Khi
Samye (1) tráng lệ - Tu viện đầu tiên chính yếu của Tây
Tạng - được xây dựng, những Đạo sư vĩ đại được thỉnh
mời từ Ấn Độ: Đức Padmasambhava, Vimalamitra, Buddhaguhya và
những vị khác. Những đệ tử chính người Tây Tạng của
các ngài gồm cả các dịch giả Vairotsana và Yudra Nyingpo. Tất
cả những Đạo sư, đệ tử, và dịch giả này đã giúp cho
Giáo Pháp của Đức Phật phát triển giống như mặt trời
mọc. Trong thời đại của các ngài Khyentse, Kongtrul, và Chokgyur
Lingpa, hai mươi lăm đệ tử xuất sắc đó của Đức Liên
Hoa Sanh từng bao quanh Ngài tại Samye gần một ngàn năm trước
đã đồng thời quay trở lại trong những Hoá Thân. Dzongsar
Khyentse, một trong những vị Thầy của tôi, đã nói về điều
đó: “Hai mươi lăm đệ tử của Đức Liên Hoa Sanh đã cùng
trở lại như một bầy cừu và dê chạy ra khỏi chuồng. Những
đệ tử này tái xuất hiện như những Đạo sư với kinh nghiệm,
sự chứng ngộ, uyên bác, và thành tựu phi thường. Những
đệ tử riêng của các ngài và những đệ tử của những
đệ tử ấy cũng đáng kinh ngạc không kém.”
Thực
vậy, khắp trong tỉnh Kham và phần còn lại của Tây Tạng,
những tulku (tái sinh) của tất cả hai mươi lăm vị đã được
nhận ra và được công nhận. Nghịch lý thay, sự nở rộ
này là một điềm báo rằng thời đại mà vai trò của Tây
Tạng như một phạm vi ảnh hưởng để làm lợi lạc chúng
sinh hầu như đã suy tàn.
Vua
Trisong Deutsen. Những Hoá Thân Khyentse: Dzongsar Khyentse Chokyi
Lodro, Dilgo Khyentse, Alak Zenkar, Dzongsar Khyentse Norbu, Jigme Khyentse,
Tulku Hungkar Dorje, Adzom Rinpoche.
Vimalamitra.
Những Hóa Thân gần đây gồm có: Khenpo Ngagchung Rinpoche, Dilgo
Khyentse.
Bồ
Tát Khenpo Shantarakshita. Hóa Thân gần đây gồm có Karmey Khenchen
và Trulkshik Rinpoche.
Denma
Tsemang (LDAN MA RTSE MANG). Dịch giả Tam Tạng (Kinh, Luật, Luận)
Tây Tạng quan trọng lúc ban đầu, thư ký và người sao chép
của Vua Trisong Drutsen và Đức Padmasambhava. Cực kỳ điêu luyện
trong nghệ thuật viết chữ – bản văn Sanglingma nhắc tới
ngài: “Tsemang xứ Denma là người lỗi lạc nhất trong nghệ
thuật viết nhanh.” – kiểu thư pháp của ngài vẫn được
duy trì tới ngày nay. Sau khi nhận sự truyền dạy Kim Cương
thừa từ Đức Padmasambhava, ngài chứng ngộ và thành tựu
sự hồi tưởng hoàn hảo. Ngài được coi là người sao chép
chính yếu đã chép lại nhiều terma, kể cả Tập hội Các
Đấng Thiện Thệ, được nối kết với Tám Giáo lý Sadhana
(2). Ngài cũng được mô tả là Denma Tsemang song ngữ, một
người trợ giúp cho các dịch giả, ngài được Guru Rinpoche
- vua của những giáo huấn xứ Oddiyana - chấp nhận là một
đệ tử. Denma Tsewang trở thành người kế thừa chính yếu
những giáo huấn thiền định Bổn Tôn Thần chú Phẫn nộ,
và phục vụ với tư cách một người sao chép nhiều bản
văn viết trên giấy da.” Những Hoá Thân sau này của ngài
gồm có các vị Situpa lừng lẫy.
