Đầu
Xuân, chúng ta về chùa Bửu Thiền ở Long Thành gợi cho thầy
nhớ đến sự hành đạo của Hòa thượng Trí Đức cách đây
80 năm. Vào thời kỳ ấy, Pháp đang đô hộ nước ta, đạo
Phật còn bị hạn chế sinh hoạt rất nhiều. Hòa thượng
hành đạo đầu tiên không phải ở chùa này, nhưng ở chùa
Cô Hồn, thuộc xã Phước Long. Chùa có tên như vậy vì không
có thầy tu ở. Mỗi năm, Phật tử trong vùng mời ban kinh sư
chẩn tế cô hồn để cầu phúc cho nhân dân địa phương.
Dân ở đây không hiểu giáo lý, không tu, họ chỉ nghĩ đơn
giản rằng cô hồn đói khát hay quậy phá, nên cúng cho ăn
để phò hộ cho người trong làng được bình yên.
Hòa
thượng Trí Đức từ chùa Huê Nghiêm lên đây, thấy ngôi
miếu cô hồn trống vắng, ngài mới ở đây tu. Là bậc chân
tu chuyên tụng kinh Pháp Hoa, ngài không quan tâm đến việc
ăn, mặc, ở và quên cả sự hiện hữu của mình. Ở ngôi
miếu bỏ hoang ấy, ngài nhiếp tâm niệm Phật. Sự quyết
tâm tu của ngài đã khiến cho Long thiên Hộ pháp phải cảm
động. Trong một đêm, nhiều người dân làng nằm mộng thấy
thần Hộ pháp mách bảo rằng nên đến cúng dường một thầy
tu ở miếu cô hồn. Họ liền tìm đến ngôi miếu hoang thì
thấy Hòa thượng không có một vật dụng gì, không có cả
thức ăn. Họ mới có niềm tin đối với ngài và Hòa thượng
đã ở đó, làm thuốc Nam cứu người, chữa được nhiều
bệnh nan y, nổi tiếng là vị thầy thuốc giỏi, đạo đức.
Dân chúng ở Long Thành quý mến hạnh đức của Hòa thượng,
nên khi ngài về chùa Huê Nghiêm, Thủ Đức, hàng năm Phật
tử đều tập trung về thăm viếng, đảnh lễ ngài.
Thầy
nghĩ rằng nếu chúng ta quyết tâm tu, kinh Pháp Hoa gọi là
vì đạo không tiếc thân mạng, mới đến được với đạo.
Chúng ta tu không được kết quả tốt vì chưa hoàn toàn thật
sự vì đạo, còn nghĩ đến cuộc sống vật chất, nghĩ đến
thân chúng ta nhiều hơn và nghĩ đến tài sản của ta, gia
đình con cháu ta. Vì thế, tâm chúng ta không tập trung được,
bị cảnh vật chi phối, kéo chúng ta vào cuộc sống vật chất,
khiến chúng ta phải luôn ở trong sinh tử luân hồi. Sinh tử
từ một hơi thở, một sát na tâm của chúng ta.
Theo
Pháp Hoa, Phật dạy rằng Ngài đắc đạo, đạt quả vị Toàn
giác, mới thấy rõ trong tam giới, chúng sinh không có sinh tử.
Đức Phật từ sinh tử mà chứng được Niết bàn. Trong khi
chúng ta ở trong Niết bàn của chư Phật mà lại hiện ra sinh
tử. Thật vậy, trong tam giới không có sinh tử, nhưng vì vô
minh, vọng kiến ngăn che, nên sinh ra các tánh ham muốn khác
nhau, tạo tội sai biệt. Đó chính là nguyên nhân làm cho chúng
ta ở trong sinh tử và khổ đau. Rồi sống trong sinh tử, bị
dày xéo bởi những ham muốn khác nhau, nên chúng sinh đã tạo
các tội lỗi khác nhau, họ mới gánh chịu vô số cái khổ
khác nhau.
Tuy
nhiên, theo Phật huệ thì vô vàn khổ đau trên cuộc đời
trong sinh tử giống như cái khổ trong giấc chiêm bao mà thôi.
