|
Quyển
1 Tu Tâm
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| x |
|
Quyển
2 Dưỡng Tánh
|
|
|
|
|
|
Phần
Chính: Những tánh gì cần phải dưỡng?
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
Kết
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
TU
TÂM VÀ DƯỠNG TÁNH
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
Bình
Đẳng
I.Định nghĩa
Bình là bằng,
là ngang nhau không cao, không thấp, không trên không dưới;
đẳng là sắp hạng, là cấp bậc. Bình-đẳng là sắp ngang
nhau, là xem như nhau, không thấy có cái này cao, cái kia thấp,
không thiên vị hạng người này, trừ bỏ hạng người kia.
Tánh bình-đẳng
của Phật là một tánh bình-đẳng tuyệt đối, bình-đẳng
xét ngay từ trong thể tánh của vũ trụ, ngay từ trong cội
gốc của cuộc đời là sự sống: mọi sự sống bất luận
dưới hình thức nào đều có giá trị ngang nhau, đều được
tôn trọng như nhau; mọi sinh vật, tất cả chúng sinh, đều
có Phật tánh và đều có thể thành Phật.
II. Tánh
chất bình-đẳng của Phật
Chúng ta thường
nghe nói đến bình-đẳng ở ngoài đời. Cách mạng Pháp 1789
nêu cao khẩu hiệu"Tự do, Bình-đẳng, Bác ái", và quyết tâm
thực hiện cho được ba điểm ấy, mà những nhà cách mạng
cho ba lý tưởng đẹp đẽ nhất của loài người. Ba lý tưởng
ấy cho đến ngày nay, nhân loại vẫn chưa thực hiện được.
Riêng về phương diện bình-đẳng, chúng ta phải lấy làm
buồn rầu mà tuyên bố rằng: Nhân loại còn xa mục tiêu ấy
quá! Hiện nay, trong nhiều xã hội, vấn đề bất bình-đẳng
dựa lên huyết thống, quyền lợi vẫn còn tồn tại.Trong
nhiều nước, vấn đề kỳ thị chủng tộc, chia rẽ màu da,
vẫn chưa được giải quyết xong.
Nhưng một
ngày kia dầu cho nhân loại có thực hiện lý tưởng bình-đẳng
như đả nói trên, thì cái bình-đẳng ấy đem so với cái
bình-đẳng của Phật cũng còn hẹp hòi, cũng còn bất bình-đẳng.
Cái bình-đẳng ấy chỉ là bình-đẳng trong phạm vi loài người,
áp dụng cho loài người, chứ không có bình-đẳng chung cho
muôn vật, áp dụng cho toàn thể chúng sanh như bình-đẳng
của Phật.
Đối với
Phật, thì muôn vật và người, người và Phật đều bình
đẳng như nhau, vì mọi loài đều cùng chung một cái luật:
luật nhân quả. Không một loài nào được hưỡng ân huệ
riêng, cũng không một loài nào bị thiệt thòi riêng. Hể ai
tạo nhân lành thì được quả đẹp, ai tạo nhân ác thì chịu
quả xấu. Chúng sanh nào nhiều tham dục, sân hận, si mê thì
bị sống tronh cảnh giới đen tối khổ sở; chúng sanh nào
cõi lòng trong sạch chất chứa từ bi, có trí tuệ… thì sống
trong cảnh giới sáng sủa, an vui…
Công năng
của tánh bình-đẳng
Tánh
bình-đẳng chung cùng, rộng rãi, sâu xa ấy, đã tạo cho cõi
đời không biết bao nhieu là kết quả quý báu. Tánh bình-đẳng
ấy làm cho mọi người được đặt ngang hàng nhau, mọi giai
cấp trong xã hội được san bằng, mọi bất công được tiêu
trừ, mọi áp chế dựa lên huyết thống, màu da, chủng tộc,
quốc độ được ngăn chặn. Tánh bình-đẳng ấy làm cho những
người ở trong địa vị tối tăm, thấp kém thêm nhiều tin
tưởng ở ngày mai, thêm nhiều hăng hái trong công việc cải
tạo hoành cảnh của mình; trái lại, nó làm cho những người
ở địa vị cao sang, quyền quý bớt tánh tự cao tự đại,
bớt tánh ỷ lại vào giai cấp của mình, Nó làm cho mọi người
giàu cũng như nghèo, sang cũng như hèn, gần gũi, thông cảm
với nhau hơn, bớt oán nhau, bớt khinh nhau, biết tôn trọng
nhân phẩm của nhau, quyền sống của nhau.
Do sự bình-đẳng
trong từ bi, trong sự sống, trong Phật tánh, loài người biết
yêu thương loài vật hơn, không thấy mình có độc quyền
giết hại sinh vật, không có cái tự cao tự đại, cho rằng
muôn vật sinh ra là để phụng sự cho mình, để sống, chết
cho mình. Hơn nữa, tánh bình-đẳng, trong khi đặt chúng sinh
và Phật ngang nhau, đã tạo cho loài người một lòng tin vô
bờ bến ở khả năng thành Phật của mình, và lòng hăng hái
trong công việc Phật hóa ấy.
