Trí
tuệ
-
Định nghĩa
Trí-tuệ là
cái tánh sáng suốt xét soi cùng khắp không bị ngăn che, trở
ngại. Trí-tuệ tiếng Phạn gọi là "Praijna", tiếng Trung hoa
dịch âm là Bát nhã, hay Đại trí-tuệ. Để chỉ rõ cái rộng
lớn, linh diệu, hiệu quả của trí-tuệ, nhiều khi trong Kinh
còn gọi là Bát nhã Ba la Mật, nghìa là trí tuệ sáng suốt
cùng tột và chắc chắn sẽ đưa người tu hành đến quả
vị Phậ.
Nếu vô minh là
cái màn đen tối bao trùm vạn vật, làm cho chúng sanh không
nhận được sự thật của vũ trụ vạn hữu và do đó làm
cho chúng sanh phải đau khổ, thì trí-tuệ trái lại, là cái
khí giới duy nhất có công dụng phá tan được màn vô minh
ấy, làm cho chúng sanh thấy rõ được sự thật vũ trụ vạn
hữa, và thể nhập vào sự thật ấy để sống một cuộc
sống an vui, tốt đẹp.
Nói về trí-tuệ,
tronh kinh Di giáo, Phật có dạy:"Người có trí tuệ không tham
trước, tự tại, sáng suốt, tránh khỏi hố hầm tội lỗi;
trí tuệ chân thật là chiếc thuyền kiên cố, đưa chúng sanh
khỏi biển khổ sông mê, là ngọn đèn sáng soi miền hắc
ám, là liều thuốc chữa được muôn ngàn bệnh tật, là chiếc
búa sắt đập tan rừng phiền não, là lưỡi dao bén cắt đứt
lưới vô minh".
-
Sự sai khác giữa
tánh thông minh hiểu biết của đời và trí-tuệ của Phật
Khi nói đến
trí-tuệ, nhiều người tưởng lầm trí-tuệ theo nghĩa trong
đạo Phật cũng như sự thông minh hiểu biết của thế gian,
nhưng chỉ khác là trí-tuệ của Phật rộng rãi, sáng suốt
hơn. Thật ra, sự thông minh hiểu biết của thế gian và trí
tuệ của Phật có nhiểu điểm sai khác. Do sự sai khác đó,
giáo lý kinh điển Phật giáo phân biệt hai thứ trí tuệ:
Trí-tuệ thế gian và trí-tuệ trong đạo Phật. Trí tuệ thế
gian: là cái biết của thế gian, cái biết còn nhiều sai lầm,
sơ sót khiến cho người ta cứ trôi lăn mãi trong ba cõi sáu
đường.
Trí-tuệ thế
gian có thể chia làm hai thứ:
-
Có thứ thông minh
láu lỉnh, thấy rộng biết nhiều, nhưng bất thiện; nó chỉ
biết phụng sự cho dục vọng, ích kỹ, thỏa mãn bản ngã
hẹp hòi, làm tay sai cho cái ác. Cái biết nầy thật làn nguy
hiểm hơn cả cái ngu si nữa, vì nó làm cho con người mất
hết cả lương tri, ác hơn cầm thú. Cho nên Đức Phật bảo
rằng cái thông minh nầy là một cái nạn lớn trong tám nạn.
-
Có thứ thông minh
mẫn tiệp, hiểu biết đâu là thiện nên làm, đâu là ác
nên tránh, biết làm những điều lợi ích cho nhân quần xã
hội. Tuy thế cái biết này không giúp cho con người thoát
ra ngoài vòng khổ não, luân hồi. Vì thế cho nên gọi là trí-tuệ
thế gian.
Trí-tuệ
trong đạo Phật: Có hai thứ:
-
Hữu lậu trí: cái
trí chưa có năng lực đoạn các phiền não hữu lậu. Nghĩa
là trong lúc ở địavị phàm phu tu nhơn, tuy dùng trí-tuệ
quán sát thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường pháp
vô ngã, nhưng rồi lúc nào cũng thấy là tịnh, là vui, là
thường là thật ngã, còn bị phiền não hữu lậu lấn áp,
không thể phá trừ được.
