|
.
PHẬT
TT.
Thích Thích Đức Thắng
 |
 |
Phật
là từ gọi tắc của Phật-đà được phiên âm từ chữ Phạn
(sanskrite) Buddha, có nơi còn phiên âm là Phù-đà, Phù-đồ,
Phù-đầu, Một-đà, Bột-đà, … có nghĩa là chỉ cho Bậc
đã giác ngộ hòan tòan về nhân sinh và vũ trụ, là Bậc hiểu
biết thấu triệt tất cả các pháp, là Bậc đã giác ngộ
chân lý, là Bậc tri kiến như thật về tánh tướng của tất
cả các pháp, Bậc đã thành tựu Chánh đẳng Chánh giác của
Đại Thánh, là bậc đã thành tựu ba việc tự giác ngộ mình,
giác ngộ cho người khác và, giác hành viên mãn, là chỉ cho
quả vị tu hành tối cao tột cùng của Phật giáo.
Trong
ba việc tự giác, giác tha và giác hành đối với chúng sinh
phàm phu thì chúng ta không có bất cứ phần nào; còn hai thừa
các hàng Thinh văn và Duyên giác thì chỉ đạt được phần
thứ nhất là tự giác còn hai phần kia thì chưa đạt được,
còn đối với các hàng Bồ-tát thì mới chỉ đạt được
hai phần tự giác và giác tha, còn phần giác hành thì chưa
đạt được; riêng chỉ duy nhất có chư Phật mới hòan thành
một cách viên mãn ba phần này nói chung và, đức Thích Ca
Văn nói riêng mới đạt được nên gọi Ngài là Phật. Nhờ
sự kiện này mà chúng hiển bày một cách rõ nét và nổi
bậc về sự tôn quí của Phật. Đối với nội dung chứng
ngộ của Phật thì trong kinh luận của Phật giáo có đề
cập rất nhiều; nhưng riêng về Phật thân (Buddha-kāya) và
cõi Phật (Phật độ) thì có những quan điểm khác nhau vì
trình độ nhận thức và hiểu biết tùy thuộc vào căn cơ
vào lúc bấy giờ của các bộ phái sau khi đức Đạo sư vào
Niết-bàn, nên sự sai khác cũng theo đó mà xuất hiện.
Trong hiện tại Phật giáo chỉ còn lại hai bộ phái đó là
Tiểu thừa và Đại thừa nên sự khác biệt chỉ được giới
hạn trong vòng hai bộ phái này và những bất đồng về mặt
bản thể luận cũng nhích lại gần hơn trong nhận thức. Tuy
nhiên chúng vẫn còn những dị biệt do căn cơ trình độ nhận
thức còn giới hạn trong tư duy về sự chứng đắc A-la-hán
và quả vị Niết-bàn. Riêng Đại thừa giáo nhắm đến mục
đích cuối cùng là quả vị Phật.
- Căn
cứ vào vô lượng công đức mà đức Đạo sư đã từng tự
thực hành huân tập trong vô lượng kiếp đến nay sau khi Ngài
thành đạo mà được xưng tụng và tán thán qua nhiều danh
hiệu khác nhau như: Mười hiệu Như lai (Như lai thập hiệu),
Bậc biết tất cả (Nhất thiết tri giả), bậc thấy tất
cả (Nhất thiết kiến giả), bậc biết đạo (Tri đạo giả),
bậc khai đạo (khai đạo giả), Bậc nói về đạo (Thuyết
đạo giả), Bậc được tôn quý ở đời (Thế tôn), Bậc
dũng mãnh kiên cường đoạn trừ tất cả phiền não thế
gian, Bậc hướng dẫn thế gian (Thế nhãn giả), Bậc anh tú
thế gian, Bậc được tôn quý nhất thuộc năm từng trời,
Bậc Đại giác được tôn quý ở thế gian (Đại Giác Thế
tôn), Giác vương, Pháp vương, Bậc thầy dẫn đường vĩ đại
(Đại đạo sư), Đại Thánh nhơn, Đại Sa-môn, Đại tiên,
Đại y vương, Phật thiên, Phật nhựt, Lưỡng túc tôn, Nhị
túc tôn, Lưỡng túc tiên, Nhị túc tiên (Lưỡng túc hay nhị
túc ở đây, có hai cách để giải thích: 1/ Được hiểu như
là Ngài là đấng tôn quý bậc nhất trong sinh loại có hai
chân. 2/ đầy đủ Hạnh và Nguyện, hay đầy đủ Phước và
Trí), Bậc tối thắng trong chư thiên (Thiên trung thiên), là
Ngưu vương trong cõi người (Nhơn trung ngưu vương), bậc hùng
anh trong cõi người (nhơn trung chi hùng giả), … Đó là những
danh hiệu khác nhau được xưng tụng tán thán dành cho Phật.
- Và
cũng căn cứ vào tánh đức thù thắng sở hữu của Phật
được thể hiện ra bên ngoài thân tướng qua ba mươi hai tướng
tốt và tám mươi vẻ đẹp. Ngoài ra còn có đầy đủ mười
lực, Bốn vô sở úy cùng mười tám pháp bất cộng năng lực
thù thắng khác. Lại, Phật còn có Bảy hạng công đức thù
thắng vượt hơn cả người thường tình thế gian được
gọi là Thất thắng sự, còn gọi là Thất chủng tối
thắng, hay Thất chủng vô thượng (Tức chỉ cho thân thù thắng,
trụ như pháp thù thắng, trí tuệ thù thắng, đầy đủ thù
thắng, hành xử thù thắng, không thể nghĩ bàn thù thắng,
giải thóat thù thắng); và sự quân bình định-trí-bi của
Phật là thù thắng, cho nên thường gọi là đại định, đại
trí, đại bi; nếu đem ba đức (đọan đức, trí đức, ân
đức) với chúng thì gọi chung là đại Định-Trí-Bi.
- Ngoài
vấn đề công đức và thù thắng đã thể hiện qua tự giác
tự độ ra Phật còn có khả năng giáo hóa chúng sanh, hướng
dẫn dạy dỗ mọi người thoát khổ được vui cho nên Phật
có danh xưng là Năng Nhơn; như khả năng tiếp dẫn chúng sanh
về thế giới cực lạc của đức Phật A-di-đà cũng được
gọi là An lạc Năng nhơn. Vì vậy cho nên đức Phật thích
Ca có nghĩa là Năng Nhơn cũng ở trong trường hợp này.
A
. Phật thân:
Căn
cứ vào những công đức, những thù thắng được thể hiện
ra bên ngoài thân Phật nhờ chánh báo mà Phật đã tự thực
hành tu tập trong vô lượng kiếp và khả năng giáo hóa của
Phật nên các bộ phái Phật giáo sau này có những chủ trương
khác nhau theo nhận thức của họ về thân Phật.
I
. Quan điểm của Tiểu thừa: Như Đại chúng bộ thì cho
thân Phật chỉ cho nhục thân (sinh thân) là thân vô lậu, nên
oai lực, tuổi thọ là vô hạn. Trong khi Hữu bộ thì cho rằng
Phật thân tức sinh thân của Phật cũng chỉ là kết quả
của nghiệp phiền não (thiện) nên thuộc về hữu lậu và,
chỉ thừa nhận Phật đã thành tựu mười lực, bốn vô sở
úy cùng những thứ công đức khác và, tất cả những giáo
pháp của đức Phật dạy ra mới thuộc vô lậu, chúng được
gọi là Pháp thân (dharma-kāya). Pháp thân này không thể dùng
con mắt thịt bình thường của chúng ta mà nhận ra cái lý
của Phật được. Như vậy, pháp thân cùng với sinh thân hợp
lại gọi là nhị thân. Và cũng theo Hữu bộ thì giới, định,
tuệ, giải thóat, giải thóat tri kiến là năm phần pháp thân
và những công đức trên cũng thuộc về phần pháp thân.
