|
Quyển
1 Tu Tâm
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| x |
|
Quyển
2 Dưỡng Tánh
|
|
|
|
|
|
Phần
Chính: Những tánh gì cần phải dưỡng?
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Kết
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
TU
TÂM VÀ DƯỠNG TÁNH
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
Nhẫn
nhục
I/ Định nghĩa
Nhẫn nhục do
chữ "Ksãnti" (sần đề) trong Phạn ngữ mà ra. Nhẫn là nhịn,
là nín, là chịu đựng; nhục là sỉ nhục, là nhơ nhuốc,
xấu hổ. Nhẫn nhục là nhịn nhục, chịu đựng những điều
nhục nhã xấu hổ, lao khổ, cho đến độ cùng tột rốt ráo.
Nhẫn nhục là đức tánh trái lại với tánh nóng giận, oán
thù.
Ơ đây, chúng
ta không nên ngộ nhận chữ nhẫn nhục như người ta thường
hiểu ở đời. Nhẫn nhục ở đời là thứ nhẫn nhục không
rốt ráo, chỉ có hình thức bên ngoài, chứ không đi sâu vào
bên trong, nghĩa là trước một sự bất công, một điều sỉ
nhục, người nhẫn nhục không tỏ ra phản đối trong lời
nói, trong cử chỉ, nhưng trong lòng họ vẫn không dằn được
cơn tức giận phẫn uất; thứ nhẫn nhục ấy không phải
là nhẫn nhục của đạo Phật.
Vậy tánh chất
của nhẫn nhục trong đạo p như thế nào, chúng ta xin trình
bày ở đoạn dưới đây.
-
Tánh chất nhẫn
nhục trong đạo Phật
Nhẫn nhục
theo giáo lý Phật Đà phải gồm đủ ba phần là: thân nhẫn,
khẩu nhẫn, ý nhẫn. Nghĩa là ở nơi thân thì cam chịu đau
khổ mà không đối phó lại bằng cử chỉ, hành động trả
thù; ở nơi miệng không thốt ra những lời hung ác, nguyền
rủa, và nhất là ở trong lòng thì cũng phải dẹp xuống,
đánh tan cơn tức giận, nỗi oán thù, không cho nó vươn lên,
vùng dậy. Nếu không dẹp được sự giận dữ, phẩn uất
ở trong lòng thì chưa gọi được là nhẫn nhục theo nghĩa
trong đạo Phật.
Hơn nữa, người
theo pháp nhẫn nhục phải luyện cho đến trình độ không
thấy có người làm mình khổ nhục, có nỗi khổ nhục, và
người chịu khổ nhục. Nhẫn nhục ở đây có tánh cách bao
la rộng lớn, không phân chia biên giới, vì nó bắt nguồn
từ lòng từ bi, từ trí tuệ và bình đẳng tuyệt đối của
Phật tánh. Cho nên người dưỡng tánh nhẫn nhục, muốn thành
tựu phải dựa lên ba đức tính trên làm căn bản.
-
Công năng của
nhẫn nhục
Một trong những
đại họa của cõi đời là tánh giận dữ, oán thù. Có thể
nói một cách không quá đáng rằng lửa giận đã đốt thiêu
một nữa cõi đời, một nửa công lao của loài người, từ
ngày có nhân loại đến nay. Cho nên tánh nhẫn nhục là một
phương thuốc thần diệu để dập tắt lửa sân hận.
Về phương diện
cá nhân, người nhẫn nhục làm cho người chung quanh cảm mến,
vì nét mặt hiền dịu, vì lời nói hòa nhã, vì cử chỉ khoan
hòa. Người nhẫn nhục tâm trí được sáng suốt, xét đoán
phải lẽ, không mắc những sai lầm lỗi đáng tiếc vì thiếu
bình tĩnh. Thân tâm người nhẫn nhục luôn luôn được an
lạc, nhẹ nhành, và do những điều trên, người nhẫn nhục
dễ thành tựu trong mọi công việc, trong đời mình.
Về phương diện
gia đình, nếu mọi người trong nhà đều nhẫn nhục thì cảnh
gia đình luôn luôn được hòa thuận, tin yêu, ấm cúng. Người
ta thường nói:"Thuận vợ thuận chồng thì tát biển đông
cũng cạn". Thiếu đức tính nhẫn nhục, sự hòa thuận trong
gia đình không bao giờ có thể thực hiện được. Và không
hòa thuận, thì gia đình trở thành một cảnh địa ngục nho
nhỏ, mà mọi người đều muốn đạp đổ để thoát ra.
