nàng, và nàng hỏi chàng:
- Có
phải những giấc mộng ấy báo trước rằng anh sẽ ra đi
tìm đạo và bỏ em ở nhà một mình phải không anh?
Siddhatta
im lặng nghe. Chàng an ủi nàng:
- Này
Gopa, em đừng buồn. Anh biết em là một người có chí khí.
Anh biết em là người cộng sự của anh, và em có thể giúp
anh hoàn thành được chí nguyện. Em hiểu anh hơn ai hết trong
những người thân thuộc của chúng ta. Vậy nếu mai này mà
anh phải đi và phải xa em, xa em trong một thời gian, anh mong
rằng em sẽ có đủ can đảm để tiếp tục công việc của
em. Em sẽ chăm sóc con và nuôi con lớn lên, dù anh có đi, dù
anh có ở xa em thì tình thương của anh đối với em bao giờ
cũng thế. Anh sẽ chẳng bao giờ không yêu em. Nếu em biết
như thế thì em có thể chịu đựng được sự xa cách. Khi
anh tìm được đạo, anh sẽ trở về với em, với con. Thôi
em ngủ lại đi.
Tiếng
Siddhatta ôn tồn, ngọt ngào và vỗ về đi thẳng vào lòng
Yasodhara. Nàng có đủ đức tin nơi chàng. Nàng ngoan ngoãn nhắm
mắt lại.
Sáng
hôm sau, Siddhatta vào gặp vua cha. Chàng tâu:
- Thưa
phụ vương, con xin phép phụ vương xuất gia để tìm đạo.
Vua
Suddhodana giật mình, tuy đã từng nghĩ đến biến cố có thể
xảy ra này, nhưng vua chưa bao giờ nghĩ nó xảy ra một cách
đột ngột như vậy. Trầm ngâm hồi lâu, ngài nhìn con rồi
nói:
- Ngày
xưa trong giòng họ ta thỉnh thoảng cũng có người đi xuất
gia làm sa môn, nhưng không ai bỏ nhà ra đi vào tuổi của con
cả. Ai cũng đợi đến sau tuổi năm mươi. Sao con không làm
như thế? Con của con còn nhỏ, và nước nhà đang trông cậy
vào con ...
- Thưa
phụ vương, một ngày con ngồi trong cung cũng như một ngày
con ngồi trên đống lửa. Tâm con không an thì làm sao con có
thể đáp lại sự trông cậy của phụ vương, của nước
nhà, cũng như của bất cứ ai? Con thấy ngày tháng qua rất
mau, tuổi trẻ của con cũng vậy. Xin phụ vương cho phép con
...
Vua
ôn tồn:
-
Con nên nghĩ đến sơn hà, xã tắc, đến ta, đến Yasodhara
và đến đứa con còn trứng nước của con.
- Thưa
phụ vương, chính vì con nghĩ đến cho nên con mới xin phép
phụ vương cho con ra đi. Con đi đây không phải là để cho
một mình con. Con không ích kỷ đi trốn tránh nhiệm vụ của
con. Chính phụ vương cũng biết rằng phụ vương không giúp
được cho con giải tỏa những khổ đau dằn vặt trong con.
Ngay cả những khổ đau dằn vặt trong lòng phụ vương, phụ
vương cũng chưa giải tỏa được.
Vua
đứng dậy nắm lấy tay chàng:
- Con
biết rằng ra rất cần con. Con là người mà ta đặt hết
kỳ vọng của ta. Con đừng bỏ ta.
- Con
không bao giò bỏ phụ vương. Con chỉ xin phụ vương đi xa.
Chừng nào đạt đạo con sẽ trở về.
Nét
mặt Suddhodana dàu dàu. Ngài không nói gì nữa. Ngài bỏ vào
biệt điện.
Chiều
hôm đó, hoàng hậu Gotami qua ở lại suốt buổi với Yasodhara.
Cũng
chiều hôm đó, Udayin bạn của Siddhatta đến chơi. Chàng rủ
theo Devadatta, Ananda, Anuruddha, Kimbila và Bhadrika, những người
trai trẻ đòi tổ chức cuộc vui. Udayin đã mời được đoàn
vũ công tài ba nhất trong kinh thành đến. Đèn đuốc thắp
lên sáng rực cả cung điện.
Bà
Gotami cho Yasodhara biết là Udayin đã được vua cho triệu tới
và giao trách nhiệm làm đủ mọi cách để ngăn Siddhatta bỏ
nhà ra đi. Cuộc vui tối nay nằm trong chương trình hành động
của chàng.
Yasodhara
ra lệnh cho các thị nữ đi lo thức ăn và thức uống cùng
các nhu cầu khác cho cuộc vui và nàng ở lại bên trong đàm
đạo với phu nhân Gotami trong khi bên ngoài công viên Siddhatta
tiếp đãi các bè bạn. Hôm đó là ngày trăng tròn tháng Uttarasalha.
Khi tiếng nhạc của cuộc vui bắt đầu trổi đậy thì trăng
cũng bắt đầu nhô lên trên rặng cây phía trời Đông Nam.
Bà
Gotami tâm sự với Yasodhara cho tới khuya mới về cung an nghỉ.
Khi đưa bà ra sân. Yasodhara thấy trăng đã lên tới đỉnh
đầu. Cuộc vui còn tiếp diễn với tiếng trống tiếng nhạc
và tiếng nói cười. Đưa hoàng hậu Gotami khỏ ngõ, nàng trở
vào đi tìm Channa. Người hầu cận này đang ngủ. Nàng đánh
thức Channa dậy, thầm thì:
- Có
thể đem nay thái tử cần đến ngươi. Hãy chuẩn bị cho con
Kanthaka, yên cương dầy đủ, và cũng nên chuẩn bị một con
ngựa khác cho chính ngươi.
- Thưa
lệnh bà, thái tử đi dâu vào giờ này?
- Ngươi
đừng hỏi, cứ việc chuẩn bị như lời ta dặn vì thái tử
có thể cần đến ngươi trong đêm nay.
Channa
vâng dạ đi vào tàu ngựa. Yasodhara đi trở vào trong cung. Nàng
sắp đặt sẵn giày nón và áo dạ hành cho thái tử. Nàng
lại đi lấy thêm một chiếc chăn mỏng để đắp thêm cho
Rahula, rồi nàng thay áo và lên giường. Nằm trên giường,
nằng lắng nghe tiếng nhạc, tiếng ca, tiếng nói và tiếng
cười. Cuối cùng, cuộc vui tan. Có lẽ mọi người đều đã
tìm nơi an nghỉ. Yasodhara nằm yên lắng nghe sự im lặng trở
về trong cung cấm. Nằm nằm yên chờ đợi, nhưng lâu lắm
nàng vẫn không thấy Siddhatta đi vào.
Trong
khi đó, Siddhatta ngồi một mình thật lâu ngoài vườn ngự.
Chàng nhìn lên trời. Trăng sáng vằng vặc, ngàn sao nhấp nháy.
Chàng quyết định đêm nay phải rời bỏ hoàng cung. Chàng
đi vào, mang giày và mặc áo. Chàng vén rèm nhìn vào phòng
ngủ , Rahula nằm ngay bên cạnh. Chàng muốn vào nói lời từ
biệt nàng, nhưng chàng lưỡng lự, những lời dặn dò cần
thiết nhất, chàng đã nói với nàng rồi. Thức nàng dậy
chàng biết chàng sẽ làm cho phút biệt ly khó khăn hơn, và
não lòng hơn, Chàng buông rèm xuống, định bước chân ra,
nhưng chàng đứng lại vén rèm lần nữa, để nhìn hai mẹ
con một lần cuối. Chàng nhìn thật kỹ như để thu lấy thêm
một lần nữa cái hình ảnh quen thuộc và thân yêu ấy. Cuối
cùng chàng buông rèm, bước ra.
Khi
đi ngang qua phòng khánh tiết. Siddhatta thấy bọn vũ nữ nằm
ngủ la liệt và ngã nghiêng trên nệm thảm. Đầu tóc họ
xổ tung, có người mở rộng miệng ra như những con cá chết,
những cánh tay mềm mại của họ bây giờ cứng đơ như những
thanh củi, và chân họ gác ngang gác ngửa như trên một bãi
chiến trường. Họ trông giống như những cái xác chết không
hồn. Siddhatta có cảm tưởng mình đang bước ngang qua một
cái nghĩa địa.