II
. Quan điểm của Đại thừa: Theo các nhà Đại thừa thì
tùy thuộc vào sự biến hóa uyển chuyển của nội dung tư
tưởng của pháp thân mà khai triển và, cũng theo nghĩa này
mà pháp thân được chỉ cho pháp tánh chân như. Theo Kin Cang
Bát Nhã luận quyển thượng của Vô Trước thì: “Kinh điển
là pháp thân trên ngôn thuyết, khi y cứ vào đó để tu hành
chứng đắc lúc này pháp thân mới hiển hiện gọi là chứng
đắc pháp thân” Vì vậy cho nên các nhà Đại thừa sau này
mới gọi Lý thể chân như là Pháp thân; còn Sinh thân chỉ
là Ứng thân (nirmāṇ-kāya) và, còn có Báo thân (saṃbhoga-kāya).
Theo Thập địa kinh luận 3 và, Nhiếp Đại thừa luận hạ,
thì chủ trương Phật có ba thân (Pháp-Báo-Ứng) và, có kinh
luận lại ghi có bốn thân; nhưng ở đây chúng tôi sẽ trình
bày về ba thân:
1/
Pháp thân còn gọi là Pháp Phật, Pháp thân Phật, Pháp tánh
thân, Tự tánh thân, Đệ nhất thân, Chân thân …: Theo
Phật giáo Đại thừa thì chỉ chấp nhận quan niệm về Pháp
thân của các nhà Hữu bộ và, cộng thêm quan điểm về Pháp
tánh chân như của Lý thể bình đẳng phổ biến chân thật
thường trụ của các pháp mà lấy làm Pháp thân, hay có chỗ
lập Như lai tạng làm Pháp thân.
2/
Báo thân còn gọi là Báo thân Phật, Thọ dụng thân, Thọ
pháp lạc Phật, Thọ lạc báo Phật, Thực thân …: Chỉ
cho lúc hành giả ngộ được chân lý mà có thân phổ biến
cụ thể của công đức, thân này chẳng phải là thân chân
lý vĩnh viễn, cũng chẳng phải là thân nhân cách vô thường,
mà ở nơi nhân vị Bồ-tát thời lập nguyện cùng tu hành,
kết quả đó sẽ hiển hiện hưởng lạc của Phật, tức
chỉ cho báo thân. Như Phật A-di-đà, báo thân lấy đại từ,
đại định, đại bi làm Thể; lấy sắc tướng cụ túc vô
lượng công đức cùng tướng lạc tịnh độ của Phật làm
nhân mà thành lập báo thân; Bồ-tát ở cõi Tịnh độ hưởng
pháp lạc cũng lấy báo thân làm nhân cho mình.
3/
Ứng thân, còn gọi là Ứng thân Phật, Ứng thân Như lai, Ứng
hóa thân, Ứng hoá pháp thân …: Tức là hiện thân Phật
mà cứu độ chúng sanh, ứng vào căn cơ của chúng sanh mà
ứng hiện thân nhân cách để tùy thuộc vào căn cơ hòan cảnh
quốc độ mà giáo hóa. Như đức Phật Thích Ca Mâu-ni, ứng
hiện ra thân thông thường của Ngài cao một trượng sáu xích
để thích hợp với vóc dáng người Ấn Độ vào lúc bấy
giờ mà hóa độ.
Sự
liên hệ giữa ba thân này giống như bóng, ánh sáng, và thể
của mặt trăng, gọi một mặt trăng mà có ba thân. Nói một
cách cụ thể thì, thể lý của pháp thân là một, thường
trụ không biến đổi, nên chúng ta dùng thể mặt trăng để
ví dụ. Trí tuệ của báo thân do lý thể của pháp thân sinh
ra, nó có khả năng chiếu sáng khắp tất cả, nên dùng ánh
sáng của mặt trăng mà dụ; còn Ứng thân đủ sức tác dụng
biến hóa, theo từng cơ duyên mà hiện, vì vậy cho nên chúng
ta lấy ánh sáng của mặt trăng hiện lên trên mặt nước
và mọi nơi mà làm thí dụ cho chúng ta dễ hiểu.
B
. Cõi Phật (Phật độ):
Căn
cứ vào những công đức, những thù thắng được thể hiện
ra bên ngoài cõi Phật thị hiện là nhờ vào y báo mà Phật
đã tự thực hành tu tập trong vô lượng kiếp và hạnh nguyện
của các Ngài mà thị hiện vào các quốc độ vửa phù hợp
với chánh báo vừa phù hợp với y báo và hạnh nguyện của
các Ngài mà thị hiện để có thể vừa tự độ độ tha
hay tự giác giác tha trong sự nghiệp giáo hóa của Ngài nên
cũng theo đó mà các bộ phái Phật giáo sau này có những chủ
trương khác nhau theo nhận thức của họ về cõi Phật.
I
. Quan điểm Tiểu thừa: Theo Thuyết nhứt thiết hữu bộ
thì, Phật độ chỉ cho Thế giới Ta-bà là nơi Phật Thích
Ca Đản sinh ra mà nói, sau đó Phật thân biến lý thể chân
như thành Pháp thân. Tính lịch sử của Phật là Ứng, hóa
thân. Cho nên nhờ quán sát Ứng, hóa thân mà có cõi chơn Phật,
cõi Ứng Phật, còn gọi là cõi Phương tiện hóa thân, và
cũng do thuyết báo thân mà sinh ra tư tưởng cõi báo (báo độ).
Vì những sự giải thích của Phật thân khác nhau nên cõi
Phật cũng theo đó mà có hai, ba hay năm thuyết khác nhau.
II
. Quan điểm Đại thừa:
1/
Theo Tam luận tông thì, như Đại thừa huyền luận 5, Ngài
Cát Tạng cho rằng có năm cõi (độ): Bất tịnh; Bất tịnh,
tịnh; Tịnh, bất tịnh; Tạp và, Tịnh. Năm cõi này chúng
liên hệ và y cứ vào nghiệp của chúng sanh mà cảm thọ nên
gọi là chúng sanh độ. Lại nữa, nhân vào quốc độ của
những điều giáo hóa Phật nên cũng gọi là Phật độ. Ở
nơi này có cả người phàm và các bậc Thánh cùng cư ngụ,
nên gọi là phàm thánh đồng cư độ, cũng là nơi các hàng
đã chứng ngộ Tiểu thừa, Đại thừa (A-la-hán, Độc giác,
Đại lực Bồ-tát) cùng nhau ở.
2/
Theo Thiên Thai tông chủ trương lập ra bốn cõi: Phàm Thánh
đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thật báo vô chướng
ngại độ, Thường tịch quang độ.