Gương
bình-đẳng của Đức Bổn Sư Thích Ca
Đức
Phật là người đầu tiên trong nhân loại đã phản kháng
chế độ giai cấp và đã phá đổ thành trì chia cách dân
tộc AnĐộ ra làm bốn giai cấp: Bà la môn, Sát đế ly, Tỳ
xá già và Chiên đà la. Chính Đức Thích Ca trong khi tìm đạo,
đã nói với một người chăn cừu như thế nầy:"Mỗi người
sinh ra không mang sẵn dấu "Tin Ca" (dấu riêng của hạng quí
phái) trên trán, không mang sẵn giai cấp trong dòng máu cùng
đỏ va trong nước mắt cùng mặn như nhau".
"Một người
sinh ra không phải liền thành Bà la môn hay Chiên đà la (dòng
hạ tiện) mà chính vì sở hành người ấy tạo thành một
người Chiên đà la hay Bà la môn.
Trong Giáo
hội của Ngài, cũng như trong công cuộc giáo hóa chúng sinh,
Đức Phật không bỏ một ai, dù la hạng nghèo khổ, hạ tiện
như người gánh phân, không thiên vị một ai, dù đó là một
vị Đế vương oai phong lẫm liệt. Kinh Đại Niết bàn đã
tán thán tánh bình-đẳng của Đức Phật như sau:
"Đức
Như Lai không những chỉ thuyết pháp cho các hạng người quyền
quý như vua Bạt-đề-ca mà cũng thuyết pháp cho hạng người
bần cùng như ông Ưa-bà-ly; không riêng thọ lãnh sự cúng
dường của những người giàu có như ơng Tu-đạt-Đa mà cũng
thọ lãnh sự cúng dường của hạng người nghèo khổ như
ông Thuần Đà; không riêng cho phép các hạng không có tánh
tham gia như Ngài Ca Diếp xuất gia mà cũng cho phép được xuất
gia những người nhiều tánh tham như ông Nan Đà. Không những
thuyết pháp cho hạng người an tịnh không dự việc đời,
mà cũng thuyết pháp cho vua Tần Ba Ta La trong lúc đang lo việc
nước. Không những thuyết pháp cho hạng thanh niên 25 tuổi
mà cũng thuyết pháp cho ông già 80 tuổi; không những thuyết
pháp cho ba Hoàng hậu Mạt Ly mà cũng thuyết pháp cho dâm nữ
Liên Hoa". Trong sinh thời của Đức Phật, mặc dù đã đạt
đến một địa vị Vô thượng Cháng đẳng Chánh giác, được
toàn thể người đời, từ giai cấp hạ tiện đến giai cấp
vua chúa, tăng lũ sùng mộ bái phục, thế mà Ngài vẫn khoác
chiếc áo vá trăm mảnh, mang bình bát đi khất thực hết nhà
này đến nhà khác, như bao nhiêu đệ tử của Ngài, đi đâu
về cũng tự múc nước rữa chân lấy. Gia tài của Ngài cũng
chỉ vỏn vẹn có 8 món đồ cần thiết như những đệ tử
của Ngài: Cái quạt để che đầu, hai bộ y, cái gậy, đôi
giép, cái dao cạo, bình bát, cái lưới lọc nước, cây kim
may. Dựa lên tinh thần bình-đẳng tuyệt đối ấy, Đức Phật
đã chế ra cho các vị Tăng già một lối sống hoàn toàn là
bình-đẳng, mà ngày nay trong các xã hội tư xưng là bình-đẳng
nhất cũng không thể theo kịp. Đó là lối sống lục hòa:
cùng ở trong một hoàn cảnh như nhau, cùng chia những quyền
lợi đồng đều như nhau, cùng nói những lời hòa nhã như
nhau, cùng giữ những giới luật như nhau, cùng giải bày những
cái thấy nghe, hay biết cho nhau, cùng duyệt xét phê bình những
tình ý cũa nhau trong sự ôn hòa, thông cảm.
Đức tánh
bình-đẳng ấy đã được truyền dạy qua các đệ tử của
Ngài và đã cảm hóa họ một cách sâu xa, cho nên họ cũng
có những cử chỉ và lời nói đẹp đẽ chẳng khác gì cử
chỉ lời dạy của Đức Bổn Sư Thích Ca.
A Nan, một
hôm đến xin nước của một thiếu nữ giòng Chiên đà la;
người nầy thưa:
-
"Thưa Ngài
hãy tránh ra, vì con là giòng họ Chiên đà la".
-
A Nan trả lời:
"Tôi đến đây xin nước uống, tôi không xin giai cấp!"
