Định
nghĩa
Hỷ là vui hay
muốn nói cho đủ là tùy hỷ: vui theo, cùng vui với người
khác. Phản nghĩa của hỷ là ư (buồn phiền).
Xả là bỏ, không
chấp, không ghi giữ trong lòng. Phản nghĩa của xả là cố
chấp.
Hỷ xả là hai
hạnh lành, có hai nghĩa, hai phạm vi, nhưng thường người
ta hay nói chung với nhau, vì chúng nó có tương quan mật thiết,
làm nhân làm quả cho nhau.
Trong một tầng
bậc thấp thì xả làm nhân cho hỷ, nghĩa là muốn vui theo
với người, muốn làm cho người vui, thì trước tiên mình
phải đừng chấp, phải xả bỏ những điều ngang trái, những
điều thiệt thòi sỉ nhục mà người khác đã làm cho ta.
Nếu ta chưa có thể bỏ qua những điều ấy được thì không
thể nào ta vui được và làm cho người khác vui được.
Nhưng trong một
từng bực cao hơn, hỷ cũng cần phải xả. Nếu chấp chặt
cái hỷ ấy, cho nó là nấc thang cuối cùng mà không rời nó
để tiến lên nữa, thì cái hỷ ấy rất dễ trở thành ưu.
-
Tánh chất của
hỷ xả trong đạo Phật
Hỷ của đạo
Phật không có nghĩa là vui đùa một cách vô tư, không phải
là không cho cái gì là quan trọng, không phải là "phớt qua"
tất cả, để được vui cười một cách ào ạt, sôi nổi
"rồi ngày mai ra sao thì ra". Hỷ đây không phải là buông thả
cõi lòng để vui theo những cảnh dục lạc ở đời, cũng
không phải là tán thành, tùy hỷ để cho người ta làm quấy,
làm ác.
Hỷ của đạo
Phật là vui theo những điều chân thiện, mỹ; là vui vì thấy
người khác tạo nhân lành, được quả tốt; là vui vì mình
làm cho người và chúng sanh được vui. Cái vui ở đây phát
sanh từ lòng từ bi, bình-đẳng, chứ không phải là vì một
lý do ích kỷ nào khác, cái vui bao la rộng lớn toàn thiện,
có tánh cách giải thoát, thanh tịnh, chứ không phải hẹp
hòi, thiển cận. Cái xả ở đây cũng không phải chỉ là
sự tha thứ, khoan dung đối với những ai đã làm ta đau khổ;
không phải chỉ là sự vứt bỏ ra khỏi lòng ta những bực
bội, xót đau mà người khác đã gieo vào lòng ta; không phải
chỉ là bỏ qua những gì trái tai gai mắt đối với ta. Xả
ở đây có tánh cách tuyệt đối, nghĩa là bỏ ra ngoài tất
cả, không chấp trước một cái gì, dù là vật chất hay tinh
thần, dù là xấu xa hay tốt đẹp, dù là ở địa vị phàm
phu hay đã chứng được quả thánh. Nếu còn chấp trước
nắm giữ một cái gì là còn cái ngã, mà còn cái ngã là còn
tất cả, nghĩa là còn chưa giải thoát.
Nói như thế không
có nghĩa là người tu hành phải nhắm mắt bịt tai để không
thấy, không nghe gì cả; không phải là dửng dưng trước mọi
sự mọi vật như đá, như gỗ, không phải là không làm gì
cả, đứng khoanh tay như tượng đá-Không! người theo hạnh
Xả vẫn thấy, vẫn nghe, nhưng không đắm sắc, mê thanh, không
để cho mình vương vấn vào cái thấy cái nghe ấy; người
theo hạnh Xả vẫn làm việc, làm việc nhiều hơn ai cả, nhưng
vẫn không thấy mình có làm gì cả, nhất là khi làm được
những việc có kết quả tốt đẹp.
-
Công năng của
Hỷ xả
Nếu đem so
sánh với tánh nhẫn nhục thì Hỷ xả còn cao hơn một bậc.
