THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglishMirrorsite
.
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI VỀ CHÚA GIÊSU
Nguyên tác: LE DALAI LAMA PARLE DE JÉSUS Éditions Brepols, Paris. 1996
Người dịch : VĨNH AN nhà XUẤT BẢN: THIỆN TRI THỨC, 2003

PHỤ LỤC MỘT
PHẬT GIÁO TÂY TẠNG 
VÀ CUỘC ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN
 Thupten Jinpa

Cuộc hội thảo này về Phúc Âm là một kinh nghiệm cảm động sâu sắc đối với tôi. Chỉ cần nghĩ đến là tôi tìm lại được bầu không khí trang nghiêm lung linh thấm nhuần tất cả. Nhìn lại, tôi có cảm tưởng một tinh thần vô hình đã hướng dẫn tôi trong những ngày ấy. Sự minh mẫn tinh thần và chia sẻ tâm linh với tất cả những người hiện diện đã ghi lại trong ký ức tôi những ấn tượng không bao giờ quên. Với vai trò là người phiên dịch của Đức Đạt Lai Lạt Ma, cuộc gặp gỡ ấy đối với tôi là một kinh nghiệm còn phong phú hơn. Tôi tự hỏi phải chăng tương giao tự nhiên và nồng nhiệt giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và cha Laurence Freeman, hai nhân vật chủ chốt của cuộc gặp gỡ đã thấm đẫm toàn thể cuộc hội thảo. Nếu không thì cũng đem lại cho biến cố đáng chú ý ấy sự trang nghiêm khác thường.

Quả thật, cuộc đối thoại ấy có tầm quan trọng lịch sử. Đã hẳn, đó là lần đầu tiên vị lãnh đạo tinh thần của một tôn giáo không phải là Kitô giáo đã trình bày và chú giải Phúc Âm trước quần chúng. Nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma đọc những lời Kinh thánh quả là chấn động. Một bên là giọng nói với âm sắc thân quen và một bên là những từ ngữ và hình ảnh của bản văn linh thánh không phải của Tây Tạng, đem đến cho cộng đoàn tôn giáo một kinh nghiệm hoàn toàn mới lạ. Nhiều người tham dự đã cảm thấy tầm mức tâm linh đích thực của những ngày ấy. Trong những trường hợp như thế, mỗi người tìm được sức mạnh để vượt qua những tri giác thông thường và phân cách. Thật vậy, khi người ta vượt qua những trói buộc của tư tưởng duy lý và tư biện mọi khái niệm “isme” (duy…) đều bị xóa bỏ. Kinh nghiệm ấy gọi bằng gì không quan trọng, có thể là tính siêu việt, giác ngộ tâm linh hay kinh nghiệm tôn giáo. Điều chủ yếu là mọi tôn giáo lớn đều có những lời giáo huấn thiêng liêng có thể dẫn đưa chúng ta vào chính chiều sâu tâm linh ấy.

Đấy là những tình cảm nổi lên trong tôi lúc viết một bài giới thiệu ngắn về Phật giáo để in kèm theo cuốn sách lý thú này. Tôi xin đưa ra một viễn cảnh khá rộng lớn về Đạo Phật ngõ hầu độc giả chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng có thể hân thưởng những lời chú giải của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong một bối cảnh đầy đủ hơn. Trong một quan điểm nào đó, một lời dẫn nhập như thế này có vẻ thừa, bởi lẽ chính tiêu đề của chủng viện “Đối thoại với con tim rộng mở” đã diễn tả yếu tính của sứ điệp Phật giáo. Khi người ta xin Đức Đạt Lai Lạt Ma tóm tắt giáo huấn Phật giáo, ngài trả lời thật đơn giản : “Hãy giúp đỡ người khác khi bạn có thể làm được ; nếu bạn không thể làm được thì ít ra tránh đừng làm hại bất cứ ai.” Lời giáo huấn này là trái tim của đạo Phật. Ở mức độ đó, không có sự khác nhau cơ bản nào giữa giáo huấn của Đức Kitô và Đức Phật. Phục vụ người khác bằng tình yêu và lòng từ bi, đó là con đường cứu độ. Hai lời giáo huấn cùng giới thiệu một phương tiện để vượt qua những giới hạn hẹp hòi của một cuộc đời ích kỷ. Cả hai thừa nhận mỗi người chúng ta đều có chủng tử của sự giác ngộ tâm linh. Tuy nhiên, những tính chất đặc thù của mỗi đạo đáng được tìm hiểu và đánh giá, không chỉ về mặt thuật ngữ, hình tượng và các điều kiện văn hóa, lịch sử hàm ngụ trong đó. Không nên vì sự khác nhau làm chúng ta xa rời điều cốt yếu, cũng không nên vì những điểm giống nhau mà bỏ qua những nét dị biệt. Cách tiếp cận của Đức Đạt Lai Lạt Ma đối với các sách Tin Mừng (Phúc Âm) với sự thừa nhận cả hai phương diện vừa nói quả là đặc sắc. Để nhận định tốt nhất những điểm nổi bật trong lời chú giải của Đức ngài chúng ta thử xác định các đặc tính hình thành thế giới tâm linh của ngài – thế giới Phật giáo Tây Tạng.

Đức Phật và giáo huấn của Ngài

Tôn giáo và đời sống tâm linh của Đức Đạt Lai Lạt Ma bắt rễ sâu xa trong những lời giáo huấn đầu tiên của Đức Phật và những biến đổi trong lời giáo huấn suốt lịch sử hai mươi lăm thế kỷ. Việc huân tập triết học Phật giáo tạo nên nền tảng của sự phát triển trí thức và tiếp tục hình thành thế giới quan của ngài. Trong đường hướng Phật giáo, một sự kết hợp chặt chẽ giữa học vấn và suy tư sẽ được xem như tiêu điểm của cuộc sống và chúng ta tìm thấy ảnh hưởng ấy trong cách xử kỷ tiếp vật của Đức ngài.

Vậy, Phật giáo là gì ? Có thể trả lời dễ dàng và cũng rất hiển nhiên rằng : Phật giáo là tôn giáo của Đức Phật. Nhưng dù có định nghĩa như thế, ta phải tránh cạm bẫy, đừng nghĩ rằng có một truyền thống thuần nhất được gọi là “Phật giáo” với một hệ thống tín điều và hành đạo duy nhất. Cũng như mọi truyền thống tôn giáo lớn, với thời gian, Phật giáo đã biến đổi thành rất nhiều dòng – tất cả đều cho rằng mình nắm giữ “những lời giáo huấn của Đức Phật”. Mỗi trường phái kể lại sự phát triển lịch sử của mình bắt đầu từ Đức Phật Cồ Đàm, vị Phật lịch sử đã sống khoảng sáu trăm năm trước công nguyên.

Rất khó có thể nói chính xác bản văn nào trong số những kinh điển Phật giáo khác nhau thuật lại đúng lời Đức Phật đã nói. (Chỉ riêng kinh điển của Tây Tạng đã có hơn một trăm quyển lớn thuật lại lời Đức Phật) Tuy nhiên, người ta có thể phân biệt một số ý tưởng then chốt là trọng tâm sứ điệp tâm linh của Phật giáo. Con đường dẫn đến giải thoát khỏi mọi đau khổ do Đức Phật giảng dạy đòi hỏi một sự hiểu biết sâu xa chính bản chất của cuộc sống. Cuộc sống chỉ là sự luân hồi bất tận những điều bất như ý và phương tiện để chấm dứt luân hồi ấy là sự sáng suốt sâu sắc nhận ra bản tính chân thật của nó. Mọi cá nhân khởi đầu cuộc tìm kiếm tâm linh phải hiểu rõ vận động không ngừng nối liền nhân, duyên và quả. Không gì có thể hiện hữu nếu không có nguyên nhân, và một khi mọi nguyên nhân đã được tạo ra, không gì có thể ngăn cản hậu quả xuất hiện. Cũng theo Đức Phật, chính sự bám víu sâu xa và lâu dài vào khái niệm một “ngã vị” thường hằng là nguyên nhân chính của việc con người bị trôi lăn trong đau khổ. Biết bao điều độc hại do sự bám víu ấy mà ra – quan trọng nhất là tham vọng ích kỷ, thù hận và ngu dốt (tham, sân, si) – Nó đặt nền tảng cho một cuộc sống đầy sự nhiễu loạn về tâm lý và tình cảm. Phương cách ứng xử của chúng ta với đồng loại chủ yếu là bám víu lấy những người chúng ta coi như thân thiết với ngã vị và bỏ qua những người chúng ta quan niệm đang đe dọa ngã vị. Trên nền tảng đó, chúng ta làm những hành động vừa có hại cho mình vừa có hại cho người khác. Con đường dẫn đến giải thoát chính là phát triển sự hiểu biết sáng suốt rằng không có một ngã vị nào tồn tại một cách thường hằng.

Do vậy Đức Phật rất khác với những vị thầy dạy đạo cùng thời với ngài : Ngài dạy về vô ngã (anatman) và chỉ ra rằng khái niệm tự tính hay ngã cá nhân cố định là nguồn gốc của mọi đau khổ. Những luận cứ triết học dùng để chứng minh không thể có một tự tính cố định hay bất biến thường rất tế nhị và gồm nhiều chi tiết nhưng phần lớn dựa trên dòng chảy bền bỉ nằm bên dưới mọi hiện hữu do nhân quả. Tóm lại, mọi vật do một nguyên nhân sinh ra tất nhiên là tạm thời, một trong những lý do là không có gì có thể hiện hữu trước khi được sinh ra. Chúng ta cũng thế, do các nguyên nhân tạo ra do đó không có bản tính thường hằng. Là những hữu thể “tạm thời”, chúng ta không thể có một ngã vị hay một tự tính cố định hoặc bất biến, mặc dù niềm xác tín vô căn cứ thường làm cho chúng ta tin vào điều trái lại (ngã vị bất biến, thường hằng).

Những nguyên lý phát biểu trên đây là nội dung của Bốn Tiên đề và như người ta thường gọi là một công thức truyền thống cô đọng toàn bộ tư tưởng Phật giáo : 1) mọi sự vật do nhân duyên sinh đều giả tạm ; 2) sự gì bị các trạng thái tinh thần tiêu cực làm ô nhiễm tất nhiên sẽ gây ra đau khổ ; 3) mọi sự vật không có tự tính hay ngã vị ; và 4) Niết bàn là sự bình an đích thực.

Những nguyên tắc ấy hàm ý Bốn Chân lý Cao cả, một công thức truyền thống khác hướng dẫn việc thực hành đạo Phật : 1) có sự đau khổ ; 2) có nguồn gốc của sự đau khổ ; 3) có sự chấm dứt đau khổ ; 4) có con đường dẫn đến sự chấm dứt ấy. Chân lý đầu tiên trong Tứ diệu đế, sự đau khổ, được liên kết với ý niệm vô thường. Thật vậy, phần lớn sự đau khổ của chúng ta là do chúng ta tưởng rằng thế giới và cuộc đời phải cung cấp cho chúng ta một điểm quy chiếu cố định và bất biến, khi mà mọi việc trong kinh nghiệm hằng ngày chứng tỏ bản chất không tránh khỏi và luôn luôn có mặt của sự đổi thay. Chân lý thứ hai, nguồn gốc của sự đau khổ liên quan đến các trạng thái tinh thần tiêu cực hoặc “vô minh” vì chúng thúc đẩy chúng ta làm những hành động gây ra đau khổ. Sự chấm dứt đau khổ, chân lý thứ ba đã là niết bàn, một trạng thái bình an hoàn hảo bởi lẽ mọi đau khổ đã được đoạn trừ. Sau cùng, chân lý thứ tư chỉ rõ có một con đường dẫn đến Niết bàn, liên quan chặt chẽ với nguyên lý vô ngã, vì mọi sự thực hành đạo Phật chủ yếu nhắm đến việc thực hiện vô ngã đó. Thật vậy, sự thực hiện ấy cho phép loại trừ những trạng thái tinh thần tiêu cực, nguồn gốc của đau khổ.

