CHƯƠNG
34
Đặc
tánh của Niết Bàn
"Niết
bàn là gì, hỡi đạo hữu?
Sự
tận diệt tham, tận diệt sân, tận diệt si.
Đó,
nầy đạo hữu, gọi là Niết Bàn.''
Tạp
A Hàm
Đối
nghịch với cảnh giới hữu tình của vòng luân hồi trong
ấy tất cả đều là những hiện tượng luôn luôn biến đổi,
sanh diệt, diệt sanh, Niết Bàn là vĩnh cửu (dhuva), đáng được
ham muốn (subha), và hạnh phúc (sukha).
Theo
Phật Giáo các pháp - tại thế và siêu thế - đều được
sắp vào hai loại: (a) những pháp hữu vi, tùy thế, thuộc
thế gian pháp, có nhiều hay một nguyên nhân tạo điều kiện
để phát sanh (samkhata); và (b) những pháp vô vi, bất tùy thế
(asamkhata), không cần nguyên nhân hay điều kiện nào để hiện
hữu.
Vậy
tùy thế (samkhatalakkhanani) luân chuyển trong ba giai đoạn: sanh
(uppada), diệt (vaya) và biến đổi trạng thái (thitassa annathattam).
[1]
Phát
sanh hay trở thành là đặc tánh chánh yếu của mọi vật cấu
tạo, hữu vi, do một hay nhiều nguyên nhân tạo điều kiện
để hiện hữu. Cái gì phát sanh hay trở thành tức nhiên phải
biến đổi và phân tán. Pháp hữu vi luôn luôn trở thành và
lôn luôn biến đổi. Vô thường biến đổi là định luận
bao quát, phổ thông cho mọi sự vật - vật chất lẫn tinh
thần - nằm trong vũ trụ, từ tế bào hết sức vi tế đến
những chúng sanh thật to lớn hay những hình thể khổng lồ.
Tâm, tuy vô hình, biến đổi lại càng nhanh chóng hơn vật
chất.
Sự
hiện hữu của Niết Bàn, trạng thái siêu thế mà chư Phật
và chư vị A La Hán chứng ngộ, không tùy thuộc nguyên nhân
nào. Vì lẽ ấy, Niết Bàn không trở thành, không biến đổi,
không bị phân tán. Niết Bàn là vô sanh (ajata), bất hoại
(ajara), và bất diệt (amara). Một cách chính xác, Niết Bàn
không phải là quả, cũng không phải là nhân. Do đó Niết
Bàn là duy nhất (kevala).
Cái
gì phát sanh do một nguyên nhân chắc chắn phải hoại diệt,
và do đó, là không đáng được ham muốn. Đời sống là sở
hữu mà con người thiết tha quý trọng nhất, thế nhưng lắm
khi, trong những cảnh ngộ khó khăn và dưới những gánh nặng
quá đổi, chính cái đời sống được yêu chuộng ấy trở
thành không thể chịu nổi. Trong những lúc ấy, sống là một
cực hình, và những người yếu tánh đôi khi nghĩ đến việc
quyên sinh cuộc sống, tưởng chừng như chết là quyết được
mọi vấn đề đau khổ.
Tất
cả chúng ta đều thương yêu và hết sức cố gắng chăm nom,
săn sóc, trang điểm thân thể như vật rất quý. Nhưng tấm
thân duyên dáng, yêu kiều, diễm lệ, và khả ái nầy là nguồn
gốc bao nhiêu đau khổ. Đến lúc bị thời gian và bệnh tật
làm hao mòn tiều tụy đi rồi thì cơ thể vật chất nầy
chỉ còn là gánh nặng vô cùng khả ố.
Sau
đây là một chuyện tích lý thú, ngụ ý rằng đời sống
và những lạc thú của kiếp nhân sinh chỉ là tạm bợ:
- Một
chàng nọ lầm lủi đi giữa một khu rừng mênh mông đầy
chông gai và gành đá ngổn ngang. Bỗng nhiên anh thấy sau lưng
một thớ tượng to tướng rảo bước đi về phái mình. Sợ
hãi, anh đâm đầu chạy. Voi chạy theo đến trước một giếng
cạn, anh định nhảy xuống để tránh voi. Nhưng nhìn xuống
giếng anh nhìn thấy một con rắn độc nằm dưới đáy. Không
còn cách nào khác nữa anh đành đeo theo một sợi dây đầy
gai có sẵn, lòng thòng trên miệng giếng. Tạm thoát khỏi
nạn, anh nhìn lên thấy hai con chuột, một đen một trắng,
đang cặm cụi gặm sợi dây mà anh đang đeo. Lúc anh ngửa
mặt lên thì từ một ổ ong phía trên, vài giọt mật nhỏ
ngay vào miệng.