Tánh nhẫn nhục làm cho ta không phát ra nóng giận, bực tức,
làm cho ta có sức chịu đựng những khổ nhục, đau xót ở
đời; nó cản ngăn cái xấu không cho phát ra. Còn tánh Hỷ
xả làm cho lòng ta nhẹ nhàng thư thái phát ra cái vui hồn
nhiên trong sáng. Nhẫn nhục như người đang gánh một gánh
nặng, phải luôn luôn cố gắng đi cho đến đích. Hỷ xả
như người đã trút được gánh nặng, thân xác nhẹ nhàng,
tâm hồn khoan khoái, vui vẻ, không bận tâm về một điều
gì nữa. Nhẫn nhục như người điều phục voi dữ, luôn luôn
phải đề phòng, lao tâm khổ trí, để cho nó khỏi phá phách.
Hỷ xả như người cỡi ngựa hay đã thuần, có thể thảnh
thơi ngao du đây đó, mà không cần chú ý đến con vật mình
đang cỡi.
Do đó, người
có tánh Hỷ xả, bao giờ nét mặt cũng vui tươi, nụ cười
luôn luôn nở rộng trên môi, tâm hồn sáng sủa, phóng khoáng
như một gian phòng rộng, mà tất cả các cửa đều mở toang
cho ánh sáng không khí tràn vào. Người Hỷ xả luôn luôn được
cảm mến và được tiếp đón nồng hậu khắp nơi, vì đã
gây được tín nhiệm và đem không khí hòa vui lại cho mọi
người.
Riêng đối với
mình, người có tánh Hỷ xả không bao giờ bị phiền não
quấy nhiễu, không có thù địch ngăn lại, được nhiều trợ
duyên cho nên dễ tiến bước trên đường đạo và mau chứng
quả Bồ đề.
-
Gương Hỷ xả
của Đức Bổn Sư Thích Ca
Hình ảnh Đức
Bổn-sư đã được người đời sau tạc lại trong các pho
tượng với nụ cười hiền hòa, thanh thoát ở trên môi. Nụ
cười ấy tượng trưng cho lòng từ bi, hỷ xả của Ngài.
Một pho tượng không có được nụ cười ấy cũng như không
có được đôi mắt tượng trưng cho trí tuệ, pho tượng ấy
chưa phải là tượng Đức Bổn Sư Thích Ca, vì nó thiếu mất
những đức tánh căn bản cần thiết đã đưa Ngài lên địa
vị Phật, và đã làm cho người đời sau phân biệt được
Ngài với các vị Giáo chủ khác.
Về vật chất,
Đức Phật trước khi xuất gia đã hoan hỷ xả bỏ những
gì quí báu nhất mà người phàm phu ít có thể có được:
ngai vàng, điện các, ăn ngon, mặc ấm, ngọc ngà, châu báu,
vợ đẹp, con ngoan…
Về tinh thần,
Ngài xả bỏ tất cả những gì xấu xa mà con người có thể
có, do vô minh, di truyền, tập quán, nghiệp báo gây nên. Ngài
bỏ qua tất cả những ác ý và hành động nhiễu hại Ngài,
của bọn Đề bà đạt đa, A xà thế, chàng Vô não, cô gái
ngoại đạo độn bụng vu oan cho Ngài… Ngài đã không chấp
nhất, buồn phiền, mà còn thường xót tế độ cho họ.
Ngài xả bỏ luôn
tất cả những kết quả tốt đẹp mà Ngài đã thành tựu,
làm tất cả mọi việc quý báu trên đời mà vẫn tự thấy
không làm gì cả. Ngài hoan hỷ bỏ dần, bỏ dần cho đến
khi không còn gì để bỏ nữa. Ngài bỏ ra, bỏ ra tất cả,
với một nụ cười trên môi, một nỗi thanh thoát trong lòng.
Ngài vui cái vui của người khác, vui như cái vui của người
mẹ khi thấy con nhỏ bập bẹ nói những tiếng đầu tiên,
hay bước những bước chập chững. Cái vui của Ngài không
phân biệt thân sơ, không có từng bậc cao thấp, thoát ra ngoài
vòng bỉ, thử, bao giờ cũng hồn nhiên trong sáng. Nỗi vui
ấy đã được thể hiện trong nụ cười bất tận ở trên
đôi môi những pho tượng của Ngài, và đã làm cho tất cả
Phật-giáo-đồ trên thế giới cảm mến, kính yêu.
-
Người Phật tử
phải dưỡng tánh Hỷ xả như thế nào trong đời sống hằng
ngày?
