MÙA
XUÂN CỦA TÔI
Mấy
tháng lại đây, thỉnh thoảng tôi có nhận những đóa hoa
hồng do Phật Tử gởi tặng. Những đóa hoa hồng đó được
bọc bởi bông gòn ẩm nước, đặt trong một miếng giấy
bạc. Hôm tôi đi Tokyo, với nguyện ước tranh thủ Tự Do cho
quý thầy đang bị giam cầm ở bên nhà, có người mang lại
cho tôi một đóa hồng tại sân bay. Tôi mang nó theo đến xứ
Nhựt, đây là hoa hồng được cắt ở vườn nhà nên mạnh,
tươi sắc và thỉnh thoảng cho tôi một mùi hương dịu ngọt
trên suốt đường dài từ Los Angeles đến Tokyo. Nhìn đóa
hoa hồng, thưởng thức hương thơm của nó, tôi tự nghĩ,
đây là MÙA XUÂN CỦA TÔI.
Cái
gì của mình, cái đó tự nhiên thấy nó hạn hẹp, nhỏ nhoi.
Con người cũng như mọi vật, bất lỳ ở đâu, bất cứ lúc
nào, đều muốn chia xẻ. Sự chia xẻ niềm vui, thích thú của
mình cho khắp nơi, khắp chốn cũng có nghĩa là đem cho mùa
XUÂN CỦA MÌNH đến cho mọi người. Sự chie xẻ này, Phật
Pháp gọi là bố thí. Người làm ruộng chia xẻ lúa gạo cho
người dệt vải, người dệt vải chia xẻ áo quần cho người
làm ruộng. cây cau chia xẻ thân đứng của mình cho cây trầu
leo lên, không gian chia xẻ cho cây cau khoảng trống để có
chỗ đứng…Vạn vật giữa đời này đều sống hỗ tương
cho nhau. Với ý nghĩa này, khi ra khỏi phi trường Haneda ở
Tokyo, cử chỉ đầu tiên của tôi là cho Thầy Minh Tuyền đóa
hoa hồng mà tôi đã mang từ Los Angeles đến Tokyo như muốn
nói cái điều tôi cho MÙA XUÂN CỦA TÔI đến thầy Minh Tuyền.
Khi
tao đóa hồng tặng Thầy Minh Tuyền tôi muốn Thầy Minh Tuyền
nhìn thấy mặt mày tôi, thấy cả lòng tôi trong ấy và thấy
cả ngay chính lòng của thầy ấy. Đóa hồng như một cái
kiếng để soi thấy nỗi lòng sâu kín của người nhận và
người cho. Nghĩ đến đây tự nhiên tôi nhớ đến một đoạn
kinh mà Thiền sư daisetz Teitaro Suzuki đã ghi lại trong Thiền
Luận tập 2 …Bây giờ, này Hiền Hộ (Bhadrapàla), khi một
thanh niên tuấn tú muốn thấy sắc diện của chính mình xấu
hay đẹp, y lấy một cái chậu đựng đầy dầu hay nước
trong, hoặc y lấy ra một mảnh pha lê hay một tấm kình.
Lúc hình ảnh của y lộ ra ở một trong bốn vật này, y biết
rõ mình có diện mạo ra sao, xấu hay đẹp. Này Hiền Hộ,
Ông có nghĩ rằng cái mà người thanh niên này nhìn thấy trong
bốn vật ka đã có trước ở đây chăng? Hiền Hộ đáp:
-Bạch
Thế Tôn, không.
-Vậy
có nên coi nó rõ ràng là một cái không hư?
-Bạch
Thế Tôn, không.
-Vậy
có nên coi nó như là hai?
-Bạch
Thế Tôn, không.
-Vậy
có nên coi nó là không phải cả hai?
-Bạch
Thế Tôn, không. Bởi vì, dầu, nước, pha lê, và tấm kính
thì sáng tỏ, trong veo, không dơ không bụi; khi một người
đứng trước chúng, hình ảnh của y được phản chiếu vài
đó. Ảnh không đi ra từvật, không đến từ bên ngoài, không
ở trong chính nó, không giả lập. Ảnh không từ đâu
đến, không tan biến vào đâu, nó là pháp sinh diệt, không
thường trú.”
Sau
khi Hiền Hộ trả lời như vậy xong rồi, Phật dạy: “ Này
Hiền Hộ, quả đúng như Ông nói.Khi những vật ấy trong sáng
và sạch sẽ, ảnh chiếu vào dễ dàng…”
Chùa
Việt Nam thỉnh thoảng có Phật tử mang hoa hồng trồng ở
nhà đến cúng phật. Những đóa hoa hồng trồng ở nhà đem
đến cúng Phật thì nó tươi lâu hơn những đóa hoa hồng
mua ngoài tiệm. Vì hoa hồng bán ngoài tiệm không có cái lực
săn sóc của chủ nhân nên nó héo sớm hơn , còn hoa hồng
ở nhà thì được tươi lâu hơn vì như có cái sức mạnh
của tình người trong đó. Đóa hồng tôi mang sang Tokyo là
một trong những đóa hồng có cái sức mạnh của tình
người đó.
Ngồi
hơn mười tiếng đồng hồ trên máy bay, một mình ngồi ngắm
nhìn đóa hồng và nghĩ đến người cho. Với cái ngắm nhìn
của Trang Tử “ thường vo dục dĩ quan kỳ diệu” hay ngắm
nhìn với cái ý nghĩ của chữ “Quán” trong Thiền, mà tự
nhiên tôi cảm thấy chính nó mang hình ảnh MÙA XUÂN CỦA TÔI.
Để rồi khi đem tặng Thầy Minh Tuyền thì Thầy ấy
và tôi soi rõ được niềm vui của nhau trong đóa hoa hồng
thơm ngát này. Có khác gì dầu, nước trong chậu , một mảnh
pha lê, một tấm kính…Thế giới phương tiện độ sinh
của chư Phật quả là cô cùng.
Trong
dòng tư duy này, tôi nhớ lại một đoạn khác, cũng được
ghi trong Thiền Luận tập 2: “ Lại nữa, củi sẽ cháy
nếu châm lửa vào. Lửa đốt cháy và lửa vốn có trong củi
là một. Như thế, chính do hòa hiệp nội duyên và ngoại duyên
mà hết thảy các pháp hiện hành. Dù tất cả chúng ta đều
có sẵn Phật Tánh, nhưng tự Phật Tánh nó không đốt chày
những tham dục nếu như không châm ngọn lửa của trí tuệ
diêu việt, trí tuệ đó vốn là danh hiệu. Tịnh Độ Tông
dạy rằng muốn nắm giữ một vật phải ra khỏi vật ấy.
Nơi đây huấn thị này phải được chỉ định cho tâm.”
Ngày
nhập đạo,thời còn bé, tôi được un đúc trong tinh thần
văn nghệ Phật Giáo. Chùa của tôi là nơi phát hành tập Xuân
Đạo Lý của Thiền sư Mật Thể. Trong tập Xuân Đạo Lý
này tôi nhớ có bài Mùa Xuân Không Thời Gian. gần năm mươi
năm qua, tư tưởng của bài Mùa Xuân Không Thời Gian đó vẩn
còn bang bạc trong tâm hồn tôi. Trong thời gian tạm trú tại
Chùa Tăng Thượng Tự, phòng tôi thỉnh thoảng được một
đóa hoa hồng. trong những lần uống trà buổi sáng, ngồi
đàm đạo với Thầy Minh Đạt, hay những lúc với Đạo Hữu
Tâm Quang Ngô Như Bích và Tâm hải, tôi cảm thấy như mỗi
người đều là một đóa hoa hồng cả.
Chúng
tôi là những đóa hồng được trồng trong vườn hoa Việt
Nam. Bàn tay nào đã trồng xuống, bàn tay nào đã săn sóc và
không gian nào đã nuôi dưỡng đóa hồng này lớn lên nếu
không là Đạo Pháp và Quê Hương thân yêu. Ở Việt Nam không
chùa nào là không có không có hoa , những đóa hoa làm đẹp
cho ngôi chùa. Còn chúng tôi, mỗi người sống ở ngoại quốc
đều là những đóa hoa nếu đều cố công làm đẹp cho Đạo
Pháp và Quê Hương.
Mùa
xuân Canh Ngọ lại về với năm mới ở Quê Hương. Ở đây
xa xôi. Nhưng những đóa hồng bọc bông gòn gói vào giấy
bạc giữ nước cho hoa tươi cũng đủ mang lại một mùa Xuân.
Những đóa hoa ý nghĩa bao nhiêu thì những ánh mắt của người
cho hoa, của Thầy Minh Đạt, Đạo Hữu Tâm Quang, Tâm Hải
chung lo Phật sự lại càng rực sáng bấy nhiêu. Cầu nguyện
Phật phù hộ cho những đóa hoa quê hương này ngày càng
trổ sắc thêm hương để làm đẹp cho cuộc đời.
Los
Angeles, Mùa Đón Xuân Canh Ngọ 1990
CHIẾN THẮNG
CỦA CHÁNH PHÁP
CAO
HƠN TẤT CẢ CHIẾN THẮNG
Mấy
hôm nay trời vẫn lạnh dù đã gần hết tháng 3 rồi! Cái
không khí lành lạnh tôi nhớ nhà, nhớ quê hương lạ lung.
Trong nỗi nhung nhớ đó, tôi đã say sưa ngồi coi lại cuốn
phim video Phật Đản từ Huế gởi qua.
Cảnh
trí quê hương và con người đương diễn qua màn ảnh TV. “Ôi!
Uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm. Nơi yêu thương phát nguồn Đạo
Vàng.” Từ Đàm. Âm vọng không vươn cao ngạo nghễ mà vẫn
mang tất cả sức mạnh trầm hùng ; nhẹ nhàng như đám mây
lành lững lờ mà gắn bó như niềm yêu thương ỡ mãi trong
lòng người. Từ Đàm.Thực không chỉ là tên gọi một
nơi chốn với tất cả giới hạn thời gian và không gian của
nó. Bởi nó đã là lịch sử, đã gắn bó với triệu cõi
lòng từng khóc cười, buồn vui với vận Nước, vận Đạo.
Nó chính đã là Hình Ảnh của Quê Hương, của tất cả nỗi
Đau Đớn câm lặng cũng như tất cả uy lực đã hơn một
lần trỗi dậy, dõng dạc nói tiếng nói của Quê Hương trước
phong ba của lịch sử. Chùa Từ Đàm đó.1952. Tiếng nói thống
nhứt Phật Giáo Nam Bắc Trung cất cao lời nguyền keo sơn,
gắn bó.1963. Tiếng kinh cầu hoà cùng tiếng khóc. Cuồn cuộn
những dòng người. Âm vang những kêu đòi Tự Do Tín Ngưỡng,
Công Bằng Xã Hội. Và tiếng sung, tiếng đạn. Trong kinh hoàng
vẫn lẫm liệt uy nghi. Giữa bóng đêm bạo quyền chế ngự
vẫn rạng ngời ngọn lửa Tiêu Diêu. Chùa Từ Đàm đó.1989.
Cổng Tam Quan vẫn hiền hòa đứng nhìn khách mười phương
ra vào.Mấy con rồng trên mái chùa vẫn cốt cách hiên ngang
của thuở nào như sức sống chưa hề suy giảm. Cây Bồ Đề
vẫn tỏa bóng như muôn đời Phật Giáo vẫn từng che mưa
đỡ nắng cho dân tộc.
Chùa
Từ Đàm.1989. Đại lễ Phật Đản 2533. Cũng cuồn cuộn những
dòng người. Cũng những y vàng, những áo lam trùng điệp.Như
sức sống trỗi dậy trên những đau khổ nhọc nhằn. Như
bức Trường Thành Ý Chí lừng lững vươn lên, không ngạo
nghễ thách đố ai mà chỉ muốn chứng tỏ cùng ai Niềm Tin
kiên định bất thối chuyển của mình. Tôi cảm động nhìn
từng đoàn người đi tới, từng đoàn người nghiêm cẩn
hướng mắt ngưỡng vọng về Hình Bóng của Đấng Từ Tôn.
