Chương
1
Đi
để mà đi
Trong
bóng me im mát vị khất sĩ Svastika đang thực tập phép quán
niệm hơi thở. Chú ngồi trong tư thế hoa sen. Từ hơn một
tiếng đồng hồ, chú đã ngồi thực tập như thế một cách
chăm chú. Đó đây trong tu viện Trúc Lâm, hàng trăm vị khất
sĩ cũng đang ngồi thực tập thiền quán, hoặc trong bóng tre,
hoặc tron những chiếc am lá nhỏ đựng rải rác khắp nơi
trong tu viện, xen lẫn giữa những bụi tre xanh tươi và khỏe
mạnh.
Bụt
hiện đang cư trú trong tu viện này cùng với khoảng gần bốn
trăm vị khất sĩ học trò Người. Tu viện đông như thế
mà vẫn thanh tinh. Đất của tu viện rộng đến bốn chục
mẫu. Những giống tre trồng ở tu viện đều là những giống
tre đẹp khỏe, lấy từ khắp nơ trong vương quốc Magadha.
Tu viện tọa lạc ở phía bắc thành Vương Xá. Tu viện này
do chính vua Bimbisara hiến tặng cho Bụt. và cho giáo đoàn khất
sĩ của Người cách đây bảy năm.
Svastika
mở mắt. Chú mỉm cười. Hai bắp chân chú đã moi. Chú tháo
chân ra khỏi tư thế hoa sen và bắt đầu xoa bóp cho máu chạy
đều trong hai chân.
Svastika
năm nay mới hai mươi mốt tuổi. Chú chỉ mới được xuống
tóc và thọ giới khất sĩ cách đây ba hôm. Thầy Sariputta
một trong những vi cao đệ của Bụt đã làm lễ truyền giới
cho chú.
Svastika
quê ở Uruvela gần Gaya, chú được làm quen với Bụt ngay từ
hồi Bụt chưa thành đạo, cách đây dúng mười năm. Hồi
đó chú mới mười một tuổi. Bụt thương chú lắm, cách
đây nửa tháng, Bụt ghé lại làng Uruvela tìm chú. Bụt đưa
chú về đây, và Bụt đã bảo thầy Sariputta truyền giới
khất sĩ cho chú.
Được
chấp nhận vào giáo đoàn của Bụt, Svastika sung sướng lắm.
Chú nghe nói trong giáo đoàn của Người có rất nhiều vị
khất sĩ xuất thân từ giới quyền quý, như thầy Nanda. Thầy
Nanda cũng là hoàng thái tử, em ruột của Bụt. Lại có những
vị hoàng thân khác như Bhaddiya, Devadatta, Anuruddha và Ananda.
Chú chưa đựơc trực tiếp chắp tay chào hỏi các vị này,
tuy chú đã được trông thấy họ. Các vị này tuy đã đi
tu, tuy đã khoác những chiếc áo cà sa bạc màu trên người
nhưng dáng điệu vẫn còn mang tính cách thanh lịch và quý
phái. Svastika có cảm tưởng là còn lâu lắm chú mới làm
quen thân được với các vị. Bụt là một vị hoàng tử con
vua thật đấy, nhưng Svastika không còn tìm thấy được sự
ngăn cách nào giữa người và chú. Có lẽ vì chú quen với
Bụt lâu rồi và ngày xưa đã từng ngồi với Bụt hàng giờ
hoặc trên bờ sông Neranjara hoặc dưới cột bồ đề im mát.
Chú thuộc về hạng những người cùng đinh, những người
thấp kém và nghèo khổ nhất ở xứ chú. Chú đã làm nghề
giữ trâu trên mười năm nay. Trong vòng nửa tháng vừa qua,
chú đã chung đụng với những người tu thuộc giai cấp quý
tộc. Những người này đều là khất sĩ và là học trò của
Bụt. Tuy họ rất tử tế với chú, tuy họ đã nhìn chú với
con mắt có cảm tình và nhiều khi đã mỉm cười với chú,
nhưng chú vẫn chưa cảm thấy thật sự thỏai mái với họ.
Chắc là tại chú chưa quen. Có lẽ phải sống với họ trong
nhiều tháng nữa chú mới thực sự cảm thấy đây là thế
giới của chú.
Nghĩ
tới đây, Svastika lại mỉm cười. Ở đây ngoài Bụt ra, chú
còn cảm thấy thoải mới với một người khác nữa. Đó
là chú Rahula, con trai Bụt, Rahula năm nay mười tám tuổi, Rahula
được theo Bụt tám năm rồi và trên đường tu học, Rahula
đã bước được những bước thật dài. Hiện Rahula là bạn
thân nhất của chú. Chính Rahula đã chỉ cho chú phương pháp
quán niệm hơi thở. Rahula giỏi giáo lý và hành trì hơn chú
nhiều nhưng sỡ dĩ Rahula chưa được thọ giứoi khất sĩ
vì tuổi Rahula chưa đến hai mươi. Muốn được thành khất
sĩ, muốn được thọ giới bhikkhu, nghĩa là giới khất sĩ
thì ít nhất phải là hai mươi tuổi. Tháng trước khi Bụt
ghé vào làng Uruvela tìm Svastika thì gặp lúc Svastika không có
ở nhà, chú đang chăn trâu ngoài ruộng với đứa em trai tên
là Rupka. Chỉ có hai đứa em giá của chú là ở nhà. Bala là
chị Rupka năm nay lên mười sáu, còm Bhima là đứa em gái út
năm nay mười hai tuổi. Bla nhận ra ngay được Bụt. Nó đòi
ra bờ sông tìm anh những Bụt nói là để Bụt tự ý đi tìm.
Rồi người rủ Rahula cùng đi. Hôm ấy đi với Bụt còn có
hai mươi mấy vị khất sĩ nữa. Ai cũng theo Bụt đi ra bờ
sông. Quả nhiên khi ra tới bờ sông thì Bụt gặp Svastika.
Lúc ấy trời đã chiều, và Svastika đang cùng Rupka tắm cho
đàn trâu. Đàn trâu của Svastika chăn có tới tám con trâu
liứn và một con nghé. Hai anh em Svastika cũng nhận ra Bụt ngay
tức khắc. Svastika cùng Rupka vội chạy đến chắp tay búp
sen cúi đầu chào Bụt.
- Các
con đã lớn quá, Bụt nhìn hai anh em và mỉm cười một cách
thân ái. Svastika đứng ngây người ngắm Bụt. Vẫn khuôn mặt
trầm tĩnh và hai con mắt sáng ngời ngày xưa. Vẫn nụ cười
bao dung và hiền hậu đó. Vẫn những lọn tóc nhỏ xoắn hình
ốc trên đầu. Bụt khoát một chiếc y màu chàm, do nhiều
miếng vải may kết lại. Người vẫn còn đi chân đất như
thuở nào, Svastika đưa mắt nhìn các vị xuất gia đứng sau
lưng Bụt. Chú nhận thấy vị nào cũng đi chân trần như Bụt.
Vị nào cũng quấn y màu chàm. Chú để ý thì thấy y của
Bụt dài hơn các vị thầy khác độ một tấc. Đứng gần
Bụt là một thầy rất trẻ, trạc tuổi Svastika. Vị thầy
này cứ nhìn chú mà mỉm cười hoài. Bụt xoa đầu Svastika
và Rupak. Người bảo người đang trên đường về thành Vương
Xá, tiện đường chiều này ghé lại thăm mấy anh em. Người
bảo người sẽ đứng trên bờ sông, đợi hai anh em xuống
tắm trâu cho xong rồi sẽ cùng về nhà.
Trên
đường về làng Bụt giới thiệu chú Rahula với hai anh em.
Chú Rahula là vị xuất gia trẻ tuổi nhát hồi nãy trên bờ
sông cứ đứng nhìn hai anh em Svastika mà cười hoài. Rahula
thua Svastika ba tuổi nhưng cũng đã cao bắng Svastika. Rahula chưa
thọ giới khất sĩ, nhưng đã thọ giới xuất gia làm s’ramanera,
nghĩa là một vị sa di. Trông chú không khác gì những vị
khất sĩ khác. Rahula đi giữa hai anh em. Chú trao chiếc bát
cho Rupak giữ, và chú đặt tay trên vai hai người một cách
thân ái. Chú đã từng được nghe Bụt nói chuyện về gia
đình Svastika rồi, và chú có rất nhiều cảm tình với gia
đình này. Cũng vì vậy nên hai anh em Svastika cảm nhận ngay
được thân tình mà Rahula bộc lộ.
Về
tới nhà, Bụt hỏi Svastika có muốn theo học với Bụt và
gia nhập giáo đoàn khất sĩ không. Đây là một điều mà
Svastika mong ước từ lâu. Mười năm trước, Svastika đã từng
tỏ lộ ước mơ ấy với Bụt. Ngày ấy Bụt cũng đã hứa
là sau này sẽ thừa nhận chú làm học trò xuất gia. Và bây
giờ đây Người đã trở lại. Người đã không quên lời
hứa. Các em của Svastika đã lớn cả rồi. Rupak em trai của
Svastika đã có đủ khôn ngoan để một mình chăm sóc bầy
trâu. Em gái lớn của Svastika là Bala cũng có đủ sức để
làm một người nội trợ rồi.
Bụt
ngồi ngoài sân, trên một chiếc ghế đẩu nhỏ. Tất cả
các vị khất sĩ đều đứng sau lưng người. Nhà của mấy
anh em Svastika là một túp lều lụp xụp, vách đất, làm gì
có đủ chỗ để mời tất cả mọi người vào. Rupak đi lùa
trâu về nhà ông chủ trâu cũng chưa về. Bala nói với Svastika:
- Anh
cứ đi theo Bụt và các thầy đi. Tụi em ở nhà cũng đủ
sức lo. Thằng Rupak nó mạnh lắm, mạnh hơn cả anh hồi xưa.
Anh đi chăn trâu nuôi tụi em đã hơn mười năm rồi, không
lý bây giờ tụi em không đủ sức để tự lo cho chính mình
sao.
Ngồi
bên lu nước, con Bhima ngửng lên nhìn chị, không nói năng
gì, Svastika nhìn no. Con bé năm nay đã lớn. Hồi Svastika mới
được gặp Bụt. Bhima còn chưa đầy tuổi thôi nôi. Bala hồi
đó mới sáu tuổi, đã phải vừa ẳm em vừa nấu cơm. Rupak
hồi đó mới có ba tuổi, cả ngày vọc đất vọc cát chơi
ngoài sân. Cha chúng vừa mất được sáu tháng thì mẹ chúng
cũng bỏ chúng, ngay sau khi sanh em Bhima. Svastika mười một tuổi
mà đã phải làm chủ gia đình. May mắn mà nó được chăn
trâu cho gia đình ông Rambhul trong xóm. Nhờ chăn trâu giỏi
cho nên nó kiếm đủ thức ăn mỗi ngày cho chính nó và cho
các em. Nó còn kiếm được cách xin sữa trâu cho bé Bhima nữa.
Bhima
có khuôn mặt xinh xinh. Thấy anh nhìn mình như có ý dọ hỏi,
Bhima mỉm cười. Nó ngần ngừ một lát rồi nói, giọng nhỏ
nhẹ:
Bhima
có khuôn mặt xinh xinh. Thấy anh nhìn mình như có ý dọ hỏi,
Bhima mỉm cười. Nó ngần ngừ một lát rồi nói, giọng nhỏ
nhẹ:
- Anh
đi với Bụt đi. Nói xong Bhima quay mặt đi nơi khác, rơm rớm
nước mắt. Bhima đã từng nghe anh nói về dự tính đi theo
Bụt để tu học. Nó muốn anh nó được đi, nhưng nó lại
buồn khi biết anh nó sắp đi.
- Vừa
lúc ấy, Rupak về tới. Rupak nghe được câu nói của em. Nó
hiểu tất cả. Nó nhìn Svastika, và nói:
- Anh
cứ đi với Bụt đi.
Mọi
người im lặng, Rupka nhìn Bụt nói:
- Bụt
cho anh con được đi học với Bụt . Con ở nhà đủ sức lo
cho chị và cho em con rồi.
Và
quay sang Svastika, Rupak nháy mắt:
- Nhưng
thỉnh thoảng anh phải xin phép Bụt về thăm tụi em.