Anh
chàng lấy làm thỏa thích, lãng quên là mình đang sống trong
tình trạng bấp bênh và hết sức nguy ngập, yên trí tận
hưởng vị ngọt ngào của mật. Vừa lúc ấy có một người
giàu lòng bi mẫn chỉ đường cho anh thoát nạn.
Nhưng
anh lễ độ xin Ngài cảm phiền chờ một chút, để anh thưởng
thức hết giọt mật...
Khu
rừng mênh mông và đầy chông gai là vòng luân hồi, trầm
luân bể khổ. Đời sống của chúng sanh không phải là một
vườn hoa hồng tươi đẹp mà dẫy đầy những hoàn cảnh
cam go đau khổ. Chúng ta phải vượt qua bao nhiêu chướng ngại,
chịu đựng bao nhiêu sự chỉ trích bất công, những hành
vi chống đối, những câu nói khiêu khích, những cuộc tấn
công, những lời nguyền rủa. Đó là những con đường chông
gai của cuộc sống.
Thớt
voi giống như cái chết. Con rắn độc như tuổi già. Sợi
dây đầy gai là sự sanh [2]. Hai con chuột, là ngày và đêm.
Những giọt mật ngọt ngào là thú vui của đời sống,và
người giàu lòng bi mẫn, sẵn sàng chỉ lối thoát là Đức
Phật.
Cái
mà chúng ta gọi là hạnh phúc trong đời sống chỉ là sự
thoả mãn một vài điều mong mỏi. Khi được một việc ta
lại muốn việc khác. Tham vọng không khi nào dứt, không khi
nào ta cho là vừa đủ.
Vậy,
phiền não và đau khổ là bản chất thiên nhiên của đời
sống, và không chúng sanh nào trong tam giới có thể tránh thoát.
Niết
Bàn là pháp bất tùy thế, vô vi, không tùy thuộc nhân duyên
để hiện hữu. Do đó Niết Bàn là trường cửu, vô sanh,
bất diệt (dhuva), đáng được ham muốn (subha), và hạnh phúc
(sukha).
Ta
nên phân biệt hạnh phúc Niết Bàn với hạnh phúc thông thường
ở thế gian.
Hạnh
phúc Niết Bàn không phai lạt, cũng không nhàm chán. Đó là
hạnh phúc không mệt mỏi, không đổi thay.
Hạnh
phúc tạm bợ ở thế gian là sự thỏa mãn một vài tham vọng
(vedayita). Trái lại, hạnh phúc Niết Bàn phát sanh do sự giảm
suy dục vọng(vupasama).
Trong
kinh Bahuvedaniya Sutta [3], Đức Phật kể ra mười loại hạnh
phúc sắp xếp theo thứ tự, bắt đầu từ những khoái lạc
thô kịch do sự thỏa mãn nhục dục. Phẩm hạnh đạo đức
càng lên cao, loại hạnh phúc càng trở nên phấn khởi, cao
thượng, vi tế đến độ thế gian khó nhận thức được
rằng đó là hạnh phúc. Khi đắc Sơ Thiền, hành giả đã
hưởng được một thứ hạnh phúc khác thường, tuyệt đối
không liên hệ đến ngũ quan. Hạnh phúc này phát sanh do sự
chế ngự lòng ham muốn thỏa mãn nhục dục mà người sống
theo vật chất đánh giá thật cao. Tuy nhiên, khi hành giả đắc
Tứ Thiền, cho đến loại hạnh phúc của Sơ Thiền cũng trở
thành thô kịch và không lợi ích, so với hạnh phúc mới thành
tựu, tức tâm Xả (Upekkha).
Đức
phật dạy:
"Nầy
Ananda, những giây trói buộc của nhục dục ngũ trần có năm
loại. Năm loại ấy là gì? Là những hình thể do mắt tiếp
nhận, đáng ham muốn, quyến rũ, dễ mến, dễ say mê, và theo
sau đó là sự thèm thuồng khuấy động, làm dậy lên đám
bụi khát vọng.
