THỜI
NIÊN THIẾU
Ðã
mấy hôm rồi, ở chùa Tổ Ðình tại thành Lạc Dương, đông
đô của Tùy Dưỡng Ðế đang có cuộc sát hạch để chọn
27 vị sư tăng. Sự sát hạch chư tăng để độ điệp đã
thành lệ luật của triều đình từ mấy đời vua trước.
Ai có một trình độ học thức khá, có đạo hạnh, tinh thông
kinh điển mới được triều đình cho làm Tăng, còn không
thì phải hoàn tục. Lần này số chư tăng ghi tên tham gia có
đến vài trăm người. Vị chủ khảo của triều đình cử
đến là Trịnh Thiện Quả, một người tinh thông kinh điển,
lại biết xem tướng mạo mà đoán biết tương lai của người.
Ðã mấy hôm rồi, mỗi lần nhìn ra sân chùa, ông lại thấy
một cậu bé độ 13, 14 tuổi tướng mạo khôi ngô đang đi
qua đi lại, dáng điệu băn khoăn trông ngóng. Ông bảo lính
gọi cậu bé vào, hỏi:
–
Ngươi là con cái nhà ai? Ðến đây làm gì?
–Thưa
tôi họ Trần, tên Vĩ, con thứ tư của ông Trần Huệ, ở
huyện Hầu Thị, châu Lạc Xuyên. Tôi muốn được độ điệp
làm Tăng, đã có đơn xin dự thí, nhưng vì nhỏ tuổi, không
được chấp nhận.
–Phải,
ta có thấy đơn của ngươi. Nhưng ngươi mới 13 tuổi, nhỏ
quá, chưa có thể vào dự thi được.
Trịnh
Thiện Quả, nghĩ một giây lát, nhìn ngắm cậu bé, rồi hỏi
tiếp:
–Ngươi
đã có nghiên cứu kinh điển nhà Phật chưa?
–Thưa,
tôi có người anh thứ hai là Trần Tiệp làm Hòa thượng ở
chùa Tịnh Ðộ, đất Lạc Dương này. Tôi thường đến đấy
để học hỏi kinh điển.
–Ngươi
muốn xuất gia để làm gì?
–Thưa,
tôi muốn: xa, nối chí Phật Như Lai; gần, hoằng dương chánh
pháp.
–Thế
thì ngươi sẽ được như ý. Ta đặc cách độ cho người
làm Tăng.
Trịnh
Thiện Quả đã làm đúng theo lời mình, vì nhận thấy cái
khí phách, trang mạo khác thường và cách đối đáp trôi chảy
của cậu bé. Ðể các vị giám khảo khỏi phản đối, ông
giải thích:
Tùng
nghiệp mà học cho thành thì dễ, chứ phong cốt luyện được
thì khó. Người này, nếu làm Tăng thì tất sẽ thành một
bực cao tăng, đại đức trong chốn Thiền môn, không ai sánh
kịp.
Trịnh
Thiện Quả đã tiên đoán không sai, cậu bé ấy sau này chính
là Pháp sư Huyền Trang, Ðường Tam Tạng, vị sư Trung Hoa danh
tiếng nhất ở thế kỷ thứ bảy Tây lịch, người đã đi
50.000 dặm đường bộ, trải qua 128 nước lớn nhỏ, 17 năm
lưu học ở Ấn Ðộ, 18 năm trước tác, phiên dịch không
gián đoạn ở Trung Hoa, tổng cộng dịch được 75 bộ kinh,
gồm 1.335 quyển. Một nhà sư đã được toàn thể vua chúa
thời bấy giờ kính trọng, được toàn thể dân chúng Ấn
Ðộ và Trung Hoa hoan hô nhiều nhất trong các hội trường
đấu lý. Một người mà khi chết có trên một triệu người
đi đưa đám tang, ba mươi ngàn người làm lều ở bên mộ.
Một nhà sư mà bóng dáng luôn luôn thấp thoáng trong các kinh
viện Phật giáo; cuộc đời luôn luôn còn được hàng trí
thức nhắc lại một cách kính cẩn, đầy cảm phục qua tập
"Ðại Ðường Tây Vức Ký", và người bình dân toàn cõi Á
Ðông thích thú say mê kể lại cho nhau nghe qua bộ truyện "Tây
Du" hoang đường.
Ngài
Huyền Trang sanh năm Khải Hoàng thứ 16 đời vua Văn Ðế nhà
Tùy (596) ở Hầu Thị (nay là huyện Uyển Sư tỉnh Hà Nam).
Dòng họ Ngài, mấy đời lập nghiệp ở đây. Ông thân Ngài
làm quan lệnh đất Giang Lăng, nhưng đến năm Ðại Nghiệp
đời vua Tùy Dưỡng Ðế, triều đình mục nát, thế nước
loạn lạc, ông cáo quan xin về nhà, sống cuộc đời an bần
lạc đạo. Ông có bốn người con trai, Huyền Trang là con út.
Người anh thứ hai của Huyền Trang là Trần Tiệp làm Hòa
thượng chùa Tịnh Ðộ, đất Lạc Dương. Khi còn nhỏ, Huyền
Trang đã là một cậu bé thông minh xuất chúng, tướng mạo
khôi ngô, tuấn tú. Lên tám, một hôm ngồi bên cạnh ông thân
nghe giảng sách Hiếu kinh, đến đoạn thầy Tăng Tử rời
chiếu đứng dậy, Huyền Trang cũng xóc áo đứng lên. Ông
thân lấy làm lạ hỏi nguyên nhân, Huyền Trang trả lời:
–
Thầy Tăng nghe lệnh Thầy dạy, phải lánh chiếu đứng dậy
để tỏ lòng cung kính, nay con nghe lời cha dạy bảo, dám đâu
ngồi yên.
