|
Quyển
1 Tu Tâm
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| x |
|
Quyển
2 Dưỡng Tánh
|
|
|
|
|
|
Phần
Chính: Những tánh gì cần phải dưỡng?
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Kết
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
TU
TÂM VÀ DƯỠNG TÁNH
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
Thanh
tịnh
Định nghĩa
Thanh là trong,
Tịnh là sạch. Thanh-tịnh là tánh trong sạch, không vướng
cáu bẩn, nhơ nhớp, là tánh trầm lặng, không náo động ồn
ào. Thanh-tịnh là tánh đã được gạn lọc khỏi những gì
xấu xa ô uế tạp nhạp, lăn xăn trong cõi đời ô trọc nầy.
Không phải ở
được nơi yên tĩnh, mát mẻ, mà đã cho đó là thanh-tịnh.
Không phải chỉ ăn mặc sạch sẽ, tắm gội luôn luôn mà
đã vội tưởng đó là thanh-tịnh. Thanh-tịnh của đạo Phật
là trong sạch từ bên ngoài đến bên trong, từ thể chất
đến tinh thần, từ lời nói tới việc làm.
Tánh chất thanh-tịnh
trong đạo Phật
Như trên đã
nói, thanh-tịnh theo nghĩa đạo Phật là sự trong sạch, vắng
lặng hoàn toàn về mọi phương diện.
Thân thanh-tịnh:
thân thể phải luôn luôn tắm rữa sạch sẽ, không chải chuốt
vuốt ve, cũng không tô son trét phấn. Ao quần phải luôn luôn
thay giặt, không rách rưới, nhưng cũng không xa hoa, lòe loẹt,
kiểu cách. Thức ăn uống phải giản dị, không rượu chè,
trộm cướp, sát hại, dâm ô, hút sách, không cao lương mỹ
vị. Chỗ nghỉ ngơi phải hợp vệ sinh, không giường cao nệm
ấm, không trướng rũ, màn che.
Khẩu thanh-tịnh:
Lời nói luôn luôn chân thật, không thêm không bớt, không
ngọt như mật, không cay như tiêu, chua như dấm; không suồng
sã, bỡn cợt như bướm hoa; không sừng sộ, gầm thét như
hùm như hổ; không hỗn hào như hổ như beo; không độc dữ
như rắn, như rít; không nhọn hai đầu như đòn xóc; không
sắc bén như gươm đao; không nặng nề như búa tạ. Trái lại,
lời nói trong trường hợp nào cũng phải trong sạch, ôn tồn,
đúng đắn, lợi ích cho mọi người, mọi vật ở chung quanh.
Ý thanh-tịnh: Ý
là phần quan trọng, chi phối tất cả những lời nói, cử
chỉ, hành động, đời sống của con người. Ý trong sạch,
thì đời sống dễ trong sạch, ý nhiễm ô thì đời sống
bị xấu xa, hoen ố. Ý trong sạch là thế nào? Là không vẩn
đục bởi nhũng tánh tham lam giận dữ kiêu căng, si mê, nghi
ngờ. Mỗi khi ta suy nghĩ, tưởng nhớ một điều gì, mà tư
tưởng ta không bị trộn lẫn bởi những tánh xấu nói trên,
như thế là ý nghĩ ta được thanh tịnh. Ý ta không nhiễm
mùi hôi tanh của những tánh ấy, không nghe tiếng gào thét,
kêu gào, xúi giục, của dục vọng; ý ta trong sáng như thủy
tinh, vắng lặng như mặt nước hồ im; ý ta chói sáng mặt
trời Trí tuệ, thơm ngát hương Từ bi, như thế là ý thanh-tịnh.
Hành động thanh-tịnh:
Việc làm không vì danh lợi riêng cho mình, không vì thù oán,
không vì khoe khoang, không vì dâm ô; nói tóm lại là không
vì dục vọng mà làm, như thế là hành động thanh-tịnh.Người
có hành động thanh-tịnh không mưu mô lừa đảo, không ỷ
mạnh hiếp yếu, không ỷ giàu hiếp nghèo, không ỷ thế hiếp
cô. Người có hành động thanh-tịnh không xu nịnh ai, không
bợ đỡ ai, không sợ hãi ai để phải làm theo ý muốn bất
chính của họ. Người có hành động thanh-tịnh bao giờ cũng
thẳng thắn, đường đường, chính chính, không bao giờ có
một hậu ý đen tối nào trong lúc làm việc.
Công năng của
thanh-tịnh
Như chúng ta
đã thấy: mặc dù con người có Phật tánh nhưng vẫn mê mờ
và trôi lăn trong cảnh giới tối tăm đau khổ, là vì con người
đầy cả dục vọng, con người bị nhiễm ô, tánh Phật bị
che lấp dưới bao nhiêu lớp bụi bặm của tánh xấu. Nên
chúng ta cần phải có một đời sống thanh-tịnh. Ta phải
mượn thanh-tịnh làm một cái chổi để quét bao nhiêu rác
rến đang bao phủ lấy ta từ trong và ngoài, từ trên xuống
dưới. Tánh Phật như nước trong, dục vọng như cáu bẩn
làm đục nước trong. Muốn làm cho tánh Phật không bị nhiễm
ô, phải cần đến thanh-tịnh.