Thế
là vấn đề của Svastika được giải quyết. Bụt đứng dậy
xoa đầu Bhima và nói:
- Các
con đi ăn cơm và chuẩn bị đi nhé. Sáng mai, ta sẽ trở lại
đây đón Svastika cùng lên đường đi Rajagaha. Bây giờ ta và
các thầy khất sĩ sẽ đi về cây Bồ Đề và sẽ nghỉ đêm
trong ấy.
Ra
tới cổng, Bụt quay lại. Người nhìn Svastika và nói:
- Ngày
mai, con không cần đem theo gì hết. Chỉ cần áo mặc trên
người thôi, con nhé.
Đêm
đó, bốn anh em thức khuya. Svastika dặn dò các em đủ điều.
Svastika ôm từng đứa em trong vòng tay, thật lâu. Bé Bhima khóc
thút thít trong tay anh. Nhưng bé lại ngửng lên nhìn anh và
mỉm cười. Nó không muốn anh nó buồn. Ánh sáng chiếc đền
dầu tuy tù mù nhưng vẫn soi rõ được nụ cười của bé.
Tối hôm đó không ai nghĩ đến chuyện ăn cơm tối cả, dù
Bala đã nấu cơm sẵn cho bốn anh em từ hồi xế chiều.
Sáng
tinh sương hôm sau, khi Svastika vèa dậy thì đã thấy chị Sujata
đến thăm. Chị đến để chào từ giã Svastika, bởi chiều
hôm qua trên đường bờ sông chị đã được gặp Bụt và
đã được Bụt báo tin cho biết là Svastika sẽ lên đường
theo Bụt Chị Sujata là con gái của ông hương cả. Chị lớn
hơn Svastika hai tuổi, ngày xưa, chị cũng đã được gặp Bụt
hồi người chưa thành đạo, và chị cũng từng giúp mấy
anh em Svastika nhiều lần trong nhưng cơn ốm đau hoạn nạn.
Sujata đem đến tặng Svastika một lọ dầy, nói là để đánh
gió những khi bị nhức đầu. Hai chị em mới nói được vài
ba câu chuyện thì Bụt và các thầy tới. Các em của Svastika
cũng đã dậy và sửa soạn để tiễn đưa anh. Chú Rahula đến
ân cần hỏi thăm từng đứa em của Svastika. Chú hứa trong
tương lai nếu có dịp đi ngang qua vùng Gaya thế nào chú cũng
sẽ ghé thăm mấy đứa. Chị Sujata và ba đứa em của Svastika
đưa Bụt và đoàn khất sĩ ra tới bờ sông. Đoàn người
theo con đường ven sông để đi về phía Đông Bắc. Bốn chị
em chắp tay chào Bụt, chào các thầy, chào chú Rahula và chào
Svastika. Svastika thấy lòng nao nao. Đây là lần đầu tiên chú
Svastika rời bỏ quê hương. Nghe nói phải đi đến mười hôm
mới tới được thành Rajagaha. Bụt và các thầy khất sĩ
đi thật khoan thai. Đi như thế này thì lâu đến là phải.
Nhưng Svastika cũn châm bước lại. Bước chân Svastika cũng
trở nên khoan thai. Lòng Svastika bây giờ bình yên hơ. Svastika
đã một lòng quay về nương tựa Bụt, nương tựa Pháp và
nương tựa Tăng. Svastika đã có đường đi của mình. Chú
quay lại nhìn một lần chót. Bóng của chị Sujata và các em
đã khuất sau rừng cây.
Svastika
có cảm tưởng là Bụt đi để mà đi chứ không phải đi
để mà tới. Đoàn khất sĩ đi theo nguời cũng vậy. Không
ai tỏ vẻ nóng ruột hoặc hấp tấp muốn cho chóng tới Rajagaha.
Mọi người bước những bước vững chắc, chậm rãi và thanh
thản. Đi như là đi chơi. Không ai tỏ vẽ mỏi mệt. Vậy
mà mỗi ngày đoàn người đi được rất xa. Cứ vào khoảng
mười giờ sáng thì đoàn khất sĩ lại ghé vào một thôn
xóm bên đường để khất thực. Họ đi thành một hàng. Bụt
đi đầu, tay phải Người nâng bình bát, Svastika đi chót, ngay
sau chú Rahula. Đoàn người trang nghiêm vừa đi vừa theo dõi
hơi thở, mắt nhìn phía trước. Thỉnh thoảng đoàn người
dừng lại. Có người trong xóm đem thức ăn ra cúng dường.
Họ đứng nghiên mình đổ thức ăn vào trong bình bát của
các vị khất sĩ. Có người quỳ xuống bên đường để dâng
cúng thức ăn. Các vị khất sĩ sau khi nhận thức ăn thầm
lặng hộ niệm cho người thí chủ.
Đoàn
khất sĩ sau khi khất thực, từ từ đi ra khỏi thôn xóm và
tìm tới dưới một khu rừng hay dưỡi một bãi cỏ. Họ ngồi
xuống thành vòng tròn và chia xẻ thức ưn đã xin được cho
những chiếc bình bát chưa có gì. Chú Rahula từ bờ sông đi
lên mang theo một bình nước đầy. Chú cung kính mang bình nước
tới trước mặt Bụt. Bụt chắp tai lại thành một búp sen.
Chú đổ nước trên tay Bụt để Bụt rửa tay. Rồi chú đến
trước các vị khất sĩ, cung kính đổ nước trên tay từng
vị. Sau cùng chú đến đổ nước cho Svastika rửa tay. Sau đó
mọi người chắp tay lại để quán niệm và chú nguyện. Rồi
mọi người nâng bát lên ăn. Bữa ăn trang nghiêm và im lặng.
Svastika chưa có bát. Chú Rahula đã chia thức ăn cho Svastika
trên một tàu là chuối tươi.
Thọ
trai xong, đoàn khất sĩ tìm nơi nghỉ trưa. Có vị tiếp tục
đi thiền hành. Có vị ngồi thiền tọa dưới gốc cây. Khi
nắng bắt đầu dịu xuống, mọi người lại lên đường.
Đoàn người đi chó đến khi bóng chiều ngã thì mới tìm
nơi tá túc. Chỏo nghỉ đêm tốt nhất của họ là một khu
rừng thưa. Mọi người đều có mang theo tọa cụ. Họ ngồi
xếp bằng trong tư thế hoa sen để thiền tọa dưới một
gốc cây. Có vị thiền tọa đến quá nửa đêm mói ngả lưng
xuống nghỉ trên áo ca sa xếp tư của mình. Các vị khất
sĩ thường mang theo mình một chiếc y khác. Họ dùng y này
để đắp khi trời trở lạnh. Svastika cũng bắt chước mọi
người thiền tọa, và chú cũng học cách ngả lưng ngủ dưới
một gốc cây, đầu chú gối trên một chiếc rễ cây.
Buổi
sáng thức dậy, Svastika thấy Bụt đã dậy từ hồi nào và
đang an nhiên ngồi tĩnh tọa. Dáng điệu của người trầm
tĩnh và an lạc lạ thường. Nhìn quanh, Svastika thấy nhiều
vị khất sĩ cũng đã dậy và đang thực tập thiền quán.
Khi trời đã sáng rõ, mọi người lại xếp y, cầm bắt và
chuẩn bị lên đường.
Ngày
đi đêm nghỉ, như thế được mười hôm thì đoàn người
tới thủ đô Vương Xá. Đây là lần đầu tiên trong đời
Svastika thấy nhà cửa phố xá đông đúc như vậy. Xe ngựa
rộn rịp. Tiếng cười tiếng nói vang vang. Tuy nhiên, đoàn
khất sĩ vẫn đi khoan thai, nghiêm chỉnh và tịnh lạc như
đi trên một bờ sông hoặc một con đường giữa hai cánh
đồng lúa nơi thôn dã. Nhiều khách bộ hành dừng lại đẻ
ngắm đoàn khất sĩ. Có người nhận ra được Bụt. Họ vội
sụp xuống lạy một cách kính cẩn. Đoàn khất ĩ vẫn an
nhiên đi. Rồi đoàn khất sĩ về tới tu viện Trúc Lâm.
Tin
Bụt về tới Trúc Lâm phút chốc đã được truyền đi khắp
tu viện. Chỉ trong chốc lát, gần bốn trăm vị khất sĩ cư
trú tại Trúc Lâm đã tề tựu lại tịnh xá của người để
thăm hỏi. Bụt không nói chuyện nhiều, người chỉ hỏi thăm
mọi người về hiện trạng tu học và hành đạo tại Trúc
Lâm và tại thành Vương Xá. Rồi người giao Svastika cho thầy
Sariputta. Thầy Sariputta hiện là vị giáo thọ crua chú Rahula.
Thầy cũng là vị giám viện của tu viện Trúc Lâm. Hiện thầy
đáng hướng dẫn việc tu học cho gần năm trăm vị khất
sĩ tân học, nghĩa là những vị khất sĩ trẻ mới được
xuất gia trong vòng vài ba năm. Người đứng đầu tu viện
là đại đức Kondanna.
Chú
Rahula có phận sự chỉ dẫn cho Svastika về thể thức sinh
hoạt hằng ngày trong tu viện: cách đi, cách ngồi, cách đứng,
cách chào hỏi, cách htiền hanh, cách thiền tọa, và cách quán
niệm hơi thở. Rahula cũng chỉ cho Svastika cách khoát y, mang
bát, cách khất thực, chú nguyện rửa bát. Nội trong ba hôm,
Svastika theo sát chú Rahula để học tất cả những thứ đó.
Rahula chỉ dẫn rất tận tình, nhưng Svastika biết rằng để
có thể làm được những việc này một cách ung dung và tự
nhiên như chú Rahula, chú phải thực tập trong nhiều năm. Cuối
cùng thầy Xá Lợi Phất gọi Svastika vào thảo am riêng của
thầy. Thầy bảo Svastika ngồi xuống trên một chiếc ghế
thấp bên cạnh thầy và bắt đầu giảng cho Svastika về giới
luật của người khất sĩ.
Khất
sĩ là người từ bỏ đời sống gia đình, nương vào Bụt
như người đưa đường chỉ lối cho ình trong cuộc đời,
nương vào Pháp như con đường đưa tới sự thành tựu đạo
nghiệp giải thoát và nương vào Tăng như đoàn thể của những
người cungà đi trên một con đường chí hướng. Người khất
sĩ phải sống đời đạm bạc và khiêm nhượng. Đi khất
thực là để thực hiện tinh thần ấy mà cũng là để có
cơ hội tiếp xúc với dân chúng và hướng dẫn mị ngườivào
con đường của hiểu biết và của thương yêu mà Bụt chỉ
dạy.
Mười
năm về trước dưới cây Bồ Đề, Svastika và các bạn đã
từng được nghe Bụt nói về đạo giải thoát như con đường
của hiểu biết và thương yêu, nên bây giờ chú hiểu rất
chóng những điều mà thầy Sariputta đang giảng dạy. Nét mặt
của thầy nghiêm trang, nhưng hai mắt và nụ cười của thầy
bộc lộ rất nhiều từ ái. Thầy nói sáng ngày mai Svastika
sẽ được làm lễ thế phát xuất gia để được gia nhập
vào giáo đoàn khất sĩ. Và thầy dạy cho Svastika học thuộ
những câu nói và chú phải nói trong lễ thọ giới.
Trong
lễ thọ giới của Svastika, chính thầy Sariputta là giới sư
truyền giới. Chỉ có khoảng trên hai mươi vị khất sĩ tham
dự. Bụt cũng đến tham dữ lễ truyền giới này. Rahula cũng
có mặt. Svastika rất sung sướng. Thầy Sariputta làm lễ xuống
tóc cho Svastika. Tay cầm dao cạo, thầy im lặng một lát để
chú nguyện rồi đưa dao cạo một vài đường tóc trên đầu
Svastika. Sau đó Rahula nhận trách nhiệm hoàn tất việc cạo
đầu cho vị giới tử mới. Svastika được thầy Sariputta trao
cho ba chiếc y, một chiếc bình bát và một dụng cụ lọc
nước. Đã học cách quấn y với Rahula rồi nên chú mặt y
vào người một cách tự nhiên và mau chóng. Chú sụp lạy
trước Bụt và đoàn thể các vị khất sĩ để biểu lộ
niềm quy kính và lòng biết ơn của chú.