- Phàm
Thánh đồng cư độ, chỉ cho quốc độ vừa ô nhiễm vừa
thanh tịnh, nơi phàm phu người trời cùng các bậc thánh
Thinh văn, Duyên giác đồng ở chung. Cõi nhiễm tịnh này, tuỳ
thuộc vào y báo và chánh báo nhiễm tịnh của mỗi chúng sanh
mà được phân bố trong sáu đường. Những chúng sanh ác thì
sinh vào bốn đường địa ngục, ngạ quỹ, súc sinh và, A-tu-la;
còn những chúng sanh thiện thì sinh vào hai đường trời và,
người. Cũng cư ngụ trong cõi này, nơi cư ngụ của các vị
thật Thánh là bốn quả Thinh văn, Bích Chi Phật, Lục địa
của Thông giáo, Thập trụ của Biệt giáo; còn nơi cư ngụ
của các vị quyền Thánh là cõi Phương tiện hữu dư của
các hàng Tam thừa. Và Pháp thân các vị Bồ-tát các cõi Thật
báo vô chướng ngại và, Thường tịch quang cùng Diệu giác
Như lai thì ứng vào duyên cần cứu giúp của chúng sanh mà
quyền biến thị hiện vào cõi đó mà hoá độ. Ngoài cõi
Phàm Thánh đồn cư này ra lại có hai loại thế giới thanh
tịnh và nhiễm ô đó là thế giới đồng cư uế độ cõi
Ta-bà và, thế giới đồng cư tịnh độ của Tây phương cực
lạc.
- Phương
tiện hữu dư độ, chỉ cho A-la-hán, Bích-chi Phật là những
quốc độ mà trước kia Bồ-tát cư ngụ. Những vị này liên
hệ với phương tiện tu đạo của Không quán (quán về tính
Không của các pháp) và Giả quán (quán về sự giả hợp của
các pháp) mà đoạn trừ kiến hoặc cùng tư hoặc ra khỏi
phân đoạn sinh tử, nên gọi đó là phương tiện; chỉ còn
vô minh hoặc căn bổn, nó che dấu làm chướng ngại thật
tướng Trung đạo chưa trừ được, nên gọi là hữu dư.
- Thật
báo vô chướng ngại độ, là nơi Bồ-tát sinh ra khi đã
đoạn trừ một phần vô minh nhờ tu pháp chân thật là Trung
quán. Nơi này là nơi thù báo chân thật của Đạo một cách
vô ngại tự tại, nên được gọi là Thật báo vô chướng
ngại độ. Cũng là nơi cư ngụ của thuần Bồ-tát, không
còn có phàm phu hay nhị thừa nữa và, chính là quốc độ
nơi cư ngụ của các hàng Bồ-tát từ sơ địa của Biệt
giáo và, sơ trụ của Viên giáo trở lên.
- Thường
tịch quang độ, còn gọi là Lý tánh độ, là nơi y cứ
của Phật sau khi đoạn trừ tận gốc rễ vô minh hoặc căn
bản, tức là chỉ cho quả vị Diệu giác tột cùng, là Phật
độ nơi pháp thân thường trụ, giải thoát tịch diệt, trí
tuệ quang minh.
3/
Theo Hoa Nghiêm tông y cứ vào lập trường Nhất thừa
Biệt giáo đối với sự sai biệt đối đãi của các pháp
mà nói thì, ứng vào cơ duyên hiểu biết của nhân loại mà
nói về thế giới, đó là thế giới hải, đứng về mặt
nhân hiện tượng thế giới này có thể nói được; nhưng
đứng về mặt quả Phật chỉ có người giác ngộ về thế
giới chân như mới có thể biết, đó là quốc độ giới;
còn đối với chúng sinh phàm trần thì không thể nào nói
được. Quốc độ giới này là chỉ cho toàn thể vũ trụ
mang tên là thế giới hoa tạng cho đến mười thân (chúng
sanh thân, quốc độ thân, nghiệp báo thân, thinh văn thân,
độc giác thân, bồ-tát thân, Như lai thân, Trí thân, Pháp
thân, Hư không thân tác tự thân) đầy đủ những lời giáo
hoá của đức Tỳ-lô-giá-na Như lai về quốc độ.
4/
Theo Pháp tướng tông thì, họ chủ trương thành lập
ba độ: Pháp tánh độ, Thọ dụng độ, Biến hoá độ. Trong
Thọ dụng độ chia ra là hai là tự thọ dụng và, tha thọ
dung nên cũng gọi là bốn độ.
- Pháp
tánh độ, lấy lý chân như của pháp giới gọi là độ, cùng
với thân không khác.
- Tự
thọ dụng độ, là trên đệ bát thức của vô lậu quả vị
Phật hiển hiện ra cõi Phật thuần tịnh vô lậu, trừ Phật
ra không có bất cứ pháp nào đo lường để biết được.
- Tha
thọ dụng độ, là cõi nhờ giáo hoá thập địa Bồ-tát mà
biến hiện ra.
-
Biến hoá độ, là cõi nhờ Bồ-tát bát địa trở lên giáo
hoán các hàng nhị thừa và phàm phu biến hiện ra.
5/
Theo Chân ngôn tông thì, hành giả dùng chân ngôn quán
tâm mà cảnh địa hiện bày. Phương pháp này phân ra làm ba
giai đoạn để thành tựu điệu quả (tam phẩm tất địa):
Thượng phẩm hành giả an trụ tâm vào nước Phật Mật Nghiêm,
Trung phẩm hành giả an trụ tâm vào Tịnh độ mười phương,
Hạ phẩm hành giả an trụ tâm vào cung chư Thiên và Tu-la,
nương vào thứ tự pháp tánh thân, báo thân, ứng thân mà
phân bố tâm ra khắp châu thân mà an trụ thì, liền được
ba phẩm tất địa, nơi cảm ứng của mọi người, còn thể
của chúng thì không thể đạt được. Nếu nương vào nơi
thân do cha mẹ sinh ra mà an lập tức sẽ chứng đắc địa
vị Đại giác thì những gì người phàm thấy về đương
thể của uế độ sẽ biến thành Phật quốc Mật Nghiêm.
6/
Theo Tịnh độ tông thì, vì đức Phật A-di-đà có ba
thân pháp, báo, ứng nên có ba độ, Pháp thân độ, Báo thân
độ, Ứng thân độ và, lấy báo độ nơi cư ngụ báo thân
của đức Phật A-di-đà làm Tịnh độ cực lạc. Tịnh độ
Chân tông Nhật bản gọi đây là Báo độ chân thât, và thành
lập phương tiện hoá độ dẫn đạo giáo hoá chúng sinh.
Tóm
lại trên là hai quan niệm về Phật thân và Phật độ của
hai bộ phái Phật giáo phát triển hiện đang hiện hữu là
Tiểu thừa và Đại thừa. Ở trên có những điểm đồng
và không đồng khác nhau trên quan niệm căn cơ có được của
hai phái Tiểu và Đại thừa Phật giáo, đó chính là những
biểu hiện của trình độ nhận thức kéo đến những bất
đồng do trình độ căn cơ tu chứng và phương pháp tu hành
mà đưa đến những điều không nên đáng có. Vì trên nền
tảng căn bản Giáo pháp của đức Phật với mục đích giải
thoát khổ (vô minh phiền não hoặc) để đạt giải thoát
và an vui trong hiện tại cũng như trong tương lai qua nhận thức
và thực hành duyên khởi pháp về quán pháp lưu chuyển và
hoàn diệt. Căn cứ vào pháp đặc trưng Duyên khởi này theo
thời gian và không gian trên chiều tương đối và tuyệt đối
thì đối với Phật thân và Phật độ không phải là vấn
đề mâu thuẫn hay chống trái mà chỉ bị giới hạn trong
vấn đề căn cơ nhận thức và hiểu biết để thực hành
mà thôi. Về mặt thời gian và không gian các nhà Tiểu thừa
chỉ chấp nhận có một Phật trong hiện tại mà thôi, đó
chính là đức Phật Thích Ca Mâu-ni lịch sử, ngoài ra không
có hai và nhiều hơn nữa, trong khi theo các nhà Đại thừa
thì trong hiện tại ngoài đức Phật Thích Ca Mâu-ni ra còn
có hằng hà sa số các đức Phật trong mười phương của
ba nghìn đại thiên thế giới khác đang tồn tại và đang
thuyết pháp, không những chỉ trong hiện tại mà trong quá
khứ (Thất Phật) và trong tương lai (Di Lặc Phật) cũng có.
