Như
phần đầu đã nói, tánh đây là tánh Phật. Tánh Phật cũng
gọi là Bồ-đề, Niết-bàn, Chơn-tâm, Chơn-như, Viên-giác
v.v…
Tánh Phật
không có một chút cáu bẩn mà hòan tòan trong sạch; tánh Phật
không giới hạn mà rộng rãi mênh mông như vũ trụ, tánh Phật
không đứt đọan, mà vĩnh viễn trường tồn như thời gian:
tánh Phật không có ngược điểm mà đầy đủ công năng,
diệu dụng.
Tánh Phật
có nhiều đặc điểm, có nhiều màu sắc, có nhiều khía cạnh,
không thể nói xiết được. Sau đây chúng tôi chỉ trình bày
một số ít những đức tánh Phật của các kinh điển thường
nói đến thôi.
Từ
Bi
Định
nghĩa
Từ bi là
do hai chữ" "Từ" và "Bi" ghép chung lại. Theo trong kinh Phật,
"Từ" la lòng thương yêu, thường đem vui cho tất cả chúng
sanh (Từ năng dữ nhất thế chúng sanh chi lạc)."Bi" là lòng
thương xót, thương dứt trừ đau khổ cho hết thảy chúng
sanh (Bi năng bạt nhứt thế chúng sanh chi khổ). Trong "Tứ vô
lượng tâm" (bốn món tâm rộng lớn không lường được),
thì Từ-bi đứng đầu. Hai chữ Từ –bi sắp theo văn phạm
Trung hoa, thì ý nghĩa không nghịch, nhưng theo tiếng Việt chúng
ta thì nên để Bi trước và Từ sau, vì "Bi" là nhân mà "Từ"
là quả, cũng như "xả là nhân mà hỷ là quả". Tại sao thế?-Vì
nếu có lòng thương yêu, muốn ban vui cho chúng sanh, trong khi
họ đang bị đau khổ dày vò, thì cái vui ấy chỉ là cái
vui gắng gượng. Vậy muốn cho họ hưởng sự vui vẻ đầy
đủ, trước phải trừ giùm đau khổ cho họ, rồi cho vui.
Như thế, cái vui mới được hòan tòan.
Tánh chất
của Từ Bi
Từ-bi
rất bao la và bình đẳng
Trong đời
hay trong các học thuyết, tôn giáo khác cũng thường nói đến
tình thương yêu, lòn gbác ái. Nhưng những danh từ nầy chứa
đựng một nội dung hẹp hòi, có khi đó chỉ là tình yêu
thương vợ con, gia đình quyến thuộc, bạn bè; rộng hơn thì
ra đến quốc gia, chủng tộc là nhiều. Chũ Từ-bi của đạo
Phật không có phạm vi, nó bao la, vô tận. Nó lan từ gia đình,
xã hội, chủng tộc, nhân loại ra đến toàn thể chúng sanh,
cây cỏ. Nó không có thân sơ, bạn thù, xa gần, mạnh yếu;
nó lan bằng như nước, chỗ nào thấp thì nước chảy đến
trước, nhận được nhiều, chổ nào cao thì chảy đến sau,
nhận ít, nhưng bao giờ cũng đồng đều ở trên mặt. Kẻ
nào đau khổ nhiều thì được cứu nhiều, kẻ nào đau khổ
ít thì cứu ít, nhưng mục đích bao giờ cũng làm cho mọi
người, mọi vật đều thoát khổ và yên vui bằng nhau. Lòng
Từ-bi rất bình đẳng, không có cao hạ, gần xa, nặng nhẹ.
Nhưng vì chúng sanh có loại khổ nhiều, có loại khổ ít,
nhân loại cũng có kẻ cực nhiều, có kẻ cực ít, cho nên
lòng từ-bi cũng tùy theo trường hợp, tùy theo căn bịnh, mà
gia giảm ít nhiều để san bằng biển khổ. Như thế, ta nhận
thấy rằng tinh thần từ-bi bao giờ cũng bình đẳng, nhưng
trong thực hành thì có sai khác tùy trường hợp, có nơi cần
trút nhiều tình thương, có nơi vừa phải, có nơi ít. Và
đó, mới thật là bình đẳng.
Từ-bi
rất sáng suốt.
Từ –bi
không những bao la, bình đẳng, mà còn sáng suốt vô cùng.
Lòng thương ở ngoài đời có nhiều khi rất mù quáng. Khi
thương thì trái ấy cũng tròn, khi ghét thì bồ hòn cũng méo.