Ngay
sáng ngày hôm ấy Svastika được tập sự đi khất thực. Chú
đã là một bhikkhu. Quấn y, mang bát, chú gia nhập vào đoàn
của vị y chỉ sư của mình, tức là thầy Sariputta. Rahula
là thị giả của thầy Sariputta nên cũng có trong đoàn của
chú. Mấy trăm vị khất sĩ trong tu viện Trúc Lâm chia nhau
thành nhiều đoàn, mỗi đoàn tìm đi khất thực trong một
con đường khác nhau của thành Vương Xá. Hôm ấy Bụt không
đi trong đoàn của Svastika.
Vừa
bước ra khỏi tu viện, Svastika thấy ngay rằng đi hóa trai
là một phương thức hành đạo. Lập tức chú trở về theo
dõi hơi thở. Chú bước từng bước đoan nghiêm, đôi mắt
nhìn thẳng về phía trước. Chú Rahula hiện đi ngay phía sau
chú. Tuy Svastika có ý thức rằng mình là một vị khất sĩ
thực thụ, chú cũng biết rất rõ là kinh nghiệm tu học của
chú còn kém xa kinh nghiệm tu học của Rahula. Và chú thường
nguyện nuôi dưỡng đức khiêm cung nơi chú
Chương
2
Nghệ
thuật chăn trâu.
Hôm
nay trời mát, sau bữa cơ trưa ăn trong quán niệm, các vị
khất sĩ lặng lẽ đi rửa bát của mình và đem trải tọa
cụ ngoài trời ngồi quây quần quanh Bụt. Tu viện Trúc Lâm
có rấ nhiều sóc. Chúng quanh quẩn bên các thầy, không có
vẻ gì sợ hãi. Nhiều con sóc leo lên trên các thân tre, đưa
mắt nhìn xuống. Svastika đưa mắt tìm Rahula. Chú thấy Rahula
ngồi ngay trước mặt Bụt. Chú rón rén đến trải tọa cụ
bên cạnh Rahula và nghiêm chỉnh ngồi xuống trong tư thế hoa
sen. Không khí thật trang nghiêm. Không ai nói với ai lời nào,
nhưng Svastika biết rằng ai cũng đang theo dõi hơi thở trong
khi chờ đợi Bụt mở lời chỉ dạy.
Bụt
ngồi trên một chiếc chõng tre, cao hơn mọi người chừng
vai gang tay để mọi người có thể nhìn thấy. Người ngồi
ung dung và uy nghiêm như một con sư tử chúa ngồi trong bầy
sư tử. Người đưa mắt nhìn đại chúng một cách từ hòa.
Rồi cái nhìn của ngươờidừng lại nơi Svastika và Rahula.
Bỗng nhiên, Bụt mỉm cười. Người cất tiếng:
- Hôm
nay tôi muốn nói chuyện với đại chúng về việc chăn trâu,
và thế nào là một em bé chăn trâu giỏi. Một em bé chăn
trâu giỏi là một em bé có thể dễ dàng nhận ra được trâu
của mình, biết hình tướng của mỗi con, biết cách cọ xát
tắm rửa cho trâu, biết thương yêu trâu, biết tìm bến tốt
để cho trâu qua sông, biết tìm chỗ có cỏ non và nước uống
cho trâu, biết bảo trì những vùng thả trâu và cuối cùng
là biết để cho những con trâu lớn làm gương cho nhưng con
trâu nhỏ
Ngưng
một lát Bụt tiếp :
- Này
các vị khất sĩ! Một vị khất sĩ giỏi cũng phải làm tương
tự như một em bé chăn trâu. Nếu em bé chăn trâu biết nhận
ra được trâu của mình thì người xuất gia cũng phải biết
nhận ra được những yếu tố tạo nên sắc thân của mình.
Nếu em bé chăn trâu biết được hình tướng của mỗi con
trâu trong đàn trâu của mình thì nguời xuất gia cũng phải
thấy được những hành động nào của thân của miệng và
của ý là những hành động đáng làm và những hành động
nào là những hành động không đáng làm. Nếu một em bé chăn
trâu biết cách cọ xát tắm rửa cho trâu thì người xuất
gia cũng phải biết buông xả và gột rửa khỏi thân tâm những
tham dục, si mê và hờn oán…
Trong
khi Bụt nói những lời trên, mắt Bụt không rời Svastika,
Svastika có cảm tưởng rằng chú làn nguồn cảm hứng cho những
lời mà Bụt đang nói. Chú nhớ rằng ngày xưa chú đã được
ngồi bên Bụt hàng giờ, và Bụt đã từng hỏi chuyện chú
một cách tỉ mỉ về công việc chăn trâu và cắt cỏ. Vốn
là một vị hoàng thái tử xuất thân, làm sao Bụt có thể
hiểu rõ như thế về nghề chăn trâu, nếu chính chú đã không
kể hết những chuyện đó cho người nghe?
Bụt
vẫn nói. Tiếng nói người vừa rõ vừa trong. Tuy người chỉ
nói giọng bình thường, tiếng của người vẫn vọng ra rành
mạch rừng âm, không ai à không nghe thấy:
- Nếu
em bé chăn trâu biết chăm sóc các vết thương của trâu thì
người xuất gia cũng phải biết hộ trì sáu căn của mình
là mắt, tai, mũi, lưỡi thân và ý và để cho sáu đối tượng
tức là sáu trần không thể lung lạc được mình. Nếu em
bé chăn trâu biết cách đốt khói un trâu để trâu khỏi bị
muỗi đốt thì người xuất gia cũng phải đem đạo lý giải
thoát để dạy cho người chung quanh để họ tránh được
những khổ đau dằn vặt trong thân tâm họ. Nếu em bé chăn
trâu biết tìm đường đi an toàn cho trâu thì người xuất
gia cũng phải biết tránh những con đường đưa tới danh lợi,
sắc dục, quán rượu và hý trường. Nếu em bé chăn trâu
biết thương yêu trâu thì người xuất gia cũng phải biết
quý trọng những niềm an vui do thiền tập đưa tới. Nếu
em bé chăn trâu biết tìm bến tốt cho trâu qua sông thì người
xuất gi cũng phải biết nương vào diệu lý bốn sự thật
để biết đến bến bờ. Nếu em bé chăn trâu biết tìm chỗ
có cỏ non và nước uống cho trâu thì người xuất gia cũng
phải biết rằng bốn lãnh vực quan niệm là mảnh đất tốt
nhất để làm phát sinh giải thoát. Nếu em bé chăn trâu biết
bảo trì những vùng thả trâu, không tàn hại phá phách môi
trường nuôi trâu, thì người xuất gia cũng phải cẩn thận
và dè dặt trong việc tiếp xúc với quần chúng và thu nhận
của cúng dường. Nếu em bé chăn trâu biết dùng những con
trâu lớn làm gương cho những con trâu con thì người xuất
gia cũng phải biết nương vào đức hạnh và kinh nghiệm của
các bậc thầy đi trước… Một vị khất sĩ biết làm đúng
theo mười một điều vừa nói thì có thể đạt đến quả
vị La hán trong vòng sáu năm tu học.
Vị
khất sĩ trẻ tuổi Svastika lấy làm kỳ lạ. Những điều
chú nói với Bụt cách đây mười năm, Bụt còn nhớ hết.
Người đã nhắc lại tất cả những chi tiết, và con đem
áp dụng vào việc tu học của người khất sĩ. Tuy Bụt đang
dạy giáo lý chung cho đại chúng, nhưng chú có cảm tưởng
là Bụt đang dạy riêng cho một mình chú. Chú nhìn đăm đăm
vào mặt Bụt, hai mắt không rời khỏi người.
Những
lời Bụt dạy thật hàm súc. Những danh từ như “sáu căn”,
“sáu trần”, “bốn sự thật”, và “bốn lãnh vực quán
niệm”… mà Bụt đã xử dụng trong bài pháp thoại, Svastika
chưa hiểu được tường tận. Chú tự bảo là sẽ nhờ chú
Rahula giảng giải cho. Nhưng chú có cảm tưởng là dù sao chú
cũng hiểu được khái quát những lời Bụt dạy. Chú sẽ
ôn lại những điều học hôm nay với chú Rahula. Nhưng Bụt
đã lại lên tiếng, Người giải thích thêm về việc chọn
con đường an toàn cho trâu đi. Nếu con đường có quá nhiều
gai góc, trâu có thể sẽ bị thương, và những vết thương
có thể làm độc. Nếu em bé chăn trâu không biết cách trị
thương cho trâu thì trâu có thể lên cơn sốt và lăn ra chết.
Sự tu học cũng giống như thế. Không tìm chánh đạo mà đi
thì sẽ bị mang thương tích trong thân thể và tâm hồn. Những
vết thương do các độc tố tham sân si làm cho ung thối sẽ
có thể làm hư hỏng cả sự nghiệp giác ngộ
Svastika
có cảm tưởng là Bụt đi để mà đi chứ không phải đi
để mà tới. Đoàn khất sĩ đi theo nguời cũng vậy. Không
ai tỏ vẻ nóng ruột hoặc hấp tấp muốn cho chóng tới Rajagaha.
Mọi người bước những bước vững chắc, chậm rãi và thanh
thản. Đi như là đi chơi. Không ai tỏ vẽ mỏi mệt. Vậy
mà mỗi ngày đoàn người đi được rất xa. Cứ vào khoảng
mười giờ sáng thì đoàn khất sĩ lại ghé vào một thôn
xóm bên đường để khất thực. Họ đi thành một hàng. Bụt
đi đầu, tay phải Người nâng bình bát, Svastika đi chót, ngay
sau chú Rahula. Đoàn người trang nghiêm vừa đi vừa theo dõi
hơi thở, mắt nhìn phía trước. Thỉnh thoảng đoàn người
dừng lại. Có người trong xóm đem thức ăn ra cúng dường.
Họ đứng nghiên mình đổ thức ăn vào trong bình bát của
các vị khất sĩ. Có người quỳ xuống bên đường để dâng
cúng thức ăn. Các vị khất sĩ sau khi nhận thức ăn thầm
lặng hộ niệm cho người thí chủ.
Đoàn
khất sĩ sau khi khất thực, từ từ đi ra khỏi thôn xóm và
tìm tới dưới một khu rừng hay dưỡi một bãi cỏ. Họ ngồi
xuống thành vòng tròn và chia xẻ thức ưn đã xin được cho
những chiếc bình bát chưa có gì. Chú Rahula từ bờ sông đi
lên mang theo một bình nước đầy. Chú cung kính mang bình nước
tới trước mặt Bụt. Bụt chắp tai lại thành một búp sen.
Chú đổ nước trên tay Bụt để Bụt rửa tay. Rồi chú đến
trước các vị khất sĩ, cung kính đổ nước trên tay từng
vị. Sau cùng chú đến đổ nước cho Svastika rửa tay. Sau đó
mọi người chắp tay lại để quán niệm và chú nguyện. Rồi
mọi người nâng bát lên ăn. Bữa ăn trang nghiêm và im lặng.
Svastika chưa có bát. Chú Rahula đã chia thức ăn cho Svastika
trên một tàu là chuối tươi.
Thọ
trai xong, đoàn khất sĩ tìm nơi nghỉ trưa. Có vị tiếp tục
đi thiền hành. Có vị ngồi thiền tọa dưới gốc cây. Khi
nắng bắt đầu dịu xuống, mọi người lại lên đường.
Đoàn người đi chó đến khi bóng chiều ngã thì mới tìm
nơi tá túc. Chỏo nghỉ đêm tốt nhất của họ là một khu
rừng thưa. Mọi người đều có mang theo tọa cụ. Họ ngồi
xếp bằng trong tư thế hoa sen để thiền tọa dưới một
gốc cây. Có vị thiền tọa đến quá nửa đêm mói ngả lưng
xuống nghỉ trên áo ca sa xếp tư của mình. Các vị khất
sĩ thường mang theo mình một chiếc y khác. Họ dùng y này
để đắp khi trời trở lạnh. Svastika cũng bắt chước mọi
người thiền tọa, và chú cũng học cách ngả lưng ngủ dưới
một gốc cây, đầu chú gối trên một chiếc rễ cây.
Buổi
sáng thức dậy, Svastika thấy Bụt đã dậy từ hồi nào và
đang an nhiên ngồi tĩnh tọa. Dáng điệu của người trầm
tĩnh và an lạc lạ thường. Nhìn quanh, Svastika thấy nhiều
vị khất sĩ cũng đã dậy và đang thực tập thiền quán.
Khi trời đã sáng rõ, mọi người lại xếp y, cầm bắt và
chuẩn bị lên đường.
