Nhìn
hình tướng của Phật, bạn thường thấy người được vẽ
hay tạc ở trong tư thế tọa thiền. Thiền tập vì thế chắc
hẳn rất là quan trọng. Vậy Phật ngồi như thế để làm
gì? Ðiều gì trong Tứ diệu đế đã thúc đẩy ta ngồi trong
tĩnh lặng để thiền tập? Nói khác đi, làm sao ngồi trong
tĩnh lặng lại có thể làm cho ta hiểu Tứ diệu đế sâu
sắc hơn và đưa ta đến thực hành?
Giáo
lý nhân quả (karmaleer) bao hàm trong Tứ diệu đế cho rằng
chúng ta là tác giả và là người thừa kế những hành xử
của chính mình. Vì thế, rất hợp lý khi ta không đi tìm ở
[thế giới] bên ngoài những giải đáp cho các vấn đề và
sự khổ đau của mình, mà bắt đầu tìm kiếm và lưu ý ở
ngay nơi mà những hành động được khởi sinh, đó chính là
tâm thức của chúng ta. Ðối với Phật, làm sao để thực
hiện việc đó không hề đơn giản. Ðó là kết quả của
một cuộc tìm kiếm lâu dài.
Phật
ngồi đó để làm gì?
Trong
kinh tạng Pali, Phật đã kể lại rất chi tiết cuộc tìm kiếm
của người, từ lúc khởi đầu cho đến chung cuộc, tới
khi người trở nên tỉnh thức (Danh từ Boeddha có nguyên nghĩa
là “tỉnh thức”). Ở đây thiền tập đóng một vai trò
rất quyết định. Cuộc đời của Phật mà ta thường được
nghe kể lại thuộc dạng huyền thoại cổ điển, trong đó
chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng. Trong bài này chúng
ta chỉ trưng dẫn những tài liệu tiểu sử tự thuật (autobiografisch)
tìm được trong kinh điển Pali mà không động đến những
huyền thoại vẫn được nhiều người biết đến hơn về
Phật.
Phật
kể người đã lớn lên như thế nào trong sự xa hoa (tên thật
của người là Siddharta Gautama, là người thuộc giòng tộc
Sakyans). Người được thừa hưởng ba tòa lâu đài, một tòa
cho mùa mưa, một cho mùa đông và một cho mùa hè. Ði đến
đâu người cũng được một đoàn vũ công ca nhạc toàn là
phụ nữ tháp tùng (một hình thức walkman trước thời đại).
Thế nhưng người vẫn không hài lòng. Lòng người thường
xuyên bị xâm chiếm bởi một nhận thức sâu sắc về sự
hoại diệt và ngắn ngủi của cuộc sống. Vì phải đối
diện không thể tránh né với khổ đau nên tâm hồn của người
tràn ngập một niềm bi phẫn. Cha mẹ người vô cùng buồn
rầu (khác với huyền thoại cổ điển, ở đây [kinh tạng
Pali] không thấy nhắc tới một người vợ và một đứa con),
khi người quyết định bỏ nhà ra đi, để đi tìm câu trả
lời cho những câu hỏi của mình.
Ðầu
tiên, cuộc tìm kiếm đã đưa người đến gặp hai vị đạo
sư dạy thiền tập. Thiền tập ở Ấn Ðộ thời bấy giờ
có vẻ đã là một phép hành trì phổ biến. Siddharta là một
đệ tử đặc biệt thông minh, nhưng người không hài lòng
với những điều gặt hái được. Người từ chối lời thỉnh
cầu trở thành người truyền thừa của hai vị thầy. Ðiều
mà người học hỏi được là những kỹ thuật vượt thoát
ra khỏi hiện thực một cách có hệ thống để bước vào
một thế giới khác, nơi mà cuối cùng mọi kinh nghiệm chấm
dứt sự hiện hữu của nó. Ðiều phải thừa nhận, trong
những giây phút đại định sâu sắc này, khổ đau cũng chấm
dứt hiện hữu. Nhưng một khi thiền giả xuất ra khỏi trạng
thái đó, thì tất cả cũng xuất hiện trở lại, kể cả
khổ đau. Ðiều này không phải là điều người tìm cầu.