Có một câu chuyện nổi tiếng nói lên ý này. Ông Lô Sanh
có ham muốn rất lớn, mới đặt ra mục tiêu phấn đấu cho
mình là phải rán học giỏi, thi đỗ cao, tạo được sự
nghiệp công danh để hưởng thụ cuộc sống sung sướng. Trên
đường đi thi, ông ghé vào quán trọ, nhưng đã hết thức
ăn, chủ quán bảo ông chờ họ nấu cháo kê. Mệt mỏi, ông
ngủ thiếp đi và nằm mơ thấy mình thi đỗ trạng nguyên,
được vua gả công chúa, được phong làm phò mã. Rồi ông
lãnh binh đánh thắng trận, lại được vua nước đó phong
cho làm phò mã. Vậy là ông làm phò mã của hai nước và thống
nhất giang sơn. Sau đó, ông bị một người nổi loạn giết
chết. Khi bị chém đầu, ông giựt mình thức dậy. Ông liền
tỉnh ngộ, đi tu vì nhận ra cuộc đời ngắn ngủi, phù du,
không thật, giống như một giấc mộng. Ông làm bài thơ nổi
tiếng "Giấc mộng kê vàng" như sau:
Công
danh phú quý
Ngũ
thập dư niên
Bất
quá phiến thùy
Mộng
lý huỳnh lương
Du
dị thục.
Nghĩa
là trong giấc chiêm bao, mộng thấy suốt một đời ông nỗ
lực tạo dựng công danh phú quý trên 50 năm, nhưng tỉnh dậy
sau một giấc ngủ thiếp đi, thì nồi cháo kê của người
chủ quán nấu cho ông cũng chưa chín. Đời người cũng vậy,
chỉ là một giấc chiêm bao, hiện hữu trong một khoảnh khắc
nào đó để rồi biến mất.
Hòa
thượng Nhất Hạnh trong chuyến viếng thăm chùa Ấn Quang vừa
qua, ngài nói với thầy rằng nhớ lại 50 năm trước đã tu
ở đây, nhưng nay thì người quen biết chỉ còn tên, còn hình
trên bàn thờ.
Nếu
quả tình một kiếp người sống như vậy thì có nghĩa gì.
Đức Phật và các vị Thánh Tăng, các bậc cổ đức nhận
ra cuộc đời tạm bợ như thế, các ngài đã sống và tìm
về thế giới vĩnh hằng, tìm con người thực của mình. Và
con người thực ấy, theo Phật dạy thì trong tam giới không
có sinh tử. Tăng Ni, Phật tử tu hành, trước sau gì cũng đạt
đến quả vị không sinh tử là con người thực của chúng
ta. Từ nghìn xưa cho đến ngày nay và mãi đến nghìn sau, con
người thực này không thay đổi.
Thật
vậy, trong phẩm Tựa thứ nhất của kinh Pháp Hoa, Phật khẳng
định rằng từ thời Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh xa xưa,
Bồ tát Văn Thù Sư Lợi và Di Lặc đã hiện hữu và đến
thời Phật Thích Ca, Văn Thù và Di Lặc Bồ tát cũng vẫn hiện
hữu. Di Lặc Bồ tát từ thời Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh
và thời Phật Thích Ca là một người, không phải hai người
khác. Văn Thù Bồ tát cũng vậy, cũng là một người từ thời
Phật quá khứ cho đến thời Phật Thích Ca. Văn Thù và Di
Lặc này bất tử. Nhưng không phải chỉ có Văn Thù và Di
Lặc Bồ tát bất tử.
Tất
cả chúng ta cũng ở trạng thái bất tử, nhưng vì chúng ta
để vô minh, vọng kiến ngăn che, sinh khởi, mà có hiện tượng
sinh tử khổ đau. Nhận chân được con người thực không
có sinh tử và chúng ta cũng hành đạo trên con người không
có sinh tử, không có vọng kiến thì mới đạt đến quả
vị Phật được.
Còn
hành đạo trên con người vọng kiến ngăn che là tam độc
tham sân si ngăn che tâm chúng ta, nên chúng ta không nhận ra
được con người thực của mình. Phần nhiều chúng ta nhận
ngũ uẩn là ta, nhận cái ngăn che con người thực là ta. Vô
minh, vọng kiến đã tạo nên con người sinh tử của chúng
ta thay hình đổi dạng trăm kiếp ngàn đời, trong khi con người
thực không sinh tử của chúng ta không thay đổi.
Và
khi đã mang thân sinh tử rồi, thì ở trong sinh tử, chúng ta
lại hành xử theo tham, sân, si, tạo ra vô số tội sai biệt,
nên phải thọ lãnh quả báo sinh tử, phải khổ đau. Từ nặng
nhất là sự khổ đau của vô gián địa ngục, là khổ hoàn
toàn, không có gì mình bằng lòng và bị hành hạ liên tục,
cái khổ không lúc nào dừng lại. Thí dụ như những người
tù binh, những người Do Thái bị Đức Quốc xã hành hạ,
giết chóc. Cho đến những cái khổ nhẹ hơn, khổ trong Ngạ
quỷ, Súc sinh, A tu la. Không ai hành hạ, nhưng chính sự đói
khát làm họ khổ, hoàn cảnh sống tồi tệ, ai cũng ghét bỏ,
gây khó khăn, v.v… khiến họ khổ.