Vì những nhận định trên, cho nên theo các nhà Tiểu thừa
thì chỉ chấp nhận có một Phật nói pháp mà thôi, còn các
nhà Đại thừa thì cho là vô số đức Phật đang thuyết pháp.
Tuy nhiên trong các nhà Tiểu thừa vẫn có bộ phái Đại chúng
chấp nhận có ba nghìn đại thiên thế giới khác, đồng thời
cũng có chư Phật tồn tại nên họ chủ trương “Một cõi
có một Phật, nhiều cõi có nhiều Phật”. Ngoài ra còn có
ba đời các đức Phật chỉ cho quá khứ trang nghiêm kiếp
chi thiên Phật, hiện tại hiều kiếp chi thiên Phật cùng,
vị lai tinh tú kiếp chi thiên Phật, cộng ba kiếp lại chúng
ta có ba nghìn đức Phật. Những nhận thức của các nhà Đại
thừa về Phật thân và Phật độ được căn cứ trên giáo
lý Duyên khởi của đức Đạo sư đã dạy và căn cứ vào
nghiệp cảm Duyên khởi đến A-lại-da Duyên khởi; từ A-lại-da
Duyên khởi cho đến Chân như hay Như lai tạng Duyên khởi và,
từ Như lai tạng Duyên khởi đến Pháp giới Duyên khởi để
chúng ta thấy rằng: Một cõi Phật hiện hữu được phải
nhờ hai, ba, bốn cho đến muôn nghìn cõi Phật hiện hữu;
nếu một cõi Phật không hiện hữu thì vô lượng cõi Phật
khác cũng không hiện hữu. Cũng thế, một Phật thân hiện
hữu thì, vô lượng Phật thân cũng hiện hữu. Đó là lối
nhìn Duyên khởi để chúng ta biết pháp Duyên khởi là một
pháp đặc trưng có một không hai riêng của Phật giáo, nó
quyết định sự hình thành và biến dịch của nhân sinh và
vũ trụ theo luật vô thường tác động duyên khởi trùng trùng
qua ba nghìn đại thiên thế giới hiển bày trong một sát-na
hiện hữu qua biến dịch.
BỒ
TÁT
(Bodhi-sattva)
TT.
Thích Thích Đức Thắng
 |
 |
Bồ-tát
là từ gọi tắt của Bồ-đề Tát-đoả phiên âm từ Bodhi-sattva
tiếng Phạn (sanskrite), còn gọi là Bồ-đề Tát-đa, …
là chỉ cho những bậc cầu đạo, cầu đại giác, bậc có
tâm lớn cầu đạo. Bodhi (bồ-đề), có nghĩa là giác (giác
ngộ), là trí (trí tuệ), là đạo. Sattva (tát-đoả), có nghĩa
là chỉ cho chúng sanh, hữu tình. Vậy nguyên ngữ Bodhi-sattva
có nghĩa là giác ngộ chúng sanh, hữu tình, tức là Bồ-tát
trong hiện tại, trên dùng trí cầu Bồ-đề vô thượng; dưới
dùng bi hoá độ chúng sanh, hữu tình, tu tập thực hành các
ba-la-mật, lợi mình, lợi người hai hành viên mãn; trong tương
lai, các ngài sẽ thành tựu quả vị Phật. Bồ-tát cùng Thinh
văn và Duyên giác gọi chung là ba thừa. Bồ-tát là cõi thứ
chín trong mười cõi (Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, Tu-la,
Nhơn gian, Thiên thượng, Thinh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật
giới). Đối với các hàng Thinh văn, Duyên giác mà các ngài
cầu Bồ-đề thì các ngài cũng được gọi là Bồ-tát; đặc
biệt các vị đại thừa tu hành chỉ cầu vô thượng Bồ-đề
thời gọi là ma-ha Tát-đoả phiên âm của maha-sattva tiếng
Phạn, hay còn gọi là Ma-ha Tát, Bồ-tát Ma-ha Tát, Bồ-đề
Tát-đoả Ma-ha Tát-đoả hay là Ma-ha Bồ-đề Chất-đế Tát-đoả
…
Về
danh hiệu thì có hai loại danh hiệu chung và riêng:
1/
Danh hiệu xưng chung cho Bồ-tát theo kinh điển thì rất có
nhiều tên khác nhau tuỳ thuộc vào ý nghĩa tán thán tôn kính
đối với các hành Bồ-tát như: Khai sĩ (bồ-đề Tát-đoả),
Đại sĩ (Ma-ha Tát-đoả), Tôn nhơn (đệ nhất Tát-đoả),
Thánh sĩ (Tắng Tát-đoả), Siêu sĩ (Tối thắng Tát-đoả)
Thượng nhơn (thượng Tát-đoả) Vô thượng (vô thượng Tát-đoả),
Lực sĩ (lực Tát-đoả), Vô song (Vô đẳng Bồ-tát) Vô tư
nghì (Bất tư nghì Tát-đoả), Phật tử, Phật trì, Đại sư,
Đại thánh, Đại công đức, Đại tự tại, Chánh sĩ, Thỉ
sĩ, cao sĩ, Đại đạo tâm thành chúng sanh, Pháp thần, Pháp
vương tử, Thắng sanh tử, Quảng đại Tát-đoả, Cực diệu
Tát-đoả, Thắng xuất nhất thiết tam giới Tát-đoả, Thân
nghiệp vô thất Ngữ nghiệp vô thất Ý nghiệp vô thất, Thân
nghiệp thanh tịnh Ngữ nghiệp thanh tịnh Ý nghiệp thanh tịnh,
Thân nghiệp vô động Ngữ nghiệp vô động Ý nghiệp vô động,
Thành tựu Giác tuệ (dhīmat), Tối thượng chiếu minh (uttama-dyuti),
Tối thắng chơn tử (jina-putra), Tối thắng nhậm trì (jinādhāra),
Phổ năng hàng phục (vijetṛ), Tối thắng manh nha (jināṅkura),
Dũng kiện (vikrānta), Tối thánh (pramāścarya), Thương chủ
(sārthavāha), Đại danh xưng (mahā-yaśas), Lân mẫn (kṛpālu),
Đại phước (Mahā-puṇya), Tự tại (īśvara), Pháp sư (dharmika).