Ngày
đi đêm nghỉ, như thế được mười hôm thì đoàn người
tới thủ đô Vương Xá. Đây là lần đầu tiên trong đời
Svastika thấy nhà cửa phố xá đông đúc như vậy. Xe ngựa
rộn rịp. Tiếng cười tiếng nói vang vang. Tuy nhiên, đoàn
khất sĩ vẫn đi khoan thai, nghiêm chỉnh và tịnh lạc như
đi trên một bờ sông hoặc một con đường giữa hai cánh
đồng lúa nơi thôn dã. Nhiều khách bộ hành dừng lại đẻ
ngắm đoàn khất sĩ. Có người nhận ra được Bụt. Họ vội
sụp xuống lạy một cách kính cẩn. Đoàn khất ĩ vẫn an
nhiên đi. Rồi đoàn khất sĩ về tới tu viện Trúc Lâm.
Tin
Bụt về tới Trúc Lâm phút chốc đã được truyền đi khắp
tu viện. Chỉ trong chốc lát, gần bốn trăm vị khất sĩ cư
trú tại Trúc Lâm đã tề tựu lại tịnh xá của người để
thăm hỏi. Bụt không nói chuyện nhiều, người chỉ hỏi thăm
mọi người về hiện trạng tu học và hành đạo tại Trúc
Lâm và tại thành Vương Xá. Rồi người giao Svastika cho thầy
Sariputta. Thầy Sariputta hiện là vị giáo thọ crua chú Rahula.
Thầy cũng là vị giám viện của tu viện Trúc Lâm. Hiện thầy
đáng hướng dẫn việc tu học cho gần năm trăm vị khất
sĩ tân học, nghĩa là những vị khất sĩ trẻ mới được
xuất gia trong vòng vài ba năm. Người đứng đầu tu viện
là đại đức Kondanna.
Chú
Rahula có phận sự chỉ dẫn cho Svastika về thể thức sinh
hoạt hằng ngày trong tu viện: cách đi, cách ngồi, cách đứng,
cách chào hỏi, cách htiền hanh, cách thiền tọa, và cách quán
niệm hơi thở. Rahula cũng chỉ cho Svastika cách khoát y, mang
bát, cách khất thực, chú nguyện rửa bát. Nội trong ba hôm,
Svastika theo sát chú Rahula để học tất cả những thứ đó.
Rahula chỉ dẫn rất tận tình, nhưng Svastika biết rằng để
có thể làm được những việc này một cách ung dung và tự
nhiên như chú Rahula, chú phải thực tập trong nhiều năm. Cuối
cùng thầy Xá Lợi Phất gọi Svastika vào thảo am riêng của
thầy. Thầy bảo Svastika ngồi xuống trên một chiếc ghế
thấp bên cạnh thầy và bắt đầu giảng cho Svastika về giới
luật của người khất sĩ.
Khất
sĩ là người từ bỏ đời sống gia đình, nương vào Bụt
như người đưa đường chỉ lối cho ình trong cuộc đời,
nương vào Pháp như con đường đưa tới sự thành tựu đạo
nghiệp giải thoát và nương vào Tăng như đoàn thể của những
người cungà đi trên một con đường chí hướng. Người khất
sĩ phải sống đời đạm bạc và khiêm nhượng. Đi khất
thực là để thực hiện tinh thần ấy mà cũng là để có
cơ hội tiếp xúc với dân chúng và hướng dẫn mị ngườivào
con đường của hiểu biết và của thương yêu mà Bụt chỉ
dạy.
Mười
năm về trước dưới cây Bồ Đề, Svastika và các bạn đã
từng được nghe Bụt nói về đạo giải thoát như con đường
của hiểu biết và thương yêu, nên bây giờ chú hiểu rất
chóng những điều mà thầy Sariputta đang giảng dạy. Nét mặt
của thầy nghiêm trang, nhưng hai mắt và nụ cười của thầy
bộc lộ rất nhiều từ ái. Thầy nói sáng ngày mai Svastika
sẽ được làm lễ thế phát xuất gia để được gia nhập
vào giáo đoàn khất sĩ. Và thầy dạy cho Svastika học thuộ
những câu nói và chú phải nói trong lễ thọ giới.
Trong
lễ thọ giới của Svastika, chính thầy Sariputta là giới sư
truyền giới. Chỉ có khoảng trên hai mươi vị khất sĩ tham
dự. Bụt cũng đến tham dữ lễ truyền giới này. Rahula cũng
có mặt. Svastika rất sung sướng. Thầy Sariputta làm lễ xuống
tóc cho Svastika. Tay cầm dao cạo, thầy im lặng một lát để
chú nguyện rồi đưa dao cạo một vài đường tóc trên đầu
Svastika. Sau đó Rahula nhận trách nhiệm hoàn tất việc cạo
đầu cho vị giới tử mới. Svastika được thầy Sariputta trao
cho ba chiếc y, một chiếc bình bát và một dụng cụ lọc
nước. Đã học cách quấn y với Rahula rồi nên chú mặt y
vào người một cách tự nhiên và mau chóng. Chu sụp lạy trước
Bụt và đoàn thể các vị khất sĩ để biểu lộ niềm quy
kính và lòng biết ơn của chú.
Ngay
sáng ngày hôm ấy Svastika được tập sự đi khất thực. Chú
đã là một bhikkhu. Quấn y, mang bát, chú gia nhập vào đoàn
của vị y chỉ sư của mình, tức là thầy Sariputta. Rahula
là thị giả của thầy Sariputta nên cũng có trong đoàn của
chú. Mấy trăm vị khất sĩ trong tu viện Trúc Lâm chia nhau
thành nhiều đoàn, mỗi đoàn tìm đi khất thực trong một
con đường khác nhau của thành Vương Xá. Hôm ấy Bụt không
đi trong đoàn của Svastika.
Bụt
ngừng nói. người ra dấu cho Svastika lại gần người. Svastika
vâng lời, đến đứng chấp tay búp sen bên Bụt. Bụt tươi
cười giới thiệu chú với đại chúng. Người nói:
- Mười
năm trước, tôi đã được gặp chú Svastika tại rừng Gaya,
trước ngày thành đạo. Chính chú Svastika đã cho tôi những
nắm cỏ Kusa để trải làm tọa cụ mà ngồi dưới gốc cây
Bồ Đề. Hồi đó chú mới mười một tuổi. Những điều
mà tôi biết về nghệ thuật chăn trâu là do chú dạy tôi
hồi đó. Tôi biết Svastika là một em bé chăn trâu giỏi. Và
tôi tin tưởng rằng vị khất sĩ Svastika hôm nay cũng sẽ là
một vị khất sĩ giỏi trong ngày mai.
Mọi
con mắt đổ dồn về phía Svastika. Chú biết là hai tai và
hai má chú đang đỏ bừng. Mọi người cháp tay búp sen để
chào chú. Chú cúi đầu chắp tay đáp lễ. Bụt kết thúc buổi
pháp thoại bằng cách yêu cầu chú Rahula lặp lại những phép
quán niệm hơi thở. Chú Rahula đứng dậy chắp tay. Chú đọc
rành mạch từng phép. Giọng chú sang sảng như tiếng chuông
đồng. Đọc xong, chú lại chắp tay cung kính xá đại chúng.
Bụt đứng dậy. Người trở về am tranh. Đại chúng giải
tán. Mọi người thu xếp tọa cụ và trở về vị trí mình.
Tại tu viện Trúc Lâm không phải ai cũng cư trú trong các tịnh
xá. Có nhiều vị khất sĩ ngồi thiền và ngủ ngay dưới
các bụi tre. Chỉ khi nào trời mưa các vị mới xếp tọa
cụ và tìm vào ẩn mưa ở các tăng xá hoặc ở giảng đường.
Svastika
được thầy Sariputta cho phép ở chung một liêu với chú Rahula.
Năm nay chú Rahula đã chững chạc rồi nên không còn phải
ngủ chung một liêu với thầy y chỉ sư như những năm còn
bé. Svastika rất sung sướng được thân cận với Rahula. Chú
thầm cảm ơn vị y chỉ sư. Thầy Sariputta hiểu chú không
kém gì Bụt. Hèn gì ai cũng nói thầy là học trò lớn của
người. Chiều nay sau giờ thiền tọa, Svastika tập đi kinh
hành một mình. Chú chọn một con đường vắng trong tu viện
để khỏi phải gặp nhiều người. Trong lúc kinh hành, chhú
không được nhất tâm cho lắm, bởi vì chú đã bắt đầu
cảm thấy nhớ nhà và nhớ các em. Hình bóng con đường làng
dẫn ra bờ sông hiện rõ trong trí. Hình bóng của bé Bhima
đang cúi mặt xuống gần như khóc. Hình bóng của thằng Rupak
một mình chăm sóc đàn trâu đông đảo của ông Rambhul. Chú
cố xua đuổi những hình ảnh ấy đi để chú tâm vào bước
chân và hơi thở, nhưng thỉnh thoảng các hình bóng ấy lại
lảng vảng về. Chú hơi giạn chú là đã không hết lòng tu
học đã không xứng đáng với lòng tin cậy của Bụt. Chú
định bụng sau giờ thiền hành sẽ đi tìm chú Rahula để
hỏi thêm về phương pháp nhiếp tâm. Với lại còn có mấy
điều Bụt dạy hồi trưa mà chú ghi nhận chưa được kỹ
càng. Rahula chắc chắn là có thể giúp chú. Nghĩ đến Rahula,
chú thấy vững tâm hơn và tự nhiên tâm trí chú trở nên
định tĩnh. Giờ đây chú có thể tập trung được tâm ý
vào hơi thở và bước chân một cách dễ dàng hơn trong việc
thực tập thiền hành.
Svastika
chưa kịp đi tìm Rahula thì Rahula đã tìm đến chú, Rahula kéo
chú ngồi xuống bên một gốc tre.
- Hồi
xế trưa tôi có gặp thầy Ananda. Thầy đã được nghe Bụt
giới thiệu về chú và thầy muốn gặp chú để được nghe
chú kể chuyện ngày xưa, hồi chú còn bé và chú đã được
gặp Bụt như thế nào.
- Thầy
Ananda là ai vậy hả chú?
- Thầy
là một vị vương tử dòng học Sakya, và là em chú bác của
Bụt. Thầy xuất gia bảy năm nay. Thầy học giỏi lắm và
rất được Bụt thương. Thầy thường để tâm săn sóc đến
sức khỏe của Bụt, thầy mời anh em mình chiều mai đến
thảo am của thầy đàm đạo. Tôi cũng rất muốn được nghe
chú kể chuyện Bụt hồi người còn tu ở rừng Gaya.
- Thế
Bụt chưa kể cho chú nghe sao?
- Có
chứ, nhưng người chỉ kể sơ lược thôi. Tôi tin chắc là
chú có rất nhiều chuyện hay để kể lại.
- Chuyện
thì cũng không có gì nhiều đâu, nhưng nhớ được điều
gì tôi sẽ kể lại điều ấy. Này chú, thầy Ananda có dễ
thương không? Tôi ngại quá.
- Dễ
thương lắm, và hiền lắm. Tôi đã có nói sơ lược về chú
và về gia đình chú cho thầy ấy nghe, thấy ấy tỏ vẻ ưa
thích lắm. Thôi nhé, chúng ta sẽ gặp lại nhau ngày mai vào
giờ đi khất thực. Tôi sẽ đi giặt y cho kịp khô.
Rahula
đứng dậy, Svastika kéo áo bạn:
- Chú
ngồi chơi thêm chút nữa, tôi có mấy điều muốn hỏi chú.
Hồi sáng Bụt dạy râấtrõ về mười một điều mà một
vị khất sĩ cần phải làm theo. Tôi đã không ghi nhớ hết
mười một điều. Vậy nhờ chú chỉ bảo lại tôi.
- Hồi
chiều tôi cũng có nhẩm lại mười một điều ấy nhưng tôi
cũng chỉ nhớ được có chín điều. Thôi thế này nhé, ngày
mai gặp thầy Ananda chúng ta sẽ nhờ thầy nhắc lại.
- Có
chắc thầy Ananda nhớ được hết không?
- Chắc
chứ! Ai chứ thầy Ananda thì một trăm mười một điều thầy
cũng nhớ được chứ đừng nói mười một điều. Chú mới
tới thành ra không biết thầy Ananda đấy thôi. Thầy có một
trí nhớ kinh khiếp lắm; ở đây không có người nào là không
phục. Những điều Bụt nói, thầy ấy có thể trùng tuyên
lại vanh vách không sót một chi tiết nào. Ai cũng xưng tụng
thầy là “đệ nhất đa văn” đấy. hễ ai quên một điều
gì Bụt đã dạy thì người ấy lại tìm đến thầy Ananda.