Phương
pháp mà người chú tâm hành trì sau đó là phép tu khổ hạnh
nghiêm nhặt (ascese). Ở đây người cũng đi đến mức tận
cùng. Các kinh điển xưa cũ ghi lại sự kiện thân thể người
còm cõi đến mức khi đứng trên cát, dấu chân gầy rạc
của người để lại trên đó trông tựa như dấu móng của
con lạc đà. Cũng thế, con đường khổ hạnh này không đem
đến cho người kết quả mong đợi. Người ý thức rằng
không thể tiến xa hơn được nữa trên con đường này. Một
bước tới nữa chỉ có thể đồng nghĩa với cái chết. Người
bắt đầu ăn uống trở lại và chăm sóc thân thể của mình.
Người lang thang và không biết phải tiếp tục như thế nào.
Kinh
điển kể lại, khi đó người chợt nhớ đến lúc còn nhỏ,
vào một ngày đẹp trời, khi ngồi dưới một gốc cây ngắm
nhìn người dân làm việc trên một cánh đồng, người tự
dưng nhập vào một trạng thái của sự tỉnh giác đầy tĩnh
lặng và trí huệ. Vì thế cho nên người quyết định hành
trì con đường thiền tập. Ðiều người đã làm lúc đó
chính là một trực giác thiên tài. Thay vì thoát ra khỏi hiện
thực, người dùng sự minh mẫn của tâm thức được nuôi
dưỡng trong khi thiền tập, để hướng sự chú tâm của mình
vào chính hiện thực. Bằng tâm tỉnh giác và sự cẩn trọng,
người nghiệm ra rằng trong một quá trình liên tục, cách
thế của tham ái và tư duy nối đuôi nhau xuất hiện, cũng
giống như cách thế mà tâm thức nắm giữ và từ chối, tạo
tác và hoại diệt. Cứ như thế mà quá trình liên tục này
của sinh thành và hoại diệt, khi xảy ra không ngừng nghỉ
cho chính người và cho người khác, đã tạo ra vô vàn những
thế giới, những vọng tưởng. Nguyên nhân khiến cái này
tạo tác ra cái kia bỗng hiển lộ thật rõ ràng đối với
người. Cuối cùng, không phải không bất ngờ, người khám
phá ra trong sự tỉnh giác đó (heldere aanwezigheid) và trong chính
sự trong suốt của nó (doorzichtigheid) tiến trình này đã tan
biến và dừng lại như thế nào. Vào lúc đó người thực
sự chứng nghiệm rằng: đây là điều mình tìm kiếm lâu
nay. Chính ở đây khổ đau không còn hiện hữu nữa.
Khám
phá này đối với người còn quá mới mẻ, khiến người
thoạt đầu chưa biết phải chia sẻ với người khác như
thế nào. Bằng một cách thức đặc biệt Ấn Ðộ, các kinh
điển đưa ra hình ảnh của một vị thần đến thỉnh cầu
Phật chia sẻ khám phá này với người khác vì “những kẻ
có ít bụi trong mắt sẽ nhìn thấy được”.
Ðầu
tiên, Phật đi tìm hai vị thầy đầu tiên đã dạy người
thiền tập, nhưng hai vị đã qua đời. Vì thế người mới
đi tìm các người bạn đã cùng tu khổ hạnh. Khi các vị
này thấy Phật từ xa đi đến, họ hẹn với nhau rằng sẽ
làm như họ không trông thấy người. Trong mắt họ, Phật
là một kẻ thất bại, một kẻ đã không chịu nổi sự từ
bỏ kham khổ của phép tu khổ hạnh. Cho tới khi Phật tiến
tới gần… Khuôn mặt của Phật rạng rỡ… Các vị tu sĩ
không thể nào làm gì khác là đỡ lấy áo khoác và bình bát
cho Phật, mời người ngồi xuống và hỏi thăm: điều gì
đã xảy đến cho bạn? Phật thuật lại những gì người
đã làm trong thời gian qua. Cuộc nói chuyện này đã được
ghi lại như bài thuyết pháp đầu tiên, trong đó Phật lần
đầu tiên giảng giải về giáo pháp Tứ diệu đế.