"Là
những âm thanh do tai, những mùi hương do mũi, những vị do
lưỡi, những sự xúc chạm do thân tiếp nhận, đáng ham muốn,
quyến rũ, dễ mến, dễ say mê và theo sau đó là sự thèm
thuồng, khuấy động, làm dậy lên đám bụi khát vọng; nầy
Ananda, đó là năm dây trói buộc của nhục dục. Bất luận
hạnh phúc hay lạc thú nào phát sanh do năm trói buộc của
nhục dục ngũ trần là hạnh phúc vật chất.
"Kẻ
nào nói rằng: - 'đây là hạnh phúc cao thượng nhất mà chúng
sanh có thể thọ hưởng'. Như Lai không chấp nhận. Tại sao?
Bởi vì có hạnh phúc khác phấn khởi và cao thượng hơn.
Và hạnh phúc khác phấn khởi và cao thượng hơn là gì?
"Ở
đây, vị Tỳ khưu hoàn toàn dứt bỏ lòng ham muốn thỏa mãn
những dục vọng, xa lìa những trạng thái bất thiện, sống
ẩn dật nơi vắng vẻ và yên tĩnh, phát triển Tầm, Sát đến
Phỉ, Lạc và an trụ tâm trong Sơ Thiền (Pathama Jhana). Đó
là hạnh phúc phấn khởi và cao thượng hơn.
"Tuy
nhiên nếu ai nói rằng: - 'đây là hạnh phúc và lạc thú cao
trọng nhất mà chúng sanh có thể thọ hưởng', Như Lai không
chấp nhận. Tại sao? Bởi vì có hạnh phúc khác, phấn khởi
và cao thượng hơn.
"Nơi
đây Tầm, Sát vững chắc, không chao động. Yên tĩnh bên trong,
tâm kiên cố, vị Tỳ khưu chấm dứt Tầm, Sát, và do trạng
thái vắng lặng, tiến đến Phỉ, Lạc và an trụ tâm vào
Nhị Thiền (Dutiya Jhana). Đó là hạnh phúc khác, phấn khởi
và cao thượng hơn.
"Nhưng
nếu có kẻ bảo rằng đó là cao thượng nhất mà chúng sanh
có thể thọ huởng, Như Lai không chấp nhận. Còn hạnh phúc
cao thượng hơn?
"Ở
đây, chấm dứt lòng thích thú trong Phỉ, giữ yên lặng, an
trụ và hoàn toàn giác tỉnh, vị Tỳ khưu thọ hưởng trạng
thái mà bậc thánh nhân mô tả 'tâm bình thản, quân bình (tâm
xả)' và an trụ trong hạnh phúc. Như vậy, hành giả nhập
Tam Thiền (Tatiya Jhana). Đó là hạnh phúc phấn khởi và cao
thượng hơn.
"Mặc
dầu vậy, nếu có kẻ bảo rằng đó là hạnh phúc cao thượng
nhất, Như Lai không chấp nhận. Còn hạnh phúc cao thượng
và phấn khởi hơn?
"Nơi
đây, dứt bỏ lạc thú và đau khổ, để lại phía sau mọi
lạc thú và phiền não, không-đau-khổ, không-vui-thú, tâm xả
hoàn toàn và an trụ, hành giả thành đạt Tứ Thiền (Catuttha
Jhana). Đó là hạnh phúc phấn khởi và cao thượng hơn.
"Tuy
nhiên, nếu nói rằng đó là hạnh phúc cao thượng nhất thì
Như Lai không chấp nhận. Còn hạnh phúc cao thượng hơn.
"Nơi
đây, vượt lên mọi tri giác và hình thể, không còn phản
ứng của giác quan, hoàn toàn không quan tâm đến tri giác về
tình trạng khác nhau, vị Tỳ khưu suy niệm: 'không gian vô
tận' và sống trong cảnh giới Không Vô Biên Xứ (Akasanancayatana),
có quan niệm rằng không gian vô cùng tận. Đó là hạnh phúc
phấn khởi và cao thượng hơn
"Nhưng
nói rằng đó là hạnh phúc cao thượng nhất thì Như Lai không
chấp nhận. Có hạnh phúc ca thượng hơn.
"Nơi
đây vượt lên khỏi cảnh giới Không Vô Biên Xứ, vị Tỳ
khưu suy niệm: 'thức vô cùng tận', và sống trong cảnh Thức
Vô Biên Xứ (Vinnananacayatana). Đó là hạnh phúc khác, phấn
khởi và cao thượng hơn.