2/
Danh hiệu riêng có được nhờ vào phát tâm Bồ-đề rộng
lớn và công hạnh tu hành trải qua nhiều đời nhiều kiếp
đã được lấy đó mà làm danh hiệu riêng để gọi mà có,
như chúng ta thường độc tụng trong các kinh điển trong phần
mở đầu của các bản kinh điển Đại thừa thường gặp
trong phần “chúng thành tựu” thứ sáu, trong sáu cách thành
tựu một bản kinh do Phật nói ra trong các bản kinh ngoài tứ
chúng đệ tử thường xuyên có mặt đội khi, nếu đề tài
nào liên quan đến các hàng Bồ-tát thì luôn luôn hiện hữu
sự có mặt của các hàng Bồ-tát câu hội với năm trăm đại
Bồ-tát, và Phổ Hiền Bồ-tát và Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát
lúc nào cũng làm thượng thủ. Tên của các ngài là:
Quang
Diệm Tràng Bồ-tát, Tu Di Tràng Bồ-tát, Bửu Tràng Bồ-tát,
Vô Ngại Tràng Bồ-tát, Hoa Tràng Bồ-tát, Ly Cấu Tràng Bồ-tát,
Nhựt Tràng Bồ-tát, Diệu Tràng Bồ-tát, Ly Trần Tràng Bồ-tát,
Phổ Quang Tràng Bồ-tát, Ðịa Oai Lực Bồ-tát, Bửu Oai Lực
Bồ-tát, Kim Cang Trí Oai Lực Bồ-tát, Ly Trần Cấu Oai Lực
Bồ-tát, Chánh Pháp Nhựt Oai Lực Bồ-tát, Công Ðức Sơn Oai
Lực Bồ-tát, Trí Quang ảnh Oai Lực Bồ-tát, Phổ Kiết Tường
Oai Lực Bồ-tát, Ðịa Tạng Bồ-tát, Hư Không Tạng Bồ-tát,
Liên Hoa Tạng Bồ-tát, Tịnh Ðức Tạng Bồ-tát, Pháp Ấn
Bồ-tát, Quang Minh Tạng Bồ-tát, Tê Tạng Bồ-tát, Liên Hoa
Ðức Tạng Bồ-tát, Thiện Nhãn Bồ-tát, Tịnh Nhãn Bồ-tát,
Ly Cấu Nhãn Bồ-tát, Vô Ngại Nhãn Bồ-tát, Phổ Hiền Nhãn
Bồ-tát, Phổ Quán Nhãn Bồ-tát, Thanh Liên Hoa Nhãn Bồ-tát,
Kim Cang Nhãn Bồ-tát, Bửu Nhãn Bồ-tát, Hư Không Nhãn Bồ-tát,
Hỉ Nhãn Bồ-tát, Phổ Nhãn Bồ-tát, Thiên Quan Bồ-tát, Phổ
Chiếu Pháp Giới Trí Huệ Quan Bồ-tát, Ðạo Tràng Quan Bồ-tát,
Phổ Chiếu Thập Phương Quan Bồ-tát, Nhứt Thiết Phật Tạng
Quan Bồ-tát, Siêu Xuất Nhứt Thiết Thế Gian Quan Bồ-tát,
Phổ Chiếu Quan Bồ-tát, Bất Khả Hoại Quan Bồ-tát, Trì Nhứt
Thiết Như Lai Sư Tử Toà Quan Bồ-tát, Phổ Chiếu Pháp Giới
Hư Không Quan Bồ-tát, Phạm Vương Kế Bồ-tát, Long Vương
Kế Bồ-tát, Nhứt Thiết Hoá Phật Quang Minh Kế Bồ-tát, Ðạo
Tràng Kế Bồ-tát, Nhứt Thiết Nguyện Hải Âm Bửu Vương
Kế Bồ-tát, Nhứt Thiết Phật Quang Minh Ma Ni Kế Bồ-tát,
Thị Hiện Nhứt Thiết Hư Không Bình Ðẳng Tướng Ma Ni Vương
Trang Nghiêm Kế Bồ-tát, Thị Hiện Nhứt Thiết Như Lai Thần
Biến Ma Ni Vương Tràng Võng Thuỳ Phúc Kế Bồ-tát, Xuất Nhứt
Thiết Phật Chuyển Pháp Luân Âm Kế Bồ-tát, Thuyết Tam Thế
Nhứt Thiết Danh Tự Âm Kế Bồ-tát, Ðại Quang Bồ-tát, Ly
Cấu Quang Bồ-tát, Diệm Quang Bồ-tát, Pháp Quang Bồ-tát, Tịch
Tịnh Quang Bồ-tát, Nhựt Quang Bồ-tát, Tự Tại Quang Bồ-tát,
Thiên Quang Bồ-tát, Phước Ðức Tràng Bồ-tát, Trí Huệ Tràng
Bồ-tát, Thần Thông Bồ-tát, Quang Tràng Bồ-tát, Hoa Tràng
Bồ-tát, Ma Ni Tràng Bồ-tát, Bồ Ðề Tràng Bồ-tát, Phạm
Tràng Bồ-tát, Phổ Quang tràng Bồ-tát, Phạm Âm Bồ-tát, Hải
Âm Bồ-tát, Ðại Ðịa Âm Bồ-tát, Thế Chủ Âm Bồ-tát,
Sơn Tướng Kích Âm Bồ-tát, Biến Nhứt Thiết Pháp Giới Âm
Bồ-tát, Chấn Nhứt Thiết Pháp Hải Lôi Âm Bồ-tát, Hàng
Ma Âm Bồ-tát, Ðại Bi Phương Tiện Vân Lôi Âm Bồ-tát, Tức
Nhứt Thiết Thế Gian Khổ An Uỷ Âm Bồ-tát, Pháp Thượng
Bồ-tát, Thắng Thượng Bồ-tát, Trí Thượng Bồ-tát, Phước
Ðức Tu Di Thượng Bồ-tát, Công Ðức San Hô Thượng Bồ-tát,
Danh Xưng Thượng Bồ-tát, Phổ Quang Thượng Bồ-tát, Trí Hải
Thượng Bồ-tát, Phật Chủng Thượng Bồ-tát, Quang Thắng
Bồ-tát, Ðức Thắng Bồ-tát, Thượng Thắng Bồ-tát, Phổ
Minh Thắng Bồ-tát, Pháp Thắng Bồ-tát, Nguyệt Thắng Bồ-tát,
Hư Không Thắng Bồ-tát, Bửu Thắng Bồ-tát, Tràng Thắng Bồ-tát,
Trí Thắng Bồ-tát, Ta La Tự Tại Vương Bồ-tát, Pháp Tự
Tại Vương Bồ-tát, Tương Tự Vương Bồ-tát, Phạm Tự Tại
Vương Bồ-tát, Sơn Tự Tại Vương Bồ-tát, Húng Tự Tại
Vương Bồ-tát, Tốc Tật Tự Tại Vương Bồ-tát, Tịch Tịnh
Tự Tại Vương Bồ-tát, Bất Ðộng Tự Tại Vương Bồ-tát,
Thế Lực Tự Tại Vương Bồ-tát, Tối Thắng Tự Tại Vương
Bồ-tát, Tịch Tịnh Âm Bồ-tát, Vô Ngại Âm Bồ-tát, Ðịa
Chấn Âm Bồ-tát, Hải Chấn Âm Bồ-tát, Vân Âm Bồ-tát, Pháp
Quang Âm Bồ-tát, Hư Không Âm Bồ-tát, Thuyết Nhứt Thiết
Chúng Sanh Thiện Căn Âm Bồ-tát, Thị Nhứt Thiết Ðại Nguyện
Âm Bồ-tát, Ðạo Tràng Âm Bồ-tát, Tu Di Quang Giác Bồ-tát,
Hư Không Giác Bồ-tát, Ly Nhiễm Giác Bồ-tát, Vô Ngại Giác
Bồ-tát, Thiện Giác Bồ-tát, Phổ Chiếu Tam Thế Giác Bồ-tát,
Quảng Ðại Giác Bồ-tát, Phổ Minh Giác Bồ-tát, Pháp Giới
Quang Minh Giác Bồ-tát v.v… Năm trăm đại Bồ-tát như vậy
câu hội. Mỗi vị Bồ-tát mang cho mình một danh hiệu riêng
tuỳ thuộc vào hạnh nguyện và thành quả tu chứng mà có
được trong việc thượng cầu Phật đạo, hạ hoá chúng sanh
của riêng từng vị một. Như Bồ-tát Quán Thế Âm có được
danh xưng là Đại từ Đại bi tầm thinh cứu khổ cứu nạn
ling cảm ứng Quán Thế Âm Bồ-tát cũng nhờ vào sự kết
hợp giữa pháp tu và hạnh nguyện cứu khổ độ sanh mà có
được danh xưng như vậy và, danh hiệu các vị Bồ-tát khác
cũng như vậy,
Bồ-tát
cũng tuỳ thuộc vào địa vị tu tập ngộ giải sâu cạn mà
có thể phân ra nhiều chủng loại khác nhau. Theo kinh Bồ-tát
Địa trì 8, phẩm Công đức Bồ-tát thì, được Bồ-tát phân
ra làm mười:
- Chủng
tánh (gotra-stha), ở đây, vị nào chưa được tâm thanh tịnh
thì, gọi là Chủng tánh.