Bốn Tiên đề và Bốn Chân lý Cao cả cho ta một cái nhìn giản lược về tư tưởng và sự thực hành đạo Phật, nhưng còn phải trình bày một yếu tố rất quyết định cả về tư tưởng và sự thực hành : đại từ bi. Nếu sự yêu thương người lân cận và đức từ bi đã đóng vai trò ưu thắng trong sự thực hành đạo Phật từ khởi thủy của đạo thì chỉ trong truyền thống Đại thừa (maha-yana) lòng từ bi mới phát huy hết mọi độ lớn. Đã hẳn mọi Phật tử đều theo các học thuyết kể trên, nhưng còn phải xác định cứu cánh thật sự của việc hành đạo. Trong mức độ nào mà, người hành đạo tìm cách làm đau khổ của người khác chấm dứt cùng một lúc với sự đau khổ của mình ? Đối với những tín đồ của Phật giáo đại thừa, trong đó có Đức Đạt Lai Lạt Ma, mục đích của việc hành đạo không chỉ là chấm dứt đau khổ của riêng mình và tìm được hạnh phúc cá nhân mà còn chấm dứt đau khổ của tất cả chúng sinh và bảo đảm một hạnh phúc lâu dài cho họ. Chỉ có đấng toàn giác mới có thể hy vọng đạt được mục đích đó. Vì thế, tín đồ của Phật giáo đại thừa nỗ lực đạt đến sự toàn giác (bodhi) của Phật tánh. Trong hình thức giản lược nhất, sự hành đạo đại thừa bao gồm sáu điều hoàn thiện (sáu ba-la-mật) định hướng cho sự phát triển cá nhân và bốn phương tiện (tứ nhiếp pháp) dùng để khai triển tinh thần cho người khác. Sáu điều hoàn thiện là : lòng quảng đại, đức hạnh, kiên nhẫn, sự tinh tấn, tập trung và trí huệ. Bốn phương tiện là : cho người khác vật gì họ đang cần, dùng lời nói nhân từ trong mọi trường hợp, đem điều đạo đức khuyên bảo người khác và làm một tấm gương sống động cho những nguyên lý ấy. Sáu điều hoàn thiện và bốn phương tiện tạo thành “lý tưởng Bồ Tát”, chủ đề mà giờ đây chúng ta sắp đề cập đến.

Lý tưởng Bồ Tát

Lý tưởng Bồ Tát chắc chắn đã là một ý niệm tôn giáo quan trọng nhất sinh ra từ phong trào Phật giáo đại thừa. Bồ Tát, nguyên nghĩa là “người có hạnh nguyện anh hùng muốn đạt đến giác ngộ”, một con người vị tha, được phú cho một lòng can đảm (dũng lực) lạ lùng. Các vị Bồ Tát có năng lực tự giải thoát mình khỏi đau khổ, nhưng trước tiên họ muốn đảm nhận nhiệm vụ giải thoát người khác khỏi đau khổ. Lòng từ bi của các vị không giới hạn và siêu việt mọi tư tưởng chia rẽ. Vị bồ tát là bạn thân, đầy tớ và là bà con tinh thần của mọi người không phân biệt. Sức mạnh từ bi của bồ tát được thể hiện bằng nhiều phương tiện kể cả nghệ thuật tạo hình. Trong văn hóa Tây Tạng, sự diễn tả phổ biến nhất lòng từ bi vô cùng ấy là truyền thuyết về Tchènrézi (Bồ Tát Quán Thế Âm) có ngàn cánh tay. Tchènrézi cảm thấy đối với hằng hà sa số chúng sinh một nỗi lo lắng và một lòng từ bi mãnh liệt đến nỗi bồ tát nghĩ rằng trừ phi mình có được ngàn tay, ngàn mắt, mình mới có thể hoàn thành điều mong ước của tất cả chúng sinh. Do sức mạnh của hạnh nguyện hoàn hảo ấy, một ngày kia bồ tát có được ngàn tay và ngàn mắt. Đối với các tín đồ của Phật giáo đại thừa hình ảnh ấy đến nay vẫn còn là một biểu tượng tôn giáo mạnh mẽ.

Lòng từ bi mà vị bồ tát cảm nhận đối với chúng sinh không phải là một kinh nghiệm đơn thuần do cảm xúc, vì tình cảm của bồ tát không căn cứ vào sự bám víu và những tính toán vị kỷ, giống như suy nghĩ của một con người nhân hậu khoan dung giúp đỡ chúng ta về vật chất hoặc về tinh thần. Trái lại, đó là một tình cảm tự phát từ nơi sâu thẳm nhất trong lòng chúng ta khi thấy người khác đau khổ và nhận ra rằng mọi chúng sinh giống chúng ta ở rất nhiều điểm. Nói cách khác chúng ta cảm thấy mình liên kết với người khác và có một mối đồng cảm với họ trong khi vẫn tương đối thoát khỏi mọi ràng buộc. Không có sự ràng buộc bám víu, cũng không có sự dửng dưng lãnh đạm. Dĩ nhiên, một lòng từ bi như thế cần được trao dồi kỹ càng từng bước một. Chính vì thế phải có sự tham gia của cái nhìn thấu suốt – tri kiến sâu xa – Đây chính là nhà hàng hải khéo léo điều khiển con tàu của lòng từ bi. Theo kinh điển đại thừa, chính nhờ lòng từ bi mà một vị bồ tát từ bỏ sự giác ngộ cho riêng mình còn tri kiến sâu xa cho phép siêu việt thế giới thăng trầm của cuộc nhân sinh. Nói cách khác, vị bồ tát đi theo con đường trung đạo giữa sự bình an đơn độc của không-hiện-hữu và dòng biến dịch miên trường.

Giai đoạn đầu tiên của đạo bồ tát dùng để “phát triển động lực anh hùng”. Vị bồ tát bày tỏ hạnh nguyện đi tìm giác ngộ viên mãn ngõ hầu giải thoát mọi chúng sinh khỏi đau khổ. Hạnh nguyện ấy phải có nền tảng là lòng từ bi sâu sắc và niềm xác tín kiên cường về tầm quan trọng vô cùng của việc cống hiến cuộc đời mình vì lợi lạc của tha nhân. Xác tín của một bồ tát mạnh mẽ đến nỗi vị ấy sẵn sàng, nếu cần, trải qua vô lượng kiếp để hoàn thành những mong ước của mọi chúng sinh không bỏ sót. Đoạn sau đây thường được Đức Đạt Lai Lạt Ma trích dẫn, chứa đựng yếu tính của hạnh nguyện ấy :

Bao giờ hư không vẫn còn tồn tại,
Bao giờ vẫn còn dẫu một chúng sinh,
Nguyện rằng tôi còn ở lại đời đời
Để chấm dứt khổ đau cho thế giới.
Một khi đã phát triển động lực anh hùng ấy, vị bồ tát sẽ gắng sức thực hiện sáu sự hoàn thiện và bốn phương tiện. Sự luyện tập này sẽ trở thành mục đích chính của đời mình. Đối với những cá nhân đó sự thực hành tôn giáo sẽ không bao giờ chỉ là một phần nhỏ của cuộc sống mà là nền tảng và cứu cánh độc nhất. Nhiều bản văn cổ của đại thừa mô tả cuộc đời của vị bồ tát. Trong số đó quan trọng nhất và nổi tiếng nhất chắc chắn là cuốn Hành trình về giác ngộ của Shantidéva (Nhà xuất bản Padmakara ấn hành tại Pháp 24290 Saint-Léon-sur-Vézère). Là một nhà thơ Phật giáo Ấn Độ sống vào thế kỷ thứ VII, Shantidéva được mọi Phật tử đại thừa tôn sùng như một vị thánh. Ở Tây Tạng, sách của ngài dùng làm quy chiếu căn bản cho những ai muốn học hỏi và thực hành lý tưởng bồ tát. Bất cứ ai đã nghe dù chỉ một ít lời giáo huấn của Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện tại sẽ nhận thấy ảnh hưởng to lớn của tác phẩm vừa kể trên cách suy nghĩ và hành động của ngài. Độc giả cũng sẽ ghi nhận Đức Đạt Lai Lạt Ma ở đây dựa vào cuốn sách nổi tiếng ấy của đại thừa với sự tự nhiên và dễ dàng như thế nào.

Tầm quan trọng của tri kiến sâu sắc

Chúng ta đã thấy, tri kiến sâu sắc là chìa khóa của giải thoát. Đối với một Phật tử, đời sống tôn giáo là cuộc đời đi tìm sự giác ngộ viên mãn. Bởi vì tình trạng “ngủ mê” bắt nguồn từ sự lầm lạc nền tảng về bản chất của cái ta và của thực tại, nên để giác ngộ, điểm mấu chốt là phải nhận thức bản chất ấy là gì. Nhưng nhận thức không, không đủ. Tri kiến “cách thế hiện hữu của sự vật” phải trở thành một phần trong toàn bộ cuộc sống thường ngày của chúng ta. Nói cách khác, tri kiến phải sâu sắc để có thể tác động lên toàn bộ hữu thể của chúng ta. Nhận thức toàn bộ ấy được gọi là trí huệ, trí huệ chỉ có thể sinh ra trong một tinh thần thật sự bình an. Trong biệt ngữ Phật giáo, chúng ta nói về trạng thái “liên kết giữa định (samatha) và huệ (vipas-yana)”. Ở phần đầu bài chú giải về Phúc Âm, hai khía cạnh của thiền định Phật giáo được gọi là “trầm tư phân tích” và “trầm tư chiêm niệm”. Trong phần trầm tư chiêm niệm, tinh thần và đối tượng của trầm tư hòa trộn vào nhau còn trong trầm tư phân tích tinh thần thăm dò bản chất sâu xa của đối tượng. Một người hành đạo chân chính phải đạt được sự kết hợp hai khía cạnh ấy trong cùng một động tác nhận thức đơn thuần.

Bản chất chính xác của tri kiến sâu sắc về “cách thế hiện hữu sự vật” là gì ? Trong Ấn Độ cổ, bốn trường phái triết học chính đã phát triển để trả lời câu hỏi đó. Trường phái vaibhasika thực sự đã chối bỏ sự hiện hữu của một “tự ngã” thường hằng và bất biến, nhưng lại chấp nhận sự hiện hữu của một thực tại dưới hình thức những đơn tử không thể phân chia được gọi là (chư) pháp. Trường phái sautrankita bác bỏ quan điểm ấy để quan niệm thực tại bằng từ ngữ các nguyên tử và các đơn vị thời gian khách quan, không thể phân chia được. Các môn đệ của trường phái cittamatra bác bỏ mọi quan điểm gán cho thế giới vật chất một nền tảng khách quan và chủ trương rằng chỉ tâm thức mới có một thực tại tối hậu. Trường phái madhyamaka coi mọi quan điểm trên như những định đề thuần túy cần phải bị bác bỏ bởi lẽ theo trường phái này chủ trương những quan điểm đó có nghĩa là chứng thực một vật không tồn tại trong thực tế. Đối với trường phái madhyamaka tánh Không là bản chất thực của mọi vật và mọi biến cố – nói cách khác, bất kỳ sự vật hay biến cố nào cũng đều không có một hiện hữu hay một căn tính nội tại. Tánh Không là chân lý, thực tại tối hậu và quy chế sau cùng của mọi vật. Tri kiến đích thực về tánh Không sâu thẳm mở ra cánh cửa dẫn đến giác ngộ và giải thoát tâm linh. Phật giáo Tây Tạng cho rằng triết học của trường phái madhyamaka là đỉnh điểm của tư tưởng triết học Phật giáo và cũng là tư tưởng rất gần với sự im lặng cao cả của Đức Phật. Tương quan giữa tầm quan trọng chủ yếu của cách tiếp cận duy lý và bản chất thinh lặng nền tảng của thị kiến tâm linh tối hậu là một trong nghịch lý lớn của Phật giáo. Những giáo huấn của madhyamaka về tánh Không dường như có khả năng giải quyết nghịch lý ấy nhiều nhất. Những tôn sư chính của dòng tư tưởng này là Nagarjuna (người đã thành lập trường phái madhyamaka vào thế kỷ thứ II) ; môn đệ chính của người là Aryadéva, Chandrakirti (người đã sáng lập vào thế kỷ thứ VI trường phái prasangika, một phân nhánh của madhyamaka) và Shantidéva (tác giả cuốn Hành trình về giác ngộ).

Phật giáo Tây Tạng

Phật giáo đã du nhập vào Tây Tạng vào thế kỷ thứ VII và nhanh chóng trở thành triết học và tôn giáo hàng đầu của dân tộc. Qua nhiều thế kỷ, bốn trường phái chính của Tây Tạng đã xuất hiện : đó là các trường phái nyingma, kagyud, sakya, và guéloug. Sự khác nhau giữa các trường phái phần lớn do niên đại và dòng dõi của các tôn sư hơn là do vị trí của học thuyết nói riêng. Bốn truyền thống ấy gắn với đại thừa ; tất cả đều coi quan điểm đại thừa như đỉnh điểm của diễn từ triết học Phật giáo. Còn quan trọng hơn nữa, các trường phái nhất trí tuyên bố Phật giáo vajrayana là con đường tâm linh tối hậu dẫn đến giác ngộ. Vajrayana hoặc “Kim Cang thừa” là đại biểu của Phật giáo bí truyền. Trong số những nét đặc trưng của con đường này, chúng ta ghi nhận tầm quan trọng của quan điểm nền tảng bất-nhị, việc thừa nhận trong các cảm xúc và lòng luyến ái nào đó những phương tiện có thể được đưa vào con đường giác ngộ, và tính chất tượng trưng phong phú về mặt tâm lý trở thành những yếu tố then chốt cho việc trầm tư chiêm niệm.