Hòa Thượng Trúc Lâm quỳ xuống trước Lễ Đài Niệm Hương
mang tất cả uy lực của Thiền Môn như một Quả Núi,
có khói trầm bốc lên thơm ngát mười phương. Tiếng của
Thầy Duy Na xướng lên: “…Tăng Kỳ cửu viễn tu nhơn, Đâu
Suất giáng thần..” nghe như âm vang của sóng biển “ Hải
Triều Âm” làm chấn động tự thân tâm đến cả cõi
thế gian này. Hòa thượng Thiện Siêu, tuyên bố cho ngày
Đại Lễ, cung cách từ tốn như tự bao giờ mà từng tiếng,
từng tiếng như đánh động tận đáy lòng người nghe: “…Chiến
thắng của Chánh Pháp cao hơn tất cả chiến thắng…” Giữa
lòng một quê hương chìm đắm trong bóng tối của bạo quyền,
trước những con người vẫn luôn luôn si mê với “chiến
thắng”, những tiếng nói như thế được nói lên, nếu không
phải là người có sự kiên định vững chắc như núi thì
dễ đâu làm được.
Tự
nhiên tôi cảm thấy như đang đứng trước sân chùa Từ Đàm
trong không khí tưng bừng của ngày đại Lễ. Lòng hân hoan
mở rộng. Nhưng rồi nhìn lại, thấy mình ở đây trong khi
Quê Hương ngàn dặm xa, lòng lại bồi hồi, ngậm ngùi. Trong
cơn Quốc Nạn và Pháp Nạn này, người đông kẻ tây, người
trong tù kẻ hải ngoại, Tăng Ni, Phật Tử tứ tán khắp nơi
như đàn chim tan tác. Còn có chăng là chút: “ tâm tình một
nẻo quê hương.”
Và
trong “tâm tình một nẻo quê chung” đó , khi tất cả đều
ra đi, phôi pha với thời gian ,lãng quên cùng lịch sử thì
cái còn lại, phải chăng-“…Chiến thắng của Chánh Pháp
Cao Hơn Tất Cả Chiến Thắng…”
Los
Angeles, Mùa Phật Đản 2534 Canh Ngọ
MỰC ĐỌNG
TRONG NGHIÊN SẦU
Denver,
thành phố lớn nhứt của tiểu bang Colorado, và là thành phố
cao nhứt của Hoa Kỳ. Tôi đã đến đây nhiều lần trong nhiều
năm trước. Nhưng thời gian đã làm nhạt nhòa bao hình ảnh.
Nhiều năm sau trở lại, tôi mang niềm thích thú riêng của
người thân gặp lại người thân tưởng chừng đã quên lãng.
Máy
bay trễ đến hơn 3 tiếng đồng hồ. Trong ánh đèn lấp lánh
của màn đêm, thành phố như đã đi vào giấc ngủ. 11giờ
30 đêm. Chỉ còn những hoạt động thu gọn trong một góc
của phi trường. Nhưng ở góc hoạt động thu gọn đó, Thầy
Thích Trí Viên cũng như các Phật tử thân thiết cũ đang đứng
đợi, cùng với nụ cười và ánh mắt rạng rỡ của các
em Gia Đình Phật Tử Colorado; một bó hoa được các em dâng
lên cho tôi và những bàn tay chắp lại như hoa sen của từ
những tấm lòng tín mộ Đạo giáo mà những Phật tử nới
đây đã chờ hơn 3 tiếng đồng hồ làm tôi tràn một nỗi
cảm động hân hoan.
Tôi
đến Colorado lần này do lời mời của đạo hữu Đào Duy
ý, Chủ Tịch Cộng Đồng Phật Giáo An Bằng. Cụ thân sinh
của đạo hữu Ý là cụ Đào Tầng, pháp danh Nguyên Hạnh
vừa quá vãng ở Việt Nam và tôi đến đây, ngoài việc thăm
lại Cộng Đồng Phật Giáo An Bằng, là để làm lễ Phát
Tang cho gia đình đạo hữu Chủ tịch.Lễ Phát Tang đã được
cử hành vào trưa ngày thứ bảy 30 tháng 6 năm 1990. Không kể
con cháu ruột thịt, bà con thân thích đã đông đảo mà bạn
bè đồng hương đồng đạo cũng đã đến dự lễ đông đảo
với tất cả tấm lòng kính ngưỡng, mến mộ chơn thành đối
với người quá vãng. cụ Đào Tầng đã suốt đời một lòng
cung kính Tam Bảo, đã dày công tận tụyhy sinh cho đạo đến
gần hai chục năm liên tục làm Khuôn Trưởng Khuôn Hội Phật
Giáo An Bằng ở quê hương. Ơn ấy, đức ấy đối với người
dân An Bằng thực đã ghi đậm ở trong lòng, đã là tấm gương
cho hơn một thế hệ không chỉ là con, cháu trong nhà mà còn
cho tất cả những người con của An Bằng, là ngày nay đang
lưu lạc chốn nào. Ơn ấy, đức ấy đã kết nên mối tri
ân, cảm niệm của bao người về tham dự lễ Phát Tang này.
Cụ Đào tầng đã mất, đã không chỉ là cái mất mát to
lớn lao của An Bằng ở hải ngoại. Tôi đã đọc thấy ,
nghe thấy điều đó ở tất cả những khuôn mặt, ánh mắt,
những phát biểu xa gần của những người tham dự. Ơn không
chỉ cho con cháu trong nhà mà còn cho cả người dân An Bằng.
Và
với một người đã quên mình lo cho đạo như Cụ thì còn
có niềm vui và ý nghĩa nào hơn là sự tiếp nối những gì
mà Cụ đã làm. Tôi tin là Cụ đã ra đi, về với cõi Phật
với niềm an lạc trong lành vì đã có những người con, người
cháu, đã có cả hơn một thế hệ An Bằng tiếp nhận sự
trao quyền của cụ. Người “ cha lành” ấy của Đạo hữu
Đào Duy Ý và của An Bằng đã như sống lại trong giờ phút
tưởng niệm của lễ Phát Tang với ảnh hình Cụ trong hương
khói và như lung linh hơn với lời cảm niệm ơn đức sanh
thành dưỡng dục của Đạo hữu Ý mà tôi nghe như đã nói
thay cho tất cả mọi người hôm ấy.
“Nam
mô A Di Đà Phật,
Nam
mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát,
Kính
lạy cha và Nội: Hiện diện hôm nay toàn thể chúng con và
các cháu nội ngoại, đứng trước bàn thờ của nội, dâng
lên một nén hương lòng, khi được tin nội đã lìa trần,Người
ra đi không lời từ giã với con cháu. Từ Mỹ quốc chúng
con vọng về An Bằng, biết bao thương đau đẫm lệ,
Người đã tìm nơi an nghỉ, để lại cho chúng con bao ngậm
ngùi và luyến tiếc khi được tin buồn này.
Người
đã sinh chúng con ra, nuôi dưỡng chúng con trở thành Phật
tử, dạy bảo chúng con nên người trong xã hội. Hôm nay nhìn
lên bàn thờ thấy ảnh hình của nội Tổ mới ngày nào đây
mà đã 11 năm xa cách, hình hài đó, lời nói đó, chúng con
vẫn còn in dấu, chúng con biết làm gì đây để báo đáp
công ơn sinh thành dưỡng dục, nhớ về quê hương nơi mảnh
đất mà Người đẫm máu, mồ hôi và nước mắt, nơi ấy
Người đã chịu nhiều đau khổ kể từ khi chúng con chào
đời, lo cho chúng con từng miếng cơm từng manh áo, tập cho
chúng con từng bước đi, dạy cho chúng con từng lời nói ngọt
ngào, bảo vệ chúng con từng hơi thở, mai đây khôn lớn Người
đã hi vọng và đặt niềm tin nơi chúng con, giờ đây người
lặng lẽ ra đi, không mang theo ý nguyện mà Người đã mong
muốn nơi chúng con.
Kính
lạy cha và Nội Tổ! Ý nguyện ấy mà Người đã từng trao
trút cho chúng con, Người khuyên bảo chúng con chờ một ngày
mai thanh bình nên sớm trở về quê hương đê nhìn lại mồ
mả của Ông Cha ta, của Tổ Tiên ta đã kết tinh tình huyết
tộc và nhờ dòng máu đó, bây giờ có chúng con, có các cháu.
Kính lạy cha! Quê hương chúng con bên đó, dân tộc chúng con
bên đó. Ngày mai thanh bình chúng con sẽ trở về làng An Bằng
trong ngày hội ngộ sang Xuân, để nhìn lại ánh đèn khuya,
nhưng đâu còn người bên đó, chúng con sẽ buồn vì cảnh
cũ người xưa không còn nữa!
Về
bên đó, chúng con sẽ nhớ lại ân sâu. Cha không để lại
cho chúng con một gia tài vật chất, Người đã từng nói gia
tài của Cha để lại cho chúng con một khối óc hữu dụng
cho gia đình và đồng thời, hy vọng chúng con sẽ trở thành
người hữu dụng cho xã hội. Tuy nhiên, Cha cũng thường nhắc
nhở rằng, Người sinh chúng con ra, nhưng Người không xin được
tâm ý chúng con, tùy theo nghiệp định, nghĩa là Cha muốn khuyên
bảo chúng con trong sự sống hôm nay và ngày mai, tất cả mọi
việc đều nên Nhẫn và Định. Người đã nhắc nhở chúng
con theo lời Phật dạy:
Nhẫn:sâu
như kho tàng bí mật
Định:thì
vững như cõi đất to lớn
Hôm
nay chúng con quỳ trước bàn thờ nhìn lên hình ảnh của
Cha như nhìn đến công ơn sâu đậm, chúng con ghi nhớ nơi
đây, dâng lên trước Hương Hồn Cha, chứng giám cho lòng thành
của chúng con. Bao nhiêu lời dạy bảo, bao nhiêu dặn dò của
Cha, tất cả chúng con còn ghi nhớ. Giờ đây, Người đã ra
đi và đi mãi bên kia thế giới vô hình của ngàn thu vĩnh
biệt! Ôi thương đau khi nhớ về quê hương cố quận, hình
bóng Người, dấu chân Người dìu dắt chúng con từ thuở
dại khờ của tuổi thơ. Lớn lên, ngoài tuổi 20 con đã phải
xa cha và quê hương yêu dấu vì xã hội, vì non sông và vì
dân tộc. Bây giờ, thêm lần nữa phải ra đi vì hoàn cảnh
bi ai…
Hôm
nay, toàn thể chúng con và các cháu quỳ trước Phật Đài,
hướng về Tam Bảo, nhứt tâm cầu nguyện lên Chư Phật, chư
Đại Bồ Tát, soi đường dẫn bước cho Hương Hồn Cha, Nội
Tổ của chúng con sớm siêu thoát về miền Cực Lạc.Nam mô
Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát chứng minh cho lời nguyện
cầu của chúng con. Chúng con và các cháu thành kính dâng lên
Hương Hồn Cha với lòng thành hiếu hạnh. Con, Nguyên Chỉ
Đào Duy Ý.”
Nghe
qua bài điếu văn chân thành và thiết tha của Đạo hữu Đào
Duy Ý quỳ trước bàn thờ đọc trong âm thanh đầy thống
thiết, con cháu và bà con đầy nước mắt tiếc thương đã
đành, mà tâm tình thương tiếc đó cũng đã rõ, quá rõ nơi
những người như Đạo hữu Đào Thế Bửu, từ Dod City; Đạo
hữu Hoàng Ngọc Quế, từ Wichita; Đạo hữu Đào Duy Thái,
Đạo hữu Văn Nhân Đạo từ California và các Đạo hữu ở
xa khác như Đào Trọng Bảy, Đạo hữu Đào Thế Lạc…và
các Đạo hữu gần như Đạo hữu Trần Tường Châuv.v…và
đặc biệt là Đạo hữu Văn Tiến Ánh, ngoài tình đồng hương
đồng đạo ra còn có cái tình cựu Chủ Tịch Cộng Đồng
Phật Giáo An Bằng nữa, những anh những chị khác ở Denver
đã đến chật cả nhà của Đạo hữu Đào Duy Ý…Đó thực
không chỉ chia xẻ một nỗi buồn mà còn là “tâm tình chung
một nẻo” từ cửa đạo mở ra cho tất cả những người
con Phật.
Rất
nhiều người đã nói về mẹ với những câu thơ, những lời
văn,những dòng nhạc tràn trề xúc động. Tôi cũng có một
người mẹ, cũng đã rất nhiều khi “ mưa ướt áo, ướt
đầu. Mẹ thì xa.Lấy ai xức gió thoa dầy. Gió về run rẩy
lạ, mưa đùa nghiêng ngả vườn cau…” mà thấy ra ở đó
cả một “ bầu trời yêu thương”[1] tôi đã sớm xa
mẹ từ ngày còn nhỏ, bỏ nhà đi tu.