Ở đây lâu lâu đại chúng lại tổ chức một buổi học
ôn lại và mời thầy trùng tuyên lại những bài dạy căn
bản của Bụt.
- Vậy
thì chúng ta may mắn quá. Chúng ta đời đến chiều mai vậy.
À mà quên, tôi lại định hỏi chú: làm thế nào để nhiếp
tâm trong khi đi kinh hành?
- Chú
muốn nói là khi đi kinh hành chú cứ nghĩ đến những chuyện
khác phải không? Hẳn là chú nhớ tới các em chú ở nhà?
Svastika
nắm tay bạn:
- Sao
chú thông minh quá! Quả thật tôi có nghĩ đến các em ở nhà.
Chiều hôm nay sao tôi thấy nhớ nhà thế. Tôi rất hối hận
đã không nhất tâm với việc tu học. Tôi cảm thấy xấu
hổ với Bụt và với chú lắm.
Rahula
cười:
- Chú
đừng cảm thấy xấu hổ. Hồi tôi mới đi theo Bụt tôi cũng
nhớ mẹ, ông nội và bà dì của tôi lắm. Có nhiều đêm
tôi nằm úp mặt vào vách mà khóc một mình. Tôi biết mẹ
tôi, ông nội và bà dì tôi cũng nhớ tôi lắm. Nhưng mà lâu
ngày thì quen đi.
Rahula
kéo Svastika đứng dậy. Chú ôm ngang hông Svastika một cách
thân ái:
- Các
em chú dễ thương lắm. Chú nhớ nhà là phải. Nhưng rồi chú
cũng sẽ quen đi như tôi. Ở đây chúng ta có nhiều chuyện
phải làm lắm. Phải tu và phải học. Có dịp tôi sẽ kể
chuyện mẹ tôi, ông nội tôi và bà dì cho chú nghe. Chú có
muốn nghe không?
Svastika
nắm chặt bàn tay của Rahula trong hai tay mình. Chú gật đầu.
Hai bạn chia tay. Rahula đi giặc y. Svastika đi tìm chổi quét
lá tre xung quanh các tịnh xá và gom lá tre lại thành từng
đống
Chương
3
Mớ
cỏ Kusa.
Tối
hôm đó trước khi đi ngủ, Svastika ngồi trước gốc tre ôn
lại những gì đã xảy ra trong thời gian mấy tháng được
gặp Bụt trong rừng để chiều mai kể lại cho thầy Ananda
và chú Rahula nghe. Chú có cảm tưởng chú không có chuyện
gì nhiều để kể. Hồi đó chú mười một tuổi. Mẹ chú
vừa mất, chú phải chăm sóc ba đứa em. Em gái út của chú
là bé Bhima chỉ đựơc có mấy tháng, Bhima không có sữa uống.
Hồi đó Svastika đã được ông Rambhul trong xóm giao cho công
việc chăn trâu. Hồi đó đàn trâu chỉ có bốn con và một
con trâu nghé. Mỗi ngày Svastika đã lén vắt sữa trâu cho em
uống. Nó chăm sóc bầy trâu rất cẩn thận vì biết rằng
nếu nó không được giữ trâu cho ông Rambhul thì các em nó
sẽ đói. Từ ngày ba nó mất, căn nhà chưa lợp lại lần
nào. Mái tranh đã nát, hễ trời mưa lớn là nhà dột, và
thằng Rupka phải đi lấy mấy cái chậu sành đã mẻ ngoài
hiên vào để hứng nước dột. Bé Bala mới có sáu tuổi mà
đã phải học nấu cơm, ẵm em và đi nhặt củi ngoài rừng.
Có khi nó phải ẵm em ra rừng, để vừa giữ em vừa nhặt
củi. Còn nhỏ tuổi nhưng bé Bala đã biết nhồi bột làm
bánh Chappati cho cả nhà. Mấy anh em ít khi có đủ tiền để
mua bột cà – ri. Có khi lùa trâu về chuồng, đi ngang qua nhà
bếp ông Rambhul nghe mùi cà ri bốc lên thơm lừng, Svastika chảy
cả nước miếng. Từ ngỳa ba chúng nó mất ít có khi nào
chúng nó được ăn bánh chappati cuốn hoặc chấm trong nước
ca ri nấu thịt đâu. Áo quàn của đứa nào cũng tơi tả.
Svastika chỉ vận có một cái xà rông khi đi chăn trâu. Hôm
nào trời lạnh lắm nó mới quấn thêm tam vải màu nâu lên
người. Tấm vải đã bạc màu và mốc thếch nhưng nó quý
lắm, Svastika phải tìm những nơi có đủ cỏ cho trâu ăn.
Nó biết hễ trâu tới nhà mà bụng còn lép là nó sẽ bị
ông Ramhul đánh mắng. Một buổi ciều lùa trâu về, Svastika
phải gánh theo một gánh cỏ tươi để cho trâu ăn. Đàn trâu
ăn cỏ suốt đêm. Vào những hôm có nhiều muỗi, Svastika còn
phải đốt lửa in khói để đuổi muỗi cho trâu trước khi
ra về. Ông Rambhul trả lương cho nó bằng bạo, bột mì và
muối, cứ ba hôm một lần. Có hôm đi chăn trâu về, Svastika
đem đươc về cho Bala vài ba con cá mà nó câu được ở bờ
rông Neranjara.
Một
buổi chều sau khi đã tắm xong cho trâu và đã cắt cỏ được
đầy gánh, Svastika định vào rừng ngồi chơi một lát trước
khi lùa trâu về chuồng. Để bầy trâu ăn ở cửa rừng. Svastika
đi tìm một gốc cây để ngồi tựa lưng. Bỗng dưng nó thấy
một người đang ngồi yên lặng dưới gốc một cây pippala
thật lớn về phía trước, cách nó chừng hai chục sải tay.
Svastika ngạc nhiên đứng lại nhìn. Nó chưa bao giờ thấy
có ai ngồi đẹp như vậy. Người ấy ngồi lưng rất thẳng,
chân xếp tréo vào nhau, dáng vững chải và hùng mạnh. Mắt
người ấy như là đang nhắm lại, và hai tay người ấy đang
vào nhau đặt thoải mái phía giữa. Người ấy ăn mặc rất
giản dị: một tấm vải màu vàng nhạt một đầu quấn phía
dưới và một đầu phủ lên vai. Toàn thân người ấy tỏa
chiếu một cái gì vừa thanh thoát, vừa trầm hùng và vừa
an bình. Chỉ cần nhìn người ấy người ta cũng đã cảm
thấy khỏe khoắn trong mình. Tự nhiên Svastika cảm thấy một
thứ tình cảm nẩy sinh trong nó và làm rung động trái tim
nó. Nó không hiểu tại sao nó có cảm tình ngay với một người
khi mà nó cũng chưa biết người đó là ai. Nó đứng trân
trân nhìn ngắm người ấy một hồi lâu, không dám cử động.
Một
lát sau người ấy mở mắt. Nhưng người ấy vẫn không trông
thấy Svastika. Người ấy dao động thân thể, rồi tháo chân
ra để xoa bóp. Rồi người ấy từ từ đứng dậy và bắt
đầu đi từng bước chầm chầm. Vì đi về phía bên kia cho
nên người ấy vẫn chưa thấy được em bé chăn trâu. Svastika
vẫn đứng lặng yên nhìn người ấy đi những bước chân
vững chãi, trầm lặng và nhẹ nhàng trên lối mòn của khu
rừng. Đi được bảy tám bước người ấy quay trở lại,
và người ấy nhận ra sự có mặt của Svastika.
Thấy
em bé, người ấy mỉm cười. Nụ cười thật hiền hậu và
bao dung. Chưa bao giờ Svastika thấy ai cười với mình như thế.
Như bị một sức hút lôi kéo, Svastika chạy về phía người
ấy. Nhưng khi còn cách người ấy chừng bốn bước, Svastika
ngừng lại. Nó nhớ là nó không được quyền đụng chạm
vào những người thuộc giai cấp trên.
Svastika
thuộc về giới ngoại cấp, nghĩa là không thuộc giai cấp
nào trong bốn giai cấp của xã hội cả. Nó đã từng nghe
ba nó nói rằng giai cấp Bà la môn (brahmana) là giai cấp cao
quý nhất trong xã hội. Những người trong giai cấp này phần
lớn là những giáo sĩ thông hiểu kinh Vệ Đà biết đọc
kinh, biết cúng tế, có thể tiếp xúcvới thần linh. Khi Phạm
Thiên tạo ra loài người thì Bà la môn được sinh ra từ miệng
Ngài. Những người thuộc giai cấp Sát đế lợi (Ksatriya)
là những người có quyền bính chính trị và quân sự, họ
đã được sinh ra từ hai tay của Phạm Thiên. Những người
thuộc giai cấp Phệ xà (Vaisya) là những người trong giới
buôn bán, trồng tỉa, chăn nuôi và tiểu công nghệ, họ đã
được sinh ra từ bắp đùi của Phạm Thiên. Còn những người
thuộc giai cấp Thủ đà (sudra) là những người đã sinh ra
từ hai bàn chân của Phạm Thiên. Họ thuộc về giai cấp nghèo
nhất, phải làm những nghề cực nhọc mà người trong ba giai
cấp trên không làm. Giai cấp ấy là giai cấp thấp nhất rồi
mà gia đình Svastika lại thuộc vào một tình trạng thấp kém
hơn nữa. Gia đình Svastika ở vào hạng ngoại cấp, nghĩa là
không thuộc vào giai cấp nào cả. Nhưng người như Svastika
phải làm nhà ở một khu riêng biệt bên ngoài làng. Nghề
nghiệp của họ chỉ là những nghề nghiệp thấp kém như
đổ phân, đắp đường, nuôi heo, giữ trâu, cày ruộng. Ai
sinh ra ở giai cấp nào thì phải chấp nhận hoàn cảnh của
mình. Thần linh đã dạy như vạy và kinh điển cũng dạy như
vậy.
Những
người thuộc giới ngoại cấp như Svastika mà nếu lỡ lầm
đụng phải một người thuộc giai cấp cao thì có thể bị
trừng phạt nặng. Trong làng Uruvela đã có người bị đánh
bầm tím thân thể vì đã lỡ tay đụng nhầm một người
Bà la môn. Lỡ tay đụng phải một người Bà la môn hay một
người Sác đế lợi tức là làm ô nhiễm người ấy, và
người ấy phải về ăn chay, nằm đất và sám hối nhiều
tuần lễ mới được trong sạch trở lại. Mỗi khi lùa trâu
về chuồng, Svastika phải cẩn thận lắm. Nó không bao giờ
dám tới gần một người nào trong cái xã hội caô quý, dù
trên đường đi hay là trong sân nhà ông Rambhul. Nhiều lúc
Svastika thấy con trâu còn có may mắn hơn mình. Một người
Bà la môn có thể đụng tới con trâu mà không bị ô uế,
nhưng nếu người ấy đụng nhầm Svastika là ong ta phải về
sám hối cả hai ba tuần lễ. Dù mình không đụng người ta
mà người ta đụng nhầm minh thì mình cũng có thể bị đánh
đập tàn nhẫn.
Hiện
đứng trước Svastika là một người thật dễ thương nhưng
theo kiểu cách của người đó thì chắc chắn ông ta không
phải là người cùng đẳng cấp với Svastika rồi. Nụ cười
ông ấy hiền hậu như thế và cái nhìn của người ấy bao
dung như thế thì chắc hẳn người ấy sẽ chẳng nở đánh
đập Svastika đâu, dù Svastika có lỡ đụng nhầm. Nhưng Svastika
nghĩ rằng nếu lỡ đụng nhầm người ấy thì sẽ làm người
ấy ô nhiễm, tội nghiệp. Cho nên nó vội ngừng lại khi khoảng
cách giữa hai người chỉ còn ba bước. Thấy Svastika không
bước tới, người ấy lại bước gần Svastika. Svastika tự
khắc lui một bước, để tránh sự đụng chạm. Nhưng người
ấy nhanh nhẹn lắm. Chỉ trong một chớp mắt ông ta đã tóm
được Svastika. Tay trái người ấy ôm ngang vai Svastika còn
tay phải người ấy xoa lên đầu nó. Svastika đứng yên, ngoài
má nó, chưa có ai xoa đầu nó một cách âu yếm như thế bao
giờ. Tuy nhiên nó vẫn còn sợ
- Em
đừng sợ người ấy nói, giọng nhỏ nhẹ và thân mật.