Trường phái nyingma cổ xưa nhất trong bốn trường phái Phật giáo Tây Tạng. Nguồn gốc của nó dẫn ta về những lời giáo huấn của các tôn sư Phật giáo Ấn Độ, Padmasambhava và Shantarakshita. Các ngài đã đến Tây Tạng vào thế kỷ thứ VII. Ba trường phái khác được gọi là “các trường phái tân dịch thuật”. (Cách phân biệt giữa “cổ” và “tân” phản ánh hai thời kỳ dịch thuật kinh điển Phật giáo ra tiếng Tây Tạng). Trường phái kagyud được nhà dịch thuật Marpa Lotsawa (1012-1097) thành lập vào thế kỷ XI. Ngài chính là đệ tử của tôn sư Ấn Độ Naropa (1016-1100). Khon Konchog Gyalpo, đệ tử của nhà dịch thuật Tây Tạng Drogmi Lotsawa (992-1072) thành lập trường phái sakya khoảng thời kỳ này. Còn guéloug đã nổi lên như một trường phái độc lập tiếp theo sau cuộc cải cách triệt để của Phật giáo Tây Tạng do Tsongkhapa (1357-1419) khởi xướng. Tsongkhapa cảm hứng mạnh mẽ từ tinh thần cải cách của phong trào Kadam do nhà đại truyền giáo Ấn Độ Atisha (982-1054) và đệ tử chính người Tây Tạng Dromtompa đưa vào. Chính vì thế, trường phái guéloug đôi khi thường được gọi là “trường phái Kadam mới”. Từ thế kỷ XIV, trường phái cải cách trở thành truyền thống chiếm ưu thế ở Tây Tạng, Mông Cổ và nhiều quốc gia Phật giáo ở Trung Á. Đức Đạt Lai Lạt Ma và Đức Ban Thiền Lạt Ma hai quyền bính tôn giáo cao nhất ở Tây Tạng theo truyền thống, xuất thân từ trường phái cải cách đó.

Trường phái guéloug của Tsongkhapa có thể được mô tả tóm tắt như một sự tổng hợp chính thống. Noi gương các trường phái Phật giáo đầu tiên, nó cổ vũ mọi cuộc sống tâm linh phải đặt nền tảng trên sự gắn bó chặt chẽ vào kỷ luật đạo đức. Về sự hành đạo, nó chấp nhận một loạt các giáo huấn gần gũi với phái kadam, tức là với Tsongkhapa giảng dạy. Giáo huấn ấy được gọi là lo djong – thuật ngữ Tây Tạng có thể dịch là “sự luyện tập để tinh thần trổi dậy” (phát tâm bồ đề) hoặc “sự biến đổi tư tưởng”. Đặc tính của giáo huấn lo djong đem lại cho hành giả những kỹ thuật làm biến đổi các hoàn cảnh bất lợi nhất thành những điều kiện thuận lợi cho việc triển nở lòng từ bi và nhân ái. Về định hướng triết học, trường phái guéloug hoàn toàn chấp nhận học thuyết tánh Không của đại thừa. Ngoài ra, nó thừa nhận sự phân tích phê phán như một bộ phận quan trọng của con đường dẫn đến giác ngộ. Mặc dù có cách tiếp cận duy lý hơn, truyền thống ấy tìm thấy trong giáo huấn vajrayana quan điểm tối hậu của sự hoàn thành Phật tánh. Một cách tiếp cận như thế nhất thiết đòi hỏi một sự đánh giá chính thống các quan điểm, dù rất khác nhau nhưng có sự đúng đắn và giá trị nhất định trong khuôn khổ bối cảnh riêng của từng quan điểm. Đó là những tầng lớp đa dạng làm cho Phật giáo Tây Tạng vừa sâu sắc vừa phức tạp. Như chúng ta đã biết, nói về một vị trí của Phật giáo đã không đúng ; nói về một quan điểm của Phật giáo Tây Tạng cũng không đúng nốt. Khi đọc những lời chú giải của Đức Đạt Lai Lạt Ma về Phúc Âm, phải hiểu rằng tri kiến của ngài xuất phát từ nhiều quan điểm và nguồn suối tâm linh vô tận. Việc đọc các sách kinh điển một cách kỹ lưỡng lúc nào cũng đòi hỏi năng lực tinh vi về khoa chú giải các bản văn cổ vì chỉ như thế mới đánh giá được trọn vẹn sự sâu sắc của bản văn.

Trước khi kết luận, tôi xin thêm một lời về thái độ chung mà Phật giáo chấp nhận đối với các tôn giáo khác. Theo gương mọi tôn giáo lớn trên thế giới, Phật giáo khẳng định tính phổ quát của mình ; thật vậy đạo Phật luận bàn về những vấn đề nền tảng của cuộc nhân sinh. Trong nghĩa đó, đạo Phật cho rằng sứ điệp và học thuyết nền tảng của mình không bị giới hạn bởi bối cảnh lịch sử hay văn hóa đặc thù. Tuy vậy, ngay từ lúc đầu của truyền thống đại thừa, Phật giáo đã chấp nhận sự hiện hữu của những đạo khác, thích nghi tốt hơn với những khí chất tinh thần khác nhau. Cho nên, đây là một truyền thống tôn trọng sự đa dạng của việc chọn lựa tâm linh ở mức độ căn bản nhất. Một bản văn cổ của đại thừa đã viết : “Có những thiên hướng khác nhau, những lợi ích khác nhau và những con đường tâm linh khác nhau.” Tôi nghĩ rằng đây là nguồn gốc của từ “siêu thị các tôn giáo” mà Đức Đạt Lai Lạt Ma thường dùng. Đối với Phật giáo, mọi tôn giáo lớn đều có giá trị tự thân vì đã đáp ứng nhu cầu nền tảng của hàng triệu con người. Không nên dựa vào yêu sách của chân lý siêu hình để phán đoán một giáo huấn tâm linh là có giá trị hay không. Tiêu chuẩn chủ yếu là có đem lại sự cứu rỗi và giải thoát tâm linh hiệu quả không. Lịch sử lâu dài của Phật giáo và Kitô giáo chứng tỏ sự hiệu quả của hai tôn giáo trong lãnh vực đó. Như thế một cuộc đối thoại chân thành giữa hai truyền thống lớn có thể góp phần không những làm phong phú giáo huấn của mỗi bên mà còn gia tăng lợi lạc người ta đem lại cho chiều kích tâm linh của con người. Nhà triết học và sử học tôn giáo nổi tiếng Paul Tillich có lẽ đã có lý khi nói rằng cuộc gặp gỡ giữa Kitô giáo và Phật giáo sẽ làm khởi phát một cuộc cách mạng tâm linh thực sự.

Thupten Jinpa


PHỤ LỤC 2
CUỘC ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN 
VÀ CÁC MỐI LIÊN HỆ 
GIỮA PHẬT TỬ VÀ KITÔ HỮU
 Lm Laurence Freeman

Tháng 9 năm 1994 tại Luân Đôn, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã chủ trì cuộc Hội Thảo John Main, một cuộc gặp gỡ tâm linh hàng năm để tưởng nhớ đến Cha John Main, một tu sĩ dòng Biển Đức mà cha Bede Griffiths có lần đã nói rằng ngài là một vị linh hướng quan trọng nhất của Giáo Hội ngày nay.

Đức Đạt Lai Lạt Ma và Cha John Main đã gặp nhau chỉ có hai lần. Lần đầu vào năm 1980 trong nhà thờ chính tòa ở Montréal, Québec. Ở đó, người ta đề nghị cha John tiếp đón vị lãnh đạo của đất nước Tây Tạng như một người tu sĩ anh em, mở đầu một dạ hội liên tôn quan trọng. Trong các cuộc họp chuẩn bị cho dạ hội ấy, tôi còn nhớ cha John đã cổ xúy mạnh mẽ việc đưa vào chương trình một lượng lớn thời gian dành cho sự trầm tư hay thiền định trong thinh lặng. Các vị lãnh đạo tôn giáo từ đức tổng giám mục cho đến ông thầy pháp của thổ dân Châu Mỹ phải tỏ tình thân ái cho nhau và tụng đọc những bài kinh hay đẹp. Các bài ca và thánh vịnh đã được chuẩn bị trước và nhà thờ chánh tòa rực rỡ với vẻ đẹp của nghệ thuật Kitô giáo mang lại cho buổi tối gặp gỡ đó một sự hỗ trợ. Nhưng các nhà tổ chức vẫn còn e ngại với ý tưởng đưa hai mươi phút thinh lặng vào giữa một buổi lễ công cộng có tầm mức quan trọng như thế. Cha John vẫn nài xin và cuối cùng đã giành thắng lợi.

Sau buổi lễ, Đức Đạt Lai Lạt Ma tìm gặp vị tu sĩ dòng Biển Đức đã tiếp đón ngài để nói rằng việc thiền định trong một nhà thờ quả là một việc khác thường đã đem lại cho ngài ấn tượng đặc biệt. Chứng kiến cuộc trò chuyện đó, tôi thấy rõ một sự tương hợp lớn lao đã liên kết hai con người ấy. Những lời họ trao đổi khá tầm thường, nhưng tôi cảm thấy họ đã khai phá một trình độ đối thoại sâu xa và thầm lặng hơn. Sau đó, cha John đã mời Đức Đạt Lai Lạt Ma đến thăm cộng đoàn Biển Đức nhỏ bé vừa mới thành lập trong thành phố, chuyên tâm vào việc thực hành và giảng dạy sự thiền định theo truyền thống Kitô giáo. Vào thời kỳ này, chúng tôi sống ở vùng ngoại ô trong một căn nhà nhỏ có nhiều cộng đồng giáo dân sống trong các chung cư. Đó là một cách thế mới để sống đời tu trì giữa lòng đô thị, múc lấy những sức mạnh sống động và dự phóng của mình trong việc khám phá lại sự trầm tư chiêm niệm theo truyền thống tâm linh Kitô giáo.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nghĩ sao đây khi mà dường như Ngài đã có sẵn trong đầu những hình ảnh các tu viện Kitô giáo thời trung cổ ? Với vẻ ngại ngùng, người thư ký của ngài chen vào, nói rằng thời gian biểu của ngài đã đầy ắp và thật đáng tiếc, không cho phép ngài chấp nhận. Tôi không ngạc nhiên. Nhưng rồi, Đức Đạt Lai Lạt Ma quay lại nhìn người thư ký và tuyên bố với một giọng dịu dàng cố hữu nhưng không kém phần mạnh mẽ rằng ngài đã quyết định chấp nhận lời mời và sẽ thu xếp để đưa vào thời gian biểu. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kiên trì và đã giành thắng lợi. Cha John và ngài nhìn nhau mỉm cười và chia tay.

Ngày chủ nhật sau đó, một vài giờ sau khi cảnh sát Canada đến tuần tra và xem xét mọi ngõ ngách, đoàn xe của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã dừng bánh trước cửa cộng đoàn. Đức ngài gặp lại chúng tôi vào giờ thiền định giữa trưa trong gian phòng nhỏ dành riêng cho việc tọa thiền, sau đó chúng tôi cùng dùng bữa. Như thường lệ, chúng tôi ăn trong im lặng. Sau bữa ăn, chúng tôi trò chuyện một lúc. Kế đó cha John và Đức Đạt Lai Lạt Ma rút lui để trao đổi chuyện riêng. Trước khi chia tay, chúng tôi tặng ngài một bản Luật dòng của Thánh Biển Đức, và ngài tặng cha John chiếc khăn quàng truyền thống của Tây Tạng bằng lụa trắng để tỏ lòng tôn kính. Khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đi rồi, cha John trở lại công việc thành lập cộng đoàn Christian Meditation Community. Sau buổi chiều của mùa thu ấy năm 1980, hai con người đó không còn gặp nhau nữa.

Từ cuộc gặp gỡ ấy cho đến lúc chúng tôi mời ngài năm 1993, nhiều sự việc đã xảy ra. Cha John đã qua đời năm 1982 thọ năm mươi sáu tuổi, trong lúc Meditation Community vừa mới được thành lập. Nhưng giáo huấn của Cha bắt đầu phát triển trong Giáo Hội và biến thành một phong trào trong những năm kế tiếp nuôi dưỡng và đào sâu đời sống tâm linh của nhiều Kitô hữu. Hai mươi lăm trung tâm đã được mở ra và hơn một ngàn nhóm nhỏ họp nhau hàng tuần để thiền định nhằm nâng đỡ việc hành đạo của mỗi cá nhân. Các nhóm này được thành lập trong hơn một trăm quốc gia. Trung tâm quốc tế của World Community for Christian Meditation đã được thành lập ở Hoa Kỳ trong cuộc hội thảo năm 1991 ở New Harmony, Indiana dưới sự hướng dẫn của cha Bede Griffiths, tu sĩ dòng Biển Đức và là người đi tiên phong trong cuộc đối thoại liên tôn, kế đó được mở cửa ở Luân Đôn. Các cuộc hội thảo trước đó được chủ trì bởi các nhân vật sau đây : Isabelle Glover, chuyên viên về chữ Phạn ; Charles Taylor, triết gia ; Robert Kiely, nhà phê bình văn học ; Eileen O’Hea, nhà tâm lý và nữ tu dòng thánh Giuse ; John Todd, giáo sư ; Jean Vanier, sáng lập viên đoàn thể Arche và William Johnston, nhà nghiên cứu và thần học dòng Tên.