Dừng
lại và nhìn sâu
Về
thiền tập, có hai giai đoạn được nhắc đến trong bài giảng
của Phật:
1 Samatha
[chỉ]:
Các
vị thầy đã chỉ dạy cho Phật một hình thức thiền tập
đưa tới sự chấm dứt tất cả các hoạt động tâm ý (mentale
activiteit). Ðó là sự thiền tập nhắm tới sự dừng lại
(samatha). Kỹ thuật đưa tới kết quả này là sự tập trung.
Ðây cũng là một phương pháp mà chúng ta vẫn thấy trong các
kỹ thuật thiền tập và thư giãn không nằm trong Phật giáo.
Cho
dù Phật đã là một bậc thầy trong kỹ thuật này, người
vẫn không hài lòng và đã từ bỏ phương pháp tu tập này.
2 Samatha-vipassana
[chỉ-quán]:
Sau
khi các phương pháp khác không mang lại hiệu quả mong muốn,
Phật quay lại với phương pháp thiền tập nhưng đó không
chỉ là sự thiền tập đơn thuần. Phương pháp thiền tập
mà người đã sáng chế ra là một tổng hợp của dừng lại
(samatha) và nhìn sâu (vipassana). Với sự tỉnh giác của tâm
thức, người hướng sự chú tâm vào hiện thực và đạt
được tuệ giác. Tất cả những gì mà chúng ta đã bàn đến
trong bài viết thứ hai ‘Giải thoát khỏi ảo tưởng – Phật
giáo, một hệ thống triết học’ trở nên thật trong suốt
rõ ràng đối với Phật.
Dừng
lại đề cập đến sự ngưng nghỉ các tập quán máy móc
của tâm thức, bằng cách tập trung sự chú tâm vào một đối
tượng nhất định nào đó. Với nhìn sâu, chúng ta muốn nói
đến việc hướng sự chú tâm vào điều đang xảy ra. Nhìn
sâu không phải chỉ bằng đôi mắt, mà bao gồm tất cả các
giác quan, kể cả tâm [mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý] (Trong
Phật giáo, tâm được coi là giác quan thứ sáu, có chức năng
ghi nhận những suy tưởng của chúng ta).
Như
thế, cả hai phương thức samatha và vipassana hợp lại thành
một tổng thể hữu cơ. Samatha và vipassana tương quan với
nhau và được học hỏi như thể là sợi chỉ điều xuyên
suốt các kinh điển thiền tập Phật giáo trong 2500 năm qua.
Vì những lý do giáo khoa, một số truyền thống đã thực
tập ‘dừng lại’ trước tiên rồi mới chuyển sang những
thực tập nhắm nhiều hơn vào tuệ giác, vào nhìn sâu. Những
truyền thống khác lại chú tâm từ lúc bắt đầu với những
thực tập bao gồm cả hai phương thức.
Không
lý thuyết suông
Không
có ích lợi gì để tìm hiểu một cách lý thuyết về những
điều thật thực tiễn. Thiền tập ngoài ra còn là một phương
pháp rất dễ áp dụng. Tất cả những gì bạn cần chỉ là
thân và tâm. Gối và nệm ngồi thiền, và những dụng cụ
khác có thể có ích lợi nhưng không nhất thiết phải cần.
Ngoài ra, bạn có thể thực hành thiền tập bất cứ lúc nào.
Vài ba phút cũng đủ để học cách thực tập thiền.
Bây
giờ, tôi xin độc giả tạm thời để bài viết này qua một
bên và thử thực tập trong tư thế bạn đang có. Nếu bạn
khám phá tư thế đang có chưa được thoải mái lắm thì hãy
thay đổi tư thế cho thật thoải mái.
Hãy
đặt sự chú tâm của bạn vào hơi thở. Bạn không cần phải
thay đổi cách thở. Chỉ theo dõi, cảm nhận hơi thở vào
như thế nào, hơi thở ra như thế nào. Khi nào cảm thấy mình
đang đánh mất sự chú tâm, thì bạn lại đặt sự chú tâm
vào lại nơi hơi thở. Bạn hãy thử thực tập như thế trong
vòng vài phút.
