QUA
HAI MƯƠI BỐN NƯỚC TRUNG Á
VÀ
VƯỢT QUA TUYẾT SƠN
Từ
Cao Xương, Ngài Huyền Trang đi về phía Tây, sang nước A Kỳ
Ni (huyện Yên Kỳ, xứ Tân Cương). Mặc dù Cao Xương và A
Kỳ Ni là hai nước láng giềng, nhưng đường đi rất nguy
hiểm vì có nhiều bọn cướp hoành hành.
Giữa
đường, Ngài nhận thấy có nhiều thi hài của bọn lái buôn
giàu có, vì muốn vượt đi trước toán đồng hành của mình
để bán cho được giá, nên đã bị bọn cướp giết. Chính
Ngài cũng bị một toán cướp đón đường mãi lộ.
Khi
đến kinh đô A Kỳ Ni, vua nước ấy, cũng là một tín đồ
nhiệt thành, đem cả đình thần ra nghinh đón Ngài và mời
vào cung. Vua truyền cung cấp cho Ngài những thứ cần thiết
để đi đường và tiếp đãi rất chu đáo. Nhưng vua chỉ
hậu đãi một mình Ngài mà thôi, còn những người nước
Cao Xương đi hộ tống, đều không được tá túc và cũng
không được cung cấp ngựa trạm, vì giữa hai nước này thường
hay có những vụ xung đột về biên giới. Ngài Huyền Trang
chỉ nghỉ lại đây một đêm, và sáng hôm sau lên đường
tiếp tục cuộc hành trình.
Ngài
vượt qua con sông lớn Giao Hà, vòng quanh chân núi Ngân Sơn,
và vào nước Khuất Chi (hay Nhục Chi hoặc Quy Tư) nay là huyện
Khố Xá, khu tự trị Duy Ngô Nhỉ.
Khuất
Chi là một nước phồn thịnh, có một nền văn hóa tiến
bộ. Dân nước này theo Tiểu thừa Phật giáo. Chính ở đây,
hai thế kỷ trước đã xuất hiện một vị Tổ sư danh tiếng
là Ngài Cưu Ma La Thập. Vị Tổ sư này, thân phụ là người
Aán Ðộ, thân mẫu là bà công chúa của nước Khuất Chi.
Khi còn nhỏ Ngài sang học đạo ở Ấn Ðộ, đến hai mươi
tuổi Ngài trở về Khuất Chi. Một đạo quân viễn chinh của
Trung Hoa sang xâm chiếm nước này và bắt Ngài về Trung Hoa.
Ở đây Ngài truyền giáo Ðại thừa và phiên dịch kinh điển
từ chữ Phạn ra chữ Hán. Trong số các kinh dịch này, có
bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Ngài
Huyền Trang đến đây chắc không khỏi thành kính gợi lại
kỷ niệm của vị Tổ sư đã cùng một chí nguyện như mình
là du nhập và phiên dịch kinh điển từ Aán Ðộ sang Trung
Hoa.
Vua
nước này, cũng là một tín đồ Phật giáo theo phái Tiểu
thừa. Nghe tin Ngài đến, vua cùng đình thần và tăng lữ trong
xứ ra nghinh tiếp rất trọng thể. Khi đám rước vào thành,
một vị tăng già dâng cho Ngài một liễn hoa tươi, để Ngài
rải trước tượng Phật và làm lễ bái yết.
Ðến
bữa yến tiệc, vua Khuất Chi vì theo phái Tiểu thừa, dọn
các thức mặn, Ngài Huyền Trang đã nhã nhặn từ chối không
thọ lãnh. Do đấy, đã xảy ra sự bất đồng ý kiến về
giáo lý giữa Ngài và vị trưởng lão Hòa thượng rất có
danh tiếng ở đây là Ngài Mộc Xoa Cúc Ða (Mokshagupta). Vị
danh sư này theo phải Tiểu thừa, đã du học ở Ấn Ðộ 20
năm, hiện là quốc sư của vua Khuất Chi.
Vị
trưởng lão Tiểu thừa này dựa vào bộ Câu Xá Luận (Abhidharmakoca
castra) để dẫn chứng cho lý luận của mình. Nhưng Ngài Huyền
Trang trả lời:
–Ở
nước tôi cũng có bộ luận ấy, nhưng tôi nhận thấy cũng
chẳng có gì sâu sắc, nên tôi mới bỏ nước lặn lội sang
Ấn Ðộ để nghiên tầm những kinh luận Ðại thừa như bộ
Du Dà (Yoga castra) chẳng hạn.