Tôi đã ngạc nhiên và sung sướng khi nhận được ít dòng Đức Đạt Lai Lạt Ma gởi cho tôi để đáp lại lời mời của chúng tôi. Ngài nói ngài vẫn còn giữ kỷ niệm của cuộc gặp gỡ cha John Main, mười ba năm về trước và vui mừng thấy cộng đoàn phát triển khắp thế giới đồng thời ngài hoan hỷ được hân hạnh chủ trì cuộc hội thảo sắp tới. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của hai nhà tu hành trước đây đã lâu đã cho chúng tôi một cơ hội tuyệt vời. Chúng tôi nắm lấy cơ hội này như thế nào ?

Nhiều lý do đã khiến chúng tôi đề nghị Đức Đạt Lai Lạt Ma, khách mời đầu tiên không phải là Kitô hữu, chủ trì cuộc hội thảo. Việc ngài đã gặp gỡ cha John là một điểm chính. Cuộc gặp gỡ đó đã làm sáng tỏ tính chất quan trọng của việc phát triển đối thoại giữa Kitô hữu và Phật tử ở một trình độ sâu xa hơn mà ai cũng có thể tiếp nhận nhờ vào sự thiền định. Có một cái gì làm cảm động khi cùng chia sẻ sự im lặng sâu sắc, một cái gì ngôn ngữ có thể đến gần nhưng không bao giờ có thể diễn tả hoàn toàn được. Sự chọn lựa của chúng tôi cũng hướng về Đức Đạt Lai Lạt Ma bởi lẽ ngài đã trở thành một trong những vị thầy tâm linh hiện đại được yêu mến và cũng dễ tới gần nhất. Cơn hấp hối của đất nước Tây Tạng thường xuyên theo ngài, nâng ngài lên với trách nhiệm tâm linh toàn cầu ở đó các giá trị tôn giáo phổ quát về hòa bình, công lý, khoan dung và bất bạo động tìm được sự nhập thể vui tươi và dù vậy, vẫn vô cùng nghiêm túc. Sự kiện này xuất hiện rõ ràng khi Đức ngài đã lớn tiếng đọc mối Phúc Thật trong buổi họp đầu tiên. Tất cả mọi người đã cảm thấy chúng mặc một chiều kích mới giữa đôi môi của ngài ; chiều kích của nỗi đau thấm thía mà bản thân ngài đã có kinh nghiệm.

Trong khi tìm kiếm phương tiện thích hợp để nắm bắt cơ hội này, câu trả lời tự nhiên đã đến : cứ để cho sự việc phát triển. Chúng tôi đang đối diện với một tình thế chưa từng có. Một cuộc hội thảo kéo dài ba ngày trong đó Đức Đạt Lai Lạt Ma hội họp cùng với những Kitô hữu thực hành thiền định và dấn thân theo con đường tâm linh và các bạn hữu ngoài Kitô giáo cũng dấn thân sâu sắc quả là một cuộc hội thảo quá đặc biệt đối với việc tổ chức một nhóm đối thoại liên tôn. Tôi đã báo cho Đức ngài biết cuộc hội thảo của chúng tôi bao gồm các thời gian dùng để thiền định và thời gian dùng để đối thoại. Chúng tôi phải thiền định ba lần mỗi ngày và không uổng phí ; thời gian trầm tư tạo thành trung tâm của cuộc gặp gỡ. Dĩ nhiên, Đức Đạt Lai Lạt Ma không hề phản đối đề nghị ấy. Vấn đề không phải là việc tĩnh tọa mà là đi tìm chủ đề cho cuộc thảo luận.

Chúng tôi đã duyệt xét các đề tài triết học và tôn giáo thường được đề cập trong các cuộc gặp gỡ giữa Phật tử và Kitô hữu, và chúng tôi nghĩ rằng các đề tài ấy không đem lại sự công bình cho cuộc gặp gỡ đặc biệt đó. Thế là chúng tôi quyết định nhảy xuống nước. Chúng tôi đưa cho Đức Ngài văn bản mà các Kitô hữu yêu quý nhất, coi là thánh thiện và sâu sắc nhất ! Chúng tôi đề nghị ngài giảng giải Phúc Âm. Ngài chấp nhận không chút ngần ngại, chỉ nhận xét rằng đương nhiên ngài hiểu không đúng các bản văn. Tôi thấy trong lời nhận xét một dấu chỉ rất cảm động của lòng tự tin và của đức khiêm nhường.

Hai hoặc ba năm trước đây ở Luân Đôn, khi tổ chức liên tiếp các cuộc thuyết trình về triết học Phật giáo, ngài đã làm cử tọa ngạc nhiên vì trí tuệ sắc bén và kiến thức quảng bác của ngài. Bất cứ một học giả nào ở vào trường hợp như thế hẳn là phải lấy làm tự hào về sự thành công ấy. Giờ đây, ngài sẵn sàng chấp nhận trình diện trước một cử tọa Kitô hữu, vốn đã có tinh thần khoan dung và chiêm niệm để nói về một lãnh vực mà ngài hiểu biết rất ít, chí ít theo sự nhận xét về mình với nụ cười nhỏ nhẹ. Ý tưởng đó một khi được chấp thuận đã làm phát sinh trong cuộc hội thảo những hy vọng lớn lao. Ở cả hai bên, đức tin đều được đưa ra, còn lối thoát thì khá mơ hồ. Chúng tôi không một chút nghi ngờ : thời gian của sự thiền định, sự hiện diện được san sẻ tự nó có tầm quan trọng hàng đầu. Những ai từng được ở gần Đức Đạt Lai Lạt Ma dù trong khoảnh khắc đều biết rằng sự hiện diện của ngài tỏa sáng sự bình an, thâm trầm và hoan hỷ. Nhưng ngay cả với Đức Đạt Lai Lạt Ma, nào ai biết được cuộc hội thảo, ở những điểm liên quan đến đối thoại, chẳng biến thành thất bại.

Hoàn toàn trái ngược lại, các văn bản về cuộc hội thảo năm 1994 với tiêu đề The Good Heart – Thiện Tâm là một sự thành công lớn mà chúng tôi không ngờ. Điều này làm tôi phải đưa ra một vài nhận xét. Lời chú giải Phúc Âm của Đức Đạt Lai Lạt Ma là trọng tâm của cuốn sách này. Chắc chắn, nó sẽ có những hiệu quả đối với cuộc đối thoại giữa các tôn giáo của nhân loại và còn tiếp tục sang thiên niên kỷ sắp đến. Cuốn sách này nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc đối thoại ấy đối với tương lai của thế giới, và đề nghị một chiến lược vô cùng cần thiết để giải quyết thách thức đặt ra cho việc kiến tạo một thế giới hòa bình và hợp tác trong các thập kỷ sắp đến : nó đề nghị một phương thức đối thoại.

Hiện diện

Người ta có thể nói rằng Hội Thảo John Main đã được nẩy mầm nhờ cách thế hiện diện cho nhau một cách đặc biệt của Đức Đạt Lai Lạt Ma và Cha John Main trong suốt thời gian họ gặp gỡ. Yếu tố hiện diện cũng đã được Đức Đạt Lai Lạt Ma đề cập khi nói đến các cuộc gặp gỡ của ngài với Thomas Merton. Cũng chính sức mạnh linh nghiệm ấy của sự hiện diện đã nâng đỡ cuộc đối thoại sâu sắc năm 1994. (Sau này, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận định rằng trong suốt cuộc hội thảo, ngài đã học hỏi ở Kitô giáo nhiều hơn ở bất cứ thời điểm nào khác kể từ các cuộc đàm đạo của ngài với Merton ba mươi năm trước đây.)

Sự hiện diện là một trong những bài học chính mà chúng tôi – Phật tử, Kitô hữu hay môn đồ các tôn giáo khác – phải ghi nhớ từ cuộc thảo luận đó về Phúc Âm, nếu như chúng tôi cần học cách tốt nhất để tháo gỡ sự thách thức khỏi mọi cuộc đối thoại trong thời đại hôm nay. Vì sự hiện diện trong đối thoại là vô ngôn, vô niệm, khẳng định ấy đối với một số người sẽ có vẻ mơ hồ hoặc tầm thường. Người ta không nên lầm lẫn, đó là một thực tế gay go. Sự hiện diện dù khó mô tả vẫn là chiều kích đầu tiên mà chúng tôi cảm nghiệm một cách sống động từ cuộc đối thoại. Bằng cách nào chúng tôi nhận ra nhau ? Trên nền tảng sự hiện diện trong hỗ tương mà cuộc đối thoại bằng ngôn ngữ đã được triển khai và gặt hái sự thành công. Từ ngữ không thể hoàn tất điều gì nếu không có sự hiện diện. Không có ánh sáng này, từ ngữ cũng có nguy cơ đưa chúng ta vào con đường lầm lạc.

Trong các nhận xét mở đầu, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc lại tầm quan trọng của mọi hình thức đối thoại hiện nay được thực hiện giữa các tôn giáo. Ngài nhấn mạnh sự quan trọng của sự đối thoại giữa các nhà bác học. Nhưng theo ngài, sự trao đổi chủ yếu và – nếu dùng một đặc ngữ của Phật giáo – sự trao đổi có tác dụng nhất không nằm trên bình diện trí thức, mà là sự đối thoại giữa những hành giả chân thành đã nhìn thấy mọi vật từ quan điểm của tôn giáo họ, một cuộc đối thoại sinh ra từ việc chia sẻ kinh nghiệm hành đạo của mình.

Các nhà tư tưởng Kitô giáo và Phật giáo có chung ý tưởng đó. Trong truyền thống tu hành của Kitô giáo sơ khai, các Giáo phụ nhấn mạnh đến vị trí trung tâm của thực hành (praktike), đó là sự hiểu biết xuất phát từ kinh nghiệm chứ không phải là kiến thức khái niệm. Đức Hồng Y Newman đã cảnh báo trước sự nguy hiểm sống đức tin chỉ trên bình diện của sự “thỏa thuận có tính tư biện” loại trừ sự kiểm chứng của kinh nghiệm cá nhân. Sở dĩ cha John Main đã hết sức cổ vũ các Kitô hữu phải tìm lại chiều kích chiêm niệm của đức tin là vì như ngài thường nói, chúng ta phải “kiểm chứng chân lý đức tin bằng kinh nghiệm của chính mình”. Trong bối cảnh của cuộc hội thảo này về Phúc Âm, ý tưởng ấy có một điểm mới là nó còn áp dụng cho cuộc đối thoại liên tôn chứ không phải chỉ áp dụng cho sự khám phá của bản thân các niềm tin tôn giáo.

Sự thực hành quả là gay gắt và bất ổn đối với nhiều người hành đạo chân thành. Nó nhắc ta rằng có một bình diện phổ quát và tiềm tàng của chân lý mà người ta có thể đạt đến bằng những tôn giáo khác nhau. Tham gia một cuộc đối thoại thực tiễn như thế, người ta sẽ đạt được kinh nghiệm về chân lý bằng sự đồng ý hoàn toàn đình chỉ mọi thái độ cực đoan đối với người khác. Nếu điều đó là đúng thì trong chừng mực nào đó mỗi tôn giáo đặc thù không hơn (cũng không kém ?) là một cánh cửa riêng mở vào hội đường lớn của Chân lý ? Như lát nữa chúng ta sẽ thấy, Đức Đạt Lai Lạt Ma ứng đối rất tinh tế nhưng không hề giấu giếm khó khăn đó.

Chúng tôi chỉ xin nêu ra vai trò chủ yếu của sự hiện diện đối với kiểu đối thoại mới có tính tiên phong ấy. Sự hiện diện này nhân bản, bình thường thân ái, hữu nghị và tín nhiệm. Bốn trăm người hành đạo cảm nhận ngay điều đó ngay trong ngày đầu tiên khi Đức Đạt Lai Lạt Ma bước vào phòng hội. Trong cuộc đối thoại hiện nay giữa các tôn giáo và các nền văn hóa, tính chất của sự hiện diện phải được đánh giá cao và chắc chắn không thể coi như một yếu tố cảm tính thứ yếu đối với thế giới ý niệm thuần túy. Nếu đúng như lời Đức Đạt Lai Lạt Ma khẳng định, chứng cớ và giá trị của mọi tôn giáo ở chỗ người hành đạo có thực hành thiện tâm, các đức tính từ bi và khoan dung bẩm sinh đối với con người, tiêu chuẩn ấy cũng có giá trị đối với cuộc đối thoại vốn là một công việc và một lãnh vực hoạt động quan trọng của mọi tôn giáo hôm nay.

Ngày xưa, hoạt động tôn giáo có thể thu gọn trong việc phụng tự hoặc trong việc nghiên cứu các nghi thức và niềm tin. Ngày nay, một yếu tố mới xuất hiện là việc đi vào niềm tin và nghi thức của các tôn giáo khác với sự đồng cảm và tôn trọng nhưng không vì thế mà coi chúng như là của mình. Hoa quả và giá trị của hoạt động mới này mà các thế hệ đi trước chẳng hề quan tâm mà còn coi là bất chính và phạm thánh chính là nhờ sự giống nhau của mọi tôn giáo về lòng từ bi và quảng đại. Sự đối thoại không chỉ làm sống động những tình cảm tốt đẹp nhất của chúng ta đối với người khác mà còn làm cho chúng ta ý thức về mình nhiều hơn để làm chứng tốt hơn cho thiện tâm của mình. Cuộc đối thoại làm cho chúng ta tốt hơn.