Dorje
Dudjom xứ Nanam (SNA NAM PA RDO RJE BDUD ‘JOMS). Một trong những
thượng thư của vua Trisong Deutsen, được phái tới Nepal để
mời Đức Padmasambhava tới Tây Tạng. Là một mantrika (3) đã
đạt tới sự viên mãn trong hai giai đoạn phát triển và thành
tựu, ngài có thể bay với tốc độc của gió và đi xuyên
qua vật chất cứng rắn. Rigdzin Godem (1337-1408) và Pema Trinley
(1641-1718), vị vidyadhara (Trì Minh Vương) vĩ đại của Tu viện
Dorje Drak ở miền trung Tây Tạng, là những Hóa Thân của Dorje
Dudjom. Dorje Dudjom có nghĩa là ‘Vị Điều phục Bất Hoại
của Ma quân.’ Những Hoá Thân gần đây gồm có Lerab Lingpa,
Sogyal Rinpoche.
Drokben
Khyeuchung Lotsawa. Khiu Chung Lotsawa thuộc bộ tộc Drogmi. Khi còn
rất trẻ ngài đã trở thành một dịch giả, vì lý do đó
danh hiệu của ngài có nghĩa là “dịch giả bé con.” Ngài
nhận những giáo lý từ Guru Rinpoche và sống như một tantrika
(4) gia chủ. Nhờ sự thành tựu năng lực bí truyền,
bằng một cử chỉ của những ngón tay ngài có thể triệu
tập chim chóc đang bay trên trời. Trong số những Hóa Thân
của ngài có Terchen Dudul Dorje (1615-1672), Zhechen Rabjam Tenpe Gyaltsen
(1650-1704), Khordong Nuden Dorje (thế kỷ 18-19), Dudjom Lingpa (1835-1904)
và Kyabje Dudjom Rinpoche (1904-1987). Những Hoá Thân khác gồm
có Khordong Terchen Tulku Chhimed Rigdzin, Lho Drikung Ontul Rinpoche,
Dudjom Yangsi.
Gyalwa
Jangchub xứ Lasum (la gsum rgyal ba byang chub). Một trong bảy tu
sĩ Tây Tạng đầu tiên thọ Cụ túc giới từ ngài Shantarakshita.
Ngài cực kỳ thông tuệ, đã viếng thăm Ấn Độ vài lần
và dịch nhiều Thánh điển. Là một đệ tử thân thiết của
Đức Padmasambhava, ngài đã thành tựu siddhi và có thể bay
qua bầu trời. Rigdzin Kunzang Sherab, vị sáng lập Đại Tu viện
Palyul ở tỉnh Kham, được coi là một trong những Hóa Thân
của ngài. Gyalwa Jangchub có nghĩa là ‘Sự Giác ngộ Chiến
thắng.’ (Cũng đánh vần là Gyalwa Changchub), đồng-tác giả
của Phu nhân của Đức Liên Hoa Sanh. Hóa Thân gần đây là
Jamme Lhamchog Tulku.
Gyalwa
Choyang. Gyalwa Cho-Yang xứ Nganlam (NGAN LAM RGYAL BA MCHOG DBYANGS).
Là một đệ tử của Guru Rinpoche đã đạt được những thành
tựu nhờ thực hành Hayagriva và sau này hóa thân là các vị
Karmapa. Sinh ra trong bộ tộc Nganlam trong Thung lũng Phen, ngài
thọ giới xuất gia từ Shantarakshita trong nhóm bảy tu sĩ Tây
Tạng đầu tiên. Người ta nói rằng ngài giữ những giới
nguyện hết sức trong sạch. Sau khi nhận sự truyền dạy Hayagriva
từ Đức Padmasambhava, ngài đã thực hành trong sự cô tịch
và đạt được cấp độ của một vidyadhara. Gyalwa Cho-yang
có nghĩa là ‘Tiếng nói Siêu phàm của sự chiến thắng.’
Những Hóa Thân gần đây gồm có những vị tulku Karmapa, Karma
Chagme, các tulku Chagdud, Sang Ngak Rinpoche, Namkha Drimed.
Gyalwey
Lodro xứ Drey (‘BRE RGYAL BA’I BLO GROS). Bắt đầu là Gonpo,
một người hầu tin cậy của Vua Trisong Deutsen, ngài trở thành
một trong những người Tây Tạng đầu tiên thọ giới xuất
gia, có danh hiệu là Gyalwey Lodro, Sự Thông tuệ Chiến Thắng.