*
Bài
tập vừa rồi mà bạn đã làm, trước hết, có thể được
xem như một thực tập của dừng lại. Lời hướng dẫn là
đặt sự chú tâm vào hơi thở. Nếu nói đó đơn thuần là
một thực tập samatha thôi thì có lẽ bạn cũng đã không
thành công rồi. Trong vòng hai phút, gần như tất cả mọi
người đều khám phá rằng sự chú tâm của chúng ta đã bị
thất tán. Vào lúc này có thể kể ra hai cạm bẫy:
Cạm
bẫy thứ nhất là sự khó chịu. Khả năng cụ thể là qua
sự thực tập thường xuyên bạn trải nghiệm được sự
tĩnh lặng, dễ chịu và tính trị liệu của phép hành trì
theo dõi hơi thở này. Nhưng có một khả năng lớn hơn nữa
là bạn hoàn toàn không trải nghiệm điều gì giống như thế
cả ở lần thực tập đầu tiên. Rất nhiều người đã cảm
thấy thật khó chịu vì liên tục đánh mất sự chú tâm.
“Thấy chưa, tôi đâu có thể làm được…”. Sự khó chịu
tự nó không phải là một vấn đề lớn. Nó chỉ làm lộ
ra một cung cách phản ứng (reactiepatroon) cũ kỹ bình thường.
Cạm bẫy nằm ở kết luận sai lầm, là mình không làm được
bài tập này. Nhưng kinh nghiệm khó chịu là chuyện thông thường
xảy ra và tự chúng không phải là những lý do để ta bỏ
cuộc.
Như
thế lòng nhẫn nại là một điều kiện tuyệt đối phải
có để thực hành thiền tập.
Cạm
bẫy thứ hai, thật kỳ lạ, lại chính là sự tập trung. Một
sự tập trung trong chừng mực nào đó là điều tốt nhưng
sự thực tập sẽ hoàn toàn rời xa mục đích của nó nếu
người hành thiền, trong suốt thời gian thực tập, thành công
trong việc chỉ biết chú ý đến giòng chảy lên xuống của
hơi thở với sự dễ dàng thoải mái. Bởi vì nếu đi xa hơn
theo phương pháp này, chúng ta sẽ bị kẹt trong cái mà Phật
đã học được của các vị thầy dạy thiền tập, đó là
sự thực tập samatha đơn thuần.
Điều
mà lời khai thị muốn hành giả đạt được là làm hiển
lộ những điều đang xảy ra. Trong khi theo dõi hơi thở và
sự thất bại kèm theo, chúng ta thấy được sự vận hành
của tâm thức. Ở đây không chỉ là samatha mà là kết hợp
của samatha và vipassana, dừng lại và nhìn sâu. Cho một thực
tập samatha đơn thuần, hơi thở không phải là một đối
tượng tập trung thật thích hợp. Hơi thở của chúng ta luôn
chuyển động và ngoài ra còn phản ứng theo với mọi thứ
xảy ra ở trong và xung quanh ta. Cũng chính vì lý do đó mà
phép theo dõi hơi thở là một cách dẫn nhập tuyệt hảo để
thực tập samatha-vipassana.
Ðã
nói thế, bây giờ xin mời bạn thử làm lại bài tập vừa
rồi một lần nữa, bắt đầu bằng cách theo dõi hơi thở
và sau đó cứ quan sát điều gì đang xảy ra. Với một sự
chú tâm nhẹ nhàng, rộng mở, bạn hãy để cho những điều
gì đến cứ đến, không bám víu vào đó cũng không từ chối
nó, không đi sâu vào cũng không ngăn chặn. Cứ mỗi khi biết
mình đang mất sự chú tâm hoặc đánh mất mình trong những
điều đang xảy ra, bạn lại trở về với hơi thở và với
sự chú tâm nhẹ nhàng, rộng mở.
*
Samatha-vipassana
là dừng lại và nhìn sâu những điều đang xảy ra, với sự
chú tâm nhẹ nhàng, rộng mở. Lời khai thị này thật hết
sức đơn giản. Ðơn giản nhưng không phải dễ dàng. Ðể
có thể ứng xử [tốt] với những điều đang xảy ra, bạn
nên tìm một vị thầy nhiều kinh nghiệm để học hỏi. Cho
tới giai đoạn này, tôi đã chỉ nhắc chừng bạn về hai
cạm bẫy vừa kể. Cạm bẫy thứ ba là sự khởi tâm (suggestie).