Svastika
rất yên tâm khi nghe người ấy nói. Nó ngửng đầu lên thì
lại gặp cái nhìn bao dung và nụ cười hiền hậu của người
ấy. Ngập ngừng một lát nó nói:
- Chú
dễ thương lắm
Người
ấy lấy tay nâng cằm nó lên và nhìn vào mắt nó:
- Em
cũng dễ thương lắm. Nhà em ở gần đây phải không?
Svastika
không trả lời. Nó nắm lấy bàn tay trái của người đó
trong hai bàn tay của nó. Nó hỏi cái câu hỏi đang nằm trong
đầu nó:
- Con
nắm tay chú như thế này thì chú bị ô nhiễm rồi phải không?
Người
ấy cười và lắc đầu:
- Không
đâu, em. Em là con người, tôi cũng là con người. Em không
làm ô nhiễm tôi đâu. Đừng có nghe lời người ta nói.
Người
ấy cầm tay Svastika đi ra phía cửa rừng. Đàn trâu của Svastika
còn đó. Gánh ỏ tươi của Svastika cũng còn đó. Người ấy
nhìn Svastika hỏi:
- Em
chăn những con trâu này phải không? Và đây là gánh cỏ mà
em đã cắt cho trâu ăn, phải không? Em tên là gì? Nhà ở gần
đây không?
Svastika
lễ phép thưa:
- Dạ
đây là trâu của con chăn. Bốn con này và con nghé này nữa.
Đây là cỏ của con mới cắt. Con tên là Svastika. Nhà con bên
kia sông, ở cuối làng Uruvela. Thưa chú, còn chú tên gì, và
nhà chú ở đâu, chú nói cho con nghe được không?
Người
ấy ôn tồn đáp:
- Được
chứ. Chú tên là Siddhatta. Nhà chú ở xa lắm. Hiện giờ chú
ở tạm trong rừng này.
- Chú
là sa môn, phải không?
Người
ấy gật đầu. Svastika biết rằng sa môn là những người
tu, thường hay cư trú trong núi.
Hai
người mới quen nhau, mới trao đổi với nhau có vài câu chuyện
mà Svastika đã có cảm tưởng là mình đã rất thân với người
bạn mới này.
Trong
làng Uruvela, nó chưa thấy có ai đối xử với nó một cách
thân ái như thế hay nói chuyện với nó một cách ôn tồn
như thế. Nó cảm thấy một niềm hạnh phúc dâng lên trong
lòng. Nó muốn bày tỏ nỗi hân hoan của nó. Nó nghĩ giá nó
có một cái gì để làm quà tặng cho người này thì hay biết
bao. Trong túi nó không có một đồng tiền, cũng không có một
cục đường phèn, biết lấy gì làm quà tặng. Nhưng Svastika
có can đảm nói ra những gì mình đang nghĩ.
- Thưa
chú, con muốn tặng chú một món quà, nhưng con không có gì
trong người con hết.
Siddhatta
nhìn Svastika rồi mỉm cười nói:
- Có
chứ, em có một thứ mà nếu em làm quà cho tôi thì tôi thích
lắm.
Svastika
ngơ ngác:
- Con
có gì đâu?
Siddhatta
chỉ gánh cỏ:
- Cỏ
của em cắt cho trâu ăn mềm và thơm lắm. Nếu em cho tôi vài
nắm để tôi trải dưới gốc cây làm nệm ngồi thì tôi
sẽ sung sướng biết bao.
Mắt
Svastika sáng lên. Nó chạy tới gánh cỏ, cúi xuống ôm lấy
một ôm đầy trong hai vòng tay nhỏ. Rồi nó trử về dâng
ôm cỏ cho Siddhatta:
- Cỏ
Kusa này con mới cắt bên bờ sông. Con xin biếu chú. Lát nữa
con sẽ ra bờ sông cắt thêm cho đầy gánh.
Siddhatta
chắp tay cung kính nhận bó cỏ từ tay em bé. Ông nói:
- Em
rất dễ thương, tôi cám ơn em. Thôi bây giờ em ra bờ sông
cắt cỏ thêm cho đầy gánh đi, rồi về kẻo muộn. Chiều
mai nếu có dịp em ghé vào rừng thăm tôi nhé.
Bé
Svastika cúi đầu chào. Nó đứng đợi cho Siddhatta ôm bó cỏ
đi khuất vào rừng rồi mới tới gỡ lưỡi liềm gài trên
chiếc đòn xóc đặt nghiêng trên gánh xỏ và bước ra phía
bờ sông.
Nó
thấy ấm áp trong lòng. Trời đầu mùa Hạ, cỏ Kusa còn non
và lưỡi liềm của Svastika còn sắt nên cắt rất ngọt. Chẳng
mấy chốc mà Svastika đã cắt được đầy một ôm lớn.
Svastika
lùa trâu về. Sông Neranjara có một khúc rất cạn gần đó,
Svastika cho trâu lội qua khúc ấy. Con nghé con còn lưu luyến
đám cỏ non bên bờ sông, Svastika phải tới lùa nó chạy theo
đàn trâu. Gánh cỏ trên vai không có gì là nặng, Svastika lội
qua sông cùng một lượt với bầy trâu
Chương
4
Chim
thiên nga trúng tên.
Ngày
hôm sau, Svastika thả trâu bên bờ sông và bắt đầu cắt cỏ
ngay từ buổi sáng. Đến trưa nó đã cắt cỏ xong và nhét
đầy cứng hai cái giỏ. Để gánh cỏ bên này sông, Svastika
lùa trâu sang bên kia sông. Bên kia sông chỉ có rừng mà không
có ruộng lúa, thành ra Svastika thường cho trâu ăn bên ấy
để có chút thì giờ ngả lưng trên đám cỏ non bên bờ sông
gió mát. Nó chỉ đem theo chiếc liềm. Chiếc liềm đối với
nó rất quý giá vì đó là phương tiện sinh sống của nó.
Qua bên kia sông, Svastika dở nắm cơm mà Bala đã gói cho nó
từ hồi sáng trong một tờ lá chuối. Vừa định bốc cơm
ăn thì nó nhớ đến vị sa môn trong rừng. Nó nhớ đến Siddhatta.
“Mình có thể đem cơm này chia xẻ với người ấy. Người
ấy chắc là sẽ không chê cơm của mình là hèn mọn đâu”.
Nghĩ như thế, Svastika gói nắm cơm trở lại. Nó lùa đàn
trâu về ăn phía cửa rừng. Rồi nó theo lối cũ, tìm về
chốn gặp gỡ chiều qua.
Từ
xa, nó đã thấy dáng của Siddhatt, ngồi dưới gốc cây đại
thọ pippala. Nhưng Siddhatta không ngồi một mình. Trước mặt
Siddhatta còn có một người khác. Đó là một cô bé trạc
tuổi Svastika, ăn mặc rất tươm tất. Cô bé vận sari màu
trắng đang ngồi nhìn Svastika ăn cơm. Svastika dừng lại. Nhưng
Svastika đã ngửng lên, và đã trông thấy Svastika.
- Svastika!
Người
ấy vừa gọi vừa đưa tay vẫy ra hiệu cho nó lại gần. Cô
bé cũng nhìn ra. Svastika nhận ra cô vé này. Nó chưa biết tên
cô bé nhưng đã gặp cô bé một vài lần trên đường làng.
Svastika bước tới gần. Cô bé ngồi xích ra một bên. Siddhatta
chỉ một chỗ ngồi trước mặt và ra hiệu cho Svastika ngồi
xuống. Trước mặt Siddhatta, có một mảnh lá chuối tươi.
Trên mảnh lá chuối là một nắm cơm và một ít muối mè.
Siddhattachỉ mới bẻ nắm cơm ra làm hai chứ chưa bắt đầu
ăn.
- Em
ăn cơm chưa? Siddhatta nhìn Svastika.
- Thưa
chú con chưa ăn.
- Vậy
chúng ta cùng ăn cơm với nhau cho vui được không?
Nói
xong Siddhatta trao cho Svastika một nắm cơm. Svastika cung kính
chắp tay nhưng không nhận. Nó đưa nắm cơm của nó ra:
- Con
cũng có đem cơm theo đây.
Rồi
nó mở gói cơm. Cơm của Svastika là cơm gạo đỏ không trắng
trẻo như cơm của Siddhatta. Với lại nó không có muối mè.
Nó chỉ vài hạt muối trắng. Siddhatta mỉm cười nhìn hai
đứa trẻ:
- Vậy
chúng ta gom lại và cùng ăn chung được không? Nói xong Siddhatta
lấy một nửa nắm cơm hẳm của Svastika và ăn ngon lành. Svastika
hơi bỡ ngỡ; nhưng thấy Siddhatta ăn cơm rất tự nhiên nó
cũng đưa cơm lên ăn.
- Cơm
của chú dẻo, mềm và thơm lắm, nó nói.
- Đó
là cơm của Sujata đem cho, Siddhatta vừa nói vừa nhìn cô bé.
À
thì ra cô bé này tên Sujata. Svastika nhìn kỹ lại. Cô bé này
lớn hơn mình, có lẽ lớn hơn một hoặc hai tuổi. Hai mắt
cô ta to đen lay láy. Svastika ngừng nhai, nói:
- Em
có gặp chị mọt vài lần trên đường làng. Em không biết
chị tên Sujata.
Sujata
nói:
- Chị
là con gái ông hương cả lầng Uruvela. Còn em, có phải em là
Svastika không? Thầy Siddhatta vừa kể chuyện em cho chị nghe
xong. Này Svastika, em đừng kêu thầy Siddhatta là “chú” nữa.
Thầy là sa môn mà, mình kêu thầy bằng thầy thì đúng hơn.
- Dạ.
Siddhatta
ngừng nhai nhìn hai đứa trẻ mỉm cười.
- Như
vậy là ta khỏi giới thiệu hai con với nhau. Này các con, thầy
thường ăn cơm trong im lặng. Những hạt cơm và những hạt
mè mà các con đem đến quý giá v cùng. Ta muốn ăn cơm im lặng
để thấy được giá trị của những hạt ấy Sujata, chắc
con ít có dịp được ăn cơm gạo đỏ. Có thể là con đã
ăn cơm rồi, nhưng con nên ăn một miếng cơm gạo đỏ của
Svastika đem đến. Ngon lắm đó con. Bây giờ chúng ta nên im
lặng mà ăn. Xong bữa cơm thầy sẽ nói chuyện cho hai con nghe.
Siddhatta
bẻ một miếng cơm từ nắm cơm của Svastika và trao cho Sujata.
Cô bé chắp tay thành búp sen, kính cẩn nhận lấy. Ba người
lặng lẽ ngồi ăn cơm trong cảnh rừng trưa u tịch.
Sau
khi cơm và muối mè đã hết, Sujata thu lượm các mảnh lá
chuối lại. Cô lấy bình nước trong để bên cạnh, rót vào
một cái bát bằng đá duy nhất mà cô đem theo và dâng lên.
Siddhatta tiếp nhận bát nước và trịnh trọng đưa mời Svastika.
Svastika vội nói:
- Con
xin mời chú, à quên… mời thầy uống trước.
Siddhatta
nhìn nó, ôn tồn nói:
- Con
uống trước. Thầy muốn con uống trước. Và ông nâng bát
lên bằng cả hai tay.
Svastika
hơi luống cuống nhưng không còn cách nào từ chối. Nó chắp
tay lại, đón lấy bát nước và đưa lên uống một mạch
cạn chén, rồi trao bát lại cho Siddhatta, cũng bằng hai tay.
Siddhatta chìa bát ra để Sujata rót bát thứ hai. Khi bát nước
đã đầy ông nâng lên với dáng điệu cung kính và thong thả
uống từng ngụm nhỏ. Uống xon bát nước, Siddhatta lại chìa
bát ra để Sujata rót cho bát thứ ba. Bát này Siddhatta đưa
lên mời Sujata. Sujata đặt bình nước xuống trước mặt.