- Nhập
(avatīrṇa), ở đây, vị nào đã phát tâm tu học thì, những
vị đó thuộc vào loại Nhập.
- Vị
tịnh (a-śuddhāśaya), ở đây vị nào đã nhập rồi nhưng
chưa thông đạt được tâm địa thanh tịnh thì, gọi là chưa
trong sạch (vị tịnh).
- Tịnh
(śuddhāśaya), ở đây, vị nào đã nhập vào được tâm địa
thanh tịnh thì, gọi là thanh tịnh.
- Vị
thục (a-paripakva), ở đây, vị nào đã được tâm địa thanh
tịnh, nhưng chưa nhập vào được địa cứu cánh thì, gọi
là chưa chín mùi (vị thục).
- Thục
(paripakva), ở đây, vị nào đã nhập vào địa cứu cánh thì,
vị đó được gọi là chín mùi (thục).
- Vị
định (a-niyati-patita), ở đây, vị nào đã nhập được vào
địa cứu cánh rồi, nhưng chưa nhập vào địa của định
thì, vị ấy chưa được gọi là chưa đạt định (vị định).
- Định
(niyati-patita), ở đây, vị nào đã vào được địa của định
thì, vị đó được gọi là đạt định.
- Nhất
sinh (eka-jāti-pratibaddha), ở đây, vị Bồ-tát chỉ qua một
lần sanh này tức sẽ lên Diệu giác quả vị Phật. Cho nên
những vị Đẳng giác Bồ-tát đều được gọi là Nhất sanh
bổ xứ cả, vì các vị Đẳng giác Bồ-tát hoặc vô minh chưa
hết vẫn còn một phen biến dịch sinh tử.
- Tối
hậu thân (carama-bhavika, hay antima-deha), ở đây, chỉ cho thân
sau cùng trong sinh tử của hàng Bồ-tát Đẳng giác. Như vậy
chúng ta thấy ở đây có sự liên hệ nhau giữa Nhất sinh
và thân tối hậu cùng có một nghĩa như nhau về mặt thời
gian.
Ngoài
mười chủng loại như trên Bồ-tát còn phân ra làm hai loại:
Bồ-tát tại gia cùng xuất gia, Bồ-tát thối chuyển cùng bất
thối chuyển, Bồ-tát sinh thân cùng pháp thân, Bồ-tát
nhục thân sinh tử cùng sinh thân pháp tánh, Bồ-tát đốn ngộ
cùng tiệm ngộ, Bồ-tát đã phát tâm lâu (đại lực) cùng
mới phát tâm, Bồ-tát trí (trí tuệ) tăng cùng bi (từ bi)
tăng v.v…
Theo
Pháp tướng tông chủ trương thì trí tuệ tăng cùng từ bi
tăng có sự liên hệ đến sự phân loại Bồ-tát từ “bát
địa” trở về trước thẳng đến bồ-tát (bồ-tát đốn
ngộ), sau khi hàng phục hết thảy mọi thứ phiền não chướng
sinh khởi hiện hành thì lập tức lãnh thọ thân biến dịch,
thành tựu trí tăng thượng Bồ-tát; đến sau khi hàng phục
hòan tòan tâm của địa thứ bảy thì sẽ thọ thân phân đọan,
thành tựu bi tăng thượng Bồ-tát hoặc là Đại bi Bồ-tát.
Đối với các hàng Bồ-tát hồi tâm (Bồ-tát tiệm ngộ) mà
nói thì, từ “bất hòan” cùng với hồi tâm A-la-hán, cần
tăng trưởng trí tuệ để đối trị việc đọan phiền não
của dục giới; riêng từ “dự lưu” cùng với các hàng
hồi tâm “nhất lai” thì có thể cần trí tăng thượng hay
bi tăng thượng tùy thuộc vào việc đối trị và lòng thể
hiện tình thương của họ mà thể hiện. Tuy nhiên giai đọan
này vẫn có Bồ-tát phát triển hai mặt trí và bi cân bằng.
Lúc này các hàng Bồ-tát nào ở vào vị Thập tín thì gọi
là Bồ-tát mới phát tâm.
Trong
thời gian thượng cầu Phật đạo, tức là Bồ-tát phát tâm
tu hành để tự đem lợi về cho chính mình thì, thời gian
này gọi là Bồ-tát hành, nên Bồ-tát luôn quan hệ đến tất
cả các phương pháp, pháp tắc nghi thức những lời dạy tu
hành của đức Phật dành cho các vị Bồ-tát, để tiến đến
mục tiêu cuối cùng là đạt quả vị Phật phải qua cỗ xe
được gọi là Bồ-tát thừa; và những kinh điển dành riêng
cho các hàng Bồ-tát được gọi là Bồ-tát tạng. Như kinh
Phạm Võng chẳng hạng đức Phật cũng dùng giới luật để
cho các hàng Bồ-tát thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý phải
qua việc hành trì Bồ-tát giới.
Nói
tóm lại, Bồ-tát là quà vị, cõi thứ chín trong mười cõi.
Cõi sắp hòan thành sự nghiệp tự mình giác ngộ cho chính
mình và, đồng thời cũng giác ngộ cho người khác cũng giống
như mình trong sự nghiệp hạ hóa chúng sinh, để hòan thành
sự nghiệp giác hành viên mãn thành Phật. Bỡi vậy trong lúc
Bồ-tát hành đạo, vì đặt vấn đề giải thóat tối hậu
cuối cùng trên hết, mặc dù việc hạ hóa chúng sinh không
phải là việc thứ yếu nhưng chúng vẫn quan trọng cần thiết
trong việc hổ trợ mục đích cuối cùng là thành Phật, nên
các ngài luôn luôn cho dù bị lệ thuộc vào phát nguyện lớn
là cứu độ chúng sinh, nhưng việc làm của các Ngài không
bị chúng sinh trói buộc lôi kéo qua việc không tạo nhân sinh
tử, mặc dù các ngài luôn sống trong nhân quả. Vì nhân quả
chỉ bị lệ thuộc vào ba cõi sáu đường của thiện ác báo
ứng, trong khi Bồ-tát ra khỏi được ba cõi sáu đường, nên
bồ-tát hành của các ngài bằng vào nguyện lực vượt thóat
nghiệp lực nhân quả với không tâm tác nhân nên nếu quả
có nhận đi chăng nữa cũng là không quả vô cầu. Đó là
chúng ta đứng về mặt Bồ-tát mà luận thì Bồ-tát không
tạo nhân, cho nên không nhận quả; nhưng nếu đứng về mặt
nhân quả chúng sinh mà luận thì Bồ-tát rất sợ nhân, nên
các Ngài không bao giờ tạo nhân dù là thiện nhân đi chăng
nữa. Vì thiện nhân cũng vẫn còn ở trong vòng sinh tử luân
hồi, nên các Ngài vì sợ nhân sinh tử luân hồi nên không
tạo nhân. Ngược lại với Bồ-tát chúng sinh thì sợ quả,
vì chúng sinh mê mờ nên không nhận thức được việc làm
của mình là câu hữu với vô minh, nuôi lớn ba độc tham sân
si vun trồng bản ngã, nên không thấy được cái tác hại
của những hành động của mình (nhân), nên tạo ra mọi nguyên
nhân để nuôi lớn bản ngã vô minh tà kiến của mình mà
không biết được cái tác hại của chúng sẽ đến sau đó.