-
Vô lậu trí: cũng
gọi la Bát nhã trí; Trí nầy đã phá trừ các phiền não hữu
lậu, đạt đến chỗ rốt ráo thanh tịnh, nhưng chỉ khi đặng
thánh quả mới có, trí nầy có hai phần:
-
Về phương diện
"thể" tức là căn bản trí, cũng gọi là thật trí, vô phân
biệt trí, như lý trí, chơn trí v.v… Kinh nói:"Như Lai dùng
căn bản trí (vô phân biệt trí) duyên chơn như, tâm và cảnh
không hai, không có năng sở", hay nói:"Dùng thật trí thấy
rõ thật tướng của các pháp".
-
Về phương diện
"dụng", tức là hậu đắc trí. Sau khi đặng căn bản trí
rồi mới có trí nầy, cũng gọi là quyền trí, sai biệt trí.
Kinh nói:"Đức Như Lai dùng quyền trí, thấu rõ các pháp sai
biệt, giáo hóa chúng sanh".
-
Công năng của
trí-tuệ
Người ta sống
trong đời như thể đi trong đêm tối, như chèo ghe giữa biển
mênh mông, không biết đâu là bờ bến. Trí-tuệ thế gian
là ngọn đèn soi sáng khoảng đường ta đi, là địa bàn chỉ
phương hướng cho ta đến. Người hơn vạn vật, làm chủ
được muôn loài là nhờ trí-tuệ, nền văn minh tiếnh bộ
về vật chất của nhơn loại như ngày nay cũng nhờ trí tuệ.
Nhưng dù văn minh
đến đâu thì loài người cũng không vượt thoát được cảnh
giới Ta-bà này, cũng vẫn còn đau khổ, vẫn còn chịu sự
chi phối của bệnh tật, già yếu, chết chóc, sầu thương…
Muốn thoát khỏi
cảnh khổ thế gian, phải nhờ trí-tuệ của Phật. Trí-tuệ
của Phật có nhiều công năng, diệu dụng khác với thế gian
trí. Dựa theo tánh cách của công năng, diệu dụng ấy. Duy
thức học chia trí-tuệ ra làm bốn loại, có bốn tên khác
nhau: Khi ở địa vị phàm phu, còn trong vòng mê muội, thì
mỗi người có 8 thức và 51 món tâm sở, đến khi chứng đặng
Thánh vị thì tâm thức và 51 món tâm sờ ấy đều chuyển
thành trí. Thức thứ 8 là A-lại-gia, có công năng gìn giữ
thân mạng, chủng tử và thế giới. Khi đạt đến địa vị
vô lậu thì thức này biến thành "đại viên cảnh trí":Trí
sáng suốt như bức gương lớn và tròn đầy, chỉ thị cho
thể tánh chơn như.
Thức thứ 7 là
Mạt-na, có công năng thường chấp ngã, khi đạt đến địa
vị vô lậu, biến thành "bình đẳng tánh trí": nhận thức
các pháp là đúng với tánh bình đẳng vô giá của nó.
Thức thứ 6 là
ý thức có công năng phân biệt so đo, khi đạt đến địa
vị vô lậu, biến thành "diệu quán sát trí": Năng lực quán
sát thần diệu.
Năm thức trước
(Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức)
có công năng tiếp xúc trần cảnh, khi đạt đến địa vị
vô lậu, biến thành "thành sở tác trí": Có năng lực nhận
thức cùng khắp, thành tựu mọi công việc.
-
Gương trí-tuệ
của Đức Bổn Sư Thích Ca
Đức Phật,
cũng được gọi là đấng Giác-ngộ. Danh từ này được nhân
loại từ xưa đến nay công nhận và tôn xưng.
Đức Phật Thích
Ca, ngay từ khi còn thơ ấu đã tỏ ra trí-tuệ hơn người.