Nhưng
hôm nay, trong Mùa Vu Lan lung linh hình ảnh Mẹ, tôi còn đó,
rạng rỡ nét hình cha. Rạng rỡ như hình ảnh Cụ Đào Tầng
trong trái tim những người con cháu, thân thuộc của Cụ ở
Lễ Phát Tang hôm nào. Rạng rỡ như ngọn núi Thái sơn dưới
ánh chiều tà nắng quái của quê hương xanh màu biển rộng
và ruộng lúa nương dâu. Và vì thế tôi viết ra mấy dòng
tưởng niệm “ một cụ già chít khăn nhiễu tím, mặc áo
lương xanh, đi đôi giày hạ và có bộ râu dài 5 chòm để
khi nào suy nghĩ là đưa tay vuốt; một ông già ngồi rít thuốc
lào giữa những sớm, những chiều dưới mái tranh nghèo cho
khói thuốc bay lên mà mơ màng lấy một cõi mộng nào; một
ông Đồ già còng lưng ngồi viết chữ Nho, lặng lẽ từng
nét của những năm nào mà bây giờ trong tôi, cái còn lại
chỉ như còn “Mực đọng trong nghiên sầu.”[2]
Los
Angeles, Mùa Vu Lan Canh Ngọ (1990)
MỘT THOÁNG
HƯƠNG XUÂN
Thật
khó cho người Phật tử Việt Nam sống trên đất Âu Mỹ,
mỗi khi Tết đến Xuân về muốn tìm một không khí đượm
nhuần hương vị tết và Xuân như ở quê hương. Khó nhưng
không phải là không có. Bởi vì, hằng năm, đêm Giao Thừa
tại ngôi chùa tôi ở vẫn đầy không khí Tết của Dân Tộc.
Vẫn người người lũ lượt kéo về đây khác với cảnh
Tết nơi một ngôi chùa nào đó trên quê hương ngày cũ. Vẫn
tiếng pháo nổ vang làm lòng người rộn rã, trẻ trung ra.
Vẫn khói hương trầm nghi ngút quyện lấy tâm hồn người
tín một một dạ chí thành nguyện cầu, khấn vái. Nhưng điều
tôi muốn nói hơn là thoáng hương xuân mà ở đâu ta cũng
có thể cảm nhận được khi hồn ta trong sáng, hân hoan với
cảnh đời trước mặt. “Sáng nay thức dậy choàng thêm áo,
Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh.” Bởi Xuân là mới, Tết
là giây phút bắt đầu khi ta nhìn ra cái mới của đất trời
trong cùng nhịp điệu với lòng mình đổi mới. Cho nên, dù
chỉ thoáng hương xuân thôi mà cả một mùa xuân khơi mở
ra cả một trời xuân mới. Cũng cho nên, cứ gì ở quê nhà
ta mới có xuân và cũng cứ gì phải Tết, phải Giao Thừa
ta mới hưởng được hương vị của Xuân, của Tết. Đó
là điều tôi đã nhận ra trong một buổi chiều tàn tại biên
giới hai nước Nepal và Ấn Độ cách đây hơn 4 năm. Bấy
giờ , bế mạc Đại Hội Phật Giáo Thế Giới lần thứ 15
tại Katmandhu, sau khi chiêm bái vườn Lâm Tì Ni, chúng
tôi đến chỗ biên giới để đi chiêm bái Kusinagara-nơi Phật
nhập Niết Bàn. tại đây, trong lúc chờ xe ở bến xe bus,
tôi thấy các em bé Nepal đang khi ngồi chơi trên các sập gỗ
thì các con dê nhảy lên ngồi xỗm bên cạnh. Mường tượng
lại cảnh các con chó ở Việt Nam, cũng thường hay ngồi bên
cạnh con người, tôi mỉm cười và lòng tràn một niềm vui
vì thấy ra rằng, chỉ cần con người có lòng thương yêu
thì con vật nào cũng trở nên thân thiện. Niềm vui thoáng
hiện trong buổi chiều tà đó, tôi đã giữ riêng.
Ngày
xưa, cách đây gần 50 năm, chùa tôi ở Huế phát hành tập
Thi Văn Xuân Đạo Lý của thầy Mật Thể, Thuở đó, tuy còn
nhỏ, nhưng tôi đọc tập này rất nhiều lần và mỗi lần
đọc, bất cứ lúc nào tôi cũng cảm thấy như Xuân mới,
Tết mới đến khắp cả vườn chùa. Cả tập Xuân Đạo Lý
ấy phô bày ý nghĩa của Xuân Không Mùa, Xuân vượt qua thời
gian. Sau này du học ở Nhựt, mỗi lần Xuân về tôi ra công
viên Shinjuku thì thấy các cụ già nhảy múa hát ca với con
cháu dưới gốc cây hoa Anh Đào.Nhìn vào khung cảnh đó và
bên tai nghe văng vẳng bản nhạc Sakura, Sakura,Sakura nữa , thì
tôi thấy các cụ trẻ lại một cách diệu kỳ chẳng hác
chi con cháu của mình. Rồi chẳng cần Mùa Xuân thời gian trẻ
lại, cứ hình dung ra cảnh đó, âm điệu đ1o bất kỳ lúc
nào là tôi lại thấy như mùa xuân mãi mãi có đó và mãi
mãi một màu trẻ trung. Thì ra , Xuân vốn ở tại lòng người
nên xuân vốn không mùa.
Người
đi tu gặp cảnh phiền muộn mà tâm trí ngã theo, thì thật
dại dột vô cùng. đời lắm thị phi, ghen tỵ, tật đố.
Người nào trực tánh, nói thẳng, thì tự nhiên hoạ đến
với mình. Nhưng khi họa đến, nếu tâm hồn đủ thơ mộng,
để biến họa thành thơ, để giỡn đùa với thị phi, cười
vui với ghen tỵ tật đố thì lòng vẫn thanh thản nhẹ nhàng,
thong dong di giữa thị phi như người thi sĩ nói:
Không
phiền trược mong cầu chi giải thoát
Cứ
thong dong như nước chảy qua cầu…
(Tuệ Sỹ)
Trước
con mắt mình , ngàn muôn năm rồi, nước vẫn chảy qua cầu
một cách thong dong. Ngày xưa có một nhà Sư không tìm được
sự thong dong đó, không biết “ treo gót hài trên mái tóc
vào …đông”[3], rồi buốn tình than:
Ca
sa vị trước hiềm đa sự
Trước
đắc ca sa sự cánh đa !
Than
làm gì cho mệt xác. Biết đâu sự cánh đa kia lại là phân
bón chomình mau đắc đạo. Hoa sen nào lại không cần bùn hôi?
Ngày
nhỏ, tôi có cái thú say mê đọc những câu chuyện đạo.
Trong những câu chuyện đạo, tôi thương lạ, thương lung câu
chuyện con Sư Tử trọng Pháp. Con Sư Tử mà còn biết trọng
Pháp thì ai lại không thương? Cứ ước ao mình là con Sư Tử.
Đó là cái ước mơ của thời con nít. Đến khi đọc tới
chuyện có một bà đến mắng Phật tôi lại thêm vững lnòg
mà sống giữa thị phi, tật đố giữa cõi đời. Chuyện kể
người đàn bà đến mắng Phật từ sáng đến trưa, từ trưa
đến chiều. Bà chửi mắng Phật không mệt nghỉ, rồi vì
thương kẻ vô minh, Phật hỏi:
-Bà
kia,Bà có bao giờ mang quà biếu người ta không?
-Có
chứ saolại không, Bà nọ trả lời.
Nhưng
Bà biếu cho người ta mà người ta không nhận thì sao? Phật
hỏi lại.
-Cũng
như vậy, suốt ngày này Bà ròng rã chửi mắng, nhưng tôi
không nhận. Những lời chửi mắng đó, Bà chứ không ai khác
phải mang lấy cho Bà.
Câu
chuyện mỗi lần trở lại trong đầu thì tôi lại vui với
đời đầy thị phi như một thoáng hương xuân phảng phất
trong lòng- một thoáng hương xuân đủ làm tan mọi nỗi trược
phiền…
Los
Angeles, Xuân Tân Mùi
GIỌT NƯỚC
NÀO XÓT MẮT TÔI
Ngày
9 tháng 4 năm 1991 vừa qua tôi đến Hannover, Đức Quốc để
tham dự khóa họp của Hội Đồng Tăng Già Thế Giời tổ
chức tại chùa Viên Giác của Thượng Tọa Thích Như Điển.
Hành
trình dài mười mấy tiếng đồng hồ. Tôi đã nghĩ tới trước
khi đi và nhờ vậy đã thủ sẵn trong hành trang mang theo tập
Hồi Ký Người Mất Ngày Tháng của Nhã Ca. Mười mấy tiếng
đồng hồ đã không thấy dài lê thê, đã qua đinhanh chóng
trong niềm tưởng vọng về những gì đã mất mà như cón
đó. Lung linh và sống động. Đó là hình ảnh của Ôn Trí
Thủ mà người viết đã ghi lại với cả tấm lòng như tấm
lòng của đứa con lạc loài, chìm nổi giữa biển đời nhớ
về người cha lành đã khuất bóng. Đó là hình ảnh của
nhiều anh em văn nghệ sĩ sống trong những ngày tháng lao đao,
hồi hộp, ray rứt, phẫn uất, hùng chí giữa một quê hương
mịt mù trong bạo lực căm thù. Đó là riêng về anh Hiếu
Chân, một gói nhỏ, bọc bằng vải xô, đèo sau một chiếc
xe đạp. Mô tả một cách vô hồn và như tê điếng mọi nỗi
đau buồn về hình ảnh của một nhà văn đã chết. Cực kỳ
xúc động và xót xa. Tôi đọc mà nghe cảm cả một trời
buồn tràn dâng: Có giọt nước mắt nào xót mắt tôi cho anh
Hiếu chân lúc này. Tôi nhắm mắt lại, thầm tụng 3 biến
bài chú Vãng Sanh cho anh mà cũng là cho cả mọi nỗi trầm
luân của thời tang tóc điêu linh này. Anh Hiếu Chân, tôi còn
nhớ rõ lắm.
Sau
ngày đồng bào di cư vào Nam 1954, Miền Nam có tờ báo Tự
Do, một trong những tờ báo tôi quý. Quý không vì tin tức,
bình luận thời sự, không vì tiểu thuyết, tài liệu. Quý
chỉ vì cái mục Nói Hay Đừng do anh Hiếu Chân phụ trách.
Nhứt là từ khi trên mục nhỏ hẹp này, anh đã dám đem vấn
đề Từ Bi Không Có trong đạo Phật (!)để nổ thiên hạ.
Như thế là động thời văn; và phải là can đảm lắm, phải
là “gan cùng mình”, anh mới động thời văn được thế.
Ngày đó, mọi người cho anh đã dùng bút long để chọi bút
sắt. Tôi thì nghĩ tới cái học phong sĩ khí của người cầm
bút. Sau năm 1965, gặp anh tại Viện Đại Học Vạn Hạnh,
cái học phong sĩ khí mà tôi nghĩ về anh trước thực đã
không lầm.
Sau
30/4/1975, thỉnh thoảng tôi lại nhà thăm anh với bao gạo nhỏ
đèo sau chiếc xe đạp. Có lần anh Cao Hữu Đính phân bì.
Thế là tôi chia đều cho cả hai. Cả anh Thạch Trung Giả nữa,
cũng hột gạo chia nhau. Có khi cùng với thầy Đức Nhuận,
chúng tôi dùng xích lô máy đi thăm Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc
Sỹ…và các anh em khác. Giờ th2i đã tan tác, trời đất mỗi
người mỗi phương. Những Hiếu Chân, Thạch Trung Giả, Cao
Hữu Đính, Vũ Hoàng Chương…đã bên kia trời. Và cũng bên
này trời phương khác, tôi cứ mơ màng nghĩ đến…
Như
bọt nước tung tóe reo vui, anh Hiếu Chân đang được đùa
vui cùng sông nước. Niềm vui thỏa nguyện được vào chốn
lao tù, được chia cùng nỗi đớn đau với đồng nghiệp,
đồng bào. Niềm vui riêng ấy của anh thực chứa cả một
trời buồn chung của non nước. Tâm trạng anh có khác gì tâm
trạng của quý thầy trong Giáo Hội những ngày thầy Huyền
Quang, thầy Quảng Độ…vào tù trong lúc mình chưa bị tù.
Cớ sao mình chưa bị tù? Câu hỏi ấy, tôi đã nghe nhiều
lần ở thầy Thiện Minh. Để rồi, thầy Thiện Minh đã vào
tù và đã chết trong tù.Nguyện được vào tù. Để rồi chết.Thầy
Thiện Minh và anh. Những mấy trắng thong dong từ đây trên
quê hương còn mịt mù tăm tối.