Chúng
sinh khổ may mắn gặp Phật pháp, được Phật khai ngộ, bắt
đầu tự tạo cuộc sống thoát khổ, sẽ được an vui. Khởi
đầu, Phật tử tu hành, cần đóng kín cửa ba đường ác
và mở rộng con đường nhơn thiên để đi. Không nhận ra
con đường này, vẫn tu trong sinh tử khổ đau. Thực tế có
người nói rằng tu suốt đời sao vẫn khổ. Họ tụng kinh,
lạy Phật, cúng dường, nhưng phần nhiều làm trong ảo giác,
trong vọng kiến. Ngài Nhật Liên gọi đó là người phá pháp
tội chướng. Vì nếu tu đúng pháp, cúng dường Phật, phải
được phước. Chúng ta bố thí, cúng dường, thì xem kết
quả có đúng với lời Phật dạy hay không. Thí dụ mua chim
phóng sinh để tạo cơ hội cho người ta bắt chim, làm sao
có phước được.
Đối
với người tu Pháp Hoa, Phật dạy phải đúng như pháp tu hành
là tối thượng cúng dường Phật. Khi chưa biết đạo, chưa
quy y, gia đình bất hòa; nhưng biết tu rồi, gia đình phải
hòa thuận, vui vẻ. Thầy thường quan sát những Phật tử
trong đạo tràng Pháp Hoa, người nào dắt dẫn con cháu đến
chùa được, nhìn nét mặt họ, cuộc sống của họ, của
gia đình họ là biết nhân địa tu hành của họ. Theo Pháp
Hoa, Bồ đề quyến thuộc rất quan trọng. Nhờ tu mà sinh con
thông minh, đạo đức, có năng lực. Bốn thế hệ từ ông
bà đến con cháu đều tốt là biết họ tu tốt. Tu hành của
chúng ta làm cho người trong nhà và người ngoài phát tâm.
Tánh tình hiền lành của chúng ta, sự nhẫn nhịn của chúng
ta, con cái học giỏi, gia đạo tốt, v. v… là cách cúng dường
Phật tốt nhất. Còn vật dụng cúng dường có hay không cũng
được, vì vật chất là phù vân, hợp tan, không thật.
Tu
tạo được phước báo nhơn thiên và quả vị Niết bàn là
con đường Phật vẽ ra cho hàng đệ tử theo. Phước báo nhơn
thiên có trước. Phật dạy chúng ta nên sống thực tế, đoạn
tuyệt tham sân si. Sống thực tế là có gì ăn đó, có gì
mặc đó, tùy hoàn cảnh mình mà sống. Điển hình như Hòa
thượng Huê Nghiêm ở am cô hồn, không lo toan đời sống vật
chất, nhưng phước báo sinh ra, dân chúng mang gạo đến cúng.
Chánh báo như thế nào thì y báo theo đó tương ưng. Không
khởi lòng tham, mới nhận ra con người thực của mình ở
trong sinh tử mà không kẹt sinh tử. Không khởi vọng tâm điên
đảo thì nhận được Phật lực gia bị, chúng ta mới sáng
suốt, có trái tim nhân ái và sức khỏe. Đó là ba điều căn
bản trong nhơn thiên mà chúng ta tu tạo để làm hành trang
trên bước đường theo dấu chân Phật.
Chúng
ta cần phát huy được ba phước này thì đạo Phật chúng
ta sáng thêm. Có lòng thương và sức khỏe tốt để giúp người,
có thông minh để biết đúng, làm đúng; việc của chúng ta
sẽ tốt lần và gia đình, xã hội sẽ trở nên tốt theo việc
tốt của chúng ta. Chúng ta không làm gì cho Phật, nhưng dùng
trí thông minh, trái tim nhân ái và sức khỏe tốt làm cho gia
đình bình an, làm cho người phát tâm, kính trọng Phật, tu
theo Phật đạo, thì đó là công đức lớn nhất.
Thầy
cầu mong tất cả mọi người đều được Phật hộ niệm
để thông minh giải quyết được mọi khó khăn, được khỏe
mạnh để làm việc tốt và ai cũng tạo được công đức
dâng cúng Phật.
Nguồn:
Giác Ngộ 265