Ngài trở nên uyên thâm trong việc dịch thuật và đã đạt
được thành tựu sau khi nhận sự truyền dạy từ Hungkara
(5) ở Ấn Độ. Người ta nói rằng ngài đãviếng thăm xứ
của Yama, Thần Chết, và cứu thân mẫu của ngài thoát khỏi
các cõi địa ngục. Sau khi nhận những giáo lý từ Đức Padmasambhava,
ngài thực hiện một kỳ công là chuyển hóa zombie (người
chết sống lại) thành vàng, một số trong đó sau này được
khám phá trong các kho tàng terma. Ngài đã thành tựu cấp độ
vidyadhara của sự trường thọ và được coi là sống cho tới
thời của Rongzom Pandita Chokyi Sangpo (rong zom chos kyi bzang po)
(1012-1088) và ban giáo lý cho vị này. Gyalwey Lodro có nghĩa là
‘Trí tuệ Chiến thắng.’
Jnanakumara
xứ Nyak. Cũng gọi là Bende Drimey Dashar (BAN DE DRI MED BRDA SHAR).
Được hóa thân là những tulku Dabzang Rinpoche.
Kawa
Paltsek (SKA BA DPAL BRTSEGS). Đệ tử trực tiếp của Đức Padmasambhava
và Shantarakshita; người đóng góp quan trọng cho việc dịch
thuật Tam Tạng Tây Tạng và Nyingma Gyubum (6). Sinh trong Thung
lũng Phen, ngài trở thành một dịch giả lỗi lạc phù hợp
với tiên tri của Đức Padmasambhava, và là một trong bảy tu
sĩ Tây Tạng đầu tiên thọ giới xuất gia từ Shantarakshita.
Ngài nhận những giáo lý Kim Cương thừa từ Đạo sư vĩ đại
Padmasambhava và đạt được sự thấu thị không bị chướng
ngại. Kawa là một địa danh và Paltsek có nghĩa là ‘Ngọn
Núi Rực rỡ.’
Khandro
Yeshe Tsogyal, công chúa xứ Karchen.
Konchog
Jungney xứ Langdro, Langdro Lotsawa. Konchok Jungney xứ Langdro (LANG
GRO DKON MCHOG ‘BYUNG GNAS). Lúc đầu ngài là một thượng
thư của triều đình Vua Trisong Deutsen, về sau là một trong
những đệ tử thân thiết của Đức Padmasambhava và đã đạt
được sự thành tựu. Những Đại Terton Ratna Lingpa (1403-1471)
và Longsal Nyingpo (1625-1692) được coi là hai vị trong số những
Hóa Thân của ngài. Konchok Jungney có nghĩa là ‘Nguồn mạch
của Những Bậc Cao quý.’ Những Hóa Thân gồm có Ratna Lingpa,
và mới đây là Drubwang Tsoknyi, Kunzang Dechen Lingpa.
Sokpo
Lhapal. Padma Lhundrup Gyatso, Hóa Thân của Sokpo Lhapal, là vị
trì giữ Pháp tòa thứ hai của Tu viện Palyul.
Namkhai
Nyingpo xứ Nub (GNUBS NAM MKHA’I SNYING PO). Sinh trong miền Nyal
Hạ, ngài là một trong những người Tây Tạng đầu tiên thọ
giới xuất gia. Là một dịch giả lão luyện, ngài du hành
tới Ấn Độ ở đó ngài nhận sự truyền dạy từ Hungkara
và đạt được thân trí tuệ bất nhị. Namkhai Nyingpo cũng
được coi là một trong hai mươi lăm đệ tử của Guru Rinpoche.
Khi nhận sự truyền dạy của Tâm Vishuddha (2), ngài có thể
bay trên những tia sáng mặt trời. Khi thiền định trong Động
Dài Tráng Lệ của Kharchu tại Lhodrak ngài có những thị kiến
về nhiều Bổn Tôn và đã đạt được cấp độ vidyadhara
của Mahamudra (Đại Ấn). Cuối cùng ngài lên đường tới
những cõi linh thánh mà không để lại xác. Namkhai Nyingpo có
nghĩa là ‘tinh tuý của không gian.’ Hoá Thân gần đây là
Namkha Drimed.
Nanam
Zhang Yeshe De (zhang sna nam ye shes sde). Nanam Yeshe, cũng được
gọi là Yeshe Dey xứ Nanam (sna nam ye shes sde). Cũng được biết
tới là Bandey Yeshe Dey xứ Shang (zhang gi bhan dhe ye shes sde).