Cho nên chúng sinh cứ mặc tình mặc sức tạo ra mọi tác nhân
để rồi sau đó nhận lãnh mọi hậu quả tác hại đến bản
thân mình thì lúc này mới bật ngửa ra biết là những việc
làm trước kia của chúng ta là tai hại qua cái quả mang lại
khổ đau trong hiện tai rồi mới đâm ra sợ quả mà mình đang
gánh chịu! Bỡi vậy cho nên chúng ta thường nghe mọi người
nói là: “Bồ-tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả.” Là phát
xuất từ quan điểm này. Thật ra Bồ-tát đâu có còn tạo
nhân bằng hữu tâm nữa mà sợ nhân, nhưng về mặt chúng
sinh mà luận thì tạm thời chúng ta chấp nhận quan điểm
này cũng không sao.
THANH
VĂN
(śrāvaka)
TT.
Thích Thích Đức Thắng
 |
 |
Thinh
Văn là chỉ cho các vị đệ tử của đức Đạo sư khi còn
tại thế, nhờ nghe âm giáo dạy dỗ của đức Đạo sư mà
các ngài chứng ngộ. Như vậy Thinh Văn có được do nơi sự
thích nghĩa mà có từ Phạn ngữ śrāvaka được phiên âm là
Xá-la-bà-ca dịch là đệ tử. Theo các nhà phát triển sau này
thì Thinh Văn đã trở thành một trong năm thừa được các
Ngài phân loại theo những lời dạy do đức Đạo sư nói ra
trong vòng bốn mươi lăm năm, tuỳ thuộc vào căn cơ của đệ
tử mà ứng hiện qua năm pháp môn đối trị chính, được
gọi giáo lý nền tảng chuyên chở chúng sanh này ra khỏi bờ
mê chóng quay về bờ giác được các Ngài gọi là thừa, đó
là:
1/
Pháp Tam quy ngũ giới, vận chuyển chúng sanh ra khỏi tam đồ
(địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn gọi là hoả đồ, đao
đồ, huyết đồ), tứ thú ( địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh,
a-tu-la) mà sinh về Nhơn đạo gọi là Nhơn thừa (manuṣya-yāna).
2/
Pháp Thập thiện, tứ Thiền, bát Định vận chuyển chúng
sanh ra khỏi bốn châu trong Nhơn đạo (Nam thiệm bộ châu,
Bắc câu lô châu, Đông thắng thần châu, Tây ngưu hoá châu)
mà đến các cõi trời gọi là Thiên thừa (deva-yāna).
3/
Pháp tứ Đế vận chuyển chúng sanh ra khỏi ba cõi (cõi dục,
cõi sắc, cõi vô sắc) đến nơi hữu dư Niết-bàn mà thành
A-la-hán gọi là Thinh văn thừa (śrāvaka-yāna).
4/
Pháp thập nhị Nhân duyên vận chuyển chúng sanh ra khỏi ba
cõi, đến nơi vô dư Niết-bàn mà thành Bích Chi Phật gọi
là Duyên giác thừa (pratyeka-buddha-yāna).
5/
Pháp môn Bi trí của Lục độ vận chuyển chúng sanh ra khỏi
cảnh giới ba cõi của ba thừa để đến Vô thượng Bồ-đề,
bờ bên kia của Đại Bát Niết-bàn gọi là Bồ-tát thừa
(bodhisattva-yāna). Ở đây Thinh văn thưa thuộc thừa thứ ba
của năm thừa.
Theo
Đại thừa Nghĩa chương 17 thì, danh nghĩa của Thinh văn được
giải thích theo ba cách:
1/
Dùng nhân duyên đắc đạo để giải thích thì, các hàng đệ
tử của Ngài nhờ nghe âm thính thuyết giáo của đức Đạo
sư mà ngộ giải đắc đạo nên gọi là giải thích là Thinh
văn.
2/
Dùng quán chiếu là pháp môn để giải thích, như Thập địa
kinh luận 4 thì, chúng sanh, vì chỉ dùng danh xưng nên phải
dùng âm thinh để nói, đối với âm thinh mà ngộ giải cho
nên gọi là Thinh văn.
3/
Dùng ký thuyết (thọ ký) khi giáo người khác (đệ tử) mà
giải thích, như kinh Pháp hoa 2, phẩm Tín giải thì, dùng âm
thinh Phật đạo để khiến cho tất cả chúng sanh được nghe
cho nên gọi là Thinh văn (nghe âm thinh).
Trong
ba cách giải thích này thì hai cách giải thích trước là lối
giải thích theo Thinh văn Tiểu thừa, còn lối giải thích thư
ba là lối giải thích của Bồ-tát và, ở đây cũng tuỳ thuộc
vào nghĩa của chúng mà gọi là Thinh văn.
Thinh
văn nguyên chỉ cho đệ tử xuất gia của đức Phật khi Ngài
còn tại thế và, sau khi đức Thế tôn thị tịch thì theo
đà phát triển và phân loại của Phật giáo phát triển sau
này nếu đi cùng với Duyên giác thì gọi cả hai là nhị thừa,
nếu cả hai cùng đi với Bồ-tát thì gọi là tam thừa. Như
trên chúng tôi đã nói Thinh văn lấy pháp tứ Đế làm đối
tượng quán lý cùng tu tập ba mươi bảy phẩm đạo để đoạn
trừ kiến tư hoặc, tiến lên tu tập để đoạn trừ hai hoặc
(trần sa hoặc và vô minh hoặc) mà lần lượt chứng đắc
bốn quả sa môn và, cuối cùng nhập vào Vô dư Niết-bàn.
Giáo pháp đức Đạo sư nói riêng cho các hàng căn cơ Thinh
văn nghe thì gọi là Thinh văn thừa, còn kinh đển ghi thuật
lại những giáo thuyết đó thì gọi là Thinh văn tạng.
Trong
các bộ kinh luận nói về Thinh văn thì có nhiều loại: có
hai chủng loại, hoặc ba chủng loại, hay bốn chủng loại
tuỳ thuộc vào kiến giải của các bộ phái phát triển vào
lúc bấy giờ.
Theo
kinh Giải thâm mật 2, trong phẩm vô tự tánh, tướng thì có
loại thinh văn: Nhất hướng thú tịch Thinh văn và, Hồi hướng
Bồ-đề Thinh văn.
Theo
Nhập Lăng Già kinh 4 thì, có ba loại Thinh văn: Quyết định
tịch diệt Thinh văn, Phát Bồ-đề nguyện thiện căn Thinh
văn và, Hoá ứng hoá Thinh văn.