Thương thì xấu cũng thành tốt, ghét thì tốt cũng hóa xấu.
Nhất là tình yêu, lại càng mù quáng hơn. Trong báo chí, không
ngày nào là không có năm, ba vụ chém nhau, giết chết nhau
vì tình yêu. Tình yêu và thù oán đi song song nhau. "Không yêu
được thì ghét", một nhà tâm lý Pháp đã nói rất đúng
như thế. Tình yêu thương giữa đời sở dĩ mù quáng như
thế, là vì nó xuất phát từ thất tình lục dục, là vì
nó dựa lên tình thương mình, lên cái ngã.
Trí tuệ
của Phật đã đánh tan cái ngã, cho nên Từ-bi của Phật không
dựa lên cái ngã hẹp hòi. Do đó, từ-bi rất sáng suốt. Từ-bi
nhờ trí-tuệ soi sáng, nhận thấy được rằng toàn thể mình,
mình là toàn thể; chúng sanh mặc dù chia ra làm sáu loại:
Thiên, Nhân, A-tu-la, ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, nhưng tựu
trung vẫn đồng một bản thể như nhau như chất ướt mặc
dù khi đông thành nước đá, khi tan thành nước, khi biến
thành hơi, khi tụ thành mây, khi hóa thành mưa, cũng có chung
một tánh: Tánh ướt. Chúng sanh từ vô thi, quay lộn trong sáu
đường, tiếp nối muôn triệu kiếp, đã từng làm cha mẹ
anh chị em, thân bằng quyến thuộc của nhau, cho nên phải
thương yêu nhau.
Nói một
cách tổng quát thì Từ-bi là tình thương phát xuất từ sự
sống, trở lại thương sự sống và quyết tâm trừ dứt đau
khổ đã bám víu vào sự sống, trong muôn hình vạn trạng.
Sự sống đã bao la bình đẳng, sáng suốt, thì từ-bi cũng
bao la, bình đẳng, sáng suốt.
Công năng
của Từ-bi
Từ-bi không
phải là một lý thuyết suông; không phải là một lý tưởng
tốt đẹp để cho người đời nhìn ngắm. Nó không phải
là một sức mạnh thụ động, mà là cả một sức mạnh hoạt
động không ngừng. Từ-bi là nguồn gốc của muôn hạnh lành;
những hành động tốt đẹp đều do lòng Từ-bi mà ra cả.
Trước hết, vì từ-bi nên ta bố thí, do bố thí mà dứt được
lòng tham lam, bỏn xẻn. Vì từ-bi nên ta trì giới, do trì giới
mà ta không sát sanh hại vật. Vì từ-bi nên ta nhẫn nhục,
nhờ nhẫn nhục mà ta dập tắt được tánh nóng giận, thù
hằn. Vì từ-bi nên ta tinh tấn, do tinh tấn mà ta trừ được
lười biếng. Vì từ-bi nên ta chuyên tâm định tĩnh, do định
tĩnh mà ta hết bối rối loạn động. Vì từ-bi nên ta luyện
trí-tuệ, do luyện trí tuệ mà mê lầm tiêu tan.
Nhờ từ-bi
mà muôn vật đỡ bị sát hại, đau đớn; nhờ từ-bi mà nhân
loại đỡ chiến tranh; nhờ từ-bi mà loài người bớt thù
oán; nhờ từ-bi mà người nghèo bớt đói lạnh, người giàu
bớt tham lam; nhờ từ-bi mà người ngu được khai ngộ, người
độc ác trở lại hiền lành, người sợ hãi trở lại yên
tâm.
Tóm lại,
nhờ từ-bi mà cõi Ta Bà nầy bớt tiếng than khóc, bể sâu
vơi nước mắt, nụ cười nở lại trên môi.
Gương
Tư-bi của Đức Bổn Sư Thích Ca
Để có một
bằng chứng cụ thể về lòng từ-bi và công dụng của nó,
chúng ta hãy hướng nhìn lại đời sống của đức Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài đã vì lòng từ-bi, muốn cứu độ
chúng sanh đau khổ nên Ngài đa thành Phật. Từ khi lên bảy,
trong cái tuổi mà người ta thường bảo là tuổi không biết
tội nghiệp (Cet âge sans pitié), chính lúc ấy Đức Thích Ca
đã rơi lụy xuống đường cày, khi Ngài nhận thấy cảnh
giành giựt giết hại nhau giữa sanh vật để bảo tồn sự
sống riêng của chúng. Càng lớn lên, lòng thương của Ngài
càng mở rộng. Ngài không thể thấy một con chim bị bắn
mà cứu, một con cừu bị què chân mà không bồng nó lên.