Trước
tiên trong phạm vi thấp nhất, người Phật tử phải tập
tánh khoan hòa độ lượng, biết tha thứ những lỗi lầm của
người chung quanh. Đừng ghi vào lòng, đừng chấp nệ những
lời nói, cử chỉ, hành động không đẹp đẽ của người
khác đối với ta. Hãy nghĩ rằng đó là những điều sơ xuất
vì vô tình hay vụng về mà ra. Nếu ta có bằng chứng về
lòng xấu xa, độc ác của người muốn hại ta đi nữa thì
cũng nên tự nhủ rằng những người ấy đáng thương hơn
đáng trách, vì họ thiếu sáng suốt, thiếu căn lành; và sụ
thiếu thốn ấy sẽ đem lại cho đời họ nhiều đau khổ
lắm rồi ta không nên làm cho họ đau khổ hơn nữa. Nếu ta
ôm ấp những nỗi bực tức oán thù thì ta chỉ tạo cho ta
thêm nhiều đau khổ, như ta bị bắn trúng mũi tên độc mà
không chịu rút ra.Ta sẽ mất ăn mất ngủ, mất thì giờ,
mất bình tĩnh trong công việc làm ăn, tu học. Ta sẽ ung độc
đời ta một cách khờ dại, vô ích; và ung độc luôn cả
gia đình, xã hội trong ấy ta đang sống nữa.
Tiến lên một
tầng cao hơn, ta phải tập biến dần tánh thù ghét ra thành
tánh hoan hỷ. Thấy người khác thành công, ta không ghanh ghét,
dù đó là kẻ đã làm cho ta đau khổ! Trái lại, ta còn vui
mừng với họ, hoan hỷ tán thán sự thành công của họ, nhất
là khi sự thành công ấy tiến về nẻo thiện, hướng đến
mục đích giải thoát.
Tiến lên một
tầng cao hơn nữa, ta phải tập xả bỏ những gì ta quý báu
dù vật chất hay tinh thần. Có bỏ bớt hành lý nặng nề,
ta mới đi xa được, mới lên cao được. Nếu ta ôm giữ một
cái gì, thì cái ấy chỉ làm vướng chân ta, níu ta lại. Trong
đời, ta thường thấy những người giàu có bao nhiêu, chức
phận bao nhiêu, lại bận bịu, vương vấn bấy nhiêu, như
chim vướng phải lưới, càng gỡ càng mắc thêm.
Về phương diện
tu hành cũng thế, những người chứng được quả nầy quả
nấy khác mà chấp chặt quả ấy thỏa mãn với sự thành
công của mình, những người cố chấp như thế, không bao
giờ tiến được xa. Cho nên người Phật tử phải tập xả
dần, xả tất cả. Con tằm sở dĩ thành bướm bay lượn đó
đây, vì nó đã rời bỏ cái kén, dù đó là một cái kén
bằng tơ vàng óng ánh, ấm áp, đẹp đẽ mịn màng vô cùng.
Cùng một nghĩa ấy, Đức Phật có dạy:"Niệm mà không chấp
có niệm mới là niệm, hành mà không chấp có hành mới là
hành, nói mà không chấp có nói mới là nói, tu mà không chấp
có tu mới là tu" (Kinh 42 chương).
Nhưng xả mà buồn
rầu thì tốt hơn là đừng xả. Xã không phải là một sự
hy sinh thường làm cho người hy sinh phải đau khổ. Xả mà
còn tiếc nuối, còn than thở cho cái mà mình đã bỏ đi, xả
với bộ mặt buồn rầu, than khóc như kẻ đi đưa đám ma,
xả như thế nào có ích gì?
Xả phải đi đôi
với hỷ. Phải xả với vẻ mặt hân hoan, vui mừng như người
tù khi tháo gỡ xiềng xích. Ta sung sướng, vui mừng vì thấy
mình nhẹ nhàng, khoan khoái hơn trước. Xả là một cử chỉ
tháo gỡ để được giải thoát, cho nên ta vui mừng; chứ
không phải là một sự trói buộc mà phải khóc than.
Phát triển được
tánh hỷ xả như thế, tức là dưỡng tánh hỷ xả của Phật
mà ta đã sẵn có, ở trạng thái tiềm tàng trong ta.