Từ
Los Angeles đến Frankfurt rồi từ Frankfurt đến Hannover, tôi
đọc xong tập Hồi Ký của Nhã Ca. Nhiều hình ảnh ngày nào
rực rỡ và xót xa bây giờ. Ôn Trí Thủ, thầy Thiện Minh,
anh Hiếu Chân…Thầy Đức Nhuận với cái hình mới nhận
được hôm nào, chống gậy, còm người xuống đất. Luôn
cả hình dáng chị Hiếu Chân, cháu trai út và người con gái
của chị, cô Vĩnh bưng nước mời tôi mỗi lần đến nhà.
Cả hình ảnh buổi lễ tống tang anh có thầy Trí Quang và
quý thầy Ấn Quang…Tôi còn có giọt nước mắt này đưa
tiễn anh.
Buồn
vui một đời, nói sao cho hết. Buồn vui trong tâm cảm lịch
sử lại càng khó nói được hết. “tôi gọi tên tôi cho
đỡ nhớ…” Tôi đã đọc câu thơ này của Thanh Tâm Tuyền
trong một ngày 1963, giữa lúc Phật Giáo quê nhà bị khổ nạn
và vào khi một mình đi trên hải cảng Yokohama lặng lẽ. Tôi
cũng đã “ gọi tên tôi cho đỡ nhớ”, lúc này, trên chuyến
bay về Hannover để nhớ đến mình trong hình ảnh chập chờn
của nhiều người thân thương khác.
Rồi
máy bay đáp xuống phi trường Hannover.
Do
sự sắp xếp của Ban Tổ Chức, một nhóm Phật Tử Đức
đón và đưa tôi về Trung Tâm Thiền của bà Annemary Bushbeum
và tôi đã ở lại đây hai hôm. Tối ngày 10/41991, tôi nói
chuyện với gần 20 người Phật Tử Đức này. Trước khi
nói chuyện , họ đã dẫn tôi đi Thiền Hành qua một cánh
rừng, rồi đến ngắm một hồ nước trong veo. Đến ngày
12/4/91, thầy Như Điển lại đưa về Hotel Parkhaus và nơi đây
tôi thấy một tấm bảng ghi ngoài Hotel: vào ngày 9 tháng 12
năm 1777 thi hào kiêm văn hào nổi tiếng của Đức là Wolfgan
Von Goethe đã ở lại nơi đây. Bây giờ, hơn 200 năm sau lại
là nơi tôi được trú ngụ trong gần hai tuần lễ. Diễm phúc
nào đây nhỉ? Đức cũng như Âu Châu và mỹ Châu, đến tháng
April năm nay tuyết rơi trắng xóa cả bầu trời, tuyết rơi
quanh cả Hotel tôi đang tạm trú. Người Đức có câu thành
ngữ tháng April là mặc cho ông Trời muốn làm gì thì làm:
xuân hạ thu đông có thể thay đổi trong một ngày.
Sau
các bài diễn văn diễn từ, sau các lời chúc tụng và sau
các phiên họp bàn Phật sự sôi nổi, Ban Tổ Chức đã đưa
tất cả phái đoàn đi viếng bức thành ơ nhục Bá Linh (Berlin).
Berlin Wall khởi sự dựng lên vào ngày 13/8.1961 và bị đập
phá để hai bên thông thương từ ngày 9 tháng 11 năm 1989. Sau
gần 30 năm chia cách, sự khổ đau của con người tràn ngập
khắp đó đây. Chiều hôm nay, 17 tháng 4 năm 1991, một chiều
lạnh có tuyết rơi. Chúng tôi đã đến đứng trước những
tấm ván có ghi tên những người vượt thành tìm tự do bị
cảnh sát Đông Đức bắn chết. Chúng tôi đứng cúi đầu
trước tên những người chết để tưởng niệm. Tuyết rơi
dính ở mắt tôi nhằm lúc tôi đang khóc cho số phận những
người bị bắn bỏ mình.
Giờ
này, Đông và Tây là đâu? Bên này và bên kia là đâu? Nhưng
bức tường Berlin của Việt Nam , quê hương tôi, còn đó kia
mà!
Los
Angeles, Mùa Phật Đản 2535
VU LAN, MÙA
TƯỞNG NHỚ
Cuối
năm 1947, sau một thời gian dài loạn lạc, người góc bể,
kẻ ven rừng lũ lượt hồi cư về thành phố Huế. Chiến
tranh khói lửa, máu và nước mắt, hiểm nguy đến chết choc
đã phủ trùm lên đầu lên cổ con người Cố Đô Huế từ
cuối năm 1946 nối qua năm 1947. Cảnh loạn ly đã làm cho lòng
người hoang mang thất hướng đến tột cùng. Nhưng từ cuối
năm 1947 sang đến năm 1948, thành phố Huế trở lại thanh bình.
Cảnh thanh bình có được sau baonhiêu mất mát tang thương,
sau bao nỗi đoạn trường gain nan với gió bụi thực dễ xui
lòng người lắng xuống cho những trầm tư về nỗi sống
và chết hơn là cho con người những rộn ràng tươi vui. Nhờ
đó mà nhiều người đã tìm về với ánh Đạo như tìm về
chỗ nương tựa cuối cùng còn lại. Đạo Pháp đã ươm lại
được mầm trên đống tro tàn.
Rồi
chiến tranh lại tiếp nối. Nhưng nầm Đạo đã ươm. Trong
cơn khói lửa, những mầm non Đạo Pháp đã bắt đầu mọc
lên. Tổ chức Gia Đình Phật Tử ra đời. Giữa mùa Vu Lan
năm đó, trong trầm hương tưởng nhớ ơn nghĩa sinh thành,
trong buổi non trẻ của tổ chức GĐPT, anh Đỗ Kim Bảng sáng
tác bản nhạc Mục Kiền Liên. Ngày đó, Kim Bảng còn trẻ,
đôi mắt sáng tươi và tâm hồn cũng sáng tươi như mắt,
cầm đàn guitar ra sân khấu hát: “Đìu hiu gió, bóng chiều
rơi theo lá thu, có đàn chim bay vẩn vơ, chuông chùa xa đưa
huyền mơ…Mục Kiền Liên đứng nhìn cảnh đêm dần lan.
Nhớ mẹ xót xa tâm hồn…” Bao nhiêu người nghe đã ngậm
ngùi, đem lòng chơi vơi theo cùng tiếng hát của anh mà hình
dung ra hình ảnh của Ngài Mục Kiền Liên, mà tưởng niệm
đến hình ảnh những bà mẹ một đời nhọc nhằn vì con…
Hội
Quán Quảng Tri. Gia Đình Phật Tử Thừa Thiên trình diễn văn
nghệ. Hình bóng chiến tranh thấp thoáng xa gần. Hơn 40 năm
đã trôi qua, hình ảnh chiều văn nghệ với tiếng hát của
người nhạc trẻ Kim Bảng đã còn mãi âm vang với tôi hôm
nay, hình ảnh yấ như đối nghịch lại với những thảm cảnh
kinh hoàng, hãi hùng, đổ nát tang thương của loạn ly triền
miên trên quê hương. Hình ảnh ấy sống động như tình non
nghĩa biển cỏa con người Việt Nam, dù bị vùi dập đến
đâu cũng vẫn còn đó để còn đó niềm Hy vọng cho quê hương.
Hình ảnh ấy và tiếng gọi Tình Thương của người nhạc
sị Phật Tử trẻ tuổi áy đã là những gì mà người Phật
Tử Việt Nam muốn nói lên chi mình, cho quê hương trong đêm
đen của thời thế. Thời thế. Chiến tranh. Tiếng bom đạn
tả tơi. Cảnh chia lìa ruột thịt…Nhưng bến cũ vẫn đợi
chờ-“Trăm năm dầu lỗi hẹn hò. Cây đa bến cũ…” Bến
cũ của quê hương là đâu? Là chốn thanh bình muôn thuở;
ở đó, có mẹ có cha, có trăng soi bóng,có chùa xưa vang những
hồi kinh…? Người ta đồn, ông cựu Thủ Tướng Cộng Sản
Phạm Văn Đồng trong những ngày tàn gần đâyđã lên chùa.
Để sámhối? Để tu tâm? Về bến cũ, nếu được như thế
chẳng phải là điều đáng ngac nhiên, chỉ tiếc là muộn
màng,cho ông đã đành. Mà trên hết là cho nỗi đồ thán của
dân sinh.
Vu
Lan như một tiếng gọi. Giữa thời tao loạn tiếng bấc tiếng
chì của hơn 40 năm trước, Vu Lan với Kim Bảng đã là một
tiếng gọi mời thiết tha con người trở về bến cũ của
nước non, với mẹ, với cha đã triền miên thống khổ. Thống
khổ vẫn triền miên đê cho khi “bóng chiều rơi theolá thu,”
lời kinh siêu độ vẫn âm vang như tiếng gọi mời, không
chỉ với những oan hồn vất vưởng ở bên kia cõi chết mà
là thiết yếu hơn, với những kẻ ở bên này cõi sống-những
kẻ mải mê với quyền lực và bạo lực để cho lịch sử
oan khiên cứ mãi trói buộc người dân. Cho nên, thời trước,
trong tiếng gọi Vu Lan, người ta trông chờ những cởi trói
để cho người tù tọi được thở chút không khí tự do.
Phật Giáo mang đến cho dân tộc cái đạo lý nhân tính và
nhân tính và nhân tình là vậy. Cũng cho nên, thời nay, nghĩ
đến cái đạo lý nhân tính và nhân tình này mà hắng năm,
đến khi Vu Lan về, chúng tôi đều gởi thơ về nhà cầm quyền
Hà Nội để kêu gọi họ trả tự do cho các vị lãnh đạo
Phật Giáo, các Tăng Ni, Phật tử, đồng bào bị giam cầm.
Thơ gởi đi, trong tiếng gọi Vu Lan của dân tộc, chúng tôi
cầu nguyện, mong cho chút nhân tính, nhân tình nào còn lại.
Nhưng năm này rồi năm khác, những bức thư kêu gọi đó đều
như đi vào sa mạc…
Thế
giới đã lắng nghe những tiếng nói của lương tâm đã nói
lên bằng cả sinh mệnh của những Nguyễn Chí Thiện, Tuệ
Sỹ, Lê Mạnh Thát, Doãn Quốc Sỹ…Cả những tiếng nói của
kẻ ở bên kia, từng say mê và tôn thờ chủ nghĩa, những
Bùi Tín , Nguyễn Khắc Viện, Hoàng Minh Chính, Phan Đình Diệu…
Thế
giới đã nghe và đã thấy, đã quá rõ lẽ thời băng rã không
phương cứu vãn của chủ nghĩa cộng sản ở khắp nơi. Sự
dối trá đâu thể mãi hoành hành như chỗ không người…
Thế
mà lạ, giới cầm quyền Hả Nội như chẳng nghe chẳng thấy
gì cả! Cửa lao tù trên mảnh đất Việt Nam vẫn đóng kín!
Cửa lao tù trên mảnh đất Việt Nam vẫn đóng kín! Vọng
ra bên ngoài, có chăng , chỉ là những tiếng kêu gào của
lương tâm…
“Trăng
đã lên trên đỉnh nhà tù,
luồn
qua khe cửa sắt, trải một vệt trắng ngà
trên
thân thể ta trong xà lim tăm tối…
Ôi
ánh trăng đã từng làm ta đắm đuối
Suốt
những đêm dài trong tuổi đôi mươi
Suốt
những tháng năm còn đầy nuối tiếc
Đã
từng cùng ta ươm mộng xanh tươi…
Vẫn
ngọt ngào như dòng sữa mẹ
trên
quê hương còn phủ ngập tang thương
vẫn
tươi mát bao tâm hồn son trẻ
đang
âm thầm chiến đấu cho quê hương…”
Tôi
đọc khúc ca này của Đoàn Viết Hoạt trong một bài viết
mới đây trên tờ Người Việt. Đoàn Viết Hoạt, một tài
năng trẻ tuổi của Việt Nam đã chôn đời trong ngục tù
Cộng Sản. Nhưng từ trong ngục tù đóng kín đó, lời ca anh
thoát ra, đẹp như ánh trăng quê hương! Đoàn Viết Hoạt,
người đã cùng làm việc với tôi một thời dưới mái trường
Đại Học Vạn Hạnh, đã một thời khai thông Học Vụ, trông
coi tờ Tư Tưởng.Tư Tưởng, trước đó là tiếng nói của
Đông Phương trong cuộc song thoại với Tây Phương giữa những
điêu tàn của thế kỷ; đến Đoàn Viết Hoạt, là tiếng
nói của dân tộc trong hoài vọng trở về bến cũ. “Về
Nguồn”, tôi nhớ đâu đó. Đoàn Viết Hoạt viết trong Tư
Tưởng, như là ý thức chủ đạo của anh. Nó xuất hiện
trong khung cảnh Đại học bấy giờ như một nỗ lực nối
kết nền học vấn trí thức vốn từng bị đóng khung trong
tháp ngà với cái nền tảng cụ thể của một dân tộc đang
bị “vong thân” vì chiến tranh ở anh, giờ nghĩ lại, tôi
mới thấy nó là một sự gắn bó đầy ý thức và hoài bão.