Chúng ta không thể đạt đến điều đó khi vẫn ở mãi trong sự trừu tượng. Cuộc đối thoại không chỉ đòi hỏi các ý tưởng rõ ràng và sự hiểu biết tối thiểu quan điểm của mình và người khác, nó đòi hỏi một sự dấn thân của mỗi người. Tính khách quan, vô tư và có tổ chức của người trí thức mà cuộc đối thoại đòi hỏi không phải là những cứu cánh tự thân – cũng thế, hiệu quả và lợi ích không phải là những mục đích sau cùng của một công việc hay một tổ chức xã hội. Cuộc đối thoại đòi hỏi sự chính xác trí thức, điều này giúp người ta tránh khỏi hay ít nhất kềm giữ những khuynh hướng ích kỷ tự nhiên. Như thế những người chủ đạo có thể sẵn sàng đi xuống các vùng sâu của ý thức, ở đó cuộc đối thoại tập trung vào một mảnh đất chung của chân lý, trong một kinh nghiệm sống hoàn toàn siêu việt khỏi tinh thần khái niệm hóa.

Tình bằng hữu

Sự thành công của cuộc hội thảo chủ yếu là do sự hiện diện mà Đức Đạt Lai Lạt Ma khai thông. Sự tín nhiệm và trầm tĩnh của ngài bất chấp nguy cơ mà ngài có thể gặp làm cho mọi người cảm thấy thoải mái và yên tâm bởi lẽ chúng tôi không có gì để mất ngoại trừ sự sợ hãi của mình. Nhờ thế, một trào lưu của tình bằng hữu đã được thiết lập và cuộc đối thoại bước vào con đường sinh hoa kết quả. Cuộc đối thoại sẽ chắc chắn đem lại hiệu quả làm giảm bớt nỗi sợ hãi và ngờ vực lẫn nhau, biến đổi chúng tôi thành những người bạn có phẩm chất tốt nhất, kể cả với những người mà chúng tôi quan niệm như kẻ thù hoặc những con người nguy hiểm. Tuy nhiên, tình bằng hữu, hay chí ít thiên hướng về một tình bạn chân thành cũng là một điều kiện tiên quyết cho một cuộc đối thoại tốt đẹp. Là bằng hữu, có nghĩa là phải tin tưởng và chịu thương tổn. Phải đối đầu với nguy cơ để cùng chia sẻ một kho tàng và sau đó đôi khi phải thất vọng vì kho tàng đã không được quan tâm đến hoặc xử lý không tốt. Càng đi sâu vào cuộc hội thảo, cường độ của tình bằng hữu nối kết những người tham dự càng gia tăng. Như mọi người đều nhận thấy, nó tỏa sáng từ Đức Đạt Lai Lạt Ma và các Kitô hữu đối thoại. Họ biết rằng nguy cơ mà họ đương đầu khi cùng nhau hội họp hoàn toàn được biện minh và nó trở thành một niềm hoan hỷ lớn lao trong lòng họ.

Tình bằng hữu chiếm một vị trí trung tâm trong tư tưởng và truyền thống Kitô giáo. Lý tưởng Kitô giáo về tình bằng hữu dựa trên một truyền thống lâu đời theo đó tình bằng hữu không phải là một hình thức pha lỗng của sự thân mật. Cicéron và Thánh Augustinô hẳn sẽ không hiểu được ngôn ngữ của các nhà báo hôm nay nói rằng đôi trai gái ghép thành cặp chỉ đơn thuần là bè bạn như thể chỉ có một mối quan hệ thật sự đáng quan tâm là mối quan hệ phải đi “xa hơn” tình bạn. Đối với Cicéron và Thánh Augustinô cũng như nhiều thế hệ trước và sau các ngài, tình bằng hữu là cứu cánh của mọi kinh nghiệm hình thành các mối tương giao nhân loại. Giáo dục theo nghĩa rộng nhất phải là sự chuẩn bị để hoàn thiện tình bằng hữu. Sự hoàn thiện này giúp cho hai hữu thể chia sẻ phần sâu xa và chân thật của mình.

Thánh Aelred de Rievaulx, một tu sĩ ở Yorkshire vào thế kỷ XIII, đã viết một cuốn sách nhan đề Tình bằng hữu tâm linh, quan tâm chủ yếu đến quan điểm của Kitô giáo về lý tưởng cổ xưa ấy, khởi đầu từ một cuộc tranh luận về tác phẩm “Về tình bằng hữu” của Cicéron. Aelred lưu ý rằng sự chuẩn bị trong kỷ luật và thử thách lẫn nhau là tiền đề để tình bằng hữu triển nở trọn vẹn. Lúc đó sự tin tưởng lẫn nhau, sự thân thiết và cởi mở đem lại sự ngọt dịu khôn tả liên kết những người bạn và lan tỏa xuyên qua tình bằng hữu đến với mọi người. Một cách ý nhị, thánh nhân cho rằng một tình bằng hữu như thế không thể không dựa vào lòng tốt chủ yếu của mỗi người bạn. Không thể có tình bằng hữu đặt nền tảng trên ước muốn lợi dụng người khác hoặc trên lòng thù hận bởi lẽ các xu hướng tiêu cực ấy đi ngược lại với nhân tính. Sự đồng mưu trong tội ác không tạo nên những người bạn tốt. Tình bằng hữu là sự hoàn thiện nhân tính. “Một người bạn chân thành, Thánh Aelred nói, chỉ nhìn thấy nơi người bạn của mình tấm lòng và không thấy gì khác nữa”. Kế đó, không chút ngượng ngịu, ngài kể lại những gương mẫu đặc biệt của tình bằng hữu ngài đã từng biết trong cuộc đời mình. Và khi đi dạo trong tu viện ngài cảm thấy hoan hỷ khi nghĩ rằng trong nhà dòng, ngài đã yêu thương tất cả mọi người không chừa một ai và biết rằng họ cũng đã yêu thương lại ngài. Đối với thánh nhân, tình bằng hữu của con người ở mức độ hoàn hảo là một lễ hiển linh của sự hiện diện thực sự của Đức Kitô. Đức Kitô, Thánh Aelred nói, là người thứ ba ở giữa chúng ta. Theo quan điểm Kitô giáo, tình bằng hữu chân thật “sinh ra trong Đức Kitô, tiếp tục trong Đức Kitô và tìm thấy sự hoàn thiện trong Đức Kitô”. Thật là một sự hiểu biết tốt đẹp và sâu sắc nhân tính của Đức Giêsu phục sinh.

Trong quan niệm ấy về bản tính nhân loại, Đức Kitô không tạo ra một chướng ngại hay một rào chắn trí thức phân cách chúng ta với người khác. Ngài không phải là một đối tượng mà người ta đề cập và phân tích chi ly. Ngài là sự hiện diện kín đáo trong đó chúng ta phải thật sự hiện diện cho nhau. Ngài có thể hữu danh hoặc vô danh. Trong mọi trường hợp, sự hiện thực của ngài không tăng, không giảm. Cũng theo quan điểm thần học, ý niệm tình bằng hữu là trung tâm của đức tin Kitô giáo. Khi ngỏ lời với các môn đệ của mình trong bữa ăn cuối cùng Đức Giêsu tuyên bố ngài là bạn hữu của họ. “Ta không gọi các con là tôi tớ nữa vì tôi tớ không biết việc chủ làm, ta vừa gọi các con là bạn hữu, bởi vì ta đã cho các con biết tất cả những điều ta đã nghe ở Cha ta.” Chúa Thánh Linh từ nhiệm thể hiển vinh của Đức Giêsu đổ tràn xuống thế giới của ý thức nhân loại được diễn tả cũng bằng những ngôn từ gắn liền với tình bằng hữu. Ngài là Đấng bảo trợ luôn ở bên cạnh chúng ta, để nhắc chúng ta nhớ lại mọi điều chúng ta đã quên, để sửa chữa những tác hại do sự điên rồ của chúng ta. Thần học phụ nữ hiện đại đã thừa nhận vị trí trung tâm của biểu tượng tình bằng hữu trong đức tin Kitô giáo và đã phục hồi nó tạo thành một ẩn dụ nền tảng của mối quan hệ của con người với đấng thần thiêng.

Lý tưởng tình bằng hữu ấy có khả năng mạnh mẽ hòa giải tuyệt đối thể với cá nhân. Các bạn có thể không cùng một ý kiến khi chọn màu của một tấm thảm nhưng vẫn là bạn hữu của nhau. Một Phật tử có thể là bạn một Kitô hữu. Trong tình bạn, người ta có thể tôn trọng và hơn thế nữa công nhận giá trị của những điểm dị biệt. Trong các mối quan hệ vắng bóng tình bằng hữu, những điểm dị biệt có thể bị thổi phồng quá đáng và biến đổi thành những sự chia rẽ về chủng tộc, tôn giáo hoặc ý thức hệ. Chúng ta biến kẻ khác thành ma quỷ đe dọa chúng ta, chiếu lên kẻ khác phần bóng tối của mình và thế là xung đột xuất hiện. Tình bằng hữu là hình thức cao cả của lòng từ bi và quảng đại trong sự tôn trọng vị trí hàng đầu của chân lý trên mọi xu hướng chủ quan. Nhưng tình bằng hữu nhắc chúng ta tính khách quan của chân lý không loại bỏ tính chủ quan. Nó dung nạp cái đặc thù với cái phổ quát, thực hiện coincidentia oppositorum, sự hòa giải các điểm đối lập. Nicolas de Cues, vị Hồng y của thế kỷ XV, nhà chính trị, nhà toán học và nhà thần bí đã nói rằng Thiên Chúa ở “bên trên sự đồng nhất các điểm đối lập”.

Có một phương tiện đơn giản để biết khi theo đuổi chân lý, chúng ta có còn gắn bó với tình bằng hữu vốn là viên đá góc nhà. Khi chúng ta được thông tin một người công giáo đã bị giết chết ở Belfast hay một người Do Thái đã chết ở Cisjor-danie, hoặc giả nhiều bé gái của một cô nhi viện ở Trung Quốc đã biến mất, hoặc giả nhiều người Tây Tạng đã bị sát hại, có phải chúng ta lắng nghe một thông tin liên quan đến những cá nhân hay những nhóm sắc tộc hoặc tôn giáo không ? Có phải đối với người lính Do Thái, hoặc người biểu tình Palestine bị giết chết, chúng ta có ngay hình ảnh của một người Ả Rập hoặc người Do Thái hay hình ảnh một con người bất kể đó là người Do Thái hay người Ả Rập không ? Những con số chạm đến chúng ta như thế nào ? Có phải như biết bao thảm kịch cá nhân hay như con số thống kê sử dụng làm vũ khí chính trị ?

Trong hội thảo John Main, cũng như trong các lần giảng đạo tâm linh khác, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã không lợi dụng cơ hội để nói về việc Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng. Ngài không tìm cách biến tình bằng hữu thành một mưu mẹo chính trị. Dường như đó là một trong những đức tính làm cho ngài thành một nhà chính trị mà người ta luôn luôn lắng nghe với sự thích thú và kiểu mẫu của những người hướng đạo tâm linh. Vì có thiên hướng mạnh mẽ về tình bằng hữu như thế nên Đức Đạt Lai Lạt Ma được mọi người yêu quý và kính trọng. Thiên hướng ấy chắc hẳn cũng là nguồn gốc của một thiên hướng khác hướng về sự đối thoại, tức là lòng tôn trọng sự khác biệt trong lúc đi tìm sự thống nhất. Dưới góc độ đó, nhiệt tình đối với bạn hữu không làm phôi pha tính tập trung của Chân lý thuần khiết. Chân lý không đơn giản chỉ là phát biểu chính xác các ý tưởng đúng đắn. Chân lý không có nhiệt tâm của tình bạn hữu là một hình ảnh nhợt nhạt của thực tại.

Kiểu mẫu đối thoại

Để một cuộc đối thoại thành công, cần có tinh thần bằng hữu, bởi lẽ chúng ta trò chuyện bằng những ngôn ngữ địa phương riêng biệt. Dù nói cùng một tiếng mẹ đẻ, cũng có lúc chúng ta bị lạc hướng trong lần tiếp xúc đầu tiên vì những ngôn ngữ địa phương và các dấu giọng, nhưng chúng ta học cách để hiểu và tôn trọng chúng. Các phương ngữ ấy từ ngôn ngữ chung của chân lý ngày nay được phổ biến rộng rãi và học cách truyền thông. Về phương diện này cuộc hội thảo chuyên đề về Phúc Âm là một kiểu mẫu đối thoại trong sự lắng nghe lẫn nhau.