Lúc mới 7 tuổi, một hôm đi xem lễ cày, thấy cảnh tương
tàn tương sát giữa sanh vật, Ngài nhận chân được nỗi
khổ của kiếp sống, và cái định luật khắc nghiệt của
cõi đời là sự sống chồng lên sự chết của muôn loài
muôn vật. Ngài chỉ học một mà biết mười, nên đã làm
cho các vị giáo sư, phải ngạc nhiên và bái phục, tôn Ngài
lên làm thầy dạy lại họ. Mỗi lần dạo thăm một cửa
thành là Ngài tìm được một sự thật đen tối của cõi
đời:Nào đau, nào già, nào chết. Nhưng biết sự thật ấy
không phải để mà biết, hay đành xuôi tay bất lực, hay khóc
than một cách tiêu cực. Ngài không dừng cái biết của Ngài
tại đó, mà còn đẩy xa ánh sáng trí tuệ của mình, tìm
tới nguyên nhân đau khổ. Tìm được nguyên nhân đau khổ
rồi, Ngài lại tìm phương pháp để dứt trừ nguyên nhân
đau khổ. Đến đó Ngài cũng chưa chịu dừng nghĩ, mà còn
tìm một cảnh giới an vui vĩng cửu. Tất nhiên công cuộc
tìm tòi và thành tựu mỹ mãn ấy không phải dễ dàng. Ngài
phải rời bỏ tất cả những gì quý báu thân yêu, lẵn lội
tìm thầy, tìm bạn để học hỏi, đi hết xứ này đến xứ
khác, nghe ờ đâu có một vị đạo sĩ, triết gia thông minh
xuất chúng là Ngài đến thụ giáo, không quản ngại đường
sá xa xôi, núi rừng hiểm trở. Nhưng đến đâu, Ngài cũng
thấy cái biết của họ chưa tột cùng, còn có những nổi
thắc mắc chưa được giải quyết. Trước tình thế ấy,
đành chịu đầu hàng vô minh chăng?-Không thể như thế được!Ngài
quyết tâm phá tan màn vô minh mới thôi! Không thể nhờ ai
dạy cho mình phương pháp diệt khổ hoàn toàn, đem vui viễn
được, thì Ngài tự mình tìm lấy. Từ đó, ngày đêm Ngài
tham thiền, nhập định quên ăn bỏ ngủ, trong suốt 49 ngày
dưới gốc Bồ đề. Và một buổi bình minh kia, Trí-tuệ của
Ngài đã bừng sáng, chiếu khắp mười phương, soi thấy suốt
từ quá khứ đến vị lai, thấy được bản thể của vũ
trụ rõ ràng như thấy bàn tay mình. Từ đó, Ngài đã thành
đấng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
-
Người Phật tử
phải trau dồi trí-tuệ như thế nào trong đời sống hằng
ngày?
Mỗi chúng
ta đều có sẵn cái mầm trí-tuệ, cái chất trí-tuệ của
Phật. Nhưng cái mầm ấy không được vun trồng, săn sóc,
thiếu đất, thiếu nước, thiếu không khí nên không nẩy
sanh được cây Bồ đề; cái chất trí-tuệ ấy, như ngọc
lẫn trộn trong đá, không được mài dủa nên ánh sáng không
phát ra.
Muốn có được
trí-tuệ như Phật, chúng ta phải tu theo các pháp mà Phật
đã chỉ bày. Những pháp này nhiều không xiết, nhưng chúng
ta nên lựa vài pháp môn thông thường có thể thực hiện
được trong đời sống hằng ngày của chúng ta.