Lời khai thị thật rõ ràng: bạn hãy quan sát bất kỳ điều
gì đang xảy ra. Nhưng bởi vì là con người, chúng ta có thể
biết khá chắc chắn rằng những điều đang xảy ra [trong
tâm thức] không hoàn toàn đẹp đẽ và tốt lành. Mối nguy
to lớn ở đây nằm chính ở chỗ chúng ta tìm cách sắp đặt
(manipuleren) kinh nghiệm của mình theo chiều hướng nào đó
mà chúng ta thấy thích hợp với mình và với việc thiền
định. Hậu quả thường là sự tỉnh ngộ, vì cuối cùng
ta đành phải chịu thú nhận rằng những điều ta mong cầu
không xảy ra, và như thế những điều [thật sự] xảy ra
đã vượt thoát ra khỏi sự chú ý của ta.
Cạm
bẫy thứ tư là lòng say mê với nội dung mà những điều
đang xảy ra mang đến. Bằng cách học hỏi tâm thức qua cách
[quan sát] này mà Phật giáo, qua thời gian, đã trở thành một
ngành tâm lý học rất có hệ thống. Tâm lý học đương đại
Tây phương, hãy còn trong giai đoạn phát triển, đã bắt đầu
có ý thức về sự hữu dụng của hệ thống [tâm lý học
Phật giáo] này. Nhưng cần ghi nhớ rằng tâm lý học trong
bối cảnh này chỉ là một sản phẩm phụ. Ðiều quan trọng
nhất vẫn là sự giải thoát, chứ không phải là một ngành
tâm lý học.
Nhìn
sâu điều gì?
Tất
cả những điều được nói trong bài trước (“Giải thoát
khỏi ảo tưởng – Phật giáo, một hệ thống triết học”),
có thể trước đây còn như một mớ triết lý trừu tượng,
bỗng trở nên sinh động dưới tác động tài tình của samatha-vipassana.
Chỉ mới trong vòng hai phút thử chú tâm theo dõi hơi thở,
đã đủ cho phần đông chúng ta thấy được sự hỗn loạn
của tâm thức. Nếu nhìn kỹ hơn, bạn sẽ thấy được sức
mạnh của si mê, sân hận và những khuôn mẫu mù quáng (blinde
patronen) hợp lại xô đẩy tâm thức. Những gì xảy ra ngay
lúc này trong tâm thức và điều mà bạn có thể cảm nhận
được ngay lúc này chính là những quy luật (wetmatigheid) của
nguyên nhân và hậu quả và sự hình thành của khổ đau. Ðể
có thể thấy được điều đó, điều duy nhất bạn phải
làm là chịu đứng yên và nhìn cho kỹ.
Trong
khi dõi theo những xuất nhập của ấn tượng, tình cảm và
ý tưởng, bạn nhận chân được tính vô thường của tất
cả những điều chúng ta có thể tưởng tượng được. Không
có điều gì cố định. Không có gì đủ vững chãi để ta
có thể bám víu vào. Tiến trình [nhận thức] này có thể
đôi lúc làm ta đau khổ. Nếu không nhẹ nhàng và từ bi với
chính mình, chúng ta sẽ khó chấp nhận được. Một thái độ
nhẹ nhàng nhưng quyết tâm và lòng từ bi không những làm
cho tiến trình [nhận thức] này khả dĩ thành công mà còn
tạo nên liều thuốc giải độc tốt lành (heilzaam antidotum)
cho những tình trạng tâm lý không lành mạnh xuất hiện trong
lúc chúng ta thiền tập. Cho tới khi chúng ta nhận thức rằng
bám víu vào bất kỳ một cái gì cũng chỉ là một cố gắng
hoàn toàn vô ích, và chỉ có sự chú tâm rộng mở, nhẹ nhàng
và không thỏa hiệp là đủ và [điều này] có nghĩa là một
sự giải phóng vĩ đại.