"Tuy
nhiên nếu nói đó là hạnh phúc cao thượng nhất thì Như
Lai không chấp nhận. Còn hạnh phúc cao thượng hơn.
"Nơi
đây vượt khỏi cảnh Thức Vô Biên Xứ, vị Tỳ khưu suy
niệm: 'không có gì hết' và sống an trụ trong cảnh giới
Vô Sở Hữu Xứ (Akincannayatana). Đó là hạnh phúc cao thượng
hơn.
"Mặc
dầu vậy, nếu có kẻ bảo rằng đó là hạnh phúc cao thượng
nhất, thì Như Lai không chấp nhận. Có hạnh phúc khác cao
thượng hơn.
"Nơi
đây vượt hẳn lên khỏi cảnh giới Vô Sở Hữu Xứ, vị
Tỳ khưu sống an trụ trong cảnh giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
(N'evasanna n'asannayatana). Đó là hạnh phúc khác, phấn khởi
và cao thượng hơn.
"Tuy
nhiên nếu có ai bảo: 'đây là lạc thú và cao thượng nhất
mà chúng sanh có thể thọ hưởng'. Như lai sẽ không chấp
nhận. Tại sao? Bởi vì hạnh phúc khác, phấn khởi và cao
thượng hơn.
"Nơi
đây vượt hẳn khỏi cảnh giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng,
đạt đến mọi chấm dứt mọi tri giác và cảm giác, vị
Tỳ khưu sống không còn tri giác và cảm giác (Sannavedayita
Nirhoda). Nầy Ananda, đó là hạnh phúc khác, phấn khởi và
cao thượng hơn.
"Trong
mười hạnh phúc, đó là hạnh phúc cao thượng nhất. Trạng
thái tối thượng ấy là Nirodha Samapatti (Diệt Thọ Tưởng
Định), nghĩa là thọ hưởng quả Niết Bàn trong kiếp hiện
tiền."
Ta
có thể hỏi: "Sao có thể gọi là trạng thái cao thượng nhất
trong khi không còn tâm thức để thọ hưởng?"
Đức
Phật giải đáp:
"Không,
nầy chư đệ tử, Như Lai không chấp nhận là một hạnh phúc
nếu hạnh phúc ấy chỉ là một cảm giác thỏa thích. Nhưng
nầy chư đệ tử, nơi nào phát sanh chân hạnh phúc, nơi ấy,
và chỉ nơi ấy thôi, Đức Thế Tôn mới nhận là hạnh phúc."
[3]
Và
Đức Phật dạy tiếp:
"Như
Lai tuyên bố rằng mà tất cả những gì mà giác quan cảm
nhận đều là đau khổ. Tại sao? Bởi vì người trong cuộc
cảnh khổ khao khát được hạnh phúc, mà người được xem
là đã có hạnh phúc cũng vẫn khao khát được thêm nữa.
Lòng tham của thế gian không cùng tận."
Dùng
những ngôn từ chế định, Đức Phật tuyên bố:
"Nibbanam
paramam sukham - Niết bàn là hạnh phúc tối thượng".
Là
hạnh phúc tối thượng vì Niết bàn không phải là loại hạnh
phúc do ngũ quan chứng nghiệm. Niết Bàn là pháp chân lạc
tuyệt đối, là hạnh phúc phát sanh do trạng thái tích cực
giải thoát ra khỏi mọi đau khổ của đời sống.
Chính
sự đoạn tuyệt trạng thái đau khổ thường được gọi
là hạnh phúc, mặc dầu danh từ ấy không mấy thích hợp
để miêu tả bản chất thật sự của Niết Bàn.
Niết
Bàn ở đâu?
Trong
sách "Vua Milinda Vấn Đạo", Đức Nagasena giải đáp câu hỏi
ấy như sau:
"Không
có nơi nào nhìn về hướng tây, hướng nam, hướng đông,
hướng bắc, phía trên, phía dưới, hay phía ngoài, mà có thể
nói rằng đó là Niết Bàn. Tuy nhiên, Niết Bàn thật sự có,và
người nào có cuộc sống chân chánh, giới hạnh trang nghiêm,
và chú tâm minh sát, dầu ở Hy Lạp, Trung Hoa, Alexandria, hay
Kosala, đều có thể thành tựu Đạo Quả Niết Bàn.