Tốt nghiệp ĐạiHọc ở Mỹ trở về nước, tâm hồn anh
mang ý thức và hoài bão đó quả là điều đáng quí. Những
gì anh làm sau này thái độ và hành động yêu nước của
anh biểu lộ cả trong chốn ngục tù, tiếng nói của anh trong
“ Diễn Đàn Tự Do” cho một đất nước Việt Nam tự do
dân chủ thực sự…Rồi Cộng sản đem anh vào tù giam như
đã đem Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát vào tù…Tôi ngồi đây mà
tưởng đến hình bóng anh, người trí thức Phật Tử tài
hoa một lòng một dạ thủy chung với đất nước. Hình bóng
đó đẹp như ánh trăng quê hương. Hình bóng đó là tiếng
gọi trở về bến cũ, chốn thanh bình muôn thuở của
quê hương, có người ca hát. Vẫn chỉ mà những kẻ đang
cầm quyền như chẳng hề nghe tiếng gọi, như chỉ biết đạp
trên khát vọng của sinh dân đế cố bảo vệ thứ quyền
lực đang đến hồi thoái hóa, rã tan.
Vu
Lan, từ Đỗ Kim Bảng năm xưa đến Đoàn Viết Hoạt ngày
nay. Trước và nay, người Phật Tử Việt Nam cũng chỉ một
tiếng gọi trở về.
Trước
đây mấy tuần, tôi đến Honolulu làm Phật sự. Ở đây, Phật
Tử Tâm Bảo đưa tôi đên viếng Pearl Harbor và coi lại trận
không chiến của Nhật ngày 7 tháng 12 năm 1941. Qua màn ảnh,
ngày xưa 7/12/1941 là một biển lửa kinh hoàng của bom đạn
và chết choc. Ngày ấy đã qua rồi. Nhưng bầu trời xanh, biển
xanh và mây trắng thong dong vẫn mãi muôn đời nơi đây.
Bạo
lực rồi cũng sẽ qua. Chế độ rồi cũng sẽ tàn. Chỉ là
muộn màng quá đỗi. Nhưng tâm hồn trong sáng của Đoàn Viết
Hoạt trong khúc ca giữa chốn ngục tù sẽ vẫn vằng vặc
như ánh trăng muôn thuở.
Los Angeles, Vu Lan Tân Mùi, 1991
TÌNH ÔN NHƯ
BIỂN CẢ
Hòa
Thượng Thích Tịnh Từ
Viện
trưởng Tu viện Kim Sơn (Watsonville)
Tình
Ôn như biển cả
Như
Mẹ hiền Quan Âm
Đầy
năng lượng từ ái
Đến
đi như mây trời
Ôn
qua đây một phút
Lòng
trong vắt tháng ngày
Nụ
xuân vui để lại
Ngàn
sắc hương nhiệm mầu
Lời
Ôn,như suối ngọt
Sức
sống dậy đơm bong
Tình
Cao Sang trải rộng
Mặt
Đại-Dương kiêu hung
Nụ
Cười đơm hạnh phúc
Tình
Ôn thơm mặn nồng
Bão
tràn qua cổ thụ
Cây
xanh màu vạn niên
HÓA ĐỘ
Sáng
nay trời mát dịu hẳn đi. Những oi bức của trời hè như
sẳn sang nhường bước cho những làn gió nhẹ đầu thu. Trời
cao và xanh hơn.Những hàng cây trước sân Chùa phất phơ những
ngọn tươi khỏe. Màu cây lá như hòa vào màu da trời. Những
sợi nắng vàng óng vắt qua cành lá, đổ xuống sân. Tất
cả sáng lên trong khung cảnh thật thanh tịnh.
Mãi
thẩn thờ vối cảnh đẹp trước sân, quên cả nhiệm vụ
của mình. Hôm nay ngày lễ quy y của Nghiêm Xuân Cường cùng
cô chị và người cháu. Đây là một nhân duyên kỳ lạ vì
mỗi người mỗi nơi. Ôn ở Los Angeles, tôi ở Connecticut còn
Cường ở gần Chicago. Cả ba nằm trên trục Đông Bắc- Tây
Nam, đường cắt xéo từ đầu này sang đầu kia của nước
Mỹ. Và đây là lần đầu tiên Ôn và tôi được gặp Cường.
Tuy lâu nay vẫn liên lạc nhau bằng điện thoại, nhưng mãi
đên bây giờ mới “ kiến kỳ hình”.Nhờ hồng ân tam bảo
gia hộ mọi người tình cờ gặp nhau tại Chùa Việt Nam, ngôi
chùa đầu tiên của Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại. Nơi
đánh dấu bước đường hoằng pháp gian nan của chư tôn đức
cùng với đoàn người lưu vong sang tận miền cực Tây
xa xôi lạnh lẽo này. Không biết đây đã sắp đến Tây Phương
Cực lạc chưa hay chỉ là vùng biên địa nơi mà ánh sáng
chánh pháp hãy còn heo hắt?
Lần
thoe những bậc thang tôi vào phương trượng lễ
Ôn. Trông Ôn ốm nhiều và khỏe ra. Nhưng nét vui tươi lạc
quan vẫn rạng ngời trên khuôn mặt từ ái của ôn. Tuy dư
âm những mệt nhọc ưu tư cho ngày Tưởng Niệm Bốn Mươi
Năm Pháp Nạn vẫn còn. Công việc không đơn giản. Nội ma
ngoại chướng. Sự phá phách từ ngoài lẫn trong có lúc tưởng
chừng như bỏ cuộc. Nhiều đêm Ôn không ngủ được, nghỉ
thương cho những nạn nhân của chế độ, cho những người
đã hy sinh cho sự tồn vong của đạo pháp Bốn mươi năm qua
nhưng sự tri ân đó vẫn sâu đậm như ngày nào. Những người
đó nằm xuống để chúng ta hôm nay còn đuợc lư hương bát
nước. Làm sao quên được ân đức đó, làm sao bỏ mặc đi
được. Đạolý ân nghĩa của người Phật tử không cho phép
chúng ta làm như vậy. Có người bị hù dọa đã bỏ cuộc
hoặc bị lung lạc bởi sự tuyên truyền từ bên ngoài. “
Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng
khuất”. Đó là cái Dũng của người con Phật . Bao nhiêu
năm bị tù đày, tra tấn, thủ tiêu, nhưng tấm lòng son sắt
với đạo pháp vẫn vững bền.Ngày nay pháp nạn vẫn còn
tiếp tục từ quốc nội đến hải ngoại, do những thế
lực vô minh quốc tế cũng như nạn sư tử trùng. Tưởng Niệm
Bốn Mươi Năm Pháp Nạn như going lên tiếng chuông để mọi
người thức tỉnh hiện trạng của Phật Giáo để tìm phuơng
cứu chữa. trong quyết tâm đó và với sự gia trì của Long
Thiên Hộ Pháp buổilễ Tưởng Niệm đã vượt qua bao trở
lực để thành công viên mãn. Bây giờ công việc đã xong
Ôn trở lại vớinhững công việc thường nhật của mình.
Một
lúc sau Cường, chị và cháu đã đến cùng với những người
bà con. Cường là cháu của cụ Nghiêm Xuân Hồng, là người
rất có đạo tâm và thích làm thơ viết nhạc. Sự tìm đến
Đạo của Cường như sự khám phá ra viên ngọc quý trong mình.
Lâu nay vẫn cưu mang trong người nhưng không nhận ra, bây giờ
lớp đất che phủ bên goài đã vở ra để sự lấp lánh của
viên ngọc hiện lộ. Vẻ đẹp trang trọng, vẻ sáng rực rỡ
của viên ngọc khiến người bàng hoàng,kinh ngạc, im lặng
chắp tay kính ngưỡng. Hạt giống Đạo Giải Thoát mà cụ
Nghiêm Xuân Hồng đã gieo vào trong tâm khảm của Cường cũng
như mọi người trong gia đình, ngày nay đã đâm chồi nẩy
lộc. Đây là cuộc hành trình tìm về chân tâm của mình,
trở về với suối nguồn bát ngát của đạo học đông phương
để khám phá rằng hạnh phúc ngay trong tầm tay của mình và
ở ngay trước mắt:
Con đã về đây bên Thế Tôn,
Áo xưa rũ sạch dấu ưu phiền,
An nhiên chân bước qua sân vắng,
Cả một trời hoa trong nắng xanh.
( Thơ Nghiêm Xuân Cường)
Từ
đạo tình qua những lần tham vấn cọng mối duyên văn nghệ
với Ôn, Cường cùng chị và cháu đã quyết định quy y. Trước
giờ cử hành lễ, tôi hỏi Cường: “ Sao không rủ vợ cùng
con về quy y luôn?” Cường cười đáp: “ Cô ta khôn lắm,
bảo chờ xem con làm ăn ra sao rồi mới quyết định!” Trong
buổi lễ, sau phần truyền giới tôi nhắc lại câu chuyện
đó và them: “ Cường thì nhất định phải làm ăn khấm
khá rồi!” Mọi người cùng cười chia vui với Cường.
Hôm
nay với sự tham dự của chư tăng Chúa Việt Nam, buổi lễ
cử hành trong sự trang nghiêm, cảm động và thân mật. Âm
thanh của những điệu tán tụng đầy thiền vị của
nghi lễ đất thần kinh hòa trong tiếng mõ ấm áp và tiếng
chuông thánh thoát, gợi trong ta hình ảnh của một ngôi chùa
bên bờ sông Hương lặng lờ. Tong ánh nến lung linh và khói
trầm lan nhẹ, những net1 đại tự trên bức hoành phi sáng
rực lên. Không ai có thêểnghĩ rằng mình đang ngồi giữa
thành phố Los Angeles, thủ phủ hoa lệ của tiểu bang California.
Tuy
tuổi già, sức khỏe yếu kém và công việc đa đoan, Ôn vẫn
từ bi để chứng minh chủ lễ. Giọng xướng sang sảng của
Ôn vang dậy cả chánh điện. Lời dạy của Ôn đầy những
tình cảm tha thiết với cố học giả Nghiêm Xuân Hồng, người
đã có những công trình nghiên cứu nghiêm túc về Phật Giáo,
cũng như văn hóa dân tộc. Từ khi sang Mỹ, cụ đã đóng góp
tích cực trong việc hoàng pháp tại đây và thường xuyên
giảng những bộ kinh quan trọng như Kim Cương, Duy Ma Cật,
Pháp Hoa, Hoa Nghiêm. Sau lễ quy y , Ôn đặt pháp danh cho Cường
là Tịnh Nghiêm để tưởng nhớ cụ Tịnh Liên Nghiêm Xuân
Hồng. Người chị và cháu của Cường cũng được pháp danh
Tịnh Hương và Tịnh Hải, cũng trong ý nghĩa tưởng niệm
đó. Riêng em Tịnh Hải nghe Ôn dạy về ý nghĩa của pháp
danh cứ nghĩ rằng Ôn đã nhìn suốt được cuộc đời của
em, tuy rằng đây là lần đầu Ôn gặp mọi người. Để cảm
tạ lòng từ ái của Ôn và đại chúng, Cường đã hát tặng
bài hát được phổ nhạc từ thơ của Ôn:
Ô hay Xuân đến bao giờ nhỉ
Nghe tiếng hoa khai bỗng giật mình
Sáng nay thức dậy choàng thêm áo,
Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh.
( Thơ Huyền Không)
Mùa
xuân đây là mùa xuân vĩnh cửu,nhà thơ với tâm linh trong
sáng, cực kỳ linh mẫn đã nghe tiếng hoa khai để trực nhận
chân tâm của mình, để nhìn thấy suối nguồn hạnh phúc
tuôn tràn trong mình. Choàng thêm áo tu tập để giữ lửa giác
ngộ và cánh cửa giải thoát rộng mở thênh thang. Chung quanh
hôm nay như mới lạ. Cảnh vật hiện ra trước mắt đẹp
lạ thường: “ Một vùng như thể cây Quỳnh cành Giao” (Kiều)
Chùa
hải Ấn, đầu thu Quý Mùi (2003)
Thích
Trí Hoằng
TẤM LÒNG VÌ
ĐẠO CỦA THẦY
(Đôi
dòng cảm nghĩ nhân dịp sinh nhật lần thứ 75
của
Hòa Thượng Thích Mãn Giác)
Phước
Sơn
Theo
dòng biến chuyển của lịch sử đất nước, sau năm 1975,
quê hương đang lật qua một trang sử mới, do đó gặp rất
nhiều thử thách cam go.