Chàng
mở cửa ra đi ra phía chuồng ngựa. Channa đang thức. Chàng
bảo:
- Channa,
đem con Kanthaka ra đây.
Channa
vâng dạ. Channa đã chuẩn bị mọi sự chu đáo rồi. Con Kanthaka
đã có đủ yên cương. Channa thưa lại:
- Con
có đi với điện hạ không?
Siddhatta
gật đầu. Channa đi vào tàu, dắt ra một con ngựa khác. Con
ngựa này cũng đã có đủ yên cương.
Hai
thầy trò dắt ngựa ra khỏi cung. Siddhatta dừng lại, vuốt
ve con Kanthaka. Chàng nói với ngựa:
- Này
Kanthaka, chuyến đi này là một chuyến đi quan trọng. Con hãy
hết lòng đưa ta đi.
Chàng
nhảy lên mình ngựa. Channa cũng nhảy lên ngựa của mình.
Hai thầy trò cho ngựa đi thong tha để đừng gây nên nhiều
tiếng động.
Những
người lính gác cửa thành đang ngủ say. Hai thầy trò vượt
qua cổng thành một cách dễ dàng. Ra khỏi cổng thành, được
chừng một dặm, Siddhatta dừng ngựa. Chàng quay nhìn lại kinh
đô đang nằm im lìm dưới ánh trăng. Chính nơi kinh đô này
mà Siddhatta đã sinh ra và lớn lên. Chính nơi kinh đô này mà
chàng đã trải qua bao nhiêu buồn vui và thao thức. Chính trong
kinh đô ấy, phụ hoàng, bà Gotami, Yasodhara, Rahula và tất cả
những người thân yêu khác hiện đang ngủ say. Chàng thầm
bảo:
- Nếu
không tìm ra được con đường, ta sẽ không trở về Kapilavatthu
nữa.
Chàng
quay ngựa về phương Nam. Con Kanthaka bắt đầu phi nước đại.
Chương
13
ĐẠO
TRÀNG ĐẦU TIÊN
Hai
thầy trò đi như thế cho đến khi trời rạng sáng thì vượt
khỏi biên giới vương quốc Sakya. Trước mặt họ là con sông
Anoma. Hai thầy trò cho ngựa đi dọc theo bờ sông kiếm chỗ
nước cạn để vượt qua bên kia sông. Qua bên kia sông, họ
đi thêm một chặng đưòng nữa thì ngưng lại. Trước mặt
dàn trải một khu rừng. Thấp thoáng trong rừng có bóng một
con nai đi qua. Chim chóc bay quanh không hề biết sợ hãi. Siddhatta
nhảy xuống ngựa. Chàng mỉm cười đưa tay vuốt bờm con
Kanthaka:
- Kanthaka,
con giỏi lắm. Con đã giúp ta tới được nơi đây, ta cám
ơn con.
Con
ngựa quý nghểnh cổ nhìn chàng. Siddhatta rút thanh kiếm đeo
bên yên ngựa. Với tay trái, chàng nắm mớ tóc mây, và với
tay mặt đang cầm kiếm chàng cắt ngang mái tóc. Channa đã
xuống ngựa. Chàng đưa mớ tóc và thanh kiếm cho Channa. Rồi
chàng cởi tràng ngọc đang đeo trên cổ ra:
- Channa
ơi, anh hãy đem chuỗi ngọc, thanh kiếm và mớ tóc này về
cho phụ vương ta. Anh thưa với ngài là ngài hãy có đức tin
nơi ta. Ta bỏ nhà ra đi như thế này không phải vì ta íck
kỷ, vì ta trốn tránh bổn phận. Ta đi vì mọi người và
mọi loài. Anh hãy an ủi phụ vương giùm ta. Anh hãy an ủi
hoàng hậu. Anh hãy an ủi Yasodhara. Ta nhờ anh ...
Channa
tiếp lấy chuỗi ngọc, hai dòng nước mắt chảy ròng ròng:
- Điện
hạ ơi, mọi người chắc là sẽ khổ lắm. Con chẳng biết
sẽ ăn nói ra sao với hoàng đế, với hoàng hậu và với lệnh
bà Yasodhara. Điện hạ ơi, làm sao mà điện hạ có thể sống
được trong rừng và ngủ dưới gốc cây như những ông thầy
tu khổ hạnh? Điện hạ từ xưa tới nay chỉ quen với nệm
ấm chăn êm trong cung vàng điện ngọc?
Siddhatta
mỉm cười:
- Anh
đừng lo. Người khác sống như thế nào thì ta cũng sẽ sống
được theo như thế ấy. Channa ơi! Thôi anh về đi, về để
kịp báo tin cho những người thân, kẻo họ sốt ruột. Hãy
để ta ở lại đây một mình.
Channa
đưa tay chùi nước mắt:
- Xin
điện hạ cho con ở lại đây để hôm sớm hầu hạ ngài.
Xin điện hạ ra ơn làm phúc! Xin đừng bắt con trở về mang
cái tin dữ này về cho những người mà con kính yêu!
Siddhatta
vỗ vai người hầu cận: giọng chàng nghiêm nghị:
- Này
Channa! Anh biết là ta cần anh trở về báo tin cho những người
thân thuộc. Nếu anh thực sự thương ta thì anh nghe lời ta.
Ta không cần anh ở đây. Người xuất gia tu hành đâu có cần
tới kẻ hầu cận. Ta cần anh về với những người thân
thuộc. Thôi anh về đi!
Channa
miễn cưỡng vâng lời. Chàng trân trọng cất mớ tóc và chuỗi
ngọc trong áo, và treo thanh gương vào trên yên con Kanthaka,
rồi chàng đưa cả hai tay nắm lấy cánh tay Siddhatta:
- Con
xin nghe lời điện hạ nhưng xin điện hạ thưong con, thương
mọi người. Xin điện hạ đừng quên trở về ngay sau khi
tìm ra được đạo.
Siddhatta
gật đầu. Chàng mỉm cười nhìn Channa với một cái nhìn
khuyến khích. Chàng vỗ đầu Kanthaka:
- Kanthaka,
con về nhé.
Channa
cầm lấy giây cương của con Kanthaka và leo lên lưng ngựa
của mình. Con Kanthaka nghểnh cổ nhìn Siddhatta một lần chót
trước khi quay gót. Hai mắt nó cũng ướt như hai mắt của
người dắt nó.
Đợi
cho Channa và hai con ngựa đi khuất rồi Siddhatta mới ngoảnh
mặt về phía rừng. Chàng đã đi vào cuộc sống lấy trời
làm màn, lấy đất làm chiếu. Khu rừng này sẽ là nhà của
Siddhatta hôm nay. Một cảm giác thoải mái và tự tại phát
sinh trong chàng.
Vừa
lúc ấy có một người từ trong rừng đi ra. Thoạt nhìn, Siddhatta
tưởng rằng đó là một vị sa môn, bởi vì người này khoác
một cái áo màu chàm thường là màu áo của người ẩn tu,
nhưng nhìn kỹ Siddhatta thấy tay người ấy cầm cung và lưng
người ấy đeo một bó tên.
- Anh
là thợ săn phải không. Siddhatta hỏi.
- Vâng,
người ấy trả lời.
- Anh
là thợ săn, vậy tại sao anh mặc áo sa môn?
Người
thợ săn mỉm cười:
- Tôi
có khoác áo này thì bọn thú rừng mới không sợ. Nhờ đó
tôi mới dễ dàng bắt chúng.
Siddhatta
lắc đầu:
- Như
vậy là anh lợi dụng lòng thương của người tu hành rồi.
Anh có muốn tôi đổi cái áo này của tôi cho anh không?
Ngưòi
thợ săn nhìn Siddhatta. Chiếc áo mà người đối diện mình
đang mặc là một chiếc áo trị giá ngàn vàng.
- Ông
muốn đổi thật không, người thợ săn hỏi lại.
- Thật
chứ sao không, Siddhatta mỉm cười. Có cái áo này, anh có thể
đem bán làm vốn để tìm một nghề khác làm ăn mà khỏi
phải đi săn, còn tôi, tôi muốn làm sa môn cho nên tôi cần
cái áo của anh.
Người
thợ săn mừng rỡ. Hai người đứng ở cửa rừng cởi áo
và đổi áo cho nhau.
Người
thợ săn được áo, hấp tấp đi ngay. Siddhatta trong chiếc
áo mới đã có dáng dấp một vị sa môn. Chàng bước vào
rừng. Tìm một gốc cây, chàng ngồi xuống tĩnh tọa lần
đầu trong cuộc sống không nhà không cửa.