Vị
trưởng lão trả lời:
–
Ðại thừa là một phái mới, trái với phái nguyên thủy là
phái theo đúng giáo lý của đức Bổn Sư Thích Ca. Ngài sang
Ấn Ðộ để nghiên cứu những kinh điển Ðại thừa thì
thật là vô ích. Những đệ tử chân chính của Phật không
ai học những bộ kinh luận ấy.
Ngài
Huyền Trang nói lớn:
"Bộ
Du Dà (Yoga castra) do một đai đệ tử hiện thân của đức
Di Lặc nói ra mà Ngài bảo là sai lầm, thì Ngài không sợ
đọa xuống hỏa ngục sao?
Tuy
thế, sự cãi vả về giáo lý ấy không làm cho hai vị cao
tăng đại đức ấy mất lòng trọng nể nhau. Ngài Huyền Trang
ở lại nước Khuất Chi 60 ngày, vì tuyết đang còn bao phủ
núi Thống Lĩnh chưa thể đi được. Trong thời gian ấy, hai
vị thường lui tới đàm đạo giáo lý với nhau. Ngài Huyền
Trang mặc dù không đồng ý về giáo lý Tiểu thừa mà các
vị sư ở Khuất Chi đang tu hành, cũng phải thành thật công
nhận sự tinh thông các kinh điển Tiểu thừa và sự nghiêm
trì giới luật của các vị này. Và vị trưởng lão Mộc
Xoa Cúc Ða cũng thường nói với các đệ tử mình: "Vị Hòa
thượng Trung Quốc này học thức cao rộng khó có người đối
đáp nổi. Sợ rằng ở Ấn Ðộ, vị tất đã có vị học
giả uyên bác nào sánh kịp".
Khi
Ngài Huyền Trang từ giã Khuất Chi, vua nước này cấp cho Ngài
những bộ hạ theo hầu, lạc đà, ngựa, cả một lữ đoàn,
và cùng tăng lữ và tín đồ, tiễn Ngài ra xa ngoài kinh thành.
Ngài
Huyền Trang từ Khuất Chi đi về phía Tây 60 dặm, qua một
sa mạc nhỏ, đến nước Bạt Lộc Già (hay Cô Mặc, tức Bái
Thành và A Khắc Tố thuộc Tân Cương). Ngài trọ ở đấy
một đêm, rồi lại đi tiếp về phía Tây, đến núi Tăng
Sơn thuộc Thông Lĩnh (Thiên Sơn). Ðường đi qua núi này rất
là cheo leo, nguy hiểm, núi cao như chọc trời, quanh năm đều
có tuyết phủ, băng tuyết trùng điệp chạy dài đến chân
trời và lẫn với mây. Có nhiều phiến đá khổng lồ chặn
cả lối đi, muốn vượt qua, thật là nguy hiểm. Suốt ngày,
chỉ nghe tiếng gió reo, và tuyết theo gió, đổ xuống từng
trận. Giá rét căm căm mặc bao nhiêu lớp áo cừu vẫn thấy
lạnh buốt đến xương tủy. Lữ hành phải dò từng bước
một, khi thì bám sát vào vách đá cheo leo, khi thì đu cả người
từ mỏm đá này sang mỏm đá khác.
Không
có một chỗ nào khô ráo, muốn nấu ăn thì phải treo nồi
lủng lẳng giữa hư không, muốn nằm ngủ thì phải trải
chiếu trên băng tuyết. Ðoàn lữ hành của Ngài phải đi trong
bảy ngày bảy đêm mới ra khỏi dãy núi ấy. Ðoàn người
đi hộ tống Ngài, có kẻ không chịu nổi khổ sở, nửa đường
đã bỏ trốn về, có người chết rét ở giữa núi; lừa
và ngựa lại càng chết nhiều hơn. Kiểm điểm lại, chỉ
còn mấy người theo Ngài.