Thầy
cũng như bao người khác nén nỗi đau thương, rời bỏ nơi
chôn nhau cắt rốn, vượt qua trùng dương nguy hiểm, để tìm
lấy sự sống. Những người khác cố gắng đem theo những
gì có thể mang theo đuợc để làm hành lý hộ thân, riêng
Thầy chỉ mang theo tập lài liệu Pháp nạn Phật giáo 1963
như một bảo vật mà Thầy trân quý hơn cả sinh mệnh của
mình. Lúc đầu mới định cư, vừa thoát khỏi song gió trên
mặt biển thì gặp phải biết bao sóng gió trên bờ,khiến
Thầy cũng như các pháp hữu phải lận đận ứng phó với
bao điều phức tạp, trải qua hai mươi mấy năm trường. Đến
năm nay 2003, vừa đúng 40 năm pháp nạn ( 1963-2003), Thầy đứng
ra đề xướng và kêu gọi đồng đạo hưởng ứng làm lễ
kỷ niệm 40 năm pháp nạn. Mục đích việc làm ấy thật là
trong sáng và chính đáng , nhưng cũng gặp khá nhiều trở lực,
từ trong ra ngoài. Tuy vậy, Thầy vẫn quyết tâm giữ vững
lập trường trước sau như một; cuối cùng đã khắc phục
được mọi trở lực, tổ chức lễ kỷ niệm thành công mỹ
mãn, nhằm ba mục đích như sau: Một là nhằm tưởng niệm
công đức của các bậc tiền bối, các thánh tử đạo và
những Phật tử vị pháp vong thân. Hai là kiểm điểm những
Phật sự trong 40 năm qua , những gì đã làm được và chưa
làm được.Thứ ba là vạch ra một chương trình hành động
phù hợp với thực tế và đáp ứng được những yêu cầu
của thời đại, trong buổi lễ tuy có nhắc đến nguyên nhân
gây ra pháp nạn,nhưng nhắc đên để mà hóa giải chứ không
phải nhằm khêu gợi hận thù. Vì lẽ, người Phật tử hiểu
rõ hơn ai hết tinh thần từ bi của Phật dạy: “ Không thể
dung hận thù để tiêu diệt hận thù, mà chỉ có thể lấy
tình thương mà xóa bỏ hận thù”.
Cũng
như dân tộc ta hằng năm vẫn làm lễ tưởng niệm công lao
của các anh hung dân tộc Trần Hưng Đạo, Hoàng đế Quang
Trung, đâu phải vì sợ úy kỵ, nhắc đến tên giặc Nguyên,
giặc Thanh mà không làm lễ tưởng niệm. Bởi vì “Ăn trái
nhớ người trồng cây” vốn là đạolý cao đẹp của dân
tộc Việt Nam.
Ngày
4 tháng 7 vừa qua, tôi có nhân duyên được tham dự buổi họp
mặt của Hội Ái Hữu cựu sinh viên Đại học Vạn Hạnh.
Trong buổi họp mặt này, ngoài sự chứng minh của Thầy còn
có các Giáo sư Trần Ngọc Ninh, Tôn Thất Thiện, Doãn Quốc
Sĩ và các Thầy, Cô khác. Về phía Ban chấp hành của Hội
có các anh Thân Trọng Nhân, Lê Văn Thạnh ,Khổng Trọng Hinh,
Nguyễn Bé,…tuổi tác của các anh cũng xấp xỉ trên dưới
60, không cách biệt với các Giáo sư bao nhiêu, thế mà mỗi
lần nói chuyện với Thầy, họ đều xưng con một cách hồn
nhiên, lễ độ và đầy vẻ thân tình. Chứng kiến cảnh tượng
ấy, tôi thật sự xúc động và hãnh diện về môi trường
giáo dục của Viện Đại học Vạn Hạnh, một môi trường
nhân bản đầy đạo vị, do đó mới đào tạo được những
mẫu người như thế. Tôi hiểu rằng chính Thầy là người
đã tốn nhiều tâm lực hoài thai, cưu mang và nuôi dưỡng
biết bao thế hệ sinh viên nên ngày nay mới hình thành được
Hội Ái Hữu mang đậm tình người. Và hiện tại họ thật
sự cảm thấy rất hạnh phúc trong tình huynh đệ đồng môn.
Thầy
xuất thân từ một gia đình có truyền thống nhiều đời
thâm tín Phật pháp. Sau khi xuất gia không baolâu, Thầy đã
tỏ ra xuất sắc nên được thầy yêu, bạn mến , đường
đạo thênh thang trước mắt. Đặc biệt nhất là Thầy có
một hồn thơ dạt dào, giọng thơ mượt mà, lưu loát, thâm
trầm, đầy đạo vị, như những dòng thơ sau đây:
Từ thuở ra đi vắng bong chùa
Đường đời đã nhọc chuyện hơn thua
Trong tôi bừng dậy niềm chua xót
Xao xuyến mơ về lại cảnh xưa
Hay:
“Mái chùa che chở hồn dân tộc,
Nếp sống muôn đời của tổ tông”.
Những
câu thơ này có sức mạnh truyền cảm, dễ thâm nhập lòng
người, nên đã biến thành những câu ca dao khiến ai cũng
có thể thuộc nằm lòng.
Cũng
như mỗi độ xuân về không mấy ai trong chúng ta quên được
những bài thơ xuân của Thầy:
“Ô hay xuân đến bao giờ nhỉ,
Nghe thầy hoa khai bỗng giật mình!
Sáng nay thức dậy choàng thêm áo,
Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh”
Vào
ngày đầu xuân trong không khí đất trời đang chuyển động,
tâm hồn ta như giao hòa cùng vũ trụ bao la.
Thiết
nghĩ , trong lòng thơ đạo của thế kỷ 20, địa vị của
Thầy đã được xác lập và có lã không nhường cho bất
cứ một ai.
Thành
kính nguyện cầu Phật lực từ bi gia bị Thầy được pháp
thể khang an, luôn luôn chân cứng đá mềm, làm tang cây che
mát cho tăng, Ni trẻ và Phật tử hải ngoại để họ đủ
nghị lực vượt qua những cơn nắng lửa mưa dầu và những
trận phong ba bão tố.
TÌNH ÔN
Thân
Trọng Nhân
Cựu
Sinh Viên Đại Học Vạn Hạnh
Thưa
Ôn, nếu nói về tâm tình bao la mà Ôn đã dành cho chúng con,
những học trò của Ôn ngày nào, thì có lẽ khó có thể diễn
tả trọn vẹn được vì tâm tình đó quá ấm áp, ân cần
và vô cùng sâu đậm.
Từ
những ngày dưới mái trường Vạn Hạnh ở quê nhà, với
cương vị là Phó Viện trưởng kiêm Giáo sư, Ôn đã chia xẻ
với nhiều lớp sinh viên chúng con biết bao trăn trở, buồn
vui trong từng sinh hoạt lớn nhỏ. Những Kỷ Niệm đẹp và
đầy ý nghĩa ấy vẫn luôn luôn trong tâm của mỗi chúng con,
trau chuốt như một chương trong quyển nhật ký đời mình.
Và hễ có dịp gặp gỡ lại hào hứng kể cho nhau nghe như
một bằng chứng về những ngày xưa thân ái dưới mái trường
thân yêu, bên sự chăm sóc thật ân cần của Ôn.
Rồi
hơn hai mươi năm đã trôi qua trên đất nước tạm dung, Ôn
vẫn tiếp tục trải rộng tấm tình đó đến với anh chị
em chúng con nhưng gần gũi hơn, thân thiện hơn và ý nghĩa
bội phần hơn. Ôn đã khởi xướng, gây dựng, và luôn luôn
khuyến khích, cổ vũ những hoạt động của Hội Ái Hữu.
Qua bao lần họp mặt bất kể gần xa, mưa nắng, đông lạnh
hay hè nắng chói chang bao giờ Ôn cũng đến với nụ cười,
với lòng yêu thương đằm thắm chứa chan.
Từ
xưa đến giờ, từ việc học hành đào tạo cho đến các
sinh hoạt sinh viên, từ việc Hội đến những vui buồn đời
thường của từng cựu sinh viên, bao giờ chúng con cũng cảm
nhận được điểm tựa vững vàng mà Ôn đã dành cho.
Điều
đáng quý hơn hết là từ những bài học trên bục giảng
ngày nào ở giảng đường đại học Ôn đã từng bước xuống
sân trường hỗ trợ mọi hoạt động sinh viên thì ngày nay
cũng vậy, trong các dịp họp mặt hàn huyên Ôn đều hướng
dẫn chúng con nuôi dưỡng tình yêu quê hương, yêu quê cha
đất mẹ- vì đây chính là mối tình sâu đậm, canh cánh trong
lòng Ôn.
Ôn
đã từng đau chung với những mất mát, khi bằng hữu của
chúng con chẳng may vắn số. Những dòng nước mắr khóc cho
chiếc là xanh lìa cành đã khiến chúng con xót xa là ngần
nào. Những lời kinh Ôn đọc chuyên chở vỗ về hồn ai trong
cõi vô minh biết bao.
Ôn
cũng không bao giờ quên chúng con trong những ngày vui sum vầy.
Ôn đến với nụ cười hiền hòa làm rạng rỡ thêm hạnh
phúc hợp đoàn. Ôn là biểu tượng của tình cha cao cả, là
nơi nương tựa mà chúng con đặt trọn tin yêu.
Quê hương tình nặng trĩu lòng
Đóa sen hương tỏa ngát dòng sông xưa …
MÁI CHÙA CHE
CHỞ HỒN DÂN TỘC [4]
TT.
Thích Như Điển (Đức)
Người
Việt ra đi đã bỏ lại sau lưng tất cả và trong ấy có bỏ
lại ngôi chùa. Do vậy mà sự nhớ thương dằng dặc, bao giờ
ngôi chùa cũng xuất hiện đầu tiên trong tâm trí của họ.
Thi sĩ Huyền Không, tức Hòa Thượng Thích Mãn Giác, cách đây
50 năm đã làm một bài thơ Nhó Chùa rất hay, đã diễn tả
đúng tâm trạng của những người xa quê hương về lại nơi
chôn nhau cắt rốn của mình. Bài thơ ấy nhan đề là : Nhớ
Chùa
Từ thuở ra đi vắng bóng chùa
Đường đời đạ nhọc chuyện hơn thua
Trong tôi bừng dậy niềm chua xót
Xao xuyến mơ về lại cảnh xưa
Đây
là lối thơ thất ngôn trường thiên. Nghĩa là mỗi câu 7 chữ
và không nhất thiết bài thơ phải dừng nơi 4 câu như những
loại thơ Đường luật bị gò bó niêm luật, mà ở đây gồm
9 đoạn,mỗi đoạn 4 câu như thế.
Con
người khi xa quê mong muốn làm nên một cái gì đó cho đời;
nên phải bon chen với danh với lợi, tranh đấu hơn thua để
phần thắng được về mình; nhưng khi sực tỉnh lại, thấy
sao mà chua xót quá.Do vậy mới mơ màng nhớ lại cảnh cũ
người xưa , trong ấy có bóng dáng một ngôi chùa.
Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng
Có con đường đỏ chạy lang thang
Có hàng tre gợi hồn sông núi
Im lặng chùa tôi ngập nắng vàng
Cảnh
cũ người xưa đâu còn nữa; nhưng trên con đường đất đỏ
chạy vào làng đó, hai bên có những hàng tre thẳng tắp, đứng
sừng sững với núi sông, tượng trưng cho cuộc đời của
người quân tử.Chỉ đơn giản thế thôi; nhưng là biểu tượng
cho làng tôi đấy và nơi đó dưới ánh nắng chói chang hay
những chiều tà ảm đảm, ngôi chùa vẫn im lìm trong cuộc
sống trầm lặng của dân quê.