Cô chắp hai tay và nhận lấy bát nước. Hồi nãy đến giờ
mắt Sujata không ngừng quan sát hai người. Bây giờ cô mới
nâng bát nước lên và uống từng ngụm nhỏ giống như Siddhatta
vừa uống. Sujata ý thức rằng đây là lần đầu tiên cô
đã uống nước từ một cái bát mà một người thuộc hạng
ngoại cấp đã uống. Siddhatta là thầy mình. Ông đã uống
thì tại sao mình lại không uống? Tuy nhiên, cô bé không hề
có cảm tưởng mình bị ô nhiễm. Bất giác cô đưa tay trái
của cô ra, và sờ vào đầu tóc của cậu bé chăn trâu ngồi
bên cạnh.
Cử
chỉ rất bất ngờ, khiến cho Svastika không tránh kịp, Sujata
đã chạm được vào đầu Svastika. Tay phải cô bé vẫn còn
nâng bát nước. Sujata thu tay trái lại. Với hai tay cô nâng
bát lên và uống hết nước trong chiếc bát. Cuối cùng cô
bưng bát đặt xuống gốc cây, và nhìn hai người, mỉm cười.
Siddhatta
gật đầu:
- Các
con đã hiểu được lời ta nói. Con người sinh ra không có
giai cấp. Nước mắt của người nào cũng mặn, máu của người
nào cũng đỏ. Chia người ra thành giai cấp để mà kỳ thị
lẫn nhau đó là một điều sai lầm. Thầy đã thấy được
điều đó trong khi thầy thiền quán.
Sujata
trang nghiêm:
- Chúng
con là học trò của thầy và chúng con tin lời thầy dạy.
Nhưng ở đời hình như không có ai nghĩ như thầy hết. Ai
cũng tin rằng những người sudra và những người ngoại cấp
đã được sinh ra từ bàn chân của chúa trời Phạm Thiên.
Kinh điểm cũng nói như vậy. Có ai dám nghĩ khác hơn đâu.
- Thầy
biết. Nhưng sự thật là sự thật, dù không có ai tin theo.
Một điều sai lầm mà được hàng triệu người tin theo thì
cũng là một điều sai lầm. Các con phải có thật nhiều can
đảm mới có thể sống theo sự thật.
Để
thầy kể chuyện này cho các con nghe. Hồi đó thầy mới có
chín tuổi. Một hôm thầy đang chơi thơ thẩn một mình ở
trong vườn thì có một con chim thiên nga từ trên trời rơi
xuống, ngay trước mặt thầy. Con chim có vẻ đau đớn lắm.
Nó quằn quại trên mặt đất. Thầy chạy tới ôm nó lên,
và thấy có một mũi tên cắm sâu vào cánh nó. Thầy cầm
mũi tên trong tay, ngậm miệng lại, và rút mạnh mũi tên ra.
Con chim run bắn lên, và máu rỉ ra ướt đỏ cả cánh chim.
Thầy vội lấy ngón tay cái ấn lên trên vết thương cho máu
ngưng chảy. Ôm con chim trong tay, thầy chạy vào nhà trong đi
tìm cô cung nữ Sundari. Thầy nhờ cô đi hái một nắm lá dâu
nhai nhỏ và rịt lên vết thương của con chim. Con chim run rẩy.
Hình như nó bị lạnh. Thầy cởi chiếc áo lông cừu ra, bọc
chim vào cho chim ấm, và đặt chim gần lò sưởi ngự
Siddhatta
ngưng lại, nhìn Svastika:
- Svastika,
ta chưa nói cho con biết là hồi đó ta là hoàng thái tử con
vua Suddhodana ở thành Kapilavatthu. Điều này Sujata đã biết
rồi.
Thầy
đang định đi kiếm cơm nguội cho chim ăn thì Devadatta đẩy
cửa chạy vào, Devadattalà em chú bác của ta, hồi đó tám
tuổi. Tay Devadatta còn cầm cung và tên. Devadattahỏi:
- Siddhatta,
anh có thấy một con chim trắng rơi xuống đâu đây không?
Ta
chưa kịp trả lời thì Devadatta đã nhìn thấy con chim để
gần lò sưởi ngự. Nó định chạy tới dành lấy con chim.
Ta vội ngăn nó lại:
- Em
không được lấy con chim. Con chim này là của anh.
Devadattakhông
chịu:
- Con
chim ấy là của em. Chính em bắn nó rơi xuống.
Lúc
đó ta đứng chận trước mặt Devadatta, cương quyết không
cho nó rờ tới con chim. Ta nói:
- Con
chim này bị thương. Anh cứu nó. Anh che chở cho nó. Nó cần
anh, chứ nó không cần em.
Devadatta
là một đứa em cũng cứng đầu lắm, nó có chịu thua đâu.
Nó lại là một đứa trẻ thông minh. Nó lý luận:
- Này
nhé, anh nghe đây. Con chim này, khi nó còn bay trên trời, thì
nó không thuộc về ai cả. Em bắn nó rơi xuống, thì lý đương
nhiên nó thuộc về em.
Nghe
nói như thế, thầy tức lắm. Lý lụan của nó có vẻ vững
chãi đanh thép, nhưng thầy thấy nó có một cái gì sai sai
ở trong ấy mà không biết đích xác là sai ở chổ nào. Thầy
thấy nghẹn cả họng, và rất muốn thụi nó một cái thật
mạnh vào vai, nhưng thầy đã không làm thế, thầy cũng không
biết tại sao. Bỗng nhiên thầy tìm thấy được cách trả
lời Devadatta. Thầy nói:
- Em
cũng nghe anh nói đây. Thói thường, những kẻ thương yêu
nhau mới ở chung với nhau, còn những kẻ ghét bỏ nhau thì
không bao giờ sống chung với nhau. Em có ý dữ muốn bắn giết
con chim, như vậy em và con chim là những kẻ thù ghét nhau,
làm sao con chim có thể ở chung với em được. Trong khi đó,
anh cứu con chim, anh rịt vết thương cho nó, anh sưởi ấm
cho nó, và anh đang đi kiếm thức ăn cho nó ăn… vậy thì
anh và con chim là những kẻ biết yêu thương nhau, anh và con
chim có thể ở chung với nhau… như anh đã nói, con chim nó
cần anh, chứ nó không cần em.
Sujata
vỗ hai tay lại với nhau kêu đốp đốp:
- Thầy
nói đúng lắm! Thầy nói đúng lắm!
Siddhatta
quay sang nhìn Svastika:
- Còn
con , con thấy lý luận của thầy thế nào?
Svastika
ngẫm nghĩ. Một lát sau nó nói:
- Con
… con cũng thấy thầy có lý. Nhưng con nghĩ rằng ở đời
ít ai chịu chấp nhận cái lý ấy. Phần đông người ta theo
lý luận của Devadatta hơn.
Siddhatta
gật đầu:
- Con
nói đúng. Người đời phần lớn đều hùa theo lý luận của
Devadatta. Để thầy kể tiếp cho các con nghe. Cuộc tranh chấp
giữa thầy và Devadatta không đi đến đâu, vì vậy sau đó
được đưa ra giữa những người lớn. Hôm đó có buổi họp
trong chiều. Thầy thì ôm con chim, còn Devadattathì ôm cung tên,
cả hai chạy ùa vào nhờ các quan phán xử. Lúc ấy phụ vương
của thầy đang ngồi ở giữa buổi chầu. Cuộc đàm luận
việc nước phải được tạm ngừng lại. Các quan nghe xong
lý luận của Devadattathì nghe đến lý luận của thầu. Họ
bàn tán phân vân, rất lâu, rất lâu, và chẳng đi đến kết
quả gì cả. Số người theo phe Devadatta rất đông. Giữa lúc
ấy thì phụ vương của thầy ngứa cổ. Ông ho lên mấy tiếng.
Lập tức các quan đều im lặng. Ai cũng nhìn vua. Và sau đó,
buồn cười chưa, một người đều nghĩ lý luận của thầy
đúng hơn, và nên giao con chim cho thầy giữ. Devadatta tức lắm
.
Thầy
được con chim, nhưng cũng không thấy vui mấy. Bởi vì tuy
còn nhỏ tuổi, thầy cũng dư sức để biết rằng sự thắng
cuộc của thầy không được vẻ vang. Người ta vì nể phụ
vương thầy mà cho thầy thắng cuộc chứ không phải vì họ
thấy lý luận của thầy là đúng.
- Buồn
quá thầy nhỉ, Sujata buộc miệng.
- Buồn
thật. Nhưng lúc đó nghĩ đến sự an toàn của con chim, thầy
cũng cảm thấy được an ủi ít nhiều. Nếu không thì con
chim đã bị đưa xuống nhà bếp để làm thịt rồi.
Ở
đời, ít người biết nhìn bằng con mắt thương yêu. Vì vậy
họ ác độc với nhau, họ không tha thứ cho nhau. Hồi ấy
tuy mới có chín tuổi, thầy đã thấy được điều đó. Những
kẻ yếu đuối và đứng ở cô thế thường thường là dễ
bị bắt nạt và làm hại. Lý luận của thầy hồi đó, bây
giờ thầy vẫn thấy có giá trị. Đó là lý luận của tình
thương yêu và sự hiểu biết. Đó là sự thật có thể làm
vơi bớt nỗi khổ của mọi loài. Dù số đông không công
nhận thì đó vẫn là sự thật. Cho nên thầy đã dặn các
con: Các con phải có thật nhiều can đảm mới có thể đứng
về phía sự thật mà bảo vệ sự thật.
- Còn
con chim, sau đó nó ra sao, hả thầy? Sujata hỏi.
- Thầy
nuôi con chim được bốn ngày. Khi thấy vết thương nơi cánh
của nó đã lành hẳn, thầy đã thả nó ra. Thầy đã dặn
nó bay thật xa để đừng bị Devadatta bắn rơi một lần nữa.
Siddhatta
nhìn hai đứa trẻ ngồi trước mặt mình. Cả hai đứa đang
ngồi trầm ngâm, không nói năng gì. Ông lên tiếng:
- Sujata,
đã đến lúc con phải về nhà kẻo mẹ con đợi. Svastika,
con đi chăm sóc đàn trâu của con đi. Và nếu chưa cắt đủ
cỏ thì con hãy cắt. Ôm cỏ mà con cho thầy hôm qua, thầy
đã trải làm nệm ngồi, tốt lắm. Đêm qua và sáng hôm nay
thầy ngồi thiền rất thành công và thầy đã đạt tới nhiều
cái thấy quan trọng. Công đức của con không phải là nhỏ.
Chừng nào thầy đạt được đạo quả viên mãn, thầy sẽ
đem dạy cho các con. Đến giờ thầy thiền tọa rồi.
Svastika
nhìn xuống. Quả thật ôm cỏ đã được Siddhattatrải làm
nêm ngồi. Các lá cỏ đã cuốn tròn lại nhưng chắc chắn
là cỏ còn mềm. Cậu bé nghĩ là cứ ba hôm một lần, cậu
có thể dâng cho thầy một ôm cỏ mới. Cậu đứng dậy cùng
với Sujata, cậu chắp tay vái chào Siddhatta Sujata về nhà, còn
Svastika thì lùa trâu về lại bờ sông cho trâu ăn cỏ.
Chương
5
Bát
sữa cứu mạng.
Từ
hôm ấy về nhau, mỗi ngày Svastika đều có ghé vào rừng thăm
Siddhatta. Những hôm nào cắt được đầy gánh cở thì Svastika
ghé vào và ăn trưa vói Siddhatta. Nắng càng gay gắt thì cỏ
càng ít đi vì vậy có hôm Svastika phải đợi đến xế chiều
mới vào thăm vị sa môn trong rừng được. Có khi Svastika vào
rừng thì gặp lúc Siddhatta đang ngồi thiền tọa. Những lúc
ấy cậu bé chỉ ngồi ngắm Siddhatta một hồi rồi lặng lẽ
đi ra khỏi rừng, sợ làm phiền nhiễu đến công phu thiền
tập của thầy. Chỉ khi nào vào rừng mà gặp Siddhatta đang
đi kinh hành thì Svastika mới dám đến gần để được truyện
trò chốc lát. Năm bảy hôm một lần, Svastika cùng gặp Sujata
trong rừng. Hôm nào chị Sujata cũng đem dâng cho Siddhatta một
nắm cơm và một ít thức ăn, hoặc muối mè, hoặc đậu phụng,
hoặc nước sốt cà – ri, có hôm chị đem theo cả sữa hoặc
để hồ hoặc được phèn. Hai chị em đã từng có dịp nói
chuyện nhiều lần ở cửa rừng, bên cạnh những con trâu
ăn cỏ. Có khi Sujata đi với cô em gái tên là Supriya, trạc
chín mười tuổi. Svastika nghĩ thầm là một hôm nào đó nó
cũng sẽ đưa các em nó vào rừng để thăm Siddhatta. Nó sẽ
ẳm con Bhima. Bala sẽ dắt tay thằng Rupak. Thế nào chúng nó
cũng lội qua sông được ở khúc sông cạn nhất gần đó.