Vì lòng thương rộng lớn, Ngài lìa bỏ tình thương nhỏ hẹp
của gia đình, lìa bỏ ngôi vàng lộng lẫy, lìa bỏ danh vọng
cao sang; chính vì lòng từ-bi mà Ngài đã nằm sương gối tuyết,
không quản gian nguy trong lúc đi tìm đạo cứu đời. Chính
vì lòng tử-bi mà 49 năm Ngài không ngừng thuyết pháp một
ngày. Chính vì lòng từ-bi mà Ngài đặt gót chân trên khắp
cõi An Độ rộng lớn. Chính vì lòng từ-bi mà Ngài đã quên
già yếu, thuyết pháp độ sinh cho đến phút cuối cùng trước
khi lìa thế. Chính vì lòng từ-bi mà Ngài đã phát đại nguyện:"Ta
nguyện đem thân ta chịu hết cả hằng hà sa số khổ đau
của chúng sanh" hay:"Nếu còn một chúng sanh nào chưa thành
Phật thì ta quyết chưa thành Phật". Chính vì lòng từ-bi mà
Ngài đã tuyên bố những câu nói rất hùng dũng:"Nếu ta không
vào địa ngục thì ai vào địa ngục?" hay những câu nói đầu
khoang hòa, độ lượng, đã và sẽ là khuôn vàng thước ngọc
cho muôn đời:"Với người dữ, ta nên ở lành, với người
câu nệ, ta không nên câu nệ, với người gian tham, ta chớ
nên gian tham. Hãy lấy từ-bi đáp lại nộ khí, lấy thành
thực đáp lại điêu ngoa, lấy lành đáp dữ".
Người
Phật tử phải nuôi tánh từ-bi như thế nào trong đời sống
hàng ngày
Tánh từ-bi
đã nằm sẵn trong tâm mỗi chúng ta. Chúng ta không cần cần
phải cầu xin, mua chuộc nó ở một vị chúa tể nào, thần
linh nào cả. Hạt giống ấy đã nằm sẵn trong tâm hồn chúng
ta. Nhưng nó đang bị phủ lấp dưới bao lớp sân hận, tham
lam, ích kỷ, nên không thể đâm chồi nẩy mộng, trồi đầu
lên được. Vậy, công việc đầu tiên của người dưỡng
tánh từ-bi là phải phanh gở lần những lớp chương ngại,
để cho mầm từ-bi nẩy lên. Khi nó đã nhô lên khỏi mặt
đất, chúng ta phải tìm mọi nhân duyên, mọi cơ hội thuận
tiện cho nó chóng đâm chồi nẩy lá. Công việc không phải
chỉ trong năm ba ngày, một tháng, một năm, mà suốt cả đời.
Cũng không phải chỉ săn sóc nó trong những cơ hội thuận
tiện lớn lao, mà bỏ mặc nó trong những hành vi, cử chỉ
nhỏ nhặt tầm thường hằng ngày. Có nhiều người có thể
làm được những việc từ thiện lớn lao, như mở nhà thương,
phát chẩn bần, tốn từng chục vạn bạc, thế mà khi thấy
một người đau, một người đói hay lạnh rênh xiết trước
mặt mình, lại đành đoạn làm ngơ. Có người có thể nhảy
xuống sông cứu người chết đuối, bỏ bạc ngàn mua chim,
mua cá phóng sinh, thế mà vẫn điềm nhiên ngồi nhìn một
con kiến vô tội sắp chết chìm trong ly nước, hay một con
chuồn chuồn sắp bị đứa nhỏ của mình ngứt cánh ngứt
đuôi. Chúng ta hãy coi chừng, hãy tìm hiểu lý do của tâm
trạng hành động nói trên. Có khi đó là do quan niệm sai lầm
tưởng rằng làm những việc vĩ đại, lớn lao mới là từ
thiện, mới là từ bi, còn những việc nhỏ nhặt thì ai làm
cũng được, có làm hay không làm cũng không có hậu quả gì;
có khi đó là do tánh háo thắng, ham danh chuộng lợi mà làm.