Có những cây mai sống trọn đời
Bên hàng tùng bách vẫn xanh tươi
Nhìn lên phảng phất hương trầm tỏa
Đức Phật từ bi miệng mỉm cười
Thật
là hạnh phúc biết bao! Thật là hoan hỷ biết bao! trong tất
cả hoàn cảnh, trong tất cả nhịp điệu sống của dân làng
đều có sự hiện diện của ngôi chùa; trong ấy có Đức
Phật dưới làn khói hương nhẹ tỏa. Ngài ngồi yên đó mỉm
cười với cuộc thế đổi thay từ bên trong lẫn bên ngoài
bản thân của mỗi con người. Tuyvậy trong vườn chùa kia
có những cây Mai sống rất lâu. Mỗi năm Đông đến Xuân
sang thì hoa Mai đua sắc thắm đế chào đón nàng Xuân, mặc
cho gió Đông có khe khắt. Ngoài những gốc Mai già ra còn có
những cây Tùng và cây Bách vẫn sừng sững với gió sương,
trơ gan cùng tuế nguyệt, chịu đựng với bao gian khổ khó
khăn; nhưng lá vẫn xanh, cây vẫn thẳng, chịu đựng gian khổ
với thời tiết, với hoàn cảnh. Điều này cũng nói lên được
ý chí của những người ở lại quê, khi họ đã chấp nhận
sống chết với lũy tre làng, nương khoai bờ giậu ấy.
Tôi nhớ làm sao những buổi chiều
Lời kinh giải thoát giọng cao siêu
Đây ngôi chùa cổ ngày hai buổi
Cầu nguyện dân làng sống mến yêu
Dưới
mài chùa hiền hòa ấy có hình bóng của vị Sư già ngày 2
buổi với kinh kệ, mõ chuông, cầu nguyện cho dân làng
sống có hạnh phúc qua lời dạy của chư Phật, bỏ ác làm
lành, giữ tâm ý cho được thanh tịnh.Lời kinh tiếng kệ
ấy như là những tiếng vọng cao cả dôi vào tâm tư của
người dân,ngay cả những người đang sống nơi viễn xứ.
Lời kinh ấy cứ vang vọng mỗi ngày sớm chiều hai buổi,
khiến cho khách trần ai tụclụy cũng phải hướng về cảnh
giới giải thoát nhiệm màu để tu thân tích đức.
Vì vậy làng tôi sống thái bình
Sớm khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn khoai gạo bắp nuôi dân xóm
Xây dựng tương lai xứ sở mình
Cuộc
sống nông thôn rất đơn giản; chì có gạo khoai, sắn, bắp,
rau cải chứ có gì đâu; nhưng trong từng vi sinh vật ấy được
sinh trưởng, lớn lên tại làng quê kai có mục đích
rõ ràng là tô bồi cho quê hương xứ sở cho đẹp đẽ, mà
muốn thế phải nương theo sự cầu nguyện, nương theo chuông
mõ,linh tang, gõ nhịp vào thành trống, thành chuông để going
lên bao hồi chuông cảnh tỉnh. Để từ đó con người sống
trọn vẹn trong cảnh thái bình an lạc. Sự yên ổn đó không
phải tự nhiên mà nó có. Đó là do sự cầu nguyện, do ý
ch ímong cầu. Do sự hướng về Đấng Toàn Giác. Do tâm nguyện
ấy mà đời sống của mọi người trong thôn trở nên an lạc
Mỗi tối dân quê đón gió lành
Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi
An ủi dân hiền mọi mái tranh
Đời
sống của nông dân rất hồn nhiên chất phác. Cật lực làm
lụng suốt ngày để có miếng cơm, manh áo, tối về tắm
rửa sạch sẽ, sau đó cơm nước và dẫn vợ con lên chùa
để ngắm trăng. Vì sao vậy? Vì tại chùa bao giờ cũng có
cây to bóng mát. Xuyên qua ngàn cây nội cỏ đó, ánh trăng
rằm sẽ dọi chiếu khắp đó đây trở nên muôn hồng ngàn
tía hòa lẫn với tiếng chuông ngân nga như mùi Thiền làm
nên cảnh vật của thiên nhiên. Khiến người nông dân thư
thái, hạnh phúc vô cùng. Đây là niềm an ủi, một sự động
viên không phải dung thuốc uống để chữa lành bệnh tật
mà tất cả đều khởi từ chỗ tâm hướng thượng của mỗi
con người.
Trầm đốt hương xông thơm ngào ngạt
Thôn trên xóm dưới dạ nao nao
Dân làng tắm gội lên chùa lễ
Mười bốn, ba mươi mỗi tối vào
Đến
ngày sám hối vào tối 14 âm lịch hoặc tối 30. Mỗi tháng
2 lần như thế sau khi cơm nước tắm gội, vợ chồng con cái
cả nhà lên chùa với sản phẩm trong vườn như rau, chuối,
đậu , mè mang lên chùa để cúng dường Sư cụ và thập phương
bá tánh. Đây là tâm nguyện của dân làng khi đi chùa lễ
Phật. Cho nên ai ai cũng nôn nao trông cho đến những ngày trọng
đại ấy để mà lên chùa dâng hoa hương cúng Phật và dầm
mình vào trong trầm hương khói tỏa, để như thấy mình cũng
được sám hối những tội lỗi từ lâu đời, lâu kiếp đã
gây ra:
Biết đến bao giờ trở lại quê
Phân vân lòng gởi nhớ nhung về
Tang thương dù có bao nhiêu nữa
Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê
Ngôi
chùa với phong sương cùng tuế nguyệt ấy, với thời gian
năm tháng chất chồng, với chiến tranh đổ nát, với sương
gió phũ phàng, chắc chắn phải có ảnh hưởng; nhưng trong
tâm trạng của kẻ xa quê vẫn muốn rằng những hình ảnh
của năm xưa, một ngôi chùa hiền hòa yên tĩnh tọa lạc trong
một ngôi làng và trong tâm thức của người xa quê như thế
cũng mong rằng không bị ảnh hưởng gì nặng nề cả.Vì ngôi
chùa trong lòng người xa xứ là một bầu trời, một đất
nước, một quê hương. Chưa biết là bao giờ mới có thể
trở lại thăm quê; nhưng mong rằng ngôi chùa trong lòng của
tuổi ấu thơ ấy vẫn mãi mãi nơi tâm thức của người xa
quê:
Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lung
Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông.
Thật
là tuyệt vời ! Thật là vi diệu khi bên tai mình văng vẳng
đâu đây tiếng chuông và nhiều tiếng chuông liên tục như
thế vọng ra từ một ngôi chùa cho nên mình đã thức tỉnh
và nhớ lại chùa xưa. Ai là người đã ra đi, chắc chắn
không bao giờ quên được ngôi chùa ấy. Vì sao vậy? Vì lẽ
mái chùa kia đã che chở hồn dân tộc qua bao nhiêu năm tháng
chất chồng, qua các triều đại thịnh suy của dân tộc; che
chở tất cả những muộn phiền của thế sự đổi thay và
đó , đó chính là nếp sống nghìn đời của ông bà, cha mẹ
ta trong tinh thần Phật giáo vậy.
Trân
Tặng Ôn Mãn Giác
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Trí nhân sống giữa cuộc đời
Như thân tùng bách xanh tươi bốn mùa
Trăng Huyền Không sáng hơn xưa
Thiền sư thi sĩ vườn chùa cảo thơm.
NÉN HƯƠNG
BÊN MỘ MẸ
Gửi
Trí hải (Chùa Hải Đức -Huế) với tình quê hương
Đi
Việt Nam về, Như Liên và Ronald gửi cho tôi cuộn video ghi
lại những dấu tích quê hương. Bùi ngùi thấy lại hình ảnh
thân thương trìu mến của đất nước, những dáng làng mộc
mạc muôn thuở, vẻ tiêu sơ và ảm đạm của đất và người
quê, tôi thấy lòng quặn đau tha thiết.
Từ
dạo bỏ quê đi, đã năm, sáu mươi năm, cảnh cũ dường như
chẳng hề thay đổi. Tôi thấy thương vô cùng những giấc
mơ nhỏ bé của người dân làng tôi, đã qua nhiều thế hệ,
vẫn chỉ là những giấc mơ không đạt. Có gì đâu, một
gian nhà nhỏ, mấy luống rau lang xanh, lúa mùa no vụ, cảnh
sum họp ấm áp dưới mái gia đình…Phương Lang ấy, quê làng
tôi, vẫn những mẫu ruộng cằn quanh năm, vẫn những luống
trâu cày lầy lội, vẫn những con người nhỏ thó khép mình
nhẫn chịu trước nghịch cảnh của đất trời…Cảnh đó,
người đó, trong cơn mưa phùn gió bấc, lạnh lẽo thấu xương,
nhìn mà thấy vẻ thê lương muôn đời.
Chính
giữa cảnh quê hương điêu tàn nghèo khổ ấy, giữa đất
trời mưa gió quạnh hiu ấy, mộ phần của mẹ tôi nằm giữa
bãi cát trắng trơ vơ,, buồn tủi,lạnh lung. Như Liên và anh
Ronald từ West Palm Beach đến, trong một phút giây yên lặng,
đã đốt dùm tôi nén hương tưởng niệm bên phần mộ người
quá cố. Tôi thấy mùi hương bay tỏa khắp mộ phần, hương
thơm lan khắp đầu thôn cuối xóm, như một nhắn gửi bao
nhớ thương từ muôn xa.
Tôi
biết mẹ tôi đã trọn một đời khổ vì con.Như bao nhiêu
bà mẹ Việt Nam khác, đã một đời quằn quại. Khi còn sinh
tiền, cha tôi thường nói, mỗi con người ta ai cũng co một
bà mẹ. Người đã mang nặng đẻ đau và bất kỳ ai cũng
trải qua chín tháng mưới ngày phải nằm trong bụng mẹ. Đó
là điều ai cũng phải hiểu rõ và thương yêu mẹ ruột của
chính mình. Hiểu và thương để chẳng bao giờ làm khổ mẹ.
Tuổi
ấu thơ, tôi chưa từng rời mẹ. Mẹ tôi đã dẫn tôi đi
lang thang từ Huế ra Trung Kiên, từ Thâm Triều vào Phương
Lang và trở lại Huế. Tôi nhập Đạo lúc chưa tròn mười
tuổi, cái tuổi thơ mộng nhứt để được đeo mẹ. Chẳng
biết cái gì đã làm cho tôi đành đoạn dứt áo ra đi, xa
đời sống có mẹ thân thương, lìa sự che chở săn sóc
quyến luyến của mẹ để vào chùa học Đạo. Tuổi thơ tôi
lớn lên theo với câu kinh tiếng kệ, theo với tiếng chuông
mõ sớm chiều, theo với khói trầm hương bát ngát một đời.
Chùa Thiên MInh ở gần nhà cụ Phan Bội Châu. Sau khi công quả
và kinh kệ xong, khoảng 8g tối, chúng tôi, một số chú tiểu,
qui tụ lại nhà Cụ Phan, trong phòng anh Đanh để học tập.
Người phụ trách hướng dẫn chúng tôi là anh Đanh, một đồng
chí thanh niên Tây học của Cụ. Chính nhờ sự cố gắng học
tập đó, sau một thời gian là chúng tôi thi đỗ Tiểu Học
và vào Đệ Thất Quốc Học. Trong thời gian đó, thỉnh
thoảng mẹ đến chùa thăm tôi hoặc tôi đi ngược lên Nam
Giao thăm mẹ. Biết bao ấm áp thân tình cho mỗi lần thăm,
để khi từ giã, bóng con vướng trong mắt mẹ, bóng mẹ vướng
vào mắt con với những ngậm ngùi. Cứ thế , cho tới ngày
khôn lớn đi xa.
Bây
giờ , lăn lóc gần sáu chục năm trời, tháng ngày dài đã
đi qua, tuổi thơ ấu không còn nữa. Nhưng xúc động vẫn
còn đầy khi nhìn lại cảnh quê nghèo với nấm mồ mẹ nguyên
vẹn đó. Gió mưa nắng chướng với thời gian, mộ phần mẹ
vẫn thanh thản nằm giữa đất trời cát trắng quạnh hiu.
Tên họ mẹ tôi được khắc đơn sơ lên bia đá, nét chữ
có khi đã thấy mòn mỏi với tháng năm. Bây giờ, Mẹ
là Đất, Đất là Mẹ. Bây giờ trong niềm nhớ của
tôi về mẹ có cả lượng bao dung của đất trời. Càng thương
mẹ, càng thương đất, tôi mong ước được tiếp tục làm
cho Đẹp lòng Đất, cho lành lòng Mẹ.
Cảm
ơn vợ chồng Như Liên và Ronald Mierau đã đến đó, đã đứng
lặng nhìn làn khói hương bay tan giữa buổi chiều quê vắng
lặng. Làn khói hương đã nối lại nhịp cầu xúc động trong
tôi với những thân thiết tưởng đã nghìn trùng.