Sau
một ngày dài ở trong cung và một đêm thâu trên lưng ngựa,
giờ đây Siddhatta cảm thấy thoải mái lạ thường trong tư
thế thiền tọa. Chàng ngồi như để nghỉ ngơi và nuôi dưỡng
cảm giác thảnh thơi mà chàng đã nếm được khi mới bước
vào rừng.
Nắng
đã lên cao, một tia nắng xuyên qua được rừng cây và đến
đậu trên mí mắt Siddhatta. Chàng mở mắt. Trước mặt Siddhatta
hình như có người. Chàng ngửng lên và thấy một vị sa môn
đang đứng ngắm chàng. Vị sa môn này khuôn mặt khắc khổ,
thân hình gầy ốm, Siddhatta đứng dậy chắp tay chào hỏi.
Chàng cho vị sa môn biết là chàng vừa mới bỏ nhà đi làm
sa môn, nhưng chưa có dịp được một vị đạo sư nào thu
nhận cả. Chàng nói chàng có ý định về miền Nam để tìm
tới đạo tràng của đạo sư Alar Kalama để thụ giáo.
Vị
sa môn cho Siddhatta biết là ông đã từng tu học dưới sự
chỉ dẫn của đạo sĩ Alara Kalama. Ông cho biết hiện thời
đạo sĩ đang mở đạo tràng ở phía Bắc thành phố Vesali,
và dạy trên bốn trăm vị đệ tử. Ông biết đường đi
về đạo tràng này và sẵn sàng đưa Siddhatta tới đó.
Chàng
theo vị sa môn vượt khu rừng già rồi theo một con đường
mòn lên lên một ngọn đồi để đi tới một khu rừng già
khác. Đi như vậy tới trưa. Vị sa môn bảo Siddhatta ngừng
lại. Rồi ông ta rủ Siddhatta cùng đi tìm hái những trái rừng
và những đọt lá rừng để hai người ăn cho đỡ đói. Siddhatta
hỏi để biết tên của những trái cây rừng và những đọt
lá rừng này. Vị sa môn cho biết nhiều khi phải đi đào những
rễ cây để ăn nếu không hái được trái và lá. Biết rằng
mình phải sống lâu ngày trong rừng núi. Siddhatta ghi nhớ kỹ
lưỡng những lời chỉ dẫn của vị sa môn. Siddhatta được
biết rằng vị sa môn này tu theo lối khổ hạnh, chỉ sống
bằng trái rừng, đọt cây và rễ cây. Ông tên là Bhargava.
Vị này cho biết rằng các vị sa môn tu theo đạo sĩ Alara
Kalama không theo lối khổ hạnh bởi vì họ cũng đi khất thực
hoặc nhận thực phẩm của dân cư các vùng lân cận đem đến
cúng dường.
Chín
hôm sau, hai người tới Anupiya rồi đi dần về phía đạo
tràng của đạo sĩ Alara Kalama. Đạo tràng này được thiết
lập trong một khu rừng. Họ đến vừa lúc đạo sĩ Alara đang
giảng đạo cho các đệ tử. Hơn bốn trăm người đang vây
quanh. Đạo sĩ Alara tuổi chừng bảy mươi. Người ông gầy
yếu nhưng mắt ông còn sáng và giọng ông ngân vang như tiếng
chuông đồng. Siddhatta và người bạn đồng hành đứng chờ
bên ngoài vòng và lắng nghe hết những lời giảng dạy. Buổi
giảng dạy chấm dứt, mọi người đi tứ tán trong rừng để
thực tập. Siddhatta tiến tới làm lễ đạo sĩ Alara, tự giới
thiệu mình, rồi cung kính nói:
- Bạch
thầy, xin thầy cho phép con được gia nhập vào đoàn thể
các vị sa môn ở đây và tu học dưới sự hướng dẫn của
thầy.
Đạo
sĩ chăm chú ngồi nghe Siddhatta, ngắm nhìn chàng hồi lâu và
tỏ vẻ hài lòng:
- Siddhatta,
thầy rất vui mà chấp nhận con. Con cứ ở lại đây. Nếu
con hành được theo pháp và luật của thầy thì chỉ trong
một thời gian thôi là con đắc đạo.
Siddhatta
vui mừng lạy tạ.
Đạo
sĩ Alara ở trong một túp lều do các vị đệ tử dựng lên.
Trong rừng rải rác cũng có những chòi lá khác của các sa
môn đệ tử.
Tối
hôm đó, Siddhatta tìm một nơi bằng phẳng để ngủ. Chàng
gối đầu lên trên một cái rễ cây. Vì mệt quá nên Siddhatta
ngủ say cho đến sáng ngày mai. Khi thức dậy, nắng đã lên,
và chim chóc đã ca hát vang rừng.
Siddhatta
chỗi dậy. Các bạn đồng tu đã dậy từ lâu và đã hoàn
tất buổi ngồi thiền đầu tiên trong ngày. Họ đang chuẩn
bị để đi vào thôn làng khất thực. Siddhatta được trao
cho một chiết bát và dạy cho phương pháp đi vào thôn làng
xin ăn.
Theo
các vị sa môn, Siddhatta ôm bát đi vào thành phố Vesali. Lần
đầu tiên ôm bát đi khất thực, Siddhatta cảm thấy cuộc
đời của người đi tu có dính liú rất nhiều với xã hội
con người. Chàng học cách ôm bát, học cách đi, cách đứng,
cách nhận thức cúng dường và cách chú nguyện để cảm
tạ người thí chủ. Hôm ấy, Siddhatta đã được cúng dường
một ít cơm nóng và nước cà ri chan lên trên.
Khi
Siddhatta theo các đồng tu về tới rừng thì mọi người đã
bắt đầu ngồi thọ thực. Sau buổi ăn, chàng đi tìm đạo
sư Alara để được chỉ giáo về phương pháp tu. Lúc chàng
tới thì Alara đang ngồi nhập định. Để chờ đợi, Siddhatta
cũng ngồi nhiếp tâm trước mặt thầy. Lâu lắm, đạo sĩ
Alara mới mở mắt. Siddhatta cúi lạy, xin thầy chỉ giáo cho
mình.
Đại
sĩ Alara gọi Siddhatta là sa môn, bởi vì Siddhatta đã chính
thức là một vị sa môn khi được chấp nhận vào giáo đoàn.
Ngài dạy cho vị sa môn về lòng tin, về sự tinh cần, về
cách thở và về sự tập trung tâm ý. Ông bảo:
- Giáo
lý của ta không phải chỉ là lý thuyết. Giáo lý của ta là
sự hành trì. Cái biết của ta là cái biết của sự tự tri,
tự chứng, tự đạt mà không phải là cái biết của lý luận.
Con phải thực hiện cho được những trạng thái thiền định,
mà muốn thực hiện cho được những trạng thái thiền định
thì phải bỏ hết những vọng tưởng về quá khứ, về tương
lai và chỉ nhắm về hướng giải thoát mà thôi.
Sa
môn Siddhatta hỏi thêm về cách điều phục thân thể và cảm
giác rồi bái tạ vị đạo sư đi tìm một góc rừng để
hành trì.
Ông
đi bẻ cây bẻ lá che một mái lều dưới một gốc cây để
làm nơi nương náu mà thực tập thiền định. Siddhatta thực
tập rất chuyên cần. Cứ năm bảy hôm, ông lại trở về
với Alara Kalam để thỉnh giáo về những chỗ còn kẹt. Tu
như vậy trong ít lâu, ông đạt được nhiều tiến bộ đáng
kể.
Ngồi
lại trong tư thế thiền định ông buông bỏ hết mọi suy
tư và mọi ám ảnh về quá khứ cũng như về tương lai và
thực hiện được sự thanh tịnh an lạc. Tuy nhiên trong niềm
an lạc này, ông vẫn thấy có bóng dáng và mầm mống của
những suy tư. Mấy tuần sau, trong một trạng thái thiền định
cao hơn. Siddhatta loại trừ được các mầm mống của suy tư,
rồi ông đi vào được một trạng thái trung tâm ý trong đó
ý niệm về an lạc và không an lạc cũng không còn. Trong trạng
thái tập trung ý đó, hình như năm cánh cửa cảm giác đã
hoàn toàn đóng lại. Tâm ông tĩnh lặng như một mặt hồ
khi không có gió.