Là một dịch giả sung mãn của hơn 200 Kinh sách và là một
đệ tử của Đức Padmasambhava, tu sĩ uyên bác và thành tựu
này có lần đã phô diễn những năng lực kỳ diệu mà ngài
đạt được nhờ thông suốt pháp Vajra Kilaya, bằng cách bay
vút qua bầu trời như một con chim. Yeshe có nghĩa là ‘sự
tỉnh giác nguyên sơ.’
Palgyi
Dorje xứ Lhalung. Palgyi Dorje (Wangchuk) xứ Lhalung, cũng gọi là
Lhalung Palgyi Dorje (LHA LUNG GYI RDO RJE). Sinh tại Drom Thượng,
ngài phục vụ với tư cách một người bảo vệ biên giới
nhưng đã phát triển sự từ bỏ và cùng với hai anh thọ
giới xuất gia từ ngài Vimalamitra. Ngài nhận giới nguyện
Bồ Tát từ Đức Padmasambhava cũng như sự quán đảnh và những
giáo huấn khẩu truyền trong Kim Cương thừa. Ngài đã thực
hành thiền định trong Hẻm Núi Trắng xứ Tsib và tại Yerpa,
ở đó ngài thành tựu pháp di chuyển tự do qua những tảng
đá rắn. Những năm về sau ngài ám sát Vua ác Langdharma. Palgyi
Dorje có nghĩa là ‘Kim cương Rực rỡ.’ Trong số những Hóa
Thân của ngài có những tulku Drubwang Pema Norbu (Penor Rinpoche),
Taklung Phakchok, Kusum Lingpa.
Palgyi
Senge xứ Lang (RLANGS DPAL GYI SENG GE). Phụ thân ngài là
Amey Jangchub Drekhol, một mantrika đủ năng lực để sai sử
tám loại trời và quỷ ma như những người phục vụ của
ngài. Palgyi Senge xứ Lang là một trong tám đệ tử chính (7)
của Đức Padmasambhava khi được ban quán đảnh của Tập Hội
các Đấng Thiện Thệ. Ngài đã đạt được những thành tựu
thông thường và siêu việt tại Paro Taksang nhờ thực hành
Người Điều phục Mọi Tinh linh Kiêu ngạo. Các vị Dzogchen
Rinpoche được coi là những Hoá Thân của ngài. Palgyi Senge
có nghĩa là ‘Sư tử Vinh quang.’
Palgyi
Wangchuk xứ Kharchen (MKHAR CHEN DPAL GYI DBANG PHYUG). Trong tiểu
sử Sanglingma ngài là thân phụ của Yeshe Tsogyal; ở nơi khác
ngài được mô tả là anh của bà. Ngài là một đệ tử thân
thiết của Đức Padmasambhava đã đạt được siddhi (thành
tựu) bằng thực hành Vajra Kilaya. Palgyi Wangchuk có nghĩa là
‘Bậc Rạng rỡ.’
Palgyi
Wangchuk xứ O-Dren (‘O DRAN DPAL GYI DBANG PHYUG). Một học giả
và tantrika vĩ đại, ngài đã đạt được siddhi bằng cách
thực hành Guru Drakpo, phương diện phẫn nộ của Đức Padmasambhava.
Palgyi Wangchuk có nghĩa là ‘Bậc Rạng rỡ.’
Palgye
Yeshe (DPAL GYI YE SHES). Sinh ra trong bộ tộc Drogmi, ngài cũng
được gọi là Palgye Yeshe xứ Drogmi. Ngài là một dịch giả
lão luyện và đã dịch nhiều Kinh điển và tantra sang tiếng
Tây Tạng kể cả Tantra Những Bổn Tôn Mẹ Mamo. Ngài đã nhận
sự truyền dạy các Bổn Tôn Mẹ từ Đức Padmasambhava và
trở thành một mantrika thành tựu.
Rinchen
Chok xứ Ma (RMA RIN CHEN MCHOG). Dịch giả Tây Tạng lúc ban đầu,
trong số bảy người Tây Tạng đầu tiên thọ giới xuất
gia từ Shantarakshita và là người kế thừa chính của Mạng
lưới Huyền diệu của Mahayoga. Ngài nổi tiếng trong việc
dịch thuật Tinh túy của Tantra Guhyagarbha Bí mật, tantra chính
của Mahayoga. Nhờ những giáo lý nhận lãnh từ Đức Padmasambhava,
ngài đã đạt được cấp độ của một vidyadhara. Rinchen
Chok có nghĩa là ‘Viên ngọc Siêu phàm.’