Los Angeles, mùa Vu Lan Ất Hợi, 1995
MỘT THOÁNG
SUY TƯ
Đã
hơn bốn năm, từ ngày rời bệnh viện về đến nay, tôi có
thói quen thức dậy sớm. Cứ đúng bà giờ rưỡi sáng là
không còn ngủ tiếp được nữa. Vào bếp, tự đun nước,
tự rửa ấm rửa bình, chuẩn bị sẵn sáng cho lần trà sớm.
.Ngồi uống trà một mình nơi phòng khách vắng lặng giữa
những giây phút đầu ngày yên tịnh quả là niềm thú vị
nhẹ nhàng. Nâng chum trà với cả hai tay, nhấp từng ngụm
nhỏ, để cho hương trà thơm dẫn tâm tư đi về những chân
trời xưa cũ. Trong những lúc như thế, cả thời gian biệt
mù, cả không gian xa ngài, dường như được tắm đẳm bởi
hương trà, và “cổ lục” hiện về như vết rêu thiên thu
còn in lại trên bờ xanh tâm hồn tôi. Chuyện cũ,người xưa,
đã có lần bước ngang qua đời mình, chén trá làm tôi nhớ
lại với những cảm giác dịu dàng , an ổn.
Chỉ
vài hôm nữa thôi là lễ giỗ lần thứ 17 Cố Hòa Thượng
Thích Thiện Minh, Người mà vì những cơ duyên huyền diệu
nào đó buộc ràng, tôi đã được gần gũi suốt một thời
gian dài. Nhớ lại cuối năm 1965, tôi giã từ Đông Kinh thơ
mộng để về nước dạy học. Theo dự liệu, chuyến bay Air
France khi về tới Tân Sơn Nhứt là đúng ngay vào buổi cơm
chiều. Tiếp đón tại phi trường sẽ có đủ các thể trẻ
trực thuộc Tổng Vụ Thanh Niên và tôi sẽ được đưa về
địa chỉ 232 đường Hiền Vương Sàigòn để dự bữa ăn
hội ngộ. Nhưng rủi thay, chuyến Air France ấy chỉ được
bay trên bầu trời phi trường Tân Sơn Nhứt 3 vòng , rồi bay
thẳng qua Bangkok, Tháilan. Hãng máy bay cho biết, bởi có người
“nguy hiểm” ngồi trên máy bay nên chính phủ Việt Nam ra
lệnh cho An Ninh phi trường không cho myá bay hạ cánh. Vì lẽ
đó, tất cả hành khách của chuyến bay được ăn, ở khách
sạn Bangkok đêm ấy đều được chính phủ Việt Nam trả
tiền. Bây giờ ngồi nghĩ lại, có lẽ nhà cầm quyền thời
ấy muốn cho những đại diện Thanh Niên, Sinh Viên, Học Sinh
và Gia Đình Phật Tử đi đón tôi phải về không. Tôi không
buồn lòng chuyện ấy, chỉ hơi tiếc là đã để cho Thầy
Thiện Minh lỡ một chuyến chờ!
Nghĩ
cho cùng, lắm khi những chướng duyên bên ngoài đã
góp phần chính yếu cho những lỡ làng của nhiều dự tính.
Như cái hôm Thầy bị ném lựu đạn vào xe. Hôm ấy, có Bà
Tuyết Nguyệt ở Hồng Kông sang để xin được phỏng vấn,
Thầy lại bận lên Việt Nam Quốc Tự họp Viện Hóa Đạo
bất thường. Tôi tạm thời tiếp chuyện Bà ấy và chờ Thầy
trở lại. Khi xe Thầy về tới trụ sở 294 Công Lý, ngay ở
cổng váo, đã có 4 chiếc xe khác cản lối.Người ta đã chờ
sẵn ở đấy và một trái lựu đạn nổ được ném vào dưới
gầm xe. Chiếc xe Cortina của Anh Quốc với lớp vỏ cứng cáp
đã góp phần che chở cho Thầy sống còn. Tuy nhiên, sau hơn
3 tháng điều trị, những mảnh lựu đạn vẫn còn nguyên
trong thân thể. Có lẽ người ta nghĩ rằng làm cho Thầy
khuất phục sẽ khó hơn là giết Thầy. Từ đó, mỗi lúc
đi lại, Thầy có thêm cặp nạng. Nhớ Thầy, tôi càng nhớ
tới cặp nạng xa xưa, như tỳ vết hoen ố còn để lại của
một thời kỳ bạo lực hoành hành. Ngày Thầy bị mưu sát,
tôi được Hội Đồng Viện công cử để thay Thầy trông
coi Tổng Vụ. Cũng như ngày xưa, khi Thầy bỏ Đàlạt mà đi,
Tổng Trị Sự cũng đã mời tôi đến kế nhiệm Thầy. Quả
là nhân duyên, quả là một mối buộc ràng thân thiết.
Lúc Thầy bị ông Nguyễn Văn Thiệu bắt cầm tù 13 năm, tôi
lại thay Thầy để tổ chức Đại Hội Thanh Niên Phật Tử
toàn quốc vào năm 1969. Đại Hội thành công tốt đẹp vì
ai cũng nghĩ tới Thầy, cũng kính nhớ Thầy sâu sắc.
Làm
Phật sự mà được thành công, kết quả vuông tròn, là một
niềm vui. Giáo Hội cũng như Thầy vẫn thường khen tặng đế
sách tấn. Trong một lúc bất ngờ, Thầy hỏi tôi thích gì,
Thầy cho. Thâm tâm tôi quả tình cũng chẳng có gì để thích
nhưng giữa lúc lòng vui và cũng để chiều Thầy, tôi nói
tôi thích cái đồng hồ Thụy Sĩ hiệu Buddha mà Thầy đang
đeo. Tôi biết Thầy quý cái đồng hồ ấy, chẳng phải vì
cái nhãn hiệu Buddha mà chính là vì một kỷ niệm đáng giữ
gìn. Người tặng Thầy chiếc đồng hồ là một thương gia
Phật Tử đã từng bị biệt giam trong chín Hầm tưởng chết.
Nhờ mối thâm cảm với Thầy với Đạo mà vị ấy vượt
qua được nỗi tuyệt vọng tù đày, và chiếc đồng hồ gửi
tặng Thầy như là một thứ ‘của tin”,-một tặng phẩm
độc nhứt vô nhị-Thầy hứa sẽ cho tôi một cái đồng hồ
như thế. Thầy đâu có biết rằng , tôi ngỏ ý xin là xin
cho vui, vậy thôi. Rồi thời gian đi qua, Thầy quên và tôi
cũng quên , một lời hứa!
Thầy
mất trong tù đã mười bảy năm. Khi mất, áo liệm còn không
được mặc, một thời kinh nguyện cũng chỉ được tụng
đọc trong âm thầm, huống gì cái câu hỏi “ Chiếc đồng
hồ hiệu Buddha ở đâu rồi?” Hỏi thì hỏi vậy thôim
chứ thân của mình còn giả ảo, huống chi cái đồng hồ
hiệu Buddha!
Sáng
nay, bưng chén trà nóng trên tay, nghĩ tới ngày giỗ của Thầy,
tôi nhớ Thầy như thế. Cuộc sống vẫn toàn là những chuyện
cỏn con. Tôi muốn bắt chước cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ
được khóc cho Thầy với những dòng nước mắt lặng lẽ.
Nước mắt của một chút tình của những con người
lui tới với nhau.
Los Angeles,sáng 17 tháng 10 năm 1995
CON TIM NÀO…TRONG
TÔI
Tôi
chưa chứng thần thông nên chưa thể thấy được tâm mình,
và vẫn thao thức hoài trong cơn chờ đợi. Tuy thế, lâu lâu,
tôi cũng thấp thoáng thấy “ gương mặt” ấy, chợt hiện
mơ hồ, chợt choáng ngợp mừng rỡ. Tâm về theo với những
đêm trăng. Tại sao với trăng? Có lẽ tại tôi thường chiêm
bao về những vầng trăng trong kinh Phật! Mỗi đêm có trăng,
mắt nhìn lên bầu trời cao lồng lộng, tôi cảm thấy như
con tim tôi được mở rộng ra lùa đón cả thế giới trăng
sao ngoài kia vào gọn trong tâm mình. Trong những giây phút như
thế, tâm tư tôi rợn ngợp một niềm xúc động khó tả.
Tôi và trăng là một. Tâm tôi và pháp giới chẳng hai.Tôi
đã trải qua nhiều lần xúc động như thế nhưng cái cảm
giác của mỗi lần thì không giống nhau.
Cách
đây mấy năm, tôi vì tiểu đường gây sang đau tim, bị “Heart
Attack” nên phải vào bệnh viện cho bác sĩ soi tim. Sau
khi cho tuốc tê, bác sĩ dùng giây plastic chuyền vào mạch máu
để khai thông các chỗ tắc nghẽn. Trong khi các bác sĩ làm
việc, tôi bình thản hướng mắt về hai cái Tivi để xem diễn
tiến công việc chùi rửa tim mình. Trong truyện Tam Quốc, có
đoạn Quan Công đã ngồi cho Hoa Đà mổ vết thương một cách
tỉnh táo. Ngày nay, tôi lại nằm yên coi bác sĩ thông tim cho
mình và cảm thấy vô cùng diễm phúc vì tôi “thấy” được
tim tôi. Thấy được cái nhục-đoàn-tâm (khối thịt tim) ấy
một lần, biết đâu lại là cái duyên để tìm thấy được
cái tâm chắc thật (kiên thật tâm), chân như của các pháp.
Có ai ngờ rằng giữa cuộc đời xôn xao này, trng kiếp người
mong manh này, mình có được cái cơ hội “ nhìn thấy” chính
trái tim của mình không nhỉ? Thấy nó rồi, mình mới biết
xúc động là cái gì. Theo Gyles Brandreth[5] cho biết, cái máy
tốt nhứt, bền ỉ nhứt là trái tim của con người. Mỗi
ngày nó đập 100,000 lần, mỗi năm nó đập 36 triệu lần
và đập liên tục không ngừng nghỉ 2,500 tỉ lần trong một
đời người. trong thời gian 70 năm, con tim bơm vào nuôi cơ
thể con người 66 tỉ gallons máu.
Hơn
bốn mươi năm về trước, vào những đêm trăng sáng, tôi
thường nằm chơi trên miệng giếng Chùa Kim Tiên với nhà
thơ Trúc Diệp. Nằm đó ngó trời, ngó trăng , rồi đọc thơ
cho nhau nghe:
“…Tôi
chưa sống với sắc màu ảm đạm
Tôi
chưa đi trên đường nóng con tim
Mà
trông lên ôi! Trăng nổi tôi chìm
Mà
nhìn xuống ôi! Nước im thuyền động
Cho
tôi hiểu, ấy đời cho tôi sống
Chôn
tôi đi, thì còn đó trăng sao…”
Mỗi
con người, ai cũng có một con tim. Nhưng đường nóng
của con tim, đi hay không, cái đó còn tùy. Nhờ con tim đó
người ta mới biết vui, biết buồn,biết thương ,biết ghét.
Nhờ con tim đó, người ta biết khổ đau,biết hạnh phú. Mỗi
con người đều phải có một con tim, để biết rằng, mình
khác với cây với đá, khác với sự vật bên ngoài. Có một
trái tim chưa từng nguội lạnh với cuộc đời, với con người.
Vào
tháng 2 năm 1978, nhằm Tết Mậu Ngọ, tôi bắt đầu cuộc
đời tỵ nạn của tôi tại thành phố Thiên Thần Los Angeles,
dưới ngôi Chùa Việt Nam. Đây là lần thứ hai, tôi bước
chân tới thành phố này. Lần trước, vào cuối năm 1969, trong
chuyến đi ba thánh thăm viếng Hoa Kỳ, Thầy Thiên Ân đã tiếp
tôi một tuần ở Los Angeles . Ngày ấy tôi là khách, Thầy
đưa đi xem phim trường Hollywood, Disneyland, xem phong cảnh núi
rừng…Ở lần gặp nhau sau này, vì Thầy muốn tôi ở lại
Los Angeles để chung lo Phật sự nên rất ân cần chuẩn bị
cho tôi những giao hữu ban đầu. Nhớ hôm gặp gỡ những môn
đệ Mỹ của Thầy tại International Buddhist Meditation Center,
Thầy đã giới thiệu tôi một cách mặn nồng. Nói chuyện
với thính chúng hôm ấy, tôi nói đến những nỗi truant
chuyên của người tỵ nạn, về đời sống tạm bợ trong
tr