Thỉnh
thoảng Ngài lại đến thăm anh tu ở chùa Tịnh Ðộ, và ở
lại nghe giảng kinh điển. Những buổi giảng này đã làm
Ngài say mê và đã ảnh hưởng rất lớn đến đời Ngài sau
này. Dần dần Ngài có xu hướng rõ rệt là bỏ Khổng theo
Thích, và chuyên tâm nghiên cứu giáo lý nhà Phật.
Sau
khi được độ điệp, nghĩa là chánh thức xuất gia rồi,
Huyền Trang ở lại chùa Tịnh Ðộ với anh. Mặc dù còn nhỏ
tuổi, Ngài đã có phong độ khác thường, không thích chơi
đùa, nghịch ngợm như những trẻ khác, mà lại chăm chú nghiên
cứu kinh điển đến nỗi quên ăn, bỏ ngủ. Một hôm Ngài
đăng đàn giảng kinh Niết-bàn, và đã làm cho thính giả ngạc
nhiên thán phục vì tài hùng biện và sự hiểu biết uyên
thâm của Ngài về Phật pháp.
Nhưng
đất Lạc Dương, cũng như hầu hết Trung Hoa lúc bấy giờ
đang buổi loạn lạc. Nhà Tùy sắp mất thiên hạ. Tùy Dưỡng
Ðế thiên đô về Dương Châu sống trong cảnh trụy lạc,
mặc cho các chư hầu xâu xé lẫn nhau. Ít lâu sau, Tùy Dưỡng
Ðế bị chư hầu giết chết. Lý Uẩn thân phụ của Lý Thế
Dân, lấy danh nghĩa phò nhà Tùy, lập Cung Ðế lên ngôi ở
Trường An. Cung Ðế cũng bị Vương Thế Sung giết chết. Nhà
Tùy mất nước. Lý Thế Dân, trong bốn năm trời (618-622) đánh
đông, dẹp bắc, bình định được thiên hạ, lập Lý Uẩn
lên ngôi vua tức là Ðường Cao Tổ. Nhà Ðường dựng nghiệp
từ đây. Trong những năm loạn lạc ấy, Lạc Dương, đông
đô của nhà Tùy, trở thành sào huyệt của bọn cướp của
giết người. Dân chúng đói khổ, nhà cửa bị thiêu đốt,
xác người chết đầy đường, các quan cai trị cũng bị hành
quyết. Tăng lữ trước kia ở Lạc Dương rất đông, phần
nhiều là bậc danh Tăng được các triều vua Tùy triệu về
ở đấy, đều bị hãm hại hay phải trốn lánh đi nơi khác.
Trước cảnh loạn lạc ấy, Huyền Trang đề nghị với anh:
Ðây
tuy là quê cha đất tổ, nhưng nhà Tùy đã mất, cảnh loạn
lạc diễn ra mãi như thế này, há cứ ở chết chỗ này hay
sao? Nay nghe vua Ðường đem quân về đóng đô ở Trường An,
thiên hạ theo về như theo cha mẹ. Vậy chúng ta nên đến đấy
là hơn.
Người
anh nghe cho là phải. Hai anh em Huyền Trang về Tràng An vào năm
Vũ Ðức thứ nhất đời vua Ðường Cao Tổ (618) ở tại chùa
Trang Nghiêm.
Nhưng
nhà Ðường mới dựng nước, ở Tràng An, người ta chỉ chú
trọng đến võ công, xem học thuật Tôn Ngô là cần thiết,
chưa ai nghĩ đến chuyện chấn hưng đạo đức, đem đạo
Khổng, đạo Thích ra làm khuôn vàng thước ngọc cho việc
xây dựng xã hội. Xưa kia, Tràng An cũng là nơi có nhiều vị
cao tăng đến quy tụ và được dân chúng sùng kính. Nhưng
khi hai anh em Huyền Trang đến, một số lớn chư tăng có tiếng
tăm, đức rộng, học nhiều đều đã rời Tràng An để vào
Ba Thục (Tứ Xuyên, Thành Ðô) là nơi tương đối được yên
tĩnh nhất lúc bấy giờ.
Huyền
Trang, lúc ấy đã 22 tuổi lại cùng anh rời Tràng An đi qua
Túy Ngọ là con đường tắt vào đất Thục, ở về phía nam
đất Tây An.
Anh
em Huyền Trang đến Thành Ðô (thủ đô của Tứ Xuyên) vào
ở chùa Không Tuệ, theo học với các vị danh sư là Phùng
Không, Ðạo Cơ, Bảo La trong một thời gian năm năm. Trong thời
gian lưu học ở đây, trong số các tăng lữ đông đảo ở
khắp nơi về quy tụ, anh em Huyền Trang đã tỏ ra là những
vị sư uyên thâm xuất chúng, đức độ hơn người. Nhưng
so sánh giữa hai anh em, thì Huyền Trang có cái mẫn tiệp, lanh
lẹ, hoạt bát, khí phách hơn anh. Pháp sư Ðạo Cơ, một cao
tăng thời bấy giờ, đã nói về Huyền Trang như thế này:
"Ta đi qua các giảng đường đã nhiều, mà chưa thấy người
trẻ tuổi nào thần ngộ như người ấy".