Theo
Du già sư địa luận 73 thì có ba loại Thinh văn: Biến
hoá Thinh văn, Thệ nguyện Thinh văn và, Pháp tánh Thinh văn.
Theo
luận Pháp Hoa quyển hạ của ngài Thế Thân thì có bốn loại
Thinh văn: Quyết định Thinh văn, Tăng thượng mạng Thinh văn,
Thối bồ-đề tâm Thinh văn và, Ứng hoá Thinh văn.
Riêng
theo Văn cú Pháp hoa quyển 4 phần đầu thì Thinh văn phân ra
thành năm loại:
- Quyết
định Thinh văn, nhờ tu tập theo Tiểu thừa giáo lâu ngày
huân tập qua nhiều kiếp đã chín mùi mà nay chứng được
tiểu quả, nên gọi là quyết định Thinh văn.
- Thối
Bồ-đề Thinh văn, các ngài khi xưa vốn đã tu tập theo Đại
thừa, đã huân tập tích trong việc tu đạo trong nhiều kiếp,
nhưng vì trong lúc tu tập trong sinh tử trở nên mệt mỏi nhàn
chán không tự thắng mình tinh tấn nổ lực vương lên từ
sinh tử mà bị chúng làm mỏi mệt nên tâm đạo lớn của
Đại thừa bị âm mòn thối lui, chỉ còm muốn chứng lấy
tiểu quả mà thôi nên gọi là thối thất Bồ-đề Thinh văn.
- Ứng
hóa Thinh văn, là chỉ cho chư Phật chư Bồ-tát vì muốn hóa
độ cho hai loại Thinh văn trên nên bên trong bí mật mang hành
nguyện Phật và Bồ-tát, bên ngòai thì mang hình tướng Thinh
văn để động viện khích lệ hai hàng trên thấu hiểu rằng
đạo lý Tiểu thừa chỉ làm cho con ng7ời của mình và mọi
người trở nên chật hẹp trong việc tự tu, tự chứng thôi,
mà không đem những sở học, sở tu, sở chứng của mình ra
để giúp đỡ mọi người. Vì vậy nên các Ngài phải ngoài
hiện thân tướng thinh văn, mà bên trong thì hành bồ tát hạnh
đề giúp đỡ khuến khích động viên viên hai hàng Thinh văn
kể trên phải vượt qua tiểu thừa để siêu chứng Đại
thừa., cho nên gọi là Ứng hóa Thinh văn.
- Tăng
thượng mạng Thinh văn, là chỉ cho các hàng Thinh văn chán
chê sinh tử muốn lìa sinh tử, ham vui cảnh giới Niết bàn
an vui, nên chỉ muốn tu tập giáo lý Tiểu thừa và, khi đã
đạt được kết quả Niết-bàn an lạc của Tiểu thừa rồi
cho đó là cõi niết-bàn an vui tuyệt đối đầy đủ, nên
những gì chưa được các Ngài cho là đã đạt được, những
gì chưa chứng đã cho rằng đã chứng rồi đối với Đại
thừa, đó gọi là Thinh văn thượng mạng.
- Đại
thừa Thinh văn, vì những âm thinh về Phật đạo khiến cho
các ngài tất cả không có bất cứ vị nào khi nghe qua mà
muốn trụ vào hóa thành (Niết-bàn của Tiểu thừa) mà tất
cả đều quay về với lý thật tướng của Đại thừa cả,
nên gọi là Đại thừa Thinh văn.
Những
phân loại về Thinh văn có được ở trên là chúng tôi căn
cứ vào nơi giáo nghĩa kinh luận của các nhà phát triển Đại
thừa để thiết lập. Sự phân loại như vậy là do các nhà
Đại thừa cũng căn cứ vào giáo nghĩa căn cơ mà đức Đạo
sư khi còn tại thế đã giáo huấn theo trình độ nhận thức
của từng loại chúng sanh, mà Ngài ban thuốc để đối trị
với từng loại căn bệnh trong tu tập. Nhưng theo kinh
luận Tiểu thừa như các bộ A Hàm cùng Phát trí luận, Lục
túc luận v.v.. thì không thấy có sự phân loại Thinh văn thành
nhiều loại như vậy, mà duy nhất chỉ có một Thinh văn là
đệ tử xuất gia đã chứng bốn quả sa-môn hướng đến
Niết-bàn tịch diệt ra khỏi ba cõi mà thôi. Trong thời kỳ
đức Đạo sư còn tại thế Thinh văn được chỉ chung cho
những vị đệ tử của Ngài, xuất gia cũng như tại gia đã
vào hàng dự lưu Thánh chủng cho đến bốn quả Sa-môn và
chứng đắc Niết-bàn đều gọi chung là Thinh văn cả, nhưng
sau này khi đức Đạo sư vào Niết-bàn, trong thời kỳ phát
triển giáo đòan và các bộ phái ra đời thì Thinh văn chỉ
còn dành cho các vị xuất gia tu tập phạm hạnh mới gọi
là Thinh văn, còn các hàng tục gia đệ tử thì trong kinh luận
không thấy còn liệt kê họ vào thành phần Thinh văn nữa.
Thinh văn theo các nhà Tiểu thừa thì chỉ có một chủng loại
Thinh văn và, Thinh văn duy nhất dùng một thứ ngôn ngữ trong
cuộc sống từ khi tu tập cho đến lúc chứng đắc Niết-bàn
an ổn ra khỏi ba cõi như kinh luận Tiểu thừa ghi lại mà
thôi.
Tóm
lại, về ý nghĩa tu tập chứng quả Thinh văn thì giữa Tiểu
thừa và Đại thừa không có sự sai khác nào trong việc định
nghĩa và pháp tu tập để đưa đến đắc quả A-la-hán, nhưng
chỉ có một sự khác biệt trong quan niệm về quả vị A-la-hán
đã rốt ráo hay chưa rốt ráo thì, giữa các nhà Tiểu thừa
và Đại thừa không nhất trí trong việc này. Theo các nhà
Tiểu thừa thì coi như quả A-la-hán là quả vị tột cùng
của chúng ta, trong việc giải thóat khổ chứng đắc Niết-bàn
an vui và, họ quan niệm muốn đạt đến Niết-bàn an vui tịch
diệt thì, phải vượt ra khỏi ba cõi này để an trụ vào
một cảnh giới an vui tịch diệt ngòai ba cõi này, trong khi
các nhà Đại thừ thì cho rằng quả vị A-la-hán của các
hàng Thinh văn chưa phải là cõi Niết-bàn an vui cứu cánh rốt
ráo theo như những phân tích của họ trong ngũ thừa giáo mà
đức Đạo sư đã phương tiện dạy cho chúng ta. Đó chỉ
là cảnh giới tạm thời và, chúng sẽ bị vượt qua để
đi đến Niệt bàn an vui tịch diệt của Phật quả sau này
nữa và, trạng thái Niết-bàn anvui tịch diệt đó bất cứ
ai cũng có thể đạt được hết ngay trong ba cõi thế gian
này chứ không phải đi ra ngòai ba cõi này. Và cũng vì quan
niệm như vậy nên Thinh văn trong sự phân loại của các nhà
Đại thừa là căn cứ trên nền tảng giáo nghĩa năm thừa
giáo mà có trong khi các nhà Tiểu thừa chỉ đến A-la-hán
là quả chứng cuối cùng trong tu tập nên chỉ có một Thinh
văn duy nhất và cùng một thứ ngôn ngữ duy nhất về Thinh
văn mà thôi.
|