Ít lâu sau cuộc hội thảo, sự đối thoại giữa Kitô giáo và Phật giáo gặp phải một trở ngại đau đớn đáng tiếc tiếp theo sau việc Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phát biểu những quan niệm tổng quát về Phật giáo trong cuốn sách Đường vào hy vọng và các cuộc tranh luận phát sinh từ đó. Nhiều vị tu sĩ và thượng tọa Phật giáo đã tranh cãi mạnh mẽ quan điểm về Phật giáo trình bày trong cuốn sách ấy với tinh thần hăng hái đến nỗi các nhà lãnh đạo tôn giáo ở Xri-lan-ca đã tẩy chay chuyến viếng thăm của Đức Giáo Hoàng đến đất nước họ. Thích Nhất Hạnh bày tỏ cảm nghĩ của ông trong cuốn sách Bouddha vivant, Christ vivant (Đức Phật hằng sống, Đức Kitô hằng sống). Khắp nơi, tình bằng hữu dường như bị chựng lại. Vaticăn liền đưa ra những thông báo sửa sai khẳng định rằng Đức Giáo Hoàng không có ý định chỉ trích Phật giáo là một triết học phủ nhận cuộc sống.

Đại diện cho một truyền thống Kitô giáo lâu đời, dường như Đức Giáo Hoàng châm biếm và chê bai Phật giáo mà không tìm cách để hiểu Phật giáo. Các Phật tử cố gắng làm chứng cho lòng từ bi, nhưng nhiều người không thể không bỏ tất cả các Kitô hữu (hay hầu như tất cả) trong cùng một rọ và coi họ là những người bất khoan dung, ngạo mạn và quá khích, cực đoan. Sự cố ấy cũng gợi lên những tình cảm đau xót của một số Phật tử phương Tây đối với nền giáo dục Kitô giáo mà họ hấp thụ. Cuộc đối thoại đi tới chỗ đó khi tình bằng hữu biến mất. Và cứ mỗi lần một mối quan hệ bị hỏng, thử hỏi có ích gì khi ném cho nhau những lời lăng nhục hoặc nhắc lại những điều xúc phạm đã qua. Còn vô ích hơn nữa khi muốn tranh luận về ý nghĩa của những từ ngữ gợi ra vấn đề – ví dụ niết bàn, không tính và giác ngộ – khi mà thiện chí, lòng tin cậy và tình bằng hữu chưa được kiến tạo lại hoàn chỉnh. Cuốn sách này muốn này muốn đóng góp phần nhỏ vào việc phục hồi tình bằng hữu.

Sự châm biếm luôn luôn dựa trên việc tách rời những chi tiết định tính để làm hiện ra những đường nét có thể nhận ra tức khắc. Vả lại các tôn giáo châm biếm lẫn nhau giống y như các họa sĩ vẽ tranh châm biếm. Đối với nhiều Kitô hữu, Phật giáo là một tôn giáo tin ở khả năng hành xử theo một luân lý duy lý. Luân lý này không do một Thiên Chúa ngôi vị hoặc do sự sợ hãi hình phạt thúc đẩy, nhưng do ước muốn có được sự tái sinh thiện hảo nhất trong một chuỗi có vẻ như vô tận của các lần tái sinh. Bảng tóm tắt của Kitô hữu về Phật giáo cho chúng ta hiểu rằng người ta đạt đến mức thiện hảo ấy khi từ bỏ thế gian và những tình cảm của riêng mình. Một sự biếm họa như thế không hề biết đến các cuộc tranh luận triết học vừa tinh tế, vừa phức tạp mà truyền thống Phật giáo đưa ra để mổ xẻ các yếu tố ấy. Chưa kể biếm họa ấy bỏ qua không đề cập đến vị trí trung tâm của lòng từ bi.

Nói một cách triết học, Phật giáo là một trong số những thể hiện cao nhất của tinh thần nhân loại. Triết học Phật giáo dựa trên một toàn bộ các nguyên lý được thừa nhận như tứ diệu đế. Tuy nhiên nhiều trường phái đã xuất hiện nhất là trong nội bộ của Phật giáo Tây Tạng, duy trì các mối quan hệ phức tạp làm cho toàn bộ Phật giáo là một kiệt tác trên bình diện của sự đa dạng hóa các quan điểm nhân loại. Đức Đạt Lai Lạt Ma là một triết gia hiện đại hoàn hảo nhất trong số các triết gia hoàn hảo của nhiều trường phái Phật giáo và như cuốn sách của ngài The World of Tebetan Buddhism (Nhà xuất bản Wisdom, 1995) cho thấy rất rõ, ngài không chỉ có thiên tư để hiểu biết, lãnh hội, mà còn thiên tư trình bày trong sáng, rõ ràng. Trong cuộc hội thảo này, nhiều lần ngài nhắc lại rằng, các lời giảng giải của ngài nằm trong một quan điểm Phật giáo đặc thù, đồng thời còn có các quan điểm khác phải lưu ý đến – một số rất phức tạp và đối lập với quan điểm của ngài. Cuốn sách này muốn góp phần phát triển cuộc đối thoại bằng nhiều cách, nhất là lôi kéo sự quan tâm – dẫu là sơ lược – đến nhiều truyền thống khác nhau của mỗi tôn giáo.

Những phương ngữ nội tại trong Kitô giáo chắc chắn không phải là ít. Một tôn giáo dung nạp trong nội bộ một phong trào như Opus Dei và một bộ trưởng như Đức ông Ian Paisley có xu hướng đồng phục hóa tất cả. Hơn thế nữa, cuốn sách này xin được nhắc nhở các bạn Phật tử một sự kiện mà nhiều Kitô hữu hôm nay luôn ý thức. Đó là “Giáo Hội” một từ ngữ rất tổng quát. Nó có thể chỉ một kiến trúc lạnh lùng dành cho một buổi sáng chủ nhật có mưa rơi ; một tôn giáo toàn cầu ; một truyền thống thần bí ; một cơ thể tâm linh với những chiều kích lịch sử dàn trải từ thượng nguồn đến hạ nguồn kể từ khi Đức Giêsu được sinh ra ; hoặc nhóm văn hóa trong đó tôi đã sinh ra, lớn lên và giờ đây, tôi còn giữ những tình cảm dịu dàng. Đã hẳn chúng ta không thể hoàn toàn tách rời Kitô giáo cơ chế với Kitô giáo tâm linh, cũng như không thể tách rời hình thức với nội dung hoặc thể xác với tinh thần. Tuy nhiên điều quan trọng là phải duy trì sự phân biệt. Lịch sử cho ta nhiều ví dụ về những Kitô hữu ở ngoài Giáo hội cơ chế nhưng biết rất rõ rằng mình thuộc về Giáo hội.

Trong trường hợp ấy, ai có thể thật sự nói “nhân danh” Kitô giáo hoặc “nhân danh” Phật giáo ?

Căn cứ vào tính chất đa dạng đó, làm thế nào để cuốn sách này có thể đề ra một kiểu mẫu để thực hiện và định hướng lại cuộc đối thoại Phật giáo – Kitô giáo ? Hơn thế nữa, một kiểu mẫu có thể áp dụng cho đối thoại nói chung : giữa công giáo và tin lành, đại thừa và tiểu thừa, cánh tả và cánh hữu, đàn ông và đàn bà, giữa người thuộc mọi sắc tộc và mọi nền văn hóa.

Những tham vọng khiêm nhường

Trong thời gian tham gia cuộc đối thoại, trước hết chúng tôi phải giữ sự khiêm nhường trong các tham vọng. Đức Đạt Lai Lạt Ma không có tham vọng hoặc ý định giải thích toàn bộ Phúc Âm, giáo huấn và cuộc đời Đức Giêsu, hoặc các chân lý sâu xa của đức tin Kitô giáo như sự Sống lại và Thánh Linh. Sự tiếp cận của ngài có tính thăm dò chứ không phải là chung cuộc, và ngài mở rộng phương pháp ấy để đối thoại với nhóm Kitô hữu được mời đến để tranh luận. Chính trong lúc tìm kiếm chân lý mà người ta tìm thấy sự soi sáng, chứ không phải lúc phát biểu chân lý. Cũng thế, Thánh Benoit định nghĩa tu sĩ là người “thật sự tìm kiếm Thiên Chúa”. Trong quá trình đi tìm, người ta luôn luôn khám phá một điều gì đó. “Hãy tìm và các con sẽ thấy ; hãy gõ cửa người ta sẽ mở cho các con”. Khi đọc Kinh Thánh với một con tim sẵn sàng đón nhận, chúng ta dễ dàng vượt qua chủ nghĩa bi quan khô cứng của thời hiện đại đang tìm cách phá hủy tinh thần. Có một cái gì đó phải tìm, nhưng chỉ trong lúc đi tìm mà người ta mới khám phá ra. Thánh Grégoire de Nysse diễn tả điều ấy như sau : “Tìm kiếm Thiên Chúa, đó là thấy Người ; thấy Thiên Chúa, đó là tìm kiếm Người.”

Một trong những nhà tư tưởng Kitô giáo đầu tiên, Thánh Irénée nói rằng chúng ta không bao giờ có thể biết được Thiên Chúa như một đối tượng hay một thực tại bên ngoài chúng ta. Chúng ta chỉ biết Thiên Chúa trong khi tham dự vào sự hiểu biết Thiên Chúa bằng chính Thiên Chúa. Các nhà thần học đầu tiên ấy trình bày những suy tư của họ về Thiên Chúa, về mầu nhiệm của Đức Kitô từ kinh nghiệm thần bí của bao dung thể – hay tính bất nhị – của Thiên Chúa. Họ diễn tả điều mà cầu nguyện chứ không phải tư duy đơn thuần đã dạy họ, giống như các nhà thần học kiệt xuất hôm nay vẫn làm. Cuộc đối thoại trong bối cảnh ấy và với các vị như thế trở nên dễ dàng, lưu loát và linh động. Chân lý được cảm nhận như hiển lộ ra trong ánh sáng xuất hiện khi mây mù của vô minh, thành kiến và sợ hãi đã bị xua tan ít là trong giây lát. Chân lý trong tiếng Hy Lạp alètheia, có nghĩa rõ ràng là một sự soi sáng. Sự tìm kiếm ấy chỉ có thể là một cuộc hành trình đi lên từng bước một, từng lúc một. Nó bao hàm ý không bao giờ để mất đi sự quân bình tế nhị vốn có của tình bằng hữu và nhất là sự quân bình giữa lời nói và sự lắng nghe. Vẫn còn thiếu các dự án lớn nhằm phiên dịch Phật giáo sang ngôn ngữ Kitô giáo hay ngược lại. Từ đầu đến cuối, sự khiêm nhường của các tham vọng nằm trong các giờ tranh luận của cuộc hội thảo. Đối thoại không phải là phiên dịch. Nhưng một người phiên dịch giỏi như Geshe Thupten Jinpa, luôn có mặt để nhắc nhở cho các bên đối thoại rằng không phải họ đang soạn thảo một cuốn từ điển.

Một khía cạnh khác của đức khiêm nhường xác định cách tiếp cận của Đức Đạt Lai Lạt Ma khi ngài thừa nhận chưa có kinh nghiệm. Trước hết, ngài tuyên bố biết rất ít về Phúc Âm và thần học Kitô giáo, nhưng vẫn ước ao học hỏi. Ngài hy vọng không làm phiền lòng ai, và chắc chắn không muốn lung lạc đức tin của các Kitô hữu tham dự cuộc hội thảo. Không dễ gì thừa nhận một khiếm khuyết của khiến thức bởi lẽ một lời thú nhận như thế đối với chúng ta dường như dễ bị tổn thương, vô vị hay bạc nhược. Nếu tri thức là sức mạnh thì vô tri là sự yếu đuối. Nhưng nếu trước khi khai mào cuộc đối thoại chúng ta thừa nhận những giới hạn trong kiến thức thì nhiều đức tính có thể triển nở. Trước tiên là lòng trông cậy. Chúng ta không còn sợ bị xúi dục hoặc tuyên truyền. Lúc đó chúng ta có thể bỏ bớt sự phòng vệ của chúng ta. Do đó thừa nhận mình thiếu kinh nghiệm chắc chắn tạo thành bước đầu của bất bạo động. Nhưng khiêm nhường trong đối thoại còn có một đức tính khác : nó giải phóng tính tự phát. Cởi bỏ nhu cầu chứng tỏ mình rất thông minh và học thức – cơn cám dỗ của các nhà bác học và các chuyên gia – chúng ta có thể ứng xử thoải mái và tức thời với sự việc diễn tiến. Đó chính là điều xảy ra trong cuộc gặp gỡ này. Đức Đạt Lai Lạt Ma không biết nhiều về Phúc Âm, nhưng sự nghiên cứu Phật giáo, sự thực hành trong tu viện và hành trình tâm linh đã dạy ngài rất nhiều. Vả lại kiến thức ấy đã cho phép ngài đối ứng với các biểu tượng và ý tưởng Kitô giáo như thể ngài hiểu biết thật sự.