Sangye
Yeshe xứ Nub (GNUBS SANGS RGYAS YE SHES). Một trong hai mươi lăm
đệ tử của Đức Padmasambhava, ngài là người kế thừa chính
những giáo lý Anu Yoga cũng như Yamantaka của Mahayoga. Ngoài
Guru Rinpoche, những vị Thầy khác của ngài là Traktung Nagpo
và Chogyal Kyong xứ Ấn Độ, Vasudhara xứ Nepal, và Chetsen Kye
ở xứ Drusha. Ngài đã viếng thăm Ấn Độ và Nepal bảy lần.
Khi vua ác Langdharma cố gắng tiêu diệt Phật Giáo ở Tây Tạng,
với một cử chỉ duy nhất của bàn tay phải Sangye Yeshe đã
làm xuất hiện thật thần diệu một con bọ cạp lớn bằng
chín con bò yak khiến nhà vua khiếp sợ. Nhờ đó, vua Langdharma
không còn can đảm để khủng bố giáo đoàn Kim Cương thừa
là những người mặc y trắng và để tóc dài. Sangye Yeshe
có nghĩa là ‘Trí tuệ Phật.’ Những Hóa thân gồm có Tulku
Urgyen, Padgyal Lingpa, Adeu Rinpoche, Barway Dorje.
Shuwu
Palgyi Senge. Palgyi Senge xứ Shubu (SHUD BU DPAL GYI SENG GE). Là một
trong những thượng thư của Vua Trisong Deutsen, thành viên trong
số những nhà thương thuyết đầu tiên được phái đi để
mời Đức Padmasambhava tới Tây Tạng. Ngài học dịch thuật
từ Đức Padmasambhava và đã dịch nhiều giáo lý Mamo, Yamantaka
và Kilaya sang tiếng Tây Tạng. Sau khi đạt được những thành
tựu nhờ pháp Kilaya và Mamo, ngài có thể tách những hòn đá
cuội lớn và phân chia dòng sông bằng con dao găm của ngài.
Palgyi Senge có nghĩa là ‘Sư tử Vinh quang.’ Những Hóa Thân
của ngài gồm có Đại Terton Mingyur Dorje thuộc truyền thống
Namcho, và những tulku Thrangu.
Vairotsana.
Dịch giả vĩ đại sống trong triều đại Vua Trisong Deutsen.
Là một trong bảy tu sĩ Tây Tạng đầu tiên, ngài được phái
sang Ấn Độ để nghiên cứu với Shri Singha. Cùng với Đức
Padmasambhava và Vimalamitra, ngài là một trong ba Đạo sư chính
yếu mang giáo lý Dzogchen tới Tây Tạng. Những Hóa Thân gồm
có các Hóa Thân Kongtrul, Minling Trichen, Zha Deu Trulshik Rinpoche,
Shichen Vairo Tulku.
Yeshe
Yang xứ Ba (SBA YE SHES DBYANGS). Dịch giả Tây Tạng đã được
Đức Padmasambhava tiên đoán. Là người sao chép chính ghi lại
những trema của Đức Padmasambhava, ngài là một yogi thành tựu,
có thể bay như một con chim tới những cõi linh thánh. Cũng
được gọi là Atsara Yeshe Yang. Yeshe Yang có nghĩa là ‘Trí
tuệ Du dương.’
Yudra
Nyingpo xứ Gyalmo (G.YU SGRA SNYING PO). Một trong hai mươi lăm
đệ tử của Guru Rinpoche; Hóa Thân của Lekdrup xứ Tsang. Sinh
trong miền Gyalmo Tsawarong, ngài được Vairochana nuôi dạy và
đã đạt được sự viên mãn trong việc học tập và thành
tựu du già. Ngài được coi là một trong 108 lotsawa (8) và là
một trong những vị trì giữ dòng truyền thừa chính yếu
của Bộ phận Tâm của Dzogchen từ đại dịch giả Vairochana.
Những Hóa Thân gần đây gồm có Tersey Tsewang Norbu, Jigmey Norbu
Rinpoche.
Những
đệ tử khác vào thời đó:
Arye
Sale, Achrya Salee. Những Hóa Thân gần đây gồm có Namkha Drimed,
Jamme Lhamchog Tulku.
Nyangben
Tingdzin Zangpo.