Khi
đem trình bày kết quả sự thực tập của mình cho đạo sĩ
Alara Kalama, sa môn Siddhatta được đạo sĩ hết lời ca ngợi.
Đạo sĩ bảo rằng ông đã bước những bước tiến bộ rất
lớn trong một khoảng thời gian rất ngắn. Đạo sĩ bắt đầu
dạy ông về phương pháp thực hiện một trạng thái thiền
định gọi là không vô biên xứ, trong đó tâm của hành giả
được đồng nhất với không gian vô biên. Trong không gian
vô biên ấy mọi hiện tượng vật chất và mọi hình sắc
đều tan biến, và không gian trở nên nền tảng của vũ trụ
vạn hữu.
Sa
môn Siddhatta vâng lời thầy về cố công thực tập. Trong vòng
chưa đầy ba hôm, vị sa môn trẻ đạt tới sự thành công,
nhưng Siddhatta có cảm tưởng định không vô biên xứ không
giúp cho ông giải tỏa được những tâm tư sâu kín nhất
của mình. An trú trong định đó, ông vẫn còn thấy bế tắc.
Ông trở lại với Alara và trình bày tri kiến mình.
- Con
phải bước lên thêm một nấc nữa, đạo sĩ nói. Cái hư
không vô biên mà con đạt tới đó, nó cũng cùng một chất
liệu với tâm thức con. Nó không phải là đối tượng của
tâm thức con mà nó chính là tâm thức con. Vậy con hãy nổ
lực mà đạt cho được trạng thái thiền định kế tiếp
là thức vô biên xứ.
Siddhatta
trở về góc rừng của mình. Chỉ trong vòng hai hôm, ông thực
hiện được thiền thức vô biên xứ. Ông thấy được tâm
thức mình trong một hiện tượng vũ trụ. Song le, ông vẫn
không giải tỏa được những sầu đau và thao thức của mình.
Siddhatta
trở về với vị đạo sĩ và trình bày chỗ kẹt của mình.
Alara nhìn ông bằng một con mắt kính phục. Vị đạo sĩ nói:
- Con
đã đi gần tới đích. Hãy trở về quán chiếu về tính cách
hư giả của vạn pháp. Mọi hiện tượng trong vũ trụ đều
do tâm thức ta tạo nên. Tâm thức là khuôn đúc của tất
cả mọi hiện tượng. Hình sắc, âm thanh, hương, vị, và
những xúc chạm, nóng lạnh, cứng mềm đều là những sáng
tạo của tâm thức. Chúng nó không có như ta thường tưởng,
Tri giác của chúng ta là vị họa sư; nó vẽ ra hết mọi hình
tượng. Phải đạt cho được cảnh giới vô sở hữu xứ
thì con sẽ thành công. Vô sở hữu xứ là cảnh giới trong
đó ta thấy được rằng không có một hiện tượng nào thật
sự hiện hữu như tri giác của ta tưởng tượng.
Vị
sa môn trẻ tuổi này chắp tay lĩnh giáo. Ông lại trở về
góc rừng của ông.
Trong
thời gian tu học với đạo sĩ Alara, Siddhatta đã làm quen với
nhiều vị sa môn đồng đạo. Tánh tình ông hòa nhã nên ai
cũng mến yêu. Có ngày Siddhatta không cần đi kiếm thực phẩm
mà vẫn có thức ăn lót dạ vào buổi trưa. Có khi xuất thiền,
ông thấy thức ăn đã để sẵn một bên, hoặc là một vài
trái chuối, hoặc là một mâm cơm tín thí cúng dường mà
một vị sa môn bạn đã kín đáo chia xẻ lại. Đạo sĩ Alara
đã có lần hỏi về gốc tích của ông, và sau đó có người
cũng đã biết được tung tích ông. Siddhatta chỉ mỉm cười
mỗi khi có một bạn đồng tu hỏi ông về cái gốc tích vương
giả ấy. Ông khiêm nhượng nói:
- Cái
đó không quan trọng gì. Có lẽ chúng ta chỉ nên chia xẻ với
nhau về kinh nghiệm hành đạo mà thôi.
Rất
nhiều vị sa môn đồng tu ưa được làm bạn với Siddhatta
để được học hỏi với ông. Họ đã được nghe lời ca
tụng Siddhatta, trực tiếp từ vị đạo sư của họ.
Trong
khoảng thời gian chưa đầy một tháng, Siddhatta thực hiện
được định vô sở hữu xứ. Ông rất vui mừng thấy mình
đạt tới cái thấy này. Trong nhiều tuần lễ kế tiếp, Siddhatta
ngồi khai thác cái thấy ấy để giải quyết những bế tắc
lâu ngày của tâm ý, nhưng định vô sở hữu xứ, dù là một
trạng thái thiền định khá sâu sắc vẫn không giúp ông được.
Cuối cùng Siddhatta phải trở về thỉnh ý đạo sư Alara.
Đạo
sư Alara ngồi nghe Siddhatta một cách chăm chú. Mặt ông sáng
rỡ lên. Đổi cách xưng hô, ông nói:
- Sa
môn Siddhatta, ngài là một vị tài ba lỗi lạc. Ngài đã đạt
tới chỗ cao nhất mà tôi đã đạt. Cái gì mà tôi đạt tới,
ngài cũng đã đạt tới. Sa môn Siddhatta, xin ngài ở lại đây.
Hai chúng ta sẽ cùng nhau dìu dắt giáo đoàn tu sĩ này.
Siddhatta
im lặng. Ông suy nghĩ. Định vô sở hữu xứ tuy là một hoa
trái quý giá của sự tu học nhưng không giải quyết được
vấn đề sinh tử, không giải phóng được cho ta khỏi những
sầu đau và thao thức căn bản, không đưa ta đến chỗ giác
ngộ hoàn toàn. Mục đích của ta không phải là làm giáo chủ
một giáo đoàn. Mục đích của ta là tìm con đường giải
thoát đích thực.
Nghĩ
như thế, Siddhatta chắp tay lại trình đạo sĩ:
- Thưa
thầy, định vô sở hữu xứ không phải là mục đích tìm
cầu của con. Con muốn tìm con đường đích thực để giải
thoát sanh tử. Con xin cảm ơn thầy đã có lòng chiếu cố
và yêu mến con. Xin thầy cho phép con được đi du phương tìm
đạo. Thầy đã dạy dỗ con hết lòng trong những tháng vừa
qua. Con xin ghi nhớ ơn thầy đời đời.
Đạo
sĩ Alara Kalama tỏ ý buồn bã và tiếc nuối nhưng ý của Siddhatta
đã quyết. Ngày hôm sau, ông lại lên đường.
Chương
14
VƯỢT
SÔNG HẰNG
Siddhatta
vượt sông Ganga và đi sâu vào nội địa Magaha. Đây là một
vương quốc nổi tiếng có nhiều vị ẩn tu bậc lớn. Siddhatta
quyết đi tìm cho được vị chân sư có thể trao truyền cho
bí quyết siêu sinh thoát tử. Phần lớn những nhà tu hành
này đều cư trú trong chốn núi rừng. Theo sự chỉ dẫn của
các bạn đồng tu, Siddhatta đi tìm họ để tham vấn, học
hỏi, thực tập. Hễ nghe nơi nào có vị chân sư là Siddhatta
tìm tới, dù phải vượt núi băng ngàn, dù phải dầm sương
dãi nắng tháng này qua tháng khác.
Siddhatta
đã gặp những người tu thuộc phái lõa thể. Họ không có
một mảnh áo quần tối thiểu nào trên người họ. Ông cũng
đã gặp những nhóm người tu khổ hạnh. Những người này
không nhận thức ăn cúng dường của nhân gian. Họ chỉ ăn
rễ cây, đọt cây và trái rừng. Họ để cho nắng gió và
mưa bão hành hạ xác thân họ. Họ tin rằng chịu đựng được
những khổ hạnh như thế thì sau khi chết họ sẽ sinh lên
cõi trời. Có một hôm Siddhatta nói với họ:
- Dù
các bạn có sinh lên cõi trời đi nữa thì những đau khổ
trên trần gian vẫn còn nguyên vẹn. Chúng ta tu đạo tức là
đi tìm phương thuốc giải khổ cho cuộc đời chứ không phải
tìm cách trốn tránh cuộc đời. Đã đành là nếu ta o bế
thân thể ta như những người chủ trương ăn chơi kia, thì
ta không giúp được gì cho cuộc đời, nhưng nếu ta hành hạ
thân thể ta, ta cũng chẳng giúp được gì hơn cho cuộc đời
là mấy.