Trước tiên chúng
ta phải biết nghe, biết thấy (Văn). Không phải chỉ nghe những
điều thiết yếu của Phật dạy, thấy những điều thiết
yếu trong kinh điển là đủ. Trong đời sống hằng ngày, chúng
ta có thể nghe thấy những điều bổ ích quanh ta.Nói một
cách khác là ta phải luyện khiếu quan sát để rút ra những
bài học Phật pháp quý báu. Trong khi nghe, thấy, quan sát, chúng
ta cố gắng đừng để cho dục vọng, ích kỷ dính vào cái
thấy, cái nghe, cái quan sát của ta. Đừng yêu, đừng ghét,
đừng thiên vị cái mà dục vọng, lòng tư kỷ yêu ghét thiên
vị. Nói một cách khác là đừng để cho cái "ta" hẹp hòi
bắt buộc ta chỉ mở mắt nhìn cái nó thích, nghe cái nó ưa,
và nhắm mắt bịt tai, không cho lọt vào mắt ta, tai ta cái
nó không ưa, không thích. Đừng sợ sự thật, đừng sợ ánh
sáng, nhất là khi sự thật ấy có thể làm mất lòng "cái
ta", khi cái ánh sáng ấy làm chói mắt "cái ta". Ở đời biết
bao nhiêu người có mắt không thấy, có tai mà không nghe, vì
mắt, tai bị cái màn của thói quen, thành kiến, quyền lợi,
thất tình bản ngã che lấp.
Vậy trước khi
nghe, khi nhìn, hãy vén cái màn đen tối ấy lên đã.
Nghe thấy, quan
sát một cách sáng suốt, khách quan cũng chưa đủ để thấy
rõ được sự thật nằm bên trong sự vật. Phải dùng trí
để suy nghiệm. (Tu) xét soi tất cả mọi khía cạnh, chia sẽ
sự vật để thấy được cái lõi, cái nguyên lý của nó.
Phải luôn luôn đặt những câu hỏi:"Vì sao", "thế nào", "rồi
sao nữa". Bất luận một lời, một cử chỉ, một hành động
gì, trước khi làm, ta cũng phải dùng trí-tuệ để soi xét
cho thấu đáo ngọn ngành. Thí dụ khi ta thích ăn ngon, thích
ngủ nhiều, ta phải tự hỏi xem những tánh xấu ấy rồi
sẽ đưa đến kết quả gì, có làm cho ta tiến bộ hay thoái
hóa; ta nhận xét xem có ai thích ăn, ngủ nhiều mà thành tựu
trong đời họ không. khi ta muốn đắm mình vào cờ bạc rượu
chè, hút sách, ta phải tự hỏi xem có người nào mê say những
thứ ấy mà thân hình không bạc nhược, tinh thần không sa
đoạ, gia đình không tan nát không. Khi ta nói dối trá, lừa
đảo người nầy, bóc lột kẻ khác, ta hãy nghiệm xem kết
quả của những hành động ấy sẽ thế nào, người ta co
tín nhiệm ta mãi chăng, ta có được người đời kính mến
chăng, ta có được mãi mãi yên thân với những hành động
xấu xa ấy chăng. Khi ta nóng giận, kiêu mạn, ta hãy hồi tam
nghĩ lại xem những tánh xấu ấy đã tàn hại cuộc đời
chung và đời riêng tới mức nào. Nếu dứt trừ được những
tánh ấy, tâm hồn ta sẹ nhẹ nhàng, thư thái như thế nào,
cuộc sống giữa xã hội sẽ dễ thở, an vui như thế nào?
Tóm tắt một lời, là phải dùng trí tuệ trong mọi ý nghĩ,
lời nói, cử chỉ, hành động trong mọi địa hạt, hoàn cảnh,
trong mọi thời, mọi thế. Hãy nên nhớ luôn rằng si mê là
gốc của muôn tội lỗi, trí-tuệ là gốc của muôn hạnh
lành. Tổ sư có dạy một câu rất thâm thúy:"Bất úy tham,
sân khởi, duy khủng tự giác trí" (không sợ tham sân nổi
dậy, mà chỉ sợ trí-tuệ, tự giác chậm chạp, không phát
lộ). Nói một cách khác là ta hãy luôn luôn cảnh giác, tỉnh
táo, sáng suốt, dùng đuốc trí-tuệ soi sáng luôn luôn đời
ta. Hãy làm cho trí-tuệ của ta luôn luôn bừng dậy bằng những
câu hỏi về nguyên nhân, kết quả, thực tại, quá khứ, tương
lai… Hỏi luôn hỏi mãi, không bao giờ chưa rõ mà thôi hỏi.