Về phương diện
xã hội, nhẫn nhục làm cho mọi đoàn kết có thể thực hiện
được, sự chung sống được êm đẹp, chiến tranh không xảy
ra, hòa bình được củng cố, cõi đời sẽ trở thành một
lạc địa.
Về phương diện
tu hành, nhẫn nhục như là một hòn đá thử vàng, như là
một lò luyện kim khí, nó làm cho người tu hành luôn luôn
phải cảnh giác, đề phòng trước những nghịch cảnh. Nó
bắt buộc kẻ tu hành luôn luôn phải vận dụng lòng từ bi,
ánh sáng trí tuệ, tinh thần bình đẳng để phá tan giận
dữ, oán thù. Nó dẹp dần ngã mạn, ngã ái và công phá luôn
thành trì cuối cùng của chúng sanh là cái ngã. Do đó, người
tu hành chứng được vô ngã vô sanh.
-
Gương nhẫn nhục
của Đức Bổn Sư Thích Ca
Sức chịu
đựng của Đức Thích Ca trong bước đi tìm đạo của Ngài
thật là một gương sáng cho chúng ta. Từ một vị Thái tử
sống trong nhung lụa, Ngài trở thành một kẻ không nhà, lặn
lội hết khu rừng nầy đến ngọn núi khác, chịu lạnh chịu
nóng, nhịn đói nhịn khát, tìm học tất cả mọi người,
không sợ nhục nhã, xấu hổ khi phải hỏi những điều mình
chưa biết. Khi tu khổ hạnh với bọn ông Kiều Trần Như,
thấy không có kết quả, Ngài rời họ, trở lại ăn uống
như thường và đã bị họ chế giễu, khinh bỉ; nhưng Ngài
vẫn điềm nhiên như không, chỉ một dạ quyết tâm tu học.
Khi đắc đạo,
trở thành một Đấng Chí-tôn, Ngài bị Đề Bà Đạt Đa nhiều
lần quấy phá, nào thả voi dữ, nào lăn đá từ sườn núi
cao xuống mình Ngài, nhưng không một lần nào Ngài tỏ ra vẻ
phẩn nộ, bực tức. Khi bị thương nhẹ nơi chân vì hòn đá
của Đề Bà Đạt Đa lăn xuống, Đức Phật đã điềm nhiên
bảo các đệ tử rằng: Đề Bà Đạt Đa là thiện hữu tri
thức của Ngài, nhờ Đề Bà Đạt Đa mà Ngài mau thành Phật.
Khi bị ngoại đạo âm mưu sai người đến nhục mạ Ngài
giữa đại chúng, Phật lặng thinh để cho người ấy nhiềc
mắng. Cuối cùng, Ngài chỉ hỏi lại một câu nhưng hàm bao
nhiêu ý nghĩa thâm thúy, mà chúng ta cần phải nhớ lấy nằm
lòng trong khi tập tánh nhẫn nhục. Ngài hỏi người nọ:
-
Khi người đem cho
ai một món gì mà họ không nhận, thì người làm thế nào?
-
Thì tôi đem về!
-
Ở đây cũng vậy,
ta không nhận những lời nhục mạ của người. Người hãy
mang về đi!
Hơn ai
hết, Ngài hiểu rõ công dụng lớn lao của nhẫn nhục nên
trước khi nhập Niết Bàn, Đức Phật đã dặn các đệ tử:
-"Nếu có người
đến chặt tay chân các ông, hoặc xẻo mũi cắt tai v.v… các
ông cũng phải nhiếp trì tự tâm, chớ nên móng niệm sân
hận mà làm trở ngại đạo Bồ đề của các ông, và chớ
thốt ra lời nói hung ác, mà bị lửa sân hận đốt thiêu
rừng công đức của các ông…"
Phật còn tán
thán những người nhẫn nhục với một câu nói đẹp đẽ
như sau:
"Người nào ngăn
được phẩn nộ sắp phát ra, như dừng được chiếc xe đang
chạy nhanh, như thế mới được gọi là thiện ngự, ngoài
ra chỉ là kẻ cầm cương mà thôi".
-
Người Phật tử
phải nuôi dưỡng tánh nhẫn nhục như thế nào trong đời
sống hàng ngày?