"Cũng
như lửa, không phải được tích trữ ở một nơi đặc biệt
nào, nhưng khi hợp đủ điều kiện thì lửa phát sanh. Cùng
thế ấy ta không thể nói Niết Bàn ở đâu, nhưng khi Đạo
đủ duyên đầy, thì Quả Niết Bàn được thành tựu."
Kinh
Rohitassa Sutta có ghi lại những Phật ngôn sau đây:
"Như
Lai tuyên bố rằng thế gian, nguồn gốc của thế gian, và
con đường dẫn đến sự chấm dứt thế gian, đều nằm trong
tấm thân một trượng nầy, cùng với tri giác và tư tưởng."
[4]
Trong
đoạn kinh nầy, danh từ 'thế gian' có nghĩa là đau khổ. Do
đó, chấm dứt hay tiêu diệt thế gian là chấm dứt đau khổ,
tức Niết Bàn. Niết Bàn của ta tùy thuộc nơi tấm thân một
trượng nầy. Niết Bàn không phải là cái gì đã được tạo
ra hay cái gì cần phải được tạo ra. [5]
Niết
Bàn là nơi bốn nguyên tố cấu thành vật chất -- nguyên tố
Nước (apo), có đặc tính kết hợp, làm dính liền lại; nguyên
tố Đất (pathavi), có đặc tính duỗi ra; nguyên tố Lửa (Tejo)
có đặc tính nóng, lạnh cũng là một hình thức nóng; và
nguyên tố Gió (vayo), có đặc tính di động -- không thể có
chỗ đứng.
Đề
cập đến Niết Bàn ở đâu, Bộ Samyutta Nikaya, Tạp A Hàm,
có ghi:
"Nơi
mà bốn nguyên tố cấu thành hợp chất có đặc tính dính
liền, duỗi ra, đốt cháy và di động không còn chỗ đứng"
[6]
Trong
kinh Udana [7], Phật dạy:
"Cũng
như, nầy chư Tỳ khưu, mặc dầu bao nhiêu nước từ sông
ngòi kênh rạch và các trận mưa to từ trên trời đổ xuống
chảy dồn về biển cả, nhưng không vì thế mà mực nước
biển dâng nên quá cao hay xuống quá thấp. Cũng dường thế
ấy, không vì lẽ có nhiều vị Tỳ khưu nhập Đại Niết
Bàn mà Niết Bàn quá đông đúc hay quá thưa thớt."
Do
đó Niết Bàn không phải một cảnh trời nào đó dành riêng
cho một cá thể xuất chúng mà là một pháp, một sự thành
tựu, mà mọi chúng sanh đều có thể đạt đến.
Trong
thực tế, không có một cảnh trời vĩnh cửu, trong ấy có
hình thức khoái lạc mà con người ham muốn và nơi ấy ta
có thể mặc tình thọ hưởng. Thật không thể tưởng tượng
một cảnh giới trường cửu như vậy ở bất luận nơi nào.
Chấp
nhận rằng không có nơi nào gọi là Niết Bàn, vua Milinda hỏi
Đức Nagasena căn cứ trên nền tảng nào ta có thể sửa dọn
đời sống để chứng ngộ Niết Bàn.
- Có,
tâu Đại vương, có một nền tảng như thế.
- Như
vậy, kính bạch Đại đức, nền tảng ấy là gì?
- Tâu
Đại vương, giới hạnh là căn bản. Bởi vì, nếu vững vàng
đặt nền tảng trên giới hạnh và thận trọng nhiếp tâm
quán tưởng thì dầu ở nơi nào, ở miền Bắc Hải hay ở
Hy Lạp, ở Trung Hoa hay ở xứ Thát Đát, dầu ở Alexandria
hay ở Nikumba, ở Benares hay ở Kosala, ở Kashmir hay ở Gandhara,
trên đỉnh núi cao hay ở một cảnh trời xa lạ, dầu thế
nào đi nữa, người đã sửa dọn mình, sống đời chân chánh,
sẽ thành tựu Đạo Quả Niết Bàn. [8]
Cái
gì nhập Niết Bàn?