Nói
xong, Siddhatta từ giã họ và tiếp tục con đường tham cứu
học hỏi của mình. Ông tìm tới nhiều đạo tràng khác nhau.
Có nơi ông lưu trú lại trong ba tháng để thực tập. Có nơi
ông lưu trú lại sáu tháng. Niệm lực và định lực của
ông nhờ sự thực tập càng ngày càng tăng tiến, nhưng đạo
lớn của sự vượt thoát tử sinh ông vẫn chưa tìm được.
Đôi
khi ngồi thiền tập trong rừng, hình ảnh của vua cha, của
Yasodhara và Rahula cũng như những hình ảnh của quãng đời
niên thiếu hiện về. Năm tháng qua thật mau. Mới đó mà hai
năm đã trôi qua từ ngày Siddhatta rời bỏ xứ sở. Siddhatta
nhiều khi không khỏi sốt ruột. Tuy vậy, đức tự tin vẫn
còn rất mạnh trong ông.
Một
thuở nọ, Siddhatta ẩn cư trên sườn đồi Pandava cách kinh
đô Rajagaha của vương quốc Magadha không xa. Một hôm, ông
cầm bát xuống núi, đi vào kinh thành khất thực. Dáng đi
của ông nghiêm túc và khoan thai. Phong thái của ông trầm tĩnh.
Hai bên đường người ta dừng lại để nhìn vị sa môn khất
sĩ. Ông đang đi trên đường phố mà ung dung như một con sư
tử đang đi giữa chốn sơn lâm. Tình cờ xa giá của quốc
vương Magadha đi ngang qua đó. Vua Bimbisara cho dừng xe lại để
quan sát ông. Rồi vua ra lệnh cho một thủ hạ đem thức ăn
đến cúng dường vị sa môn khất sĩ này, và tìm cách theo
dõi ông ta về nơi ẩn cư của ông cho biết chỗ.
Chiều
hôm sau, vua Bimbisara tìm lên nơi ẩn cư của Siddhatta. Để
xe tứ mã dưới chân đồi, vua leo lên cùng với một tên thị
vệ. thấy Siddhatta đang ngồi dưới một gốc cây, vua tiến
tới chào. Siddhatta đứng dậy. Nhìn cách ăn mặc của vua,
ông biết đây là quốc vương Magadha. Ông chỉ một phiến
đá gần đó và chắp tay mời vua ngồi, và ông cũng ngồi
xuống bên một phiến đá đối diện.
Thấy
dáng điệu và tư cách thanh tao đặc biệt của ông thầy tu,
vua Bimbisara rất đỗi ngạc nhiên và khâm phục. Vua nói:
- Trẫm
là quốc vương xứ Magadha. Trẫm đến để kính mời sa môn
về kinh thành với trẫm. Trẫm ước ao có sa môn bên mình
để được thấm nhuần đạo đức của ngài. Có được ngài
bên trẫm, chắc chắn nước Magadha sẽ có hòa bình và thịnh
trị.
Siddhatta
mỉm cười:
- Tâu
đại vương, bần đạo đã quen sống ở chốn núi rừng.
- Sa
môn ở đây thật là cực khổ. Giường chiếu không có, người
hầu hạ cũng không. Nếu ngài chấp nhận về với trẫm, trẫm
sẽ để dành cho ngài riêng một cung điện. Ngài về để
dạy dỗ ...
- Đại
vương, đời sống cung điện không thích hợp với bần đạo.
Bần đạo đang cố công tìm cho ra con đường giải thoát để
có thể cứu độ cho mình và cứu độ cho những kẻ khác.
Đời sống cung điện không thích hợp với hoài bảo của
kẻ tu hành này.
- Ngài
còn trẻ, mà quả nhân lại cần một tâm hồn bạn hữu. Mới
trông thấy ngài lần đầu, trẫm đã đem lòng mến yêu. Ngài
hãy về với trẫm. Nếu cần trẫm sẽ chia một nửa giang
sơn này cho ngài trị vì, rồi đến khi tuổi cao, ngài sẽ
trở về cuộc đời của kẻ xuất gia, như vậy cũng chưa
muộn.
- Bần
đạo xin cảm ta tấm lòng chiếu cố của đại vương, nhưng
quả thật giờ đây bần đạo chỉ có một ước vọng mà
thôi: đó là ước vọng tìm cho ra chánh đạo để cứu giúp
muôn loài. Thì giờ đi qua rất mau, tâu bệ hạ. Nếu ta không
xử dụng năng lực của tuổi trẻ để thực hiện điều
ta mong ước thì không mấy chốc tuổi già sẽ đến và ta
sẽ hối tiếc, với lại, cuộc sống rất vô thường. Cái
khổ của sinh lão bệnh tử luôn luôn rình rập ta. Những ngọn
lửa phiền não nội tâm như tham vọng, giận dữ, oán thù,
si mê, ganh ghét, và kiêu mạn đang nung nấu tâm hồn ta. Ta
chỉ có thể đạt tới an lạc thật sự nếu ta tìm được
con đường. Chỉ khi nào Đạo Lớn được tìm ra, mọi loài
mới có một đường thoát. Nếu bệ hạ có lòng yêu mến
bần đạo thì xin bệ hạ để cho bần đạo được theo đuổi
con đường mà kẻ tu hành này đã hướng đến từ lâu.
Càng
nghe, vua Bimbisara càng lấy làm cảm phục vị sa môn khất sĩ.
Vua nói:
- Quả
nhân rất sung sướng được nghe những lời nói đầy cương
nghị và đầy đạo hạnh của ngài. Kính bạch đại đức
sa môn! Ngài là người xứ nào, dòng họ của ngài là dòng
họ nào? Ngài có thể cho quả nhân được biết hay không?
- Tâu
đại vương, bần đạo xuất thân từ vương quốc Sakya. Dòng
họ của bần đạo là Sakya. Vua Suddhodana là người thân sinh
ra bần đạo, hiện trị vì ở Kapilavatthu, và mẹ của bần
đạo là phu nhân Mahamaya. Bần đạo vốn là thái tử Đông
cung, nhưng vì muốn xuất gia tìm Đạo mà phải rời bỏ cha
mẹ, vợ con và cung điện, kể đã được hơn ba năm trời.
Vua
Bimbasara rất đỗi ngạc nhiên. Vua thốt lên:
- Thế
ra ngài cũng là người thuộc giới cành vàng lá ngọc! Trẫm
hân hạnh được gặp ngài. Bạch sa môn! Giữa hoàng gia xứ
Sakya và hoàng gia xứ Magadha đã có liên hệ thân hữu lâu
đời! Trẫm đã dại dột dám đem danh lợi ra mà thuyết phục
một vị đại sa môn! Xin sa môn tha thứ cho trẫm. Trẫm chỉ
xin ngài một ân huệ là thỉnh thoảng viếng thăm cung điện
để trẫm được cơ duyên cúng dường, rồi khi nào tìm ra
được Đạo lớn, xin ngài từ bi trở về chỉ dạy cho đệ
tử. Xin ngài hứa cho.
Siddhatta
chắp tay đáp lễ:
- Bần
đạo xin hứa là khi nào tìm ra được đạo, bần đạo sẽ
trở về chia xẻ với đại vương.
Cuộc
tiếp kiến chấm dứt. Vua Bimbasara cúi đầu chào vị sa môn
rất thấp và cùng tên cận vệ xuống núi.
Sa
môn Siddhatta rời bỏ chỗ ẩn cư của ông ngay sau ngày hôm
đó. Ông không muốn bị bận rộn vì sự lui tới cúng dường
của hoàng gia. Hướng về phía Nam, ông đi tìm một nơi
khác thuận lợi cho sự tu tập. Nhờ người mách bảo, ông
tìm tới đạo tràng của đạo sĩ Uddaka Ramaputta. Ông nghe nói
đạo sĩ có chứng đắc cao siêu lắm. Đạo tràng của đạo
sĩ Ramaputta không xa thủ đô Rajagaha mấy. Đạo sĩ có tới
gần bảy trăm vị đệ tử, ba trăm tu học tại chỗ và gần
bốn trăm tu học tại những cơ sở địa phương.
Chương
15
KHỔ
HẠNH LÂM
Đạo
sĩ tuổi đã bảy mươi lăm. Ông được mọi người tôn sùng
như một vị thánh sống. Ông muốn mọi người phải tu học
theo từng giai đoạn từ thấp lên cao, và vì vậy sa môn Siddhatta
phải làm lễ nhập môn và học lại từ những bài thực tập
dễ dàng nhất.