Trước
tiên, người dưỡng tánh nhẫn nhục phải nên nhớ luôn điều
này: không phải vì để được người đời tán thán, khen
ngợi mà ta nhẫn, không phải vì sợ sệt trước oai lực của
kẻ khác mà ta nhẫn, không phải vì mong được chức tước
quyền lợi mà ta nhẫn, không phải vì lười nhác, muốn buông
xuôi tay cho khỏe trước cuộc đời bất công mà ta nhẫn,
không phải vì không biết nhục nhã, thiếu nhân cách mà ta
nhẫn. Nếu vì lý do trên mà ta nhẫn, thì cái nhẫn ấy còn
nguy hại hơn sự phẫn nộ, vì nó là tay sai đắc lực của
dục vọng: tham lam, kiêu mạn, hèn nhác, ích kỷ… Ta nuôi
dưỡng tánh nhẫn nhục là vì một đại nguyện, một mục
đích cao quý, một tình thương lớn lao, một trí tuệ sáng
suốt. Ta nhẫn nhục là vì muốn trau giồi đức tánh, muốn
đối trị cái bệnh nóng giận do tham lam, ích kỷ, ngạo mạn,
si mê gây ra.
Cái nhẫn trên
lá cái nhẫn đê hèn, cái nhẫn dưới mới là nhẫn cao quý,
đúng theo ý nghĩa của giáo lý. Cái nhẫn dưới mới là nhẫn
mà chúng ta cần nuôi dưỡng hằng ngày. Mặc dù đứng trước
một hoàn cảnh như thế nào, cử chỉ chúng ta luôn luôn dịu
dàng, nhã nhặn, lời nói chúng ta luôn luôn ôn tồn, điềm
đạm, ý nghĩ chúng ta luôn luôn sáng suốt để phân tách vì
đâu có cảnh ấy, vì sao chúng ta không nên nóng giận. Ta phải
luôn luôn vận dụng đến tình thương, là một thứ nước
cam lồ có thể dập tắt bao nhiêu lửa dữ.
Ở đời có hai
nguyên nhân làm cho người ta dễ giận hơn ai hết, đó là
tánh tham lam và kiêu mạn. Mất của, mất danh, mất ngủ…
nên sanh ra giận; thấy người ta phạm đến lòng tự cao, tự
đại, tự mãn, tự ái của mình, nên sanh ra giận. Cho nên,
muốn nuôi dưỡng tánh nhẫn nhục thì trước tiên phải cảnh
giác, đề phòng luôn luôn hai tánh xấu ấy. Phải tỉnh táo,
đừng để mắc mưu chúng nó. Chúng rất quỷ quyệt, rất
nhiều mưu mô. Có khi chúng mượn tiếng nói của bổn phận,
danh dự, quyền lợi chung để bắt ta phải hờn giận oán
thù, có khi chúng tỉ tê bên tai ta trong đêm vắng, có khi chúng
to tiếng buộc tội hành động nhẫn nhục của ta là nhu nhược,
hèn nhát, cho nên, chúng ta phải biết rõ hành tướng của
những tánh xấu ấy, phải điều phục được chúng, mới
có thể thực hiện tánh nhẫn nhục một cách có hiệu quả.
Mỗi khi một nỗi
bực bội, chán chường, oán tức sắp nổi dậy, chúng ta hãy
bình tĩnh đọc đi đọc lại mấy câu thơ dưới đây:
"Nhẫn, nhẫn,
nhẫn, trái chủ oan gia tùng thử tận!
Nhiêu, nhiêu, nhiêu
thiên tai vạn họa nhứt tề tiêu;
Mặc, mặc, mặc,
vô hạn thần tiên từng thử đắc;
Hưu, hưu, hưu,
cái thế công danh bất tự do".
(Nhẫn, nhẫn,
nhẫn- thân nhẫn, miệng nhẫn, tâm nhẫn-thì những điều
trái chủ oan gia từ đây đứt dây hết. Nhịn, nhịn, nhịn,
thì ngàn tai muôn họa đều tiêu tan, Nín, nín, nín, thì cảnh
giới thần tiên vô hạn cũng do đấy mà được, Thôi, thôi,
thôi, thì những công danh lớn lao nhất trên thế giới cũng
không làm gì được ta).
Làm được như
thế, trong mọi địa hạt, trong mọi hoàn cảnh, trong mọi
thời gian thì tánh nhẫn nhục của Phật đã sẵn có ở trạng
thái tiềm phục trong ta sẽ được hoàn toàn biểu lộ.

|