Sujata
đã kể lại cho Svastika nghe những gì mà chị ấy biết về
vị sa môn tên Siddhatta. Chị ấy đã làm quen với Siddhatta
mấy tháng nay rồi, và từ hôm ấy đến nay mỗi ngày chị
đều có đem cơm cúng dường Siddhatta vào khoảng trước giờ
ngọ. Cái hôm đầu tiên mà chị Sujata được gặp Siddhatta
là một ngày rằm. Nghe lời mẹ, chị Sujata mặc sari mới màu
hồng, bưng một mâm bồng đầy thức cúng vào cửa rừng để
cúng các thần linh. Trên mâm có bánh, có sữa, có đề hồ,
có mật. Đó là vào khoảng giữa trời trưa. Trời nắng khá
lớn. Mới tới bờ sông, Sujata thấy một người nằm sóng
soài dưới nắng. Sujata đặt mâm xuống bên bờ cỏ và chạy
tới quan sát. Người này còn thoi thóp thở. Ông ta ốm lắm,
chỉ còn da bọc xương. Hai mắt ông ta nhắm nghiền. Má ông
ta hóp hẳn lại như ngưòi đã lâu ngày thiếu ăn. Tóc và
râu của ông ta ra dài, chắc đã lâu ngày rồi không cạo.
Nhìn cách phục sức của ông ta, Sujatabiết đây là một ông
thầy tu núi. Vốn là một cô bé thông minh, Sujata biết rằng
ông này té xỉu vì đói quá. Cô bé liền cúi xuống lấy bình
sữa rót đầy vào một cái bát nhỏ đem theo. Rồi cô kê bát
sữa vào môi người kia và đổ xuống từng giọt. Ban đầu
người ấy không đáp ứng. Nhưng sau đó đôi môi động đậy
và người ấy há miệng ra. Sujata kê hẳn bát sữa vào miệng
người ấy và đổ sữa vào từ từ. Người ấy bắt đầu
uống. Chẳng mấy chốc bát sữa đã cạn.
Sujata
ngồi xuống một bên bờ cỏ để đợi phản ứng. Người
kia từ từ ngồi dậy, mở mắt. Thấy Sujata, người ấy mỉm
cười. Ông kéo chiếc khăn choàng lại trên vai, ngồi xếp
bằng lại trên bờ cỏ, trong tư thế hoa sen, thân hình rất
thẳng, và bắt đầu thở. Thế ngồi của ông rất vững và
rất đẹp. Tưởng đây là một vị thần linh của rừng núi
hiện ra để thử mình, cô bé chắp hai tay để lại xuống,
nhưng người ấy đã đưa một bàn tay ra ngăn lại. Sujata còn
ngẩn ngơ thì người ấy lên tiếng nhỏ nhẹ bảo cô:
- Con
rót thêm cho ta một ít sữa nữa.
Sung
sướng, Sujata rót sữa đầy bát dâng lên. Người ấy tiếp
lấy và uống cạn. Sữa thật là mầu nhiêmj. Trong chưa đầy
một khắc đồng hồ, sức khoẻ người ấy hình như đã được
phục hồi. Mắt người đó thật sáng. Nụ cười người đó
thật hiền. Sujata hỏi thăm về duyên cớ tại sao người ấy
ngất xỉu giữa đường. Người ấy nói:
- Ta
tu ở trong rừng này. Vì tu khổ hạnh lâu ngày nên thân thể
ta yếu mòn. Hôm nay ta đã quyết định xuống xóm để hoá
trai, nhưng đi đến đây thì kiệt sức. May mà con đến kịp
để cứu ta.
Ngồi
trên bờ sông, người ấy kể cho Sujata nghe sơ lược về cuộc
đời tu hành của ông. Nhờ đó mà Sujata biết được rằng
vị sa môn mà mình đã cứu thoát chết tên là Siddhatta, con
của một vị quốc vương đang trị vì ở nước Ca tỳ la
vệ, Sujata ngồi nghe rất chăm chú, Siddhatta nói với cô bé:
- Ta
đã thấy rằng kềm chế xác thân không phải là con đường
có thể giúp con người đạt Đạo. Thân thể không phải chỉ
là một dụng cụ. Thân thể là đền thờ của tâm linh, thân
tể là chiếc thuyền vượt biển. Vì vậy ta đã từ bỏ con
đường kềm chế xác thân bằng sự đói khát và bằng sự
chịu đựng. Ta đã quyết định mỗi ngày sẽ xuống xóm để
hoá trai vào giờ ngọ.
Sujata
chắp tay:
- Nếu
thầy cho phép thì mỗi ngày con sẽ đem dâng cúng thực phẩm
cho thầy. Thầy cứ ở trong rừng mà hành đạo, đừng xuống
xóm để khỏi mất thì giờ. Nhà con cũng gần đây thôi, và
ba mẹ con cũng sẽ bằng lòng cho con mỗi ngày đem cơm dâng
cúng cho thầy.
Siddhatta
im lặng. Một lát sau, ông nói:
- Ta
vui lòng nhận cơm cúng dường của con mỗi ngày. Nhưng ta cũng
muốn thỉnh thoảng đi vào xóm để khất thực và tiếp xúc
với bà con trong xóm. Hôm nào con đưa ta tới nhà con nhé. Ta
muốn làm quen với ba và mẹ của con. Ta cũng muốn gặp các
em bé khác trong xóm.
Sujata
mừng rỡ. Cô bé chắp tay bái tạ. Cô rất vui khi nghĩ đến
lúc được vị sa môn này ghé lại nhà và thăm ba mẹ của
cô. Cô không nghĩ rằng cúng dường cho vị sa môn này là tốn
kém. Gia đình cô ta là một trong những gia đình khá giả nhất
ở Uruvela. Nhưng Sujata không muốn nói điều ấy ra. Cô nghĩ
đây là một ông thầy tu núi rất quan trong gấp mấy lần
cúng dường các vị thần núi thần rừng. Sau này mà Siddhatta
tìm được Đạo thì cuộc đời sẽ được vơi bớt bao nhiêu
là nỗi khổ.....
Siddhatta
đã chỉ cho Sujata rặng núi Dangsiri nơi có những hang động
mà Siddhatta đã từng cư trú để hành đạo. Rồi ông nói:
- Bắt
đầu từ hôm nay, ta sẽ hông cư trú ở đó nữa. Bên bờ
sông, có một khu rừng rất mát và co một cây pipala thật
sum xuê. Ngồi dưới gốc cây ta có thể thấy được cả dòng
sông. Ta đã chọn nơi ấy để tu hành. Mai mốt khi con đem
theo thức ăn cúng dường cho ta, con sẽ đem tới đấy. Để
ta đưa con đi xem qua chỗ ấy cho biết.
Rồi
ông đưa Sujata vào thăm khu rừng êm mát bên bờ sông Neranjara.
Ông chỉ cho cô bé xem gốc cây pippala mà ông thường ngồi
để thiền định. Sujata ngắm thân cây rồi ngửng lên nhìn
cành lá. Cây lớn quá. Cây che mát cả một vùng khác rộng.
Đây là một loại cây đa, lá lớn bằng bàn tay Sujata. Lá
cây giống như trái tim và có những cái đuôi thật dài. Sujata
nghe tiếng chim hót ríu rít. Nơi đây quả là một nơi thanh
tịnh và êm mát. Sujata cũng đã có lần tới đây với ba mẹ
cô để dâng cúng phẩm vật cho thần linh.
- Vậy
đây là nhà mới của thầy, có phải thế không? Sujata nhìn
Siddhatta với hai mắt to và tròn lấp láy. Mỗi ngày con sẽ
vào đây thăm thầy.
Siddhatta
gật đầu. Ông đưa tiễn Sujatara cửa rừng, rồi trở về
gốc cây ngồi thiền tọa.
Từ
hôm đó, ngày nào Sujatacũng mang cơm hoặc bánh vào cúng dường
vị sa môn, trước khi mặt trời đứng bóng. Có khi cô bé
mang theo cả sữa, hoặc đề hồ. Có khi Siddhatta cầm bát tự
mình đi vào làng khất thực. Ông đã gặp đựoc cha mẹ của
Sujata, và biết rằng cha của sụ là vị hương cả trong làng.
Sujata cũng đưa cho ông đi và gặp những đứa trẻ khác mà
cô bé quen ở trong xóm. Cô cũng đưa ông ta tới nhà người
thợ cạo và nhờ người này cạo sạch tóc và râu cho vị
sa môn. Sức khỏe của Siddhatta phục hồi thật mau chóng. Siddhatta
cũng cho cô bé thí chủ biết rằng công phu thiền quán của
người đang mang lại nhiều hoa trái quan trọng. Cho đến một
hôm, Sujata được gặp Svastika.
Hôm
ấy Sujata đến sớm và đã được Siddhatta nói cho nghe về
cuộc gặp gỡ với Svastika chiều hôm trước. Sujata vừa mới
ngỏ ý muốn được gặp Svastika thì Svastika đã hiện ra trong
rừng. Sau này có dịp gặp Svastika, Sujata đã hỏi thăm về
các em của Svastika. Và Sujata cũng đã cùng với Purna tới nhà
Svastika chơi. Purna là con hầu mới của Sujata. Con hầu cũ,
tên là Radha, đã bị bệnh thương hàn chết cách đây hai tháng.
Trong những lần thăm viếng sau này Sujata đã đem cho các em
của Svastika một ít áo quần cũ nhưng lại rất tốt. Và Sujata
đã ẵm bé Bhima trước sự ngạc nhiên của con hầu Purna.
Sujata dặn Purna đừng mách cho ba mẹ cô biết là cô đã ẵm
trong tay một em bé ngoại cấp.
Một
bữa trưa hôm nọ, bọn trẻ rủ nhau vào thăm Siddhatta khá
đông. Các em của Svastika đều có mặt. Sujata rủ theo Balagupta,
Vijayasena. Ulluvillike và Jatilika. Bốn người này đều là bạn
gái của Sujata. Sujata cũng mời được chị họ là Nandabala
cùng đi. Chị Nandabala đã mười sáu tuổi. Anh Nalaka năm nay
đã mười bón. Còn Subash mới chín tuổi. Mười một đứa
ngồi thành một vòng cung trước mặt Siddhatt. Hôm ấy ngoài
ngoài thức ăn đem theo để cúng dường vị sa môn, bọn trẻ
còn đem theo thức ăn trưa của chúng. Sau khi dân cơm cho Siddhatta,
bọn trẻ cũng mở thức ăn của mình ra ăn trong yên lặng.
Bala và Rupka đã được anh dặn dò và huấn luyện kỹ càng
rồi cho nên chúng ngồi ăn thật nghiêm trang. Bé Bhimba mở
to mắt nhìn mọi người: chưa bao giờ bé thấy nhiều người
như thế. Bé ngồi thật ngoan trong lòng Svastika và không hề
khóc.
Hôm
ấy Svastika đã cúng dường một ôm cỏ mới cho Siddhatta. Hôm
ấy Svastika cũng đã nhờ đứa bạn chăn trâu của nó là thằng
Gavampati coi trâu giùm trong giấc trưa. Ngoài ruộng trời đã
nắng gắt lắm nhưng trong rừng bọn trẻ đang cùng với vị
sa môn ngồi trong bóng cây im mát. Cây pippala này lớn quá,
cành lá xờ ra che mát cả một vùng lớn bằng cả mười mấy
căn nhà. Bọn nhỏ chia xớt thức ăn cho nhau. Rupka và bé Bala
hôm nay được ăn bánh chappati với nước xốt cà ri. Chúng
cũng được ăn cơm trắng chấm muối đậu phụng và muối
mè. Sujata và Balagupta đã đem đủ nước uống cho mọi người.
Không khí ở đây thật lặng lẽ, nhưng niềm vui ở đây thật
lớn lao.
Hôm
ấy theo lời của Sujata thỉnh cầu, Siddhatta đã kể cho bọn
trẻ nghe về cuộc đời của mình. Bọn trẻ đã ngồi nghe
say mê từ đầu đến cuối.