Không bao giờ chịu nhận một lời giải đáp nửa chừng mà
không tìm cách làm cho nó đầy đủ, rốt ráo. Hỏi mãi, hỏi
hoài, hỏi cho đến bao giờ không còn gì để hỏi nữa mới
thôi.
Nhưng ở đây
chúng ta cũng nên tỉnh taó, đề phòng những cạm bẫy nguy
hiểm của dục vọng của cái "Ta", của Vô minh, nghĩa là có
những câu giải đáp như những liều thuôc ngủ, không giải
đáp gì cả mà chỉ thoa dịu, vỗ về ru ta ngủ, để ta đừng
hỏi nữa. Có những câu giải đáp không trả lời thẳng cho
câu hỏi để mở rộng sự hiểu biết, mà chỉ nhằm tâng
bốc "cái ta", làm thỏa mãn dục vọng, nâng cao cái ngã mạn,
ngã ái, khiến cho lý trí ta mỗi ngày mỗi lu mờ, không còn
khả năng sáng suốt để nhận rõ đâu là phải, đâu là trái,
đâu là hay, đâu là dỡ nữa.
Nhưng ngược lại
cũng nên đề phòng một khuyết điểm thứ hai là sự ham chuộng
tìm biết sự thật để thỏa mãn tánh tò mò, cái biết suông,
biết để mà biết, cái biết vô trách nhiệm.
Cái biết của
người trau giồi trí-tuệ, là cái biết dựa lên tình thương,
lên từ bi, cái biết làm thế nào cho mình, cho nhân loại,
chúng sanh thoát ra ngoài vòng đau khổ, cái biết đem lại an
vui cho tất cả, cái biết của"xuất thế gian trí".
Biết chân chính
cũng chưa đủ. Cần phải thực hành theo cái biết ấy (Tu).
Biết, mà có thật hành, mới có thật nghiệm; có thật nghiệm,
thật chứng mới thật là biết. Thật hành là cái lò để
luyện thép trí-tuệ, là viên đá để mài ngọc trí-tuệ.
Không thật hành thì cái biết ấy chỉ là cái suông, không
đủ sức để đuổi xa tà niệm, phá tan màn vô minh, thân
chứng lý vô ngã, thể ngộ pháp vô sanh.
Muốn trau dồi
trí-tuệ cho nó kết quả, người Phật tử phải thật hành
theo pháp tam vô lậu học:Giới, định, huệ.
-
Giới là ngăn chận,
đón giữ tà niệm, vọng tâm không cho nó phát sinh. Giới là
bức thành cao ngăn giặc phiền não, là đạo quân tinh nhuệ
dẹp trừ Ma vương. Giới là bóng đèn bao bọc ngọn đèn trí-tuệ,
không cho gió vô minh làm xao động hay thổi tắt.
-
Định là phép làm
cho thân tâm định tỉnh; là tham thiền nhập định. Định
như ngọn đèn khi hết bị gió làm chao động, tập trung được
ánh sáng, soi chiếu được xa. Định như ly nước được để
yên một chổ, làm cho bao nhiêu cáu bẩn đều lắng xuống
đáy ly. Định như mặt nước hồ im lặng, phẳng lì có thể
phản chiếu được rõ ràng bầu trời cây cỏ…
-
Huệ là sự soi sáng,
sự phát ra ánh sáng với bao nhiêu diệu dụng của nó, làm
cho kẻ tu hành thấy biết được rõ ràng thật tướng của
nhân sinh, vũ trụ nguồn gốc của đau khổ, con đường đưa
đến giải thoát hoàn toàn.
Khi đã biết
được đúng đắn, cùng khắp, rõ ràng như thế, gọi là"Chánh
biến trí". Trí-tuệ khi đạt đến trình độ hiểu biết này
thì nghiểm nhiên trở thành "Chánh đẳng Chánh giác" hay Phật.
Làm được như
thế, gọi là dưỡng tánh trí-tuệ của Phật mà mỗi chúng
ta đều sẵn có ở trạng thái tiềm phục trong ta.