Do đó, cử tọa Kitô hữu đã ngạc nhiên công nhận rằng một Phật tử có thể giúp đỡ họ lĩnh hội và tiếp cận lại các bản văn và trần thuật mà nhiều người đã học từ khi còn thơ ấu. Nhiều lần, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc lại rằng ngài không khuyên ai cải giáo – thế đó, ngài tôn trọng quyền chọn lựa tôn giáo của mỗi người. Ngài nói tốt hơn hết là tái khám phá ý nghĩa sâu xa và sức mạnh trong truyền thống tôn giáo của riêng mình. Phải nói rằng thật ngạc nhiên biết bao khi thấy một Phật tử giúp các Kitô hữu gắn bó hơn với đức tin của họ và soi sáng nó đơn giản chỉ bằng cách đối chiếu với niềm tin Phật giáo – ngay cả những đối lập rành rành hoặc những ý tưởng không thể dịch ra được nổi lên giữa hai tôn giáo. Sở dĩ được như thế bởi vì cuộc đối thoại có tính chất thăm dò chứ không phải để khoa trương. Cường độ đối thoại đã cổ vũ Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ngài không làm ra vẻ hiếu kỳ và đã lắng nghe cẩn thận các câu hỏi. Điều cảm động nhất là thấy ngài lắng nghe ; sự hiếu tri và quan tâm của ngài thực sự chân thành. Đúng ra, cuộc đối thoại giống với một vở kịch của sân khấu thử nghiệm hơn là một vở nhạc kịch trình diễn hoàn hảo trên sân khấu Broadway. Một đôi khi cuộc đối thoại chựng lại, khi khác lại thông suốt. Cần phải tham gia hết mình, bởi lẽ nó không giống như một bộ máy vận hành, cũng không có gì là giáo điều. Trong khi trao đổi, cần phải đưa những ý tưởng của mình ra, thậm chí chịu mất chúng để từ đó rút ra những chân lý sáng ngời.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đặt ra nhiều câu hỏi. Trước mỗi buổi họp, tôi và ngài gặp nhau riêng để chuẩn bị các bản văn Phúc Âm trong sự tĩnh lặng, các bản văn mà ngài phải chú giải trong vòng một giờ. Ngài lắng nghe tôi giải thích về bối cảnh, về một số thuật ngữ và những từ quan trọng. Cho dù ngài không quen với Phúc Âm, như ngài thường nói thì sự tiếp thu kỳ diệu và nhiệt tình trí thức muốn thiết lập mối liên hệ với những ý tưởng mới đã bù đắp lại còn nhiều hơn những điều ngài chưa biết. Tôi chợt nghĩ đến một từ mà Thánh Grégoire Cả nói về cuộc đời của Thánh Benoit được thuật lại trong cuốn Cuộc Đời. Ngài nói, Thánh Benoit đã từ giã học đường để bước vào cuộc sống ẩn tu trong một tình trạng vô tri hiền triết.

Văn hóa và trí thức của Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn luôn được giữ kín. Ngài không phô trương nhưng sử dụng chúng khéo léo trong việc đi tìm chân lý. Các Kitô hữu có thể nhận thấy điều đó khi ngài chỉ ra cho họ những ý nghĩa và những điều tinh tế của Phúc Âm mà trước đây họ chưa từng biết. Nhờ ngài, họ làm phong phú và đổi mới đức tin một cách làm cho họ tràn đầy sự ngạc nhiên thán phục và tri ân. Nếu tri thức là sức mạnh thì tri thức của ngài khi tìm hiểu Phúc Âm đã tạo ra một sức mạnh thấu thị ; ngài không bao giờ tìm cách dùng sức mạnh ấy để điều khiển. Ngài không tranh luận với các Kitô hữu về ý nghĩa của Phúc Âm. Ngài đưa ra cách đọc của ngài, không hề bị trói buộc khi bàn luận với họ và để cho họ được tự do làm theo ý họ muốn.

Sự giống nhau và khác nhau

Một trong những “công cụ của các hành động thiện hảo” (tương đương với các phương tiện khéo léo của Phật giáo) do Thánh Benoit ấn hành trong Luật dòng là “chớ ban phát một nền hòa bình giả mạo”. Cũng thế, trong cuộc đối thoại điều quan trọng là vừa phải tránh nguy cơ của một tình bằng hữu giả mạo vừa phải tránh những cạm bẫy của sự châm biếm làm cho sai lệch hoặc của sự phán đoán làm hạ thấp giá trị. Trong khi nghiên cứu các ngôn ngữ, một số từ có hình thức giống nhau, nhưng ý nghĩa rất khác nhau được gọi là những từ đồng hình dị nghĩa (faux amis). Trung thành với nguyên tắc về tình bằng hữu chân thật, cuộc hội thảo đã tôn trọng những điểm khác nhau cũng như giống nhau trong các tín ngưỡng và thái độ của những người tham dự.

Trong cuộc đối thoại giữa hai tôn giáo, người ta rất dễ bị cám dỗ tìm sự trú ẩn trong những khái niệm tổng quát. Bằng cách đó, hai bên tránh được sự đối đầu để có thể chúc tụng nhau nồng nhiệt ở phút chia tay. Cách nay vài năm, tôi đã nhận thấy sự kiện ấy trong cuộc gặp gỡ ở Canada giữa các Kitô hữu và Phật tử thực hành việc tĩnh tâm thiền định. Chúng tôi bàn luận về hành trình cá nhân của mỗi người, về động cơ đã thúc đẩy mỗi người theo con đường đó và các phương tiện giúp thực hành lâu dài. Cuộc bàn luận kể ra cũng hữu ích và hào hứng nhưng tôi cảm thấy phần đóng góp của chúng tôi quá thận trọng. Chúng tôi chưa vận dụng những gì quý giá nhất và độc đáo nhất của mình.

Cũng thế, thay vì tổ chức cuộc hội thảo với một chương trình đã được tiên liệu, tôi chỉ yêu cầu nói về Chúa Giêsu. Tôi cảm thấy thái độ của tôi làm người ta nghi ngại, sợ rằng sẽ đánh mất sự đồng tâm nhất trí. Tôi lo lắng bởi lẽ các Kitô hữu ngày nay ở vào thời kỳ hậu chủ nghĩa tư bản dễ cảm thấy một tình cảm phạm tội, nhất là khi đối diện với những người mà ta có thể tìm thấy những điểm nhất trí với họ nhưng họ đã “từ bỏ Giáo hội” vì tức giận hay bực mình trước những khiếm khuyết thuộc bản chất con người của Giáo Hội. Tuy nhiên, với tư cách của một Kitô hữu, dường như tôi không thể nói sự thiền định có ý nghĩa gì đối với tôi nếu tôi cũng không nói đến Đức Giêsu và vị trí của Người trong đời tôi. Trong cách thức mà tôi thăm dò mầu nhiệm của Đức Giêsu và sự hiện diện thật của Người trong đời tôi, việc thiền định có tầm quan trọng đến nỗi theo tôi sẽ là một việc bình thường khi nói về mối quan hệ riêng biệt đặc thù giữa một Kitô hữu với Đức Giêsu chứ không phải chỉ với Thiên Chúa và Chân Lý nói chung. Tôi nhận thấy rằng nếu tôi đứng lên và tuyên bố “Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu độ tôi” thì có nguy cơ tôi làm cho cử tọa có thái độ lạnh nhạt ngay. Vả lại, tôi không muốn giới thiệu Người theo cách đó.

Điều tôi quyết định phải chia sẻ là ý nghĩa và giá trị của ngôi vị Đức Giêsu mà không tự giới hạn trong những ý niệm của Kitô giáo. Tôi biết rằng khi làm như thế là tôi đã hướng sự chú ý của mọi người đến một trong những điểm khác nhau chủ yếu giữa các Kitô hữu và các Phật tử có thực hành thiền định. Nhưng tôi tin chắc rằng biết và thừa nhận khoảng cách phân rẽ chúng tôi chỉ có thể làm cho chúng tôi đến gần nhau hơn. Thật vậy, bầu khí của tình bằng hữu mà chúng tôi đã sử dụng sau cùng đã trở nên sâu sắc và mạnh mẽ. Giống như điều thánh Aelred đã ghi nhận, tình bằng hữu phải thường xuyên chịu thử thách nếu người ta muốn nó một lúc nào đó đạt đến sự hoàn thiện.

Giá trị của sự khác nhau

Cuộc hội thảo là một cơ hội để Đức Đạt Lai Lạt Ma giúp chúng tôi hiểu ra giá trị của sự khác nhau một cách tức thời và không chút ngần ngại. Ngay từ đầu, ngài đã cho chúng tôi biết rằng mục đích của ngài không phải để góp phần thành lập một tôn giáo tổng hợp và phổ quát. Ngài không tin có thể tạo ra một tôn giáo duy nhất, phổ quát, nhưng ngài tin vào sự tôn trọng được đẩy đến mức tôn sùng những đặc tính riêng của mỗi tôn giáo. Trong khi có những Kitô hữu đề cao quan điểm chính thống, nhiều người khác tham gia các phong trào tự do và thừa nhận ý tưởng tôn trọng các truyền thống của nhau đó, tuy nhiên với những lý do khác hẳn với các lý do của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Nhiều lần, ngài nhấn mạnh đến sự kiện ngài là một Phật tử. Thật vậy, có khi ngài cảm thấy cần phải nhắc lại điều ấy với chúng tôi (và có lẽ, với cả chính mình). Dù lúc nào, ngài cũng cảm thấy mình thật sự là một Phật tử trọn vẹn nhưng khi nhận thấy những sự hòa hợp thật sự và mạnh mẽ giữa những lời giáo huấn của Đức Giêsu và Đức Phật, ngài tinh tế nhận ra cạm bẫy của một số từ được xác định là đồng hình dị nghĩa (những người bạn dỏm : “faux amis”). Lúc đó, ngài nhắc đến tầm quan trọng của việc tìm hiểu kỹ lưỡng cùng lúc ý nghĩa những điểm dị đồng tùy theo các nhu cầu tinh thần và tâm lý của các tín đồ của mỗi tôn giáo. Con người có những nhu cầu khác nhau mà các điểm đặc thù (“khác nhau”) của mỗi tôn giáo có thể đáp ứng. Khẳng định này dường như hoàn toàn có thể chấp nhận được, có tính khoan dung và tính tự do. Nhiều người nhận thấy ở đó thái độ phù hợp với tính đa nguyên toàn cầu của thiên niên kỷ sắp đến. Tuy nhiên nó cũng gặp không ít khó khăn trầm trọng.

Dĩ nhiên, một hành giả đã hoàn thiện ở mức độ cao hay một con người thánh thiện có thể thực hiện trình độ khoan dung ấy một cách chân thành. Dù sao đối với nhiều người trong chúng ta, trong thực hành luôn luôn có một nguy cơ tách rời điều mà chúng ta nghĩ rằng mình tin với điều mà chúng ta cảm nhận và tin thật sự. Sau hết, nếu chân lý của các tôn giáo khác nhau chỉ được đo lường bằng khả năng đáp ứng các nhu cầu tâm lý của một cá nhân thì người ta tính sao với tính chất toàn diện của Chân lý tuyệt đối ? Nếu Phật giáo và Kitô giáo chỉ đáp ứng những điều kiện chủ quan nơi người tín hữu, thì làm sao có thể tự hào nói lên Chân lý và cái phổ quát ? Tôi đã nêu vấn đề ấy về thuyết tương đối của tôn giáo ra với Đức Đạt Lai Lạt Ma, và ngài đã trả lời tôi rằng chính trong nội bộ của Phật giáo, có những trường phái tư tưởng chấp nhận các chân lý tuyệt đối khác nhau có thể đồng thời tồn tại. Chúng tôi đã không đào sâu vấn đề đó, có lẽ bởi vì chúng tôi nhận thấy rằng chúng tôi đề cập đến một lãnh vực đòi hỏi kỹ năng cao về triết học nhưng không nhất thiết là con đường đem lại sự phong phú cho cuộc đối thoại. Chúng tôi cười xòa và đi qua một đề tài khác.

Dù sao từ vấn đề ấy, một mối thắc mắc lảng vảng xuất hiện trong lòng cuộc đối thoại. Ví dụ như các Kitô hữu thường lo lắng rằng một sự khoan dung toàn diện sẽ lấn át đức tin. Thừa nhận hành vi của Phật tử tìm an trú trong Đức Phật là chân lý phải chăng làm tổn hại đức tin của chúng ta trong chính bản chất của Kitô giáo được hiểu như một lời mời gọi trở thành môn đệ của Đức Giêsu ? Có phải Đức tin vào Đức Kitô là một con đường dẫn đến Chân lý và niềm tin vào Đức Phật là một con đường khác ? Jung nghĩ như thế khi ông khẳng định mỗi tôn giáo trình bày Chân Ngã cho phương Tây và phương Đông. Nhưng các Kitô hữu sẽ nói điều này làm tổn hại đến ý tưởng trung tâm về sự Nhập thể trọn vẹn của Thiên Chúa nơi con người của Đức Giêsu. Trong thân xác ngài, thiên tính trọn vẹn đã đến cư ngụ.