Chỉ
trong vòng vài tuần lễ, Siddhatta đã chứng minh được cho
vị đạo sư mới của mình rằng định vô sở hữu xứ ông
đã thành tựu được và ông mong rằng đạo sư sẽ dạy cho
ông con đường có thể đi xa hơn nữa. Trông thấy diện mạo
của Siddhatta, và nghe Siddhatta trình bày kiến giải của mình,
đạo sĩ Uddaka rất đỗi vui mừng. Ông thấy nơi vị sa môn
trẻ này con người có thể kế sự nghiệp của ông một cách
xuất sắc. Ông đổi cách tiếp đãi với Siddhatta và bắt
đầu xem Siddhatta như một người tri kỷ. Ông ôn tồn chỉ
dạy cho Siddhatta rất cặn kẽ:
- Này
sa môn Siddhatta Gotama, trong định vô sở hữu xứ, cái không
không còn là không gian, cái không cũng không còn là tâm thức
nói chung, mà chỉ còn là tri giác. Tri giác tức là tưởng,
mà còn tưởng tức là còn đối tượng của tưởng, còn tri
giác là còn đối tượng của tri giác. Vậy thì con đưòng
thoát của chúng ta là vượt được tri giác.
Siddhatta
cung kính hỏi lại:
- Thưa
thầy, nếu loại bỏ tri giác thì cái gì còn lại? Không có
tri giác thì khác gì vật gỗ đá vô tri?
- Gỗ
đá vô tri cũng không phải là không tri giác. Gỗ đá vô tri
vẫn là tri giác. Ta phải đạt tới một trạng thái tâm lý
trong đó cả hai niệm về hữu tri và vô tri đều được loại
trừ. Đó là trạng thái phi tưởng phi phi tưởng. Sa môn Siddhatta
Gotama, ông hãy về thực hiện cho được trạng thái đó của
tâm.
Siddhatta
lĩnh ý. Chỉ trong vòng mười lăm hôm, ông đã thực hiện
được định phi tưởng phi phi tưởng.
Định
này, theo Siddhatta, cho ta có cảm tưởng là ta đạt tới một
cảnh giới của nhận thức vượt ra ngoài mọi nhận thức
thông thường, nhưng mỗi khi ra khỏi định, ông thấy cái
nhận thức phi thường vẫn không thay đổi cái tình trạng
của thực tại sinh tử. Định ấy chỉ là một nơi trú ẩn
mà không phải là một chìa khóa mở cửa thực tại.
Khi
Siddhatta trở lại với đạo sư Uddaka Ramaputta thì được ông
này hết sức khen ngợi. Sau khi biết Siddhatta đã thực hiện
được định phi tưởng phi phi tưởng. Uddaka nắm tay Siddhatta:
- Sa
môn Gotam là người hành giả thông minh nhất mà tôi đã được
gặp từ trước đến giờ. Ngài đã đi những bước thật
lớn, và đi rất mau lẹ. Ngài đã đạt được cái quả vị
cao nhất mà tôi đã đạt. Tôi đã già rồi, và đã gần đất
xa trời. Nếu ngài ở lại đây, chúng ta sẽ cùng nhau quản
lý đại chúng này và mai kia khi tôi qua đời rồi ngài sẽ
thay tôi lãnh đạo đồ chúng.
Cũng
như lần trước, Siddhatta ngỏ lời khéo léo để từ tạ.
Ông biết định phi tưởng phi phi tưởng không phải là chìa
khóa mở được cánh cửa giải thoát sanh tử. Ông phải từ
giã, nhưng trước khi từ giã, ông hết lòng cảm tạ vị thầy
mới và các vị bạn đạo mới. Ai cũng cỏ vẻ quyến luyến
và tiếc rằng vị sa môn đỉnh ngộ và tài năng này không
ở lại với họ.
Trong
thời gian tu học tại đạo tràng Uddaka Ramaputta, Siddhatta đã
làm quen với một vị sa môn trẻ tên Kondanna, Kondanna rất
mến phục Siddhatta, không những xem Siddhatta là một người
bạn mà còn xem Siddhatta là một bậc thầy. Trong đồ chúng,
chưa ai đạt được tới định vô sở hữu xứ chứ đừng
nói đạt tới phi tưởng phi phi tưởng xứ như Siddhatta. Vị
sa môn tân học Siddhatta đã được thầy của Kondanna đối
xử như một người tri kỷ, Kondanna biết như thế. Mỗi lần
nhìn Siddhatta, Kondanna lại thấy thêm vững niềm tin. Bởi vậy
nên ông đã nhiều lần tìm cách thân cận Siddhatta để học
hỏi. Do đó mối tình đồng đạo giữa hai người mỗi ngày
mỗi trở nên khắng khít. Bây giờ Siddhatta ra đi, Kondanna không
khỏi không buồn tiếc. Ngày Siddhatta lên đường, vị ssa môn
này đã đưa ông xuống núi. Đợi cho Siddhatta đi khuất ông
mới trở lên.
Biết
rằng có đi tham vấn bao nhiêu vị đạo sư đi nữa mình cũng
không học hỏi thêm được điều gì đáng kể, sa môn Siddhatta
quyết định trở về tìm kiếm chìa khóa giác ngộ ngay trong
tự tâm mình.
Hướng
về phía Tây, Siddhatta vượt những cánh đồng lúa, những
vũng bùn lầy lội, những đầm nước đọng và những dòng
suối đục ngàu. Lội qua sông Neranjara, ông đi băng qua một
cánh đồng nữa thì tới ngọn núi Dungsiri, thuộc địa phận
tụ lạc Uruvela. Ở đây có nhiều hang động. Có những tảng
đá cheo leo, có những rặng núi hình răng cưa, có nhữn tảng
đá thật lớn, lớn bằng những túp nhà của dân nghèo trong
tụ lạc. Siddhatta quyết định lưu lại đây một thời gian
để hạ thủ công phu, quyết tìm cho ra nẻo thoát. Ông tìm
được một cái hang động khá tốt để ngồi tĩnh tọa.
Ông nhớ rằng ông đã từng khuyên các nhà tu khổ hạnh đừng
hành hạ xác thân họ, vì hành hạ xác thân như thế chỉ
gây thêm khổ đau, trong khi cuộc đời đã có nhiều đau khổ
rồi, nhưng hôm nay ông muốn xét lại điều ấy một cách
kỹ lưỡng hơn. Ngồi trong hang đá, ông tự bảo:
- Với
một miếng gỗ mềm và ướt thì ta không thể nào cọ xát
làm cho lửa phát sinh được. Thân thể ta cũng vậy, nếu thân
thể ta còn bị vật dục khống chế thì tâm ta khó có thể
đạt tới giải thoát. Ta hãy tìm cách chế ngự thân thể
ta xem sao.
Sa
môn Gotama, bắt đầu thực hành những phương pháp chế ngự
thân thể. Có những hôm, ông tìm tới những nơi thật thanh
vắng trên rừng sâu, những nơi mà có người chỉ nghĩ đến
thôi cũng để để rợn óc trên người và tóc sau gáy dựng
lên, để ngồi suốt đêm. Thỉnh thoảng cái sợ đến và
xâm chiếm cả thân tâm ông, nhưng ông vẫn ngồi yên, không
hề nhúc nhích. Có khi trong đêm tối đen, một con nai sột
soạt tới gần. Cái sợ của ông nói với ông rằng đó là
một con quỷ dạ xoa hiện đến đoạt mạng, nhưng ông vẫn
gan lì ngồi yên không nhúc nhích. Có khi trong đêm đen, một
con chim phụng đạp gãy một cành cây khô. Cái sợ của ông
nói với ông rằng đó là một con trăn sắp trườn xuống
và quấn chặt lấy ông, nhưng ông vẫn gan lì ngồi không nhúc
nhích, mặc cho cái sợ chạy rần rần trên da đầu ông như
một bầy kiến lửa.
Ông
tập như vậy để có thể vượt thắng sự sợ hãi. Ông nghĩ
rằng một khi xác thân vượt thoát được những cám dỗ rồi
thì tâm ý cũng có thể vượt thoát được những ràng buộc
của khổ đau.