Vua
A Dục đã trả lời cho một vị đại thần như sau, khi vị
nầy ngăn cản Vua không cho Vua đảnh lể các vị Tỳ-kheo:
-"Nếu
lấy huệ nhãn của Phật mà xem xét thân thể, thời biết
thân ông vua và thân mọi người giống nhau, cũng là da, thịt,
xương; khác nhau chỉ có cái phù hoa bề ngoài. Nhưng cốt yếu
ở đời là lòng đạo đức. Về phương diện này thì trong
thân người hèn hạ nhất ở đời cũng có thể có. Chính
lòng đạo đức ấy, người có trí, gặp đâu cũng phải tôn
trọng, vái lạy".
Người Phật
tử phải nuôi dưỡng tánh bình-đẳng như thế nào trong đời
sống hằng ngày.
Mỗi
người đều có sẵn Phật tánh, tất nhiên cũng đã có sẵn
cái mầm bình-đẳng của Phật. Nhưng cái mầm ấy đã bị
vùi sâu dưới bao nhiêu lớp bất công, bất bình-đẳng, dưới
bao nhiêu giai cấp, tập quán, thành kiến của xả hội. Từ
xưa đến nay nhân loại đã dựa lên quyền lợi, tài trí,
để là tiêu chuẩn phân định từng bực, thứ lớp trong xã
hội: người giàu, người có tài trí, người thuộc giòng
quý phái thấy mình có quyền đứng cao hơn kẻ khác, được
hưởng quyền lợi nhiều hơn kẻ khác, có quyền bắt kẻ
dưới phải phục dịch cho mình, có quyền khinh bỉ những
ai không được như mình. Tiêu chuẩn ấy làm cho xã hội chia
rẽ, bất an, người trên khinh kẻ dưới, người dưới oán
kẻ trên, người mạnh hiếp kẻ yếu, người yếu thù kẻ
mạnh. Muốn cải thiện xã hội, phải đặt tiêu chuẩn lên
đạo đức; phải lấy tinh thần bình-đẳng của Phật giáo
làm nồng cốt trong đời sống xã hội. Trước tiên, người
Phật tử phải nêu cao gương sáng: phải thương yêu tất cả
mọi người, đừng phân biệt thân sơ, cao hạ; đừng thấy
giàu sang mà trọng, nghèo hèn mà khinh; đừng bợ đỡ kẻ
quyền quý, đừng giẩm đạp kẻ thế cô. Đến chùa, chỉ
nên thấy mọi người là Phật tử như mình, là đạo hữu,
không thấy chức tước, giàu sang hay nghèo hèn của họ. Ai
có đạo đức, có tu hành, thì đều được kính trọng như
nhau. Ưu Bà Ly xuất thân là một kẻ gánh phân, thế mà vẫn
được Đức Phật nhận vào đại chúng và được vua chúa
đương thời kính lạy, vì đạo đức của Ngài.
Ngoài xã
hội, chúng ta cũng áp dụng tinh thần bình-đẳng ấy. Mọi
người, mặc dù ở địa vị nào đều là người, nghĩa là
đều có nhân phẩm, đều được trọng. Nhưng ai có đạo
đức, biết giúp ích xã hội, biết dẹp lòng vị kỷ, biết
yêu đồng loại, biết hy sinh vì nghĩa vụ, những người ấy
đều được chúng ta kính mến, mặc dù họ ở trong hoàn cảnh
nào, từng lớp xã hội nào.
Riêng ta đối
với ta, đừng bao giờ tự cho là quan trọng hơn người, cao
hơn người, phải được săn sóc, chiều chuộng hơn người.
Trong giai
đoạn đầu, phải đặt ta nganh hàng với bao nhiêu "cái ta"
khác ở chung quanh. Dần dần, phải tập xóa nhòa biên giới
giữa ta và những cái ta khác trong nhơn loại, không thấy có
cái ta nào là đáng quý hơn cái ta nào.
Trong giai
đoạn thứ hai, phải tập xóa nhòa biên giới giữa cái "ta
là người" với những cái ta là của chúng sanh, đừng thấy
cái ta của giống người cao hơn cái ta của chúng sanh, đừng
thấy cái ta nào là đáng quý hơn cái ta nào.
Trong giai
đoạn thứ ba, phải tập xóa nhòa cái quan niệm "ta là chúng
sanh", mà ta chỉ nên thấy ta là một sự sống, ta có một
sự sống.
Trong giai
đoạn thứ tư, phải tập xóa nhòa biên giới giữa sự sống
của ta và sống không của ta, đừng thấy có cái sống riêng
biệt, mà chỉ thấy có cái Sống chung cùng, toàn thể, trong
ấy cái sống của ta chan hòa, đồng hòa với tất cả.
Làm như thế
là dưỡng "tánh bình-đẳng" của Phật, mà mỗi chúng ta đều
sẵn có ở trạng thái tiềm tàng trong ta.

|