Thanh-tịnh rất
cần thiết cho người tu hành. Thiếu đức tánh ấy, thì dù
cố công trì chí bao nhiêu trong việc tu hành cũng vô ích, như
nấu cát mà mong thành cơm. Dù ta có bao nhiêu việc bố thí
lợi tha mà tâm ta thiếu thanh-tịnh, thì những việc làm ấy
cũng mất hết ý nghĩa cao quý và hiệu quả của chúng.
Người thanh-tịnh
sẽ có một đời sống nhẹ nhàng, thanh thoát, tâm không bận
bịu một ý nghĩ đen tối nào; thân khoan khoái, dể chịu.
Người thanh-tịnh đi đến đâu như mang theo một vừng ánh
sáng, một làn khí trong, như tỏa ra một mùi hương mát dịu.
Người thanh-tịnh chẳng khác gì một đóa hoa sen, "gần bùn
mà chẳng hôi tanh mùi bùn". Với cánh trắng, nhị vàng, hương
dịu, nó được người đời quý chuộng mến yêu, đặt lên
bàn thờ tôn kính như thế nào, thì người thanh-tịnh cũng
được như thế ấy.
Gương thanh-tịnh
của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Khi còn tại
gia, Đức Thích Ca sống giữa cảnh xa hoa, trong cung đàn tiếng
nhạc, trong nệm gấm, mền nhung, giữa hương sắc dục lạc,
thế mà Ngài vẫn không bị nhiễm ô, chìm đắm trong biển
xa hoa, sa lầy trong vũng bùn nhục dục ấy. Ngài là hòn ngọc
quý, rơi trong bùn mà không nhiễm bùn. Như đóa hoa sen quyết
trồi đầu lên khỏi đám bùn thối tha. Ngài quyết thoát ra
khỏi cảnh dục lạc ô uế trong cung vui để sống cuộc đời
phóng khoáng, thanh thoát. Trong khi đi tìm đạo, mặc dù sống
trong cảnh tối tăm nguy hiểm, Ngài vẫn luôn luôn giữ tâm
ý trong trắng bình thản. Trước khi thành đạo, Ngài còn bị
Ma Vương đem cung đàn tiếng nhạc, đem hương sắc mỹ nhân
đến khuấy phá Ngài dưới gốc Bồ đề, nhưng bao nhiêu cố
gắng phá hoại của ma vương đều vô ích, tâm hồn Ngài vẫn
trong sáng như gương, bình thản như mặt nước hồ thu, mà
gió dục vọng không còn đủ sức để thổi lên nữa.
Đức tánh thanh-tịnh
của Ngài đã có mặc dù Đức Phật đã nhập diệt trên hai
ngàn rưỡi năm mà đức tánh thanh-tịnh của Ngài còn phảng
phất trong cõi trời Á Đông trong các đền chùa, điện tháp.
Mỗi khi chúng ta đến viếng một cảnh chùa theo đúng chánh
pháp, chúng ta thấy trong người nhẹ nhàng, khoan khoái; chúng
ta nghe như bao nhiêu tiếng kêu gào của dục vọng lắng xuống,
im đi, để nhường chỗ cho một nỗi thanh thoát êm đềm lan
dần trong tâm hồn ta.
Người Phật tử
phải dưỡng tánh thanh-tịnh như thế nào trong đời sống
hằng ngày?
Như chúng ta
đã thấy, tánh chất của thanh-tịnh bao gồm tất cả mọi
phương diện của đời sống. Cho nên, muốn dưỡng tánh thanh-tịnh,
chúng ta không thể chú trọng đến phần vật chất mà bỏ
phần tinh thần, hay ngược lại, chú trọng phần tinh thần
mà bỏ vật chất. Đừng bắt chước những người ngụy biện,
hay bừa bãi, thường nói rằng:"tu là cốt ở tâm, hình thức
không đáng kể. Ta thanh-tịnh ở trong lòng là đủ rồi". Nói
như thế là không nhận rõ ảnh hưởng mạnh mẽ của hoàn
cảnh. Nếu chúng ta muốn có thanh-tịnh mà sống giữa cảnh
xa hoa trụy lạc, thường ngày bày ra trước mắt ta bao nhiêu
trò ô uế, rót vào tai ta bao nhiêu nhạc điệu, lời lẽ dâm
ô, xông vào mũi ta bao nhiêu mùi vị béo bùi, đắp vào mình
ta bao nhiêu tơ lụa mơn trớn, nếu sống trong cảnh ấy mà
ta không bị nhiễm ô, thì ta là một vị thánh. Những thánh
nhân ở đời nầy thật quá hiếm hoi; cho nên ta rất dễ thành
quỷ sứ.