Có
khi ông ngồi ngậm miệng cứng lại, để lưỡi sát vào họng
trên, dùng tâm ông để điều phục niềm thao thức bồn chồn
trong tâm ông, như hai người lực sĩ đè bẹp một người
yêu đuối, và bắt người yếu đuối này phải thốt lời
khuất phục. Dùng tâm mà đàn áp tâm kiểu ấy trong một hồi
thì mồ hôi chảy ra ướt hết cả mình mẩy ông. Tuy vậy,
dù niệm lực có mạnh, dù ý chí đầy dẫy, dù những đau
khổ gây ra trên thân xác có da diết tới cách nào đi nữa
thì tâm ông vẫn không đạt tới sự an tịnh.
Có
khi ông vừa thực tập vừa nín thở, không thở ra cũng không
thở vào. Khi thực tập như thế, ông nghe tiếng gió mạnh
như vũ bão phát ra trong đầu ông, từ hai lỗ tai đi vào, âm
thanh giống như âm thanh của một chiếc lò rèn đang được
thụt lửa. Những luồng gió hung dữ xoáy mạnh trong đầu
óc ông và đầu ông đau như có ai lấy lưỡi rìu bửa ra làm
hai mảnh. Có khi đầu ông đau như bị ai lấy một cái niềng
sắt niềng lại. Bụng ông đau như một con bò bị người
đồ tể lách lưỡi dao nhọn quanh sườn. Thân thể ông đau
như bị người ta túm lấy và đem nướng trên một lò than
đang cháy rực.
Những
lúc thực tập để chế ngự thân thể như thế, dù ý chí
và năng lượng đầy dẫy, dù niệm lực hùng hậu, dù xác
thân ông có đau đớn cực độ, tâm ông cũng không nhờ vậy
mà được an ổn hơn lên.
Sa
môn Gotama thực tập khổ hạnh như vậy trong gần sáu tháng.
Trong ba tháng đầu chỉ có một mình ông thực tập khổ hạnh
trên núi. Đến tháng thứ tư, có năm vị sa môn đệ tử của
đạo sư Kondanna là người lãnh đạo nhóm này. Gặp lại Kondanna,
Siddhatta rất vui. Kondanna cho biết là một tháng sau khi Siddhatta
từ giã, chính Kondanna cũng đã thực hiện được định phi
tưởng phi phi tưởng xứ và nghĩ rằng mình sẽ không học
được gì thêm từ đạo sĩ Uddaka. Nghĩ vậy, ông đã rủ
bốn người bạn thân đi tìm Siddhatta. Sau hơn một tháng trời
tìm kiếm họ đã may mắn tìm ra Siddhatta. Họ ngõ ý muốn
ở lại tu học với ông dưới sự hướng dẫn của ông bởi
vì họ tin tưởng nơi ông. Siddhatta đành phải chấp nhận.
Ông giải thích cho họ biết tại sao ông đang thí nghiệm con
đường điều phục thân xác. Nghe xong, cả năm người cũng
quyết thực tập theo.
Bốn
vị sa môn đi theo Kondanna cũng đều là những vi sa môn còn
trẻ. Họ tên là Vappa, Bhaddiya, Assaji và Mahanama. Mỗi người
tìm một cái hang đá để ở; hang của họ không xa nhau mấy.
Mỗi ngày chỉ một người đi khất thực thôi, và phần ăn
của một người được chia ra làm sáu. Thức ăn hàng ngày
của mỗi người rất ít, và có thể để gọn trong bàn tay
trái khẳng khiu của một người.
Ngày
tháng qua đi. Thân thể cả sáu người đều hao gầy đi rất
nhiều. Có những lúc Siddhatta thực tập khống chế hình hài
đến nước năm người bạn tu phải khiếp đảm. Họ thấy
trong bất cứ pháp môn tu tập nào họ cũng không theo kịp
Siddhatta. Những tháng gần đây, Siddhatta bỏ luôn cả việc
đi tắm dưới sông Neranjara. Ông bỏ luôn một phần thực
phẩm được chia cho ông. Có ngày, ông chỉ ăn một trái ổi
thối mà ông lượm được dưới chân ông. Có khi ông chỉ
ăn miếng phân bò khô trên bờ ruộng. Thân hình ông tiều
tuỵ quá, chỉ còn da bọc lấy xương. Bao nhiêu xương sườn
của ông đều lộ rõ ra. Ông không hề cạo. Có khi ông đưa
tay lên sờ đầu và thấy tóc ông rụng xuống từng mảng
như là những sợi tóc ấy không còn chỗ để đứng trong
da đầu ông.
Cho
đến một hôm đó ngồi thiền dịnh trong bãi tha ma dưới
chân núi, Siddhatta bừng tỉnh, thấy được rằng con đường
khổ hạnh là con đường sai lầm.
Nắng
đã tắt và gió chiều nhè nhẹ tới mơn trớn trên làn da
ông. Đã ngồi trọn một ngày trong nắng, bây giờ Siddhatta
thấy làn gió mát dịu lạ thường, và ông thấy tâm hồn
ông sảng khoái hơn ban ngày nhiều lắm. Ông nhận ra rằng
thân và tâm là một thực thể không thể tách rời ra được
và sự an lạc của thân có liên hệ tới sự an lạc của
tâm, hành hạ xác thân cũng là hành hạ tâm trí.
Ông
nhớ đến thời niên thiếu, hồi ông mới lên chín tuổi,
lần đầu tiên ông ngồi yên lặng dưới bóng mát cây hồng
táo trong ngày lễ cày ruộng đầu năm. Cảm giác hồi ấy
là một cảm giác an lạc, làm cho ông tỉnh táo và sáng suốt
lạ thường. Ông cũng nhớ lại lúc ông ngồi tập thiền lần
đầu tiên trong rừng ngay khi Channa người hầu cận ông vừa
từ giã ông, và những ngày đầu khi tập thiền với đạo
sư Alara Kalama; những buổi thiền tập ấy nuôi dưỡng thân
tâm ông, tạo cho ông rạt rào nghị lực. Ông nhớ sau đó
nghe lời đạo sĩ Alara Kalama ông phải bỏ pháp lạc trong thiền
để đạt tới những trạng thái thiền định trong cõi vô
sắc như không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu
xứ, và phi tưởng phi phi tưởng xứ, luôn luôn tìm cách tách
rời khỏi thế giới của thọ và tưởng, nghĩa là của cảm
giác và tri giác. Ông tự bảo:
- “Tại
sao ta phải mãi mãi nương theo truyền thống của kinh điển?
Tại sao ta lại sợ hãi những an lạc do thiền định đưa
tới? Những an lạc ấy không dính líu gì hết với năm loại
dục lạc thường có tác dụng che lấp tâm trí. Trái lại,
những an lạc ấy có thể nuôi dưỡng hình hài và tâm hồn
ta để ta có thể có đủ sức mạnh mà đi xa trên đường
giác ngộ".
Sa
môn Gotama quyết định sẽ bồi dưỡng lại sức khỏe và
sẽ sử dụng thiền duyệt làm thức ăn cho thân tâm. Ông định
ngày mai sẽ đi khất thực trở lại, và ông sẽ tự mình
làm thầy cho mình, không muốn nương tựa vào một ai khác.
Nghĩ như thế, ông ngã lưng dựa trên một mô đất, an tâm
tìm giấc ngủ. Lúc ấy trăng mười bốn vừa lên. Trời trong
không một gợn mây,và dòng ngân hà hiện ra rất rõ.
Ông
thức dậy sáng hôm sau, khi chim chóc đã bắt đầu ca hát.
Sa môn Gotama đứng dậy, và nhớ lại những suy tưởng chiều
qua. Ông nhìn lại thân ông. Thân thể dính dầy bụi đất,
vì đã lâu ông hề tắm gội. Chiếc áo cà sa của ông đã
rách nát không đủ che thân. Ông chợt nhớ ngày hôm qua khi
tới nghĩa địa để ngồi thiền, ông có thấy thi thể một
người chết được quàng tại đó và trên thi thể ấy người
ta đã phủ lên một tấm vải lớn màu gạch non. Ông đưa
mắt nhìn. Cái xác vẫn còn đó và tấm vải màu gạch vẫn
còn đó. Có thể là hôm nay hoặc ngày mai người ta sẽ đau
xác này ra bờ sông để làm lễ hỏa táng và tấm vải sẽ
không cần thiết. Sa môn Gotama quyết định tới xin tấm vải
kia để dùng làm chiếc cà sa mới. Ông bước tới. Ông đứng
yên mật niệm, quán tưởng về sanh tử, rồi ông đua tay nhẹ
rút tấm vải lên. Thi hài của một cô gái chừng hai mươi
tuổi lộ ra, tím bằm.