Ðây
là bối cảnh của hiện thực tột cùng. Sự tỉnh ngộ càng
trọn vẹn chừng nào thì sự ám ảnh của những vọng tưởng
chế ngự ta càng lúc càng nhỏ đi chừng nấy. Ðiều còn lại
là một sự rộng mở trọn vẹn, vắng bóng vọng tưởng (totale,
gedesillusioneerde openheid). Một sự rộng mở không còn trông
mong bất cứ điều gì nữa, không còn nhu cầu để thêm thắt
chút gì vào hiện thực, kể cả những ý niệm mà chúng ta
vẫn thường dùng để xoay chuyển hiện thực theo ý mình (naar
onze hand te zetten) và [qua đó] tạo ra ảo tưởng rằng hiện
thực rất quen thuộc.
Trạng
thái này của sự rộng mở vốn là một trạng thái rất tự
nhiên, được nhiều người biết đến. Kể cả Phật cũng
đã nhớ lại lúc còn nhỏ, ngồi dưới bóng mát của một
gốc cây, người cũng đã tự nhiên cảm nhận được. Sự
rộng mở tự nhiên của tâm thức này trên nguyên tắc, luôn
luôn có mặt. Không có sự rộng mở này, chúng ta khó lòng
có thể sinh hoạt được. Nhưng sự rộng mở này thường
xuyên bị lấp đầy bởi những ý niệm, suy tưởng, mong chờ,
dự định… cho đến mức chúng ta gần như không còn ý thức
được sự có mặt của nó nữa. Trong khi thiền tập, chúng
ta học giữ cho sự rộng mở này được thênh thang trong khi
theo dõi trò chơi của những thứ lấp đầy tâm thức chúng
ta tiếp tục đi đến và lại ra đi.
Như
thế, ở đây hoàn toàn không nói đến một thứ kinh nghiệm
“huyền bí” đặc biệt (‘mystieke’ ervaring) nào cả. Nhận
thức về sự rộng mở có thể đôi lúc được cảm nhận
thật mãnh liệt, nhất là khi nó được thể nghiệm trong tương
phản với sự khép kín cứng nhắc (krampachtige afgeslotenheid)
mà chúng ta thường có trong đời sống. Sự mãnh liệt của
kinh nghiệm này đôi khi trở thành một thứ cạm bẫy. Sự
rộng mở [có thể] bị lấp đầy ngay tức khắc bằng một
ước ao giữ chặt và sống lại [kinh nghiệm về] sự mãnh
liệt này. Nó dễ trở thành một thứ kinh nghiệm mà chúng
ta muốn xem như một đạo bùa được may chặt vào cổ, để
không bao giờ có thể đánh mất được. Sự dụng công bám
víu cứng nhắc này có thể là một cản trở cho những cảm
nhận về sự rộng mở cần được tiếp tục xảy ra. “Gặp
Phật, giết Phật”, đó là câu tuyên bố bất hủ của Thiền
sư Lâm Tế về cạm bẫy này.
Xuống
núi
Trong
ngành hội họa Phật giáo Trung Hoa, Phật Thích Ca Mâu Ni (vị
Phật lịch sử) vẫn thường được minh họa trong tư thế
đang đi, trong khi người xuống núi, chứ không phải trong tư
thế tọa thiền. Cái nguyện vọng được an trú mãi trong trạng
thái của thực tại tột cùng tự nó đã là một mâu thuẫn
nội tại (contradictio in terminis). Nhận thức về thực tại
tối hậu tức khắc đưa chúng ta trở về với thế giới
qui ước, thế giới của ý niệm và suy tưởng, của quan hệ
và mơ ước, nhưng lần này với một số ảo tưởng ít hơn
hẳn. Như Mark Epstein đã diễn tả: vấn đề không nằm ở
chính sự ước ao mà ở sự kiện chúng ta chờ đợi nơi đối
tượng của sự ước ao hơn quá cái mức mà đối tượng
của sự ước ao có thể cung cấp cho chúng ta.
Dừng
lại làm hiển lộ. Qua nhìn sâu mọi sự trở nên sáng tỏ.
Sự minh bạch rõ ràng này đưa đến giải thoát. Câu chuyện
[đời] không chấm dứt nơi chiếc gối tọa thiền. Với sự
tự tại này, chúng ta sống đời sống hàng ngày bằng một
thái độ khác. Và như thế, đương nhiên trong bài viết tiếp,
chúng ta sẽ nhận định về đạo đức.
Nguyễn
Thanh Hùng (dịch)