Ra
khỏi Lăng Sơn, Ngài theo dòng sông Cáp Lạp Thập, vượt qua
núi Khách Lạt Côn Luân, đến một cái hồ lớn gọi là Nhiệt
Hải (tức là Issik-kol, thuộc Liên Xô cũ). Hồ này được
gọi tên như thế, vì tương đối ít lạnh hơn các vùng lân
cận và không bao giờ có băng giá. Hồ rộng, chu vi có trên
ngàn dặm, xung quanh bao bọc toàn núi, có nhiều sông, suối,
đổ vào. Nước mặn và màu xanh đen. Nước chảy xoáy và
luôn luôn rạt rào sóng cả. Ngài Huyền Trang đi theo bờ hồ
về phía Tây bắc độ 500 dặm, đến thành Tô Ðiệp (Tokmak,
thuộc Liên Xô cũ). Ngài gặp Ðại vương nước Ðột Quyết
là Diệp Hộ đang đi săn ở đấy. Diệp Hộ là một Ðại
vương (Khan) có rất nhiều uy quyền và nhiều chư hầu trong
vùng Trung Á này. Chính Khúc Văn Thái đã ân cần dâng thư
giới thiệu Ngài Huyền Trang với Diệp Hộ.
Khi
Ngài Huyền Trang đến thì gặp Diệp Hộ đang cùng triều thần
cưỡi ngựa đi săn về. Vị vua này, đầu quấn khăn lụa,
để thòng hai giải dài ra sau, mặc áo choàng bằng sa tanh xanh,
oai phong lẫm liệt ngồi trên ngựa, quanh mình có trên 200 dũng
tướng theo hầu. Những người này để tóc búi, mặc áo choàng
bằng gấm. Theo sau là quân lính cưỡi ngựa, hoặc lạc đà,
mặc áo bằng lông thú hay bằng nỉ, mang giáo mác, cung, tên,
đi thành đoàn dài tưởng không bao giờ hết.
Diệp
Hộ sau khi được giới thiệu của Khúc Văn Thái, mời Ngài
Huyền Trang về doanh trại của mình ở Tô Ðiệp.Vua ở trong
một cái lều bằng nỉ rất lớn, có kết hoa bằng vàng. Vua
ngồi ở giữa và trong cùng, trước mặt là hai hàng dũng tướng,
ngồi xếp bằng trên những chiếc chiếu; sau lưng các vị
tướng này là hai hàng ngự lâm quân, khí giới sáng lòa, nghiêm
chỉnh đứng hầu.
Vua
thiết tiệc khoản đãi Ngài Huyền Trang và các sứ giả của
vua Cao Xương. Chỉ riêng Ngài Huyền Trang được ngồi trên
một chiếc ghế bành có tay dựa, còn những sứ giả khác
thì ngồi chung với các tướng lĩnh. Rượu và những khúc
thịt cừu và bê thui được đặt chồng chất trước mặt
các tân khách. Riêng Ngài Huyền Trang thì vua truyền dọn những
thức chay, như bánh bột gạo, sữa, đường, mật ong, nho.
Trong lúc ăn, có ca nhạc.
Sau
buổi tiệc, vua kính cẩn thỉnh Ngài Huyền Trang giảng cho
một thời Phật pháp. Ngài giảng về thuyết Từ bi và những
phương pháp tu hành để được giải thoát và giác ngộ.
Nghe
xong, vua đứng dậy, đảnh lễ Ngài và với vẻ mặt hoan hỷ,
cam kết xin thọ lãnh những lời Ngài dạy. Nhưng cũng như
vua Khúc Văn Thái nước Cao Xương, vua Diệp Hộ cũng yêu cầu
Ngài đừng tiếp tục cuộc hành trình sang Tây Trúc nữa. Ông
nói:
–Bạch
Pháp sư, đệ tử khuyên Ngài đừng sang Tây Trúc nữa, xứ
ấy mùa đông cũng như mùa hạ khí hậu quá nóng bức. Ðệ
tử sợ rằng Pháp sư sang đến đấy thì mặt mũi Ngài sẽ
tan ra nước mất. Dân cư ở đấy đen đúa và phần nhiều
trần truồng như nhộng, không biết lễ nghĩa là gì. Thật
không đáng cho Ngài phải mệt sức đi đến xứ ấy.
Ngài
Huyền Trang trả lời một cách nhẹ nhàng:
–Tâu
Ðại vương, bần tăng chỉ muốn sang đấy để mưu tầm giáo
lý và thỉnh kinh Phật, chứ không có mục đích gì khác. Bần
tăng nóng lòng muốn đi tìm dấu vết của đức Bổn Sư, xin
Ðại vương hãy cho bần tăng được như nguyện.