Cầm
tấm vải, Siddhatta đi về hướng bờ sông. Ông có ý định
xuống sông tắm gội cho sạch sẽ và đồng thời giặt sạch
tấm vải để quàng lên người thay thế cho chiếc ca sa đã
rách bươm.
Nước
sông rất mát và Siddhatta thấy rất dễ chịu. Ông chấp nhận
cảm giác dễ chịu của ông, ông đón chào cảm giác này với
một tâm trạng mới. Ông tắm khá lâu. Rồi ông dem tấm vải
ra giặt và vắt cho thật khô.
Khi
ông lội vào bờ thì sức ông đã kiệt. Bờ sông hơi cao và
ông không đủ sức tự mình leo lên. Ông phải đứng yên lặng
hồi lâu để thở. Nhìn sang bên trái ông thấy có một cây
sà xuống, có những đọt lá xòe ra gần đụng mặt nước.
Ông lội từng bước về phía ấy, rồi níu lấy cành cây
leo lên bờ.
Leo
được lên bờ sông ông ngồi xuống nghỉ. Nắng đã lên.
Ông trải tấm vải ra để phơi. Nắng bắt đầu gay gắt.
Thấy tấm vải đã khô, sa môn Siddhatta choàng nó vào người.
Ông đã có ca sa mới. Theo con đường đưa vào xóm Uruvela,
ông đi tới.
Nhưng
đi chưa được nửa đường thì sa môn Gotama kiệt sức. Ông
thở hào hển, và cuối cùng ông ngã xuống, bất tỉnh.
Ông
nàm bất tỉnh như vậy một hồi lâu thì có một cô bé trong
xóm đi tới. Cô bé chừng mười ba tuổi. Sujata được mẹ
giao phó đem sữa bánh và đề hồ vào khu rừng bên sông để
cúng cho thần linh, và Sujata thấy vị sa môn nằm bất tỉnh
trên con đường bờ sông, bụng còn thoi thóp thở. Nhìn Siddhatta,
cô bé biết nhà tu khổ hạnh này đã kiệt sức. Cô quỳ xuống
đổ sữa vào miệng ông.
Khi
những giọt sữa ngon ngọt thấm được vào lưỡi và cổ
họng. Siddhatta đáp ứng ngay. Ông chấp nhận cảm giác dễ
chịu do sữa tạo nên và chầm chậm uống hết bát sữa. Chỉ
trong vòng mấy mươi hơi thở sau đó ông tỉnh táo hẳn và
ngồi dậy được.
Và
ông ra hiệu cho Sujata rót thêm cho ông một bát sữa thứ hai.
Những bát sữa phục hồi được sức lực của ông rất mau
chóng, Siddhatta quyết định bỏ hang động nơi ông tu khổ
hạnh và dời về khu rừng êm mát bên bờ sông để hành đạo.
Ông ăn uống trở lại bình thưòng. Có khi Sujata đem thức
ăn vào rừng để cúng dường. Có khi ông cầm bát đi vào
làng để khất thực. Mỗi buổi chiều ông đều có xuống
tắm ở sông Neranjara. Mỗi ngày ông đều có đi thiền hành
bên bờ sông. Thì giờ còn lại ông dành cho việc thiền tọa.
Tự
mình tìm kiếm con đường, buông bỏ mọi uy quyền của truyền
thống và kinh điển. Siddhatta trở về sử dụng tất cả những
kinh nghiệm thành bại của chính ông. Ông không e ngại gì
nữa về sự sử dụng thiền duyệt để nuôi dưỡng thân
tâm. Mức độ an lạc của ông tăng triển hàng ngày. Không
tìm cách xa lìa và trốn tránh cảm giác và tri giác, và dùng
định lực quán chiếu vào cảm giác cùng với những đối
tượng của chúng.
Một
hơi thở, một tiếng chim kêu, một tờ lá, một tia nắng mặt
trời ... tất cả đều có thể trở thành đối tượng của
công trình quán chiếu. Rời bỏ ý định thoát ly thế giới
hiện tượng, ông trở về để có mặt sâu sắc trong thế
giới hiện tượng. Ông bắt đầu thấy rằng chìa khóa của
sự giải thoát nằm ngay trong từng hơi thở, từng bước chân
hoặc từng hạt sỏi bên đường. Ông thấy rằng thế giới
hiện tượng và thế giới bản thể là một.
Sa
môn Gotama đi từ sự quán chiếu cơ thể qua sự quán chiếu
cảm giác, rồi đi từ sự quán chiếu cảm giác sang sự quán
chiếu tri giác cùng những hiện tượng sinh diệt khác của
tâm ý. Cuối cùng ông tìm thấy tính cách bất nhị của thân
tâm. Thân thể không còn là một thực tại riêng biệt nữa.
Mỗi sợi tóc cũng là tâm, mỗi tế bào trong cơ thể đều
chứa đựng đủ trí tuệ của vũ trụ và hành giả chỉ cần
nhìn sâu vào một hạt bụi, chân tướng của vũ trụ cũng
phải hiện nguyên hình trước ánh sáng quán chiếu của hành
giả. Chân tướng của hạt bụi chính là vũ trụ và ngoài
hạt bụi, vũ trụ không thể nào có mặt. Sa môn Gotama vượt
thoát ý niệm về ngã, về atman, và ông giật mình thấy rằng
đã từ bao nhiêu lâu nay ông đã từng bị ý niệm về atman
của tư tưởng Vệ Đà khống chế. Thực tướng của vạn
hữu là vô ngã, là anatman. Một từ ngữ không phải để chỉ
định một vật thể, mà là một lưỡi búa tầm sét đập
tan xích xiềng của sự cố chấp. Nắm lấy nguyên tắc vô
ngã, Siddhatta như vị tướng lãnh có lưỡi gươm thần trong
tay, đi vào trận địa của thiền quán như đi vào chỗ không
người. Dưới gốc cây cổ thụ, ngày cũng như đêm, ông đạt
tới những cái thấy lóe sáng như sấm sét trên thái không.
Trong
khi ấy, năm người bạn đồng tu đã bỏ ông đi mất. Họ
từng thấy ông thọ lãnh thức cúng dường bên bờ sông Họ
đã thấy ông cười nói với một cô bé, ăn cơm và mang bát
vào làng khất thực. Kondanna đã nói với các bạn: Siddhatta
không còn là kẻ mà ta có thể trông cậy. Siddhatta đã nửa
chừng bỏ dỡ công phu tu hành. Siddhatta bây giờ chỉ lo bồi
dưỡng xác thân và sống những ngày nhàn hạ. Chúng ta hãy
bỏ Siddhatta và tìm tới nơi khác tu hành. Ta cũng không cần
tiếp tục tu theo phương pháp mà Siddhatta đã đề nghị mấy
tháng về trước.
Chỉ
khi năm người bỏ đi rồi, sa môn Gotama mới thấy sự vắng
mặt của họ. Được khích lệ bởi cái nhìn mới, Siddhatta
đã để hết thời gian vào viẹc hạ thủ công phu mà chưa
có dịp nào đi giải thích với các bạn đồng tu. Ông tự
nhủ: các bạn hiểu lầm ta, nhưng ta không cần lo tới việc
minh oan. Ta hãy dốc lòng tìm cho ra đạo. Rồi sau đó ta sẽ
đi tìm họ và giúp họ. Nghĩ như thế, ông trở về với công
phu thiền quán hàng ngày của mình.
Chính
trong những ngày mà ông đạt tới những tiến bộ lớn trên
con đường tầm đạo thì chú bé chăn trâu Svatika tìm tới.
Ông đã vui vẻ nhận những nắm cỏ tươi của chú bé mười
một tuổi dâng cúng. Tuy Sujata, Svatika và bạn bè của các
em là những đứa bé, Siddhatta đã cũng có thể chia xẻ được
một phần nhỏ cái thấy của ông với chúng, và ông mừng
rỡ thấy bọn trẻ thiếu học ở thôn quê có thể hiểu được
và thấy được ánh sáng của những điều ông mới tìm ra.
Ông linh cảm rằng chỉ trong một thời gian ngắn nửa là cánh
cửa giác ngộ hoàn toàn sẽ mở rộng, bởi vì ông đã nắm
trong tay chiếc chìa khóa mầu nhiệm của cánh cửa ấy: tự
tính duyên sinh và vô ngã của vạn hữu.