Đây
là một câu hỏi không thích nghi, cần phải gác lại một
bên, bởi vì Phật Giáo phủ nhận sự hiện hữu của một
thực thể trường tồn hay một linh hồn trường cửu. [9]
Cái
được gọi chúng sanh mà ta thường nghe như ở trong "bộ y
phục của một linh hồn", chỉ là sự gắn hợp của những
yếu tố tùy thế, hiện hữu do điều kiện.
Vajira,
vị Tỳ khưu ni A La Hán dạy:
"Khi
tất cả những bộ phận được ráp vào đúng chỗ của nó,
danh từ "cái xe" phát sanh (trong tâm ta). Cùng thế ấy, một
cách chế định, thói quen thông thường gọi là một chúng
sanh khi ngũ uẩn cấu hợp lại." [10]
Theo
Phật Giáo, cái được gọi là chúng sanh gồm hai phần, danh
và sắc, và hai phần này luôn luôn biến đổi trong chấp nhoáng.
Ngoài hai yếu tố tổng hợp ấy, không có một linh hồn trường
cửu hay một thực thể bất biến. Cái được gọi là "Ta"
cũng là một ảo tưởng.
Cũng
như ngay trong hiện tại, không có một cái "Ta" trường cửu
hay một chúng sanh không biến đổi, không cần phải nói rằng
không
có một cái "Ta" hay một linh hồn ở Niết Bàn.
Sách
Thanh Tịnh Đạo dạy:
"Chỉ
có trạng thái khốn khổ, không có người khốn khổ,
cũng
không có người hành động, không ai hết, ngoài trừ sự hành
động.
Có
Niết Bàn, nhưng không có người tìm Niết Bàn.
Có
con đường, nhưng không có con người đi đến đó."
Điểm
khác biệt chánh yếu giữa quan niệm của người Phật Tử
về Nibbana và quan niệm của Ấn Độ Giáo về Nibbana hay Mukti
là người Phật Tử, trong lúc nhìn vào mục tiêu, không tin
có linh hồn và một tạo hóa, còn người theo Ấn Độ Giáo
thì tin có linh hồn trường cửu và tạo hóa.
Vì
thế ta không thể nói rằng Phật Giáo là một chủ nghĩa "vĩnh
cửu" hay "hư vô".
Trong
Niết Bàn không có gì để "vĩnh-cửu-hóa", mà cũng không có
gì để "hư-vô-hóa".
Cũng
như Sir Edwin Arnold nói:
"Nếu
có người dạy rằng Niết Bàn là chấm dứt,
Bạn
hãy nói người ấy dối.
Nếu
có người dạy rằng Niết Bàn là còn sống nữa,
Bạn
hãy nói người ấy sai lầm."
Phải
nhìn nhận vấn đề Niết Bàn là khó hiểu nhất trong Giáo
lý của Đức Phật. Tuy nhiên, dầu có tìm đến đâu, ta cũng
không thể thấu triệt bản chất thật sự của Niết Bàn.
Đường lối tốt nhất để hiểu Niết Bàn là gia công bằng
trí tuệ trực giác của chính ta.
Mặc
dầu con người trung bình không thể tri giác Niết Bàn được
bằng ngũ quan, con đường duy nhất đi thẳng đến Niết Bàn
đã được Đức Phật giải thích cặn kẻ trong từng chi tiết
và rành mạch cho tất cả.
Mục
tiêu còn lu mờ sau đám mây che lấp, nhưng phương pháp để
thành tựu thật là ràng minh bạch, và khi thành tựu được
rồi thì mục tiêu sẽ hiện ra sáng tỏ như "mặt trăng trong
không bị mây án".
Chú
thích:
[1]
Xem "Gradual Sayings", trang 135.
[2]
Sanh (jati) ở đây có nghĩa là sự sống, những kiếp sống
trong vòng luân hồi.
[3]
Majjhima Nikaya, Trung A Hàm, kinh số 57.
[4]
Samyutta Nikaya, Tạp A Hàm, phần 1, trang 62.
[5]
"Quả thật pháp nầy (Niết Bàn) phải được thành tựu (hay
chứng ngộ) do bốn Thánh Đạo (Dự lưu, Nhất lai, Bất lai,
A La Hán), chớ không phải được tạo nên." -- Thanh Tịnh Đạo.
[6]
Kindred Sayings, phần I, trang 23.
[7]
Xem Woodward, "Verses of Uplift", trang 66-67.
[8]
Questions of King Milinda, trang 202-204.
[9]
Xem Chương 29.
[10]
Kindred Sayings, phần I, trang 170.