Chokro
Luyi Gyaltsen là một dịch giả Tây Tạng rất quan trọng lúc
ban đầu và một trong hai mươi lăm đệ tử của Đức Padmasambhava.
Ngài làm việc rất gần gũi với những Đạo sư vĩ đại
Ấn Độ Vimalamitra, Jnanagarbha, Jinamitra, và Surendrabhodhi. Ngài
rất quan trọng trong việc duy trì dòng truyền Vinaya (dòng tu
sĩ) ở Tây Tạng. Sau khi đạt được sự chứng ngộ tại
Chuwori ở miền trung Tây Tạng, ngài trợ giúp Đức Padmasambhava
trong việc sao chép và cất dấu những kho tàng terma. Đại
terton Karma Lingpa (thế kỷ 14) được coi là một Hóa Thân của
Đạo sư vĩ đại này.
Thái
tử Damdzin, Yeshe Rolpa Tsal. Những Hóa Thân gần đây gồm có
các tulku Chokling, các tulku Dodrupchen.
Thái
tử Mutri Tsenpo. Yongey Mingyur Dorje.
Công
chúa Pema Tsal. Thinley Norbu Rinpoche, Gangteng Tulku./.
Nguyên
tác: “Padmasambhava and his Twenty-Five Disciples”
http://www.rangjung.com/gl/25_disciples-incarnations.htm
Bản
dịch Việt ngữ: Thanh Liên
Chú
thích:
(1)
Samye (bsam yas): Một quần thể đền chùa kỳ lạ mô phỏng
Tu viện Ấn Độ Odantapuri, được Vua Trisong Deutsen (790-844)
xây dựng và Đức Padmasambhava hiến cúng năm 814. Nằm ở miền
Trung Tây Tạng gần Lhasa, Samye là một trung tâm chính yếu
của việc truyền dạy Phật Giáo lúc ban đầu ở Tây Tạng.
Cũng được gọi là Chùa Vinh Quang Samye, Sự Đáp Ứng Bất
biến và Tự nhiên Vô lượng Ước nguyện. Ba tầng của
nó được xây theo kiểu mẫu Ấn Độ, Trung Hoa và Tây Tạng.
(2)
Tám Giáo lý Sadhana (sgrub pa bka’ brgyad): Tám Bổn Tôn chính
của Mahayoga và những tantra và sadhana tương ứng với các
ngài: Thân Văn Thù, Ngữ Liên Hoa, Tâm Vishuddha, Phẩm tính Cam
lồ, Hoạt động Kilaya, Huyền thuật Giải thoát, và sự Tôn
kính Thế tục. Danh hiệu thường ám chỉ một thực hành duy
nhất bao hàm những mạn đà la phức tạp với nhiều Bổn
Tôn.
(3)
Mantrika: Một hành giả Kim Cương thừa.
(4)
Tantrika (sugags pa): ‘Hành giả Mật thừa,’ ngakpa. Một người
đã nhận quán đảnh, tiếp tục thực hành sadhana và duy trì
những giới nguyện linh thánh. Đặc biệt, đó là một môn
đồ lão luyện của Mahayoga Tantra.
(5)
Hungkara (Phạn ngữ): Một trong Tám Vidyadhara (Manjushrimitra, Nagarjuna,
Hungkara, Vimalamitra, Prabhahasti, Dhana Sanskrita, Shintam Garbha, và
Guhyachandra). Người nhận lãnh các tantra của Tâm Vishuddha bao
gồm Heruka Galpo.
(6)
Nyingma Gyubum (rnying ma rgyud ‘bum): ‘Một Trăm ngàn Tantra của
Cổ Phái.’
(7)
Tám Đệ tử chính (rje ‘bangs brgyad): Tám vị kế thừa chính
ở Tây Tạng của Tám Giáo lý Sadhana được Guru Rinpoche truyền
dạy: Vua Trisong Deutsen, Namkhai Nyingpo, Sangye Yeshe, Gyalwa Cho-yang,
Yeshe Tsogyal, Palgyi Yeshe, Palgyi Senge, và Vairotsana.
(8)
Lotsawa(lo tsa ba, Phạn ngữ: locchava): Những dịch giả Tây Tạng
dịch thuật các bản văn Kinh điển thường làm việc thân
thiết với các học giả Ấn Độ. Danh hiệu có nghĩa đen
là ‘song ngữ’ (skad gnyis smra ba) hay đôi mắt của thế giới
(‘jig rten mig).