Nếu thế thì không phải là dưỡng tánh từ bi, mà trái lại
là vùi dập nó sâu thêm dưới lớp si mê, dục vọng của
lòng mình.
Muốn dưỡng
tánh từ bi, ta phải làm tất cả việc lành, tránh các việc
dữ, dù to dù nhỏ, dù trước mặt muôn người, hay chỉ một
mình ta, dù được khen hay bị chê, dù dể hay khó.
Muốn dưỡng
tánh từ bi ta phải tiếp xúc, gần gũi với những cảnh khổ
đau của đời. Những người ở luôn trong những dinh thự
nguy nga, khó biết được cái cảnh nửa đêm chồn con dưới
túp lều tranh khi mưa dột, cái cảnh trốn nắng dưới mái
nhà tôn khi nửa trưa, Những người luôn luôn ngồi trên xe
ngựa, khó nghe được những tiếng rên khóc bên lề đường,
trong xó chợ. Những người ăn mặc ấm áp, sang trọng khó
cảm nhận được cái lạnh buốt đến tận xương tủy của
những kẻ rách rưới trần truồng. Những kẻ luôn luôn ngồi
trước bàn tiệc cao lương, mỹ vị, khi nghe được những
tiếng rú, tiếnt thét hãi hùng, những cái dãy dụa đớn đau
của những gia súc bị làm thịt dưới nhà bếp. Cho nên, muốn
trao dồi tình thương, phải gần gủi với cảnh khổ. Thái
tử Sĩ-đạt-ta ở trong cung vua, mà cứ nằn nặc xin Phụ Vương
ra xem ngoài bốn cửa thành là vì thế. Có thấy, có cảm,
có chia xẻ cái khổ cho nhau, mới thương nhau. Có thương nhau
mới tìm cách cứu khổ cho nhau. Có cứu khổ được khổ cho
nhau thì tình thương mới thêm phấn khởi và phát triển. Tình
thương càng phấn khởi và phát triển thì ta còn cám ơn những
kẻ đau khổ đã tạo nhân duyên cho tình thương của ta mở
rộng và hoạt động mạnh mẽ. Chính những kẻ đau khổ là
phước điền nuôi dưỡng lòng từ bi phát sinh và lớn mạnh.
Đất hoạt động, đất sống của từ bi là cảnh khổ. Ly
cảnh khổ, cây từ bi sẽ mất sanh lực và không thề đâm
hoa kết trái được. Cảnh khổ không phải chỉ có trong loài
người, mà chung cho cả sinh vật. Cho nên người dưỡng tánh
từ bi không phải chỉ cứu giúp loài người đỡ khổ mà
còn biết thương yêu gia súc, xem chúng như những người giúp
việc trong nhà, tránh làm đau khổ chúng một cách vô ích.
Hãy nghĩ rằng chúng cũng có tình mẫu tử, có dạ trung thành,
biết đau khổ, biết lo sợ. Chúng ta không nên hất hủi, hành
hạ chúng nó. Chúng ta cũng không nên tìm thú vui trong những
cuộc săn bắn hay câu cá. Những ai có thể vui thích được
trước cảnh tượng đau đớn hãi hùng của những con thú,
con chim, con cá, bị bắn giết, sẽ quen dần với những cảnh
giết chóc, tàn bạo giữa người và người.
Cho đến
cây cỏ, người dưỡng tánh từ bi cũng không nên tàn phá
một cách vô ích. Nên nhớ rằng nó cũng có sự sống, và
đã có sự sống tất nhiên muốn bảo tồn sự sống. Những
kẻ bứng cây sống, trồng cây chết, ngứt hoa, bẻ lá, phá
cành mà không có một mục đích gì cả chỉ để thỏa mãn
cái tánh ưa thích tàn phá, những người ấy cũng đã làm
tổn hại lòng từ bi của mình nhiều lắm. Lòng thương yêu
cây cỏ, giúp cho ta nhận thấy được lẽ huyền vi của sự
sống, thông cảm với cái chung của muôn vật và trực nhận
được cái bản thể của vũ trụ.
Tóm lại,
làm được tất cả các việc trên, từ nhỏ đến lớn, từ
ddễ đến khó, không bao giờ thối chuyển ngã lòng; mở rộng
mãi lòng từ bi cho nó bao trùm được cả pháp giới: Như thế
là dưỡng tánh từ bi của Phật, mà mỗi chúng ta đều có
sẵn ở trạng thái tiềm tàng trong tâm chúng ta.