Vua
Diệp Hộ không cản trở nữa, và sai quan biên thư gửi gắm
Ngài với các nước chư hầu mà Ngài sắp đi qua, và cho người
thông ngôn đi theo Ngài nữa.
Ngài
Huyền Trang từ tạ vua Diệp Hộ ra đi không ngờ lần ấy
cũng là lần vĩnh biệt, vì mấy tháng sau, vua Diệp Hộ bị
mưu sát, và nước Ðột Quyết hùng mạnh bị chia phân thành
nhiều mãnh.
Từ
giã nước Ðột Quyết, Ngài đi tiếp sang phía Tây, đến Thiên
Toàn (Binggol) là một xứ phì nhiêu, ba mặt đều là đồng
bằng, chỉ phía nam là giáp giới với núi Tuyết. Ở đây
có đến nghìn suối nước (nên mới gọi là Thiên Toàn), khí
hậu điều hòa, đến mùa xuân, cây cỏ đơm hoa, toàn xứ
trông như một bức gấm dệt đủ màu; vua chúa trong vùng này
thường ngự đến đây nghỉ mát. Hươu nai ở đây rất nhiều
và được thảnh thơi rong chơi, vì vua đã có sắc lệnh cấm
dân chúng giết hại chúng, ai trái lệnh sẽ bị xử tử.
Ngài
đi tiếp đến nước Chữ Thì (Tản Mã Nhĩ Hàn hay Samarcand
thuộc Liên Xô cũ). Dân nước này khi theo đạo Phật, khi theo
đạo thờ lửa. Lúc Ngài mới vào nước, một số dân chúng
nắm những thanh củi đỏ đuổi theo Ngài. Vua cũng tiếp Ngài
một cách lạnh nhạt. Nhưng ngày hôm sau, Ngài Huyền Trang xin
phép giảng một thời kinh, và sau khi nghe, vua bỗng đổi thái
độ, tỏ ra rất niềm nở đối với Ngài, và truyền bắt
những kẻ đã nắm lửa đuổi theo Ngài hôm trước đem ra
chặt tay chân. Nhưng Ngài Huyền Trang, động lòng từ bi, xin
vua giảm tội, bằng cách đánh mỗi người mấy trượng thôi.
Sau vụ trừng phạt ấy, dân chúng đủ các hạng, vừa sợ
vừa cảm phục lòng đại độ của Ngài Huyền Trang, đến
xin quy y với Ngài rất nhiều. Ngài liền triệu tập một hội
nghị các tăng già, sắp đặt lại ngôi thứ trong Giáo hội
và chấn chỉnh lại những ngôi chùa đã bị ngoại đạo xâm
chiếm.
Từ
giã nước này, Ngài đi về phía Nam, trên 300 dặm đường
núi non hiểm trở. Dọc đường không thấy có nước và cây
cỏ. Từ đây con đường mỗi lúc một tăng thêm khó khăn,
nguy hiểm, vì là sắp đến gần dãy núi đồ sộ và cao nhất
thế giới là Hy Mã Lạp Sơn.
Trước
tiên, Ngài phải vượt nốt cái đoạn đường khó khăn của
dãy núi Ba Ðạt Khắc là đèo Thiết Môn. Hai bên là vách đá
thẳng vút, cao đến nghìn trượng, giữa chỉ có một lối
đi nhỏ hẹp quanh co, hiểm hóc. Nếu vô ý trật chân, là rơi
xuống hố sâu và thân hình nát như cám. Sắc đá đen xanh
như sắt; ở lối đi vào hang núi ấy có một cái cửa có
hai cánh bằng sắt, ở phía trên cửa có treo nhiều chuông
nhỏ. Ra khỏi núi này, là đến nước Thổ Hòa La (địa giới
nước Apganixtan ngày nay). Ðáng lẽ đi thẳng về phía Nam để
sang Ấn Ðộ, Ngài rẽ về phía nước Tát Già Thì (thuộc
xứ Batriane, nước Apganixtan). Ngài muốn đến thăm vị vua
nước này, là con ruột của vua Diệp Hộ nước Ðột Quyết
và là con rể của vua Khúc Văn Thái, nước Cao Xương. Ngài
đem tin tức và thư từ của hai vị vua này đến cho tiểu
vương Tất Gìa Thì Nhưng, khi Ngài đến đây thì nội biến
trong hoàng cung đang xảy ra. Nguyên là bà vợ của vị vua này
tức là con gái của vua Cao Xương, vừa mất thì vị tiểu
vương này liền lấy một người vợ kế. Bà sau này trước
kia là tình nhân của vị hoàng tử con bà vợ trước, vì thế
bà sau này đã âm mưu giết vua và đặt hoàng tử, tình nhân
của mình lên ngôi. Vị tiểu vương mới này cũng rất hậu
đãi Ngài Huyền Trang. Vua mời Ngài đi đến thành Tiểu Vương
Xá là một nơi có rất nhiều di tích Phật giáo. Thành này
bây giờ đã hoang phế điêu tàn. Nhưng trong thời gian Ngài
Huyền Trang đi qua, thì đây là một thành phố phồn thịnh
có trên một trăm tịnh xá, chứa gần ba ngàn tăng đồ thuộc
phái Tiểu thừa. Trong các chùa có rất nhiều di tích của
đức Phật Thích Ca. Trong số các vị sư ở đây có nhiều
người rất tinh thông giáo lý Tiểu thừa. Chính ở tại đây,
Ngài Huyền Trang đã học hỏi được rất nhiều về những
bộ kinh chính yếu của giáo phái này.