Hoàn cảnh thanh-tịnh
bên ngoài giúp ta dễ thanh-tịnh bên trong. Tất nhiên trong cõi
đời đã gọi là ô trọc nầy, khó có cảnh hoàn toàn thanh-tịnh.
Nhưng trong phạm vi tương đối, ta có thể tạo ra, hay tìm
kiếm một hoàn cảnh tạm gọi là thanh-tịnh được. Ta tập
sống có vệ sinh, điều độ, thứ tự. Ta tập xua đuổi những
ý nghĩ xấu xa, đen tối. Ta tập hành động theo lẽ phải,
theo bác ái, vị tha. Ta tìm những kinh sách có những tư tưởng
trong sáng, tiến bộ để đọc, tìm thầy bạn có đạo đức
để học hỏi kết giao, ta tìm những cảnh chùa theo đúng
chánh pháp để tới lui tu dưỡng.
Trong khi chúng
ta tìm được một hoành cảnh tạm gọi là thanh-tịnh, hành
động những việc có tánh cách thanh-tịnh rồi, chúng ta đừng
vội thỏa mãn, yên trí là chúng ta đã tiến bước trên con
đường thanh-tịnh. Chúng ta cần phải đề phòng những ý
nghĩ nhỏ nhiệm sâu kín, đen tối, xấu xa lén chen vào trong
những công việc tốt đẹp của chúng ta, làm cho chúng trở
thành hữu lậu, nhiễm ô. Sau đây là vài ba thí dụ thường
thấy hằng ngày: Chẳng hạn khi ta cho kẻ hành khất một vài
đồng bạc, vì lòng thành thật thương xót họ. Đó là một
việc thiện quý báu; nhưng bên cạnh động lực chính ấy,
ta còn có ý mong cho người xung quanh biết mình là kẻ nhân
từ. Như thế là bố thí mà còn bị phiền não tham danh chen
vào.
Khi một người
hành khất đeo riết ta xin cho được, ta bực tức vất vào
nón ngườiấy vài đồng để khỏi bị quấy rầy, như thế
là bố thí mà không phải vì từ thiện, mà là vì sân hận.
Khi ta giúp đỡ ai một điều gì, mà ta mong ước một ngày
kia người ấy sẽ giúp đỡ lại ta, như thế là làm việc
lợi tha với mục đích ích kỷ.
Khi ta mang ơn của
ai mà vội vàng tìm cách để trả ơn, vì sợ để lâu ơn
sẽ nặng, hay người làm ơn sẽ có dịp nhờ vả ta nhiều
hơn, như thế là trả ơn mà động lực chính là bội bạc.
Khi ta là một
kẻ giàu có, hay có địa vị cao mà ta ăn mặc xoàng xĩnh,
rách rưới với dụng ý để cho người ta trầm trồ, khen
ngợi, như thế là ta làm vẻ nhu mì với dụng ý khoe khoang.
Khi ta làm điều
gì hay đẹp, do sự háo thắng hay cốt cho mọi người khen
ngợi, như thế là ta ngạo mạn, muốn được hơn người.
Khi ta đến chùa,
thành thật vì mục đích muốn hiểu đạo và cầu giải thoát,
nhưng vì đến chậm hay thiếy chổ, ta phải đứng lạy sau
người, hay ngồi nghe giảng vào hàng ghế cuối, hay ăn uống
không được trọng đãi v.v… ta đâm ra buồn phiền trách
móc:"Tôi như thế này mà nhà chùa để tôi đứng sau, ngồi
dưới, xem thường, xem khing v.v…" Như thế là đến chùa để
tìm thanh-tịnh mà lãi hóa ra đi ôm ấp thêm phiền não, ô
trược.
Những thí dụ
trên cho chúng ta thấy hoàn cảnh thì thanh-tịnh, việc làm
thì đẹp đẽ, mà động cơ thì bất tịnh, nhiễm ô.
Vậy trong đời
sống hằng ngày, mỗi lúc nghĩ, mỗi lúc nói, mỗi lúc làm,
mỗi lúc nằm, ngồi, đi, đứng, chúng ta phải luôn luôn tự
xét xem đã thanh-tịnh chưa. Trong trường hợp những nhiễm
ô thô thiển dễ trừ, ta hãy mạnh dạn trừ ngay; trong trường
hợp những nhiễm ô sâu xa, vi tế khó trừ, ta hãy tập phép
quán "nhị không" để phá trừ ngã chấp và pháp chấp. Làm
được như thế là ta đã dưỡng tánh thanh-tịnh của Phật
mà mỗi chúng ta đều sẵn có, ở trạng thái tiềm tàng trong
ta.

|