Ở
đây, Ngài gặp được một vị sư trẻ tuổi và thông thái
là Tuệ Tịnh người nước Thổ Hòa La. Vị này tôn Ngài làm
sư phụ và tình nguyện cùng đi theo Ngài sang Aán Ðộ. Ðây
cũng là mọt điều may mắn cho Ngài, vì Ngài sắp vượt qua
Hy Mã Lạp Sơn mà những người theo hộ tống Ngài từ nước
Ðột Quyết thì đã quay về hết cả rồi.
Hai
thầy trò đi về phía đông nam, trèo lên dãy Tuyết Sơn. Con
đường núi này thật muôn ngàn hiểm trở hơn tất cả những
đoạn đã đi qua. Núi luôn luôn có tuyết phủ, vì thế nên
người Trung Hoa gọi là Tuyết Sơn. Sương tuyết phủ mờ tất
cả, người ta có cảm tưởng đi trong trăng mờ; thỉnh thoảng
may ra mới có được một khoảng bằng phẳng độ 4, 5 thước
vuông. Núi lởm chởm nằm ngang lưng trời, mất hút trong mây.
Lạnh thấm đến cốt tủy. Hai người đi như thế trên 2.000
dặm, chịu đựng biết bao gian khổ mới đến được Ba-mi-dăng
(Bamiyan) là một xứ nằm cheo leo trên đỉnh núi, giữa con
đường đi qua Hy Mã Lạp Sơn. Xứ này cũng theo Phật giáo
Tiểu thừa, có độ mười ngôi chùa và mấy ngàn tăng đồ.
Ðến
đây, Tuệ Tịnh người đệ tử mới của Ngài bị vua nước
Thổ Hòa La cho người đến thỉnh về. Tuệ Tịnh đành phải
luyến tiếc từ giã Ngài trở lui.
Từ
đây, Ngài chỉ một mình tiếp tục cuộc hành trình qua núi
Tuyết, đi 600 dặm về phía đông nam, có một lần Ngài bị
lạc trong núi, may nhờ có những người đi săn đưa Ngài ra
đường chính. Sau khi vượt qua Tuyết Sơn, Ngài bắt đầu
đặt chân lên Hắc Lĩnh, tức là những ngọn núi về phía
nam Hy Mã Lạp Sơn, sát biên giới Bắc Ấn Ðộ. Người ta
gọi là Hắc Lĩnh vì đến mùa hạ, tuyết ở trên các ngọn
núi này tan ra, để lộ màu đen của đá, trái với Tuyết
Sơn là những ngọn núi cao luôn có tuyết đóng ở phía Bắc
dãy Hy Mã Lạp Sơn sau khi vượt qua. Hắc Lĩnh, Ngài đặt chân
vào địa đầu biên giới Bắc Aán Ðộ.
Kể
ra từ Cao Xương đến đây, Ngài Huyền Trang đã đi qua 24 nước
lớn nhỏ ở Trung Á, giữa hai biên giới Trung Hoa và Ấn Ðộ;
và đã vượt qua dãy núi cao nhất thế giới là Hy Mã Lạp
Sơn.