Nhưng thừa nhận chân lý cũng có nơi Đức Phật, Môi-sê hay Lão Tử có làm tổn hại đến sự hiểu biết của Kitô hữu về Đức Giêsu không ? Các giáo phụ đầu tiên cũng chính là những người đầu tiên tham gia cuộc đối thoại giữa Tin Mừng và các tôn giáo khác, và ngay từ đầu họ phải đối phó với vấn đề “tính chất độc nhất”. Cuộc đối thoại đã là cái đe trên đó các giáo phụ đã tôi luyện đức tin của mình bằng những từ ngữ khái niệm. Vì họ đối diện với các hệ thống tôn giáo đã được thiết lập, Do Thái và Hy Lạp, và vì họ tôn trọng sâu sắc công trình của các triết gia tiền Kitô giáo, cuộc đối thoại đã là con đường bắt buộc để đào sâu đức tin chứ không phải để pha lỗng đức tin. Người ta có thể tiếc rằng lịch sử đã không đem lại cho các giáo phụ cơ hội để đối thoại với các Phật tử : các bên đối thoại của họ là người Hy Lạp và người Do Thái. Sự tiếp cận của Kitô giáo đã không phủ nhận cũng không đánh giá thấp chân lý đã được khám phá và diễn tả trước đó trong các truyền thống ấy. Trái lại, họ suy nghĩ về những mối liên kết giữa chân lý đó với chân lý mà họ thấy nhập thể trong Đức Giêsu. Trên cơ sở của cuộc đối thoại, cho phép họ đào sâu và làm sáng tỏ trực giác của họ về Đức Giêsu và về Tin Mừng mà nền thần học to lớn về Logos đã được xây dựng.

Trước cả Platon, Héraclite d’Éphèse khẳng định rằng Logos là sự khôn ngoan hình thành và cai quản mọi sự. Đó là lý thuyết hợp nhất duy nghiệm bàn về mọi sự. Phúc Âm của Thánh Gio-an đã đặc biệt cho phép các Kitô hữu đầu tiên đáp ứng bằng việc đánh giá tích cực khái niệm ấy và sau cùng đã xuất hiện sự Nhập thể của Logos (Ngôi Lời) trong Đức Giêsu, và hệ quả của điều này không phải để làm giảm bớt hoặc thủ tiêu những sự hiển linh tiền hoặc phi-nhập thể của Chân lý. Trái lại, một nhận thức rõ ràng về Đức Giêsu đã mở ra những cánh cửa trực giác cho phép nhìn thấy Logos tỏ tường hơn, có lẽ ở những điểm mà trước đây người ta không thấy. Vậy thì có những cách biểu hiện khác nhau của Logos, những cách diễn tả khác nhau của Chân lý, những phương ngữ của cùng một ngôn ngữ. Chấp nhận những điểm khác nhau (lòng khoan dung) và khẳng định tính duy nhất (đức tin) có vẻ trái ngược nhau. Nhưng cả hai là hai bộ phận của nỗ lực phải hoàn thành để đạt đến hòa bình và sự hợp nhất giữa các dân tộc. Sự nhầm lẫn thường ẩn núp đàng sau sự đồng phục. Những con đường tâm linh khác nhau sẽ luôn luôn thuộc về những con người biểu lộ trong tính đa dạng của họ cũng như tính độc nhất của chân lý. Chỉ có một chân lý, một thiên tính duy nhất. Một lời, nhưng nhiều phương ngữ.

Vấn đề của lòng khoan dung

Người ta có thể chấp nhận ý tưởng có những chân lý tuyệt đối cùng tồn tại, nhưng điều này không làm cho công việc hàng ngày với các tín đồ có đức tin khác nhau dễ dàng hơn. Ngay cả với cách trình bày vấn đề của lòng khoan dung như sau đây thì những khó khăn vẫn còn đó.

Những người không phải là Kitô hữu có thể có cảm tưởng rằng Kitô giáo tìm cách chụp mũ tất cả các tôn giáo khác bằng việc nhấn mạnh tính chất độc nhất của sự Nhập thể. Do Thái giáo đúng, nhưng là tiên tri. Kỳ Na giáo đúng nhưng là thần bí. Triết học đúng nhưng thuộc về trí óc. Phật giáo đúng nhưng thuộc về tâm thức. Đức Kitô đúng vì Người là sự nhập thể trọn vẹn của thiên tính xuống với nhân loại. Nhiều Kitô hữu sử dụng các từ ngữ cô đọng ấy để diễn tả đức tin của họ, hoặc tin vào ý niệm ấy cho dù họ diễn tả ra bằng lời hay không. Thật vậy, điều này tạo nên sự độc nhất và khác biệt của Kitô giáo chính thống : Tin thật sự rằng Đức Giêsu là sự nhập thể của thiên tính. Những hình thức ngôn ngữ dùng để diễn tả các tín ngưỡng ấy thường xuyên được đổi mới, do ảnh hưởng của cuộc đối thoại giữa những người tin tưởng và phát biểu khác nhau. Nhưng trong cuộc đối thoại ấy, Kitô hữu nhận ra sự hiện diện của Logos, tôn kính mọi biểu hiện của Chân lý như là những sự hiển linh của tình yêu Thiên Chúa. Tuy nhiên, những cuộc trao đổi ấy bằng con đường ngôn ngữ, có một kinh nghiệm sống thực đi kèm theo, và kinh nghiệm sống này vượt qua ngôn ngữ và tư tưởng. Trong kinh nghiệm sống thực ấy, chính là sự im lặng, sự độc nhất và khác biệt, cũng như mọi cặp ý niệm đối lập khác trở nên đồng nhất : chúng liên kết với nhau trong một thể thống nhất tôn trọng và hoàn tất sự khác biệt, đồng thời vượt qua sự chia rẽ. Đó là tình yêu.

Lòng khoan dung và sự đối thoại cũng là một thử thách đối với Phật giáo. Phật giáo tự hài lòng về vấn đề lòng khoan dung theo cách của riêng mình và làm như thế cũng không tránh khỏi nguy cơ của lòng khoan dung tinh vi. Khi một Phật tử, và có lẽ nhất là một Phật tử phương Tây tuyên bố rằng mọi tôn giáo có thể hòa hợp với nhau vì chúng tương ứng với các nhu cầu khác nhau của con người hoặc của tâm lý các cá nhân, nhiều người sẽ nói thêm hoặc suy nghĩ đến “những giai đoạn phát triển khác nhau của họ”. Đàng sau đó, người ta cảm thấy xuất hiện xác tín mà tôi chưa bao giờ cảm thấy nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma trong các cuộc bàn luận công khai hoặc riêng tư của ngài. Đó là khái niệm về một Thiên Chúa ngôi vị có thể được chấp nhận nhưng nó chỉ đại diện cho một giai đoạn chưa chín muồi và có lẽ còn cổ lỗ của sự phát triển tâm linh. Nó giống như cái bánh xe thứ ba của chiếc xe đạp trẻ em giữ cho khỏi ngã.

Thần học công giáo cũng thừa nhận nguy cơ của một tình trạng ấu trĩ được gọi là thuyết nhân hình hóa. Nó thừa nhận rằng thực ra có những giai đoạn trong đức tin đi đôi với một quá trình hiểu biết thành thục biểu tượng về Thiên Chúa. Những ai có đức tin phải chiến đấu chống lại việc tôn thờ thần tượng và sự mê tín trước khi đạt đến mầu nhiệm Thiên Chúa siêu việt. Đức Đạt Lai Lạt Ma dường như chấp nhận rất tự nhiên Thiên Chúa siêu việt đó nhưng vẫn hoàn toàn để mở ngõ vấn đề “bản tính của Cha”, như ngài đã vừa nói vừa cười trong cuộc trao đổi với chúng tôi, khi vấn đề ấy làm cho người ta bối rối. Trong ước muốn cởi mở ấy, ngài đã không ngần ngại dùng từ Thiên Chúa, xuất hiện nhiều lần với sự uyển chuyển trong cuộc thảo luận với chúng tôi.

Mục đích của cuộc đối thoại là trở nên im lặng

Nếu mục đích của cuộc đối thoại là đưa ra nhiều câu trả lời xung quanh những câu hỏi nhạy cảm về sự dị biệt và tương đồng thì sự gặp gỡ của cuộc hội thảo này đã thất bại. Nhưng đối thoại có một mục đích khác. Nó có dự tính làm sáng tỏ cùng một lúc những tương ứng và dị biệt trong niềm tin ngõ hầu chiến thắng các sức mạnh độc hại do ảo tưởng, sợ hãi, giận dữ và kiêu ngạo len lõi ẩn nấp trong các khe hở chia rẽ con người với tôn giáo của nó. Về phương diện này, mục đích của cuộc đối thoại liên tôn khác với các cuộc đối thoại giữa các đối thủ chính trị hoặc kinh tế nỗ lực tìm kiếm một giải pháp thực hành được mọi người chấp nhận. Trong tôn giáo, có khi người ta cũng tìm ra những lời giải đáp thuộc loại này, nói chung chúng rất nguy hiểm. Chúng giống như những từ ngữ đồng hình dị nghĩa sẽ quay lưng chống lại các bạn ngay khi những khó khăn thật sự xuất hiện.

Cuộc đối thoại không chỉ làm sáng tỏ những điểm tương đồng và dị biệt giữa các tôn giáo mà còn chỉ ra những sức mạnh ẩn nấp bên trong làm cho các tôn giáo trở thành những đối thủ không thể khoan nhượng. Trong lịch sử của sự khoan dung và bách hại tôn giáo, Phật giáo cũng như Kỳ Na giáo ít làm hại ai như Kitô giáo trong thành tích của mình. Tôn giáo mặc dù không cản trở ai, những hình thức của lòng khoan dung cũng đa dạng, một số nặng về chính trị, một số nặng về tâm lý, nhưng tất cả đều bám rễ trong sự chuyên chế của cái tôi (ngã) cá nhân. Nó bám víu dai dẳng vào tính đặc thù của ngã trong khi vẫn hoàn toàn tránh né sự thách đố do việc chấp nhận tính độc nhất của nó gây ra. Những sức mạnh được sử dụng là sự vô tri và sợ hãi. Chúng ta càng không biết về một nhóm khác hoặc một cá nhân khác, chúng ta càng có nhiều dịp quy chiếu lên họ những tình cảm và thiên kiến tiêu cực nhất của chúng ta.

Khi Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê lần đầu tiên xuống thuyền ở Ấn Độ để rao giảng Tin Mừng, ngài chỉ thấy nơi các tín đồ Hindu, những con người gian ác. Ngài không biết gì về kinh Vệ Đà, cũng không biết kinh nghiệm thần bí tiềm ẩn trong tôn giáo của đại chúng. Một người phương Tây ngày hôm nay đi lạc vào giữa ngôi đền đạo Hindu có thể vẫn còn sợ bị chinh phục bởi sức mạnh của các nghi thức và các bài thánh ca đánh động vào cảm giác. Ngược lại, khi một người gần như đồng thời và cùng dòng Tên với Phan-xi-cô Xa-vi-ê, tên là Matteo Ricci, khi đến Trung Hoa đã mau chóng hiểu ra rằng đối thoại và hội nhập văn hóa là những phương tiện tốt nhất đem lại sự thành công cho việc truyền giáo. Các bề trên ở Rôma không tán thành thái độ của Ricci đã triệu hồi ông về và đánh mất một cơ hội tuyệt vời cho cuộc đối thoại Đông Tây. Ngày nay chúng ta thấy những tình huống tương tự với sự có mặt của những người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau, và chúng ta cũng nhận thấy cũng có nhiều câu trả lời cho các tình huống đó. Nhưng khi nhận ra giá trị của việc đối thoại và giảm đến mức tối thiểu tính ngạo nghễ ích kỷ của một niềm tin có dụng ý, có lẽ chúng ta sẽ dễ dàng hơn tổ tiên chúng ta để hạn chế những thiên kiến, thường là vô thức và sửa chữa chúng bằng sự im lặng. Đối với chúng ta, điều đó dễ dàng hơn bởi lẽ chúng ta tự biết mình nhiều hơn. Việc đối thoại cũng cần thiết hơn bao giờ hết – và đối thoại trong sự im lặng.

Chắc chắn rằng, nếu người ta muốn lòng khoan dung giữa các tôn giáo phát triển thì phải có thêm nhiều Kitô hữu tiếp thu tốt nhất các bản văn quan trọng của những truyền thống khác. Việc đọc cuốn Bhagavad Gita hay Dhammapada cũng có thể thay đổi cách đọc Kinh Thánh Kitô giáo của họ (chừng nào họ vẫn còn đọc Kinh Thánh). Về phía mình, những Phật tử cũng không tránh khỏi thách đố chạy theo vô minh và thiên kiến. Ở Châu Á, Kitô giáo đôi khi còn bị liên kết với những kỷ niệm đau buồn của chủ nghĩa đế quốc phương Tây hoặc với chủ nghĩa đế quốc kinh tế hiện đại. Ở phương tây, nhiều Phật tử, nhất là những người được giáo dục trong môi trường Kitô giáo, khổ nỗi, cũng chỉ có được một sự hiểu biết sai lạc, không ra gì về Kitô giáo. Vì thế, người ta dễ dàng ném các lỗi lầm của mỗi lần xưng tội lên chính đức tin Kitô giáo.

Một vài từ ngữ để đối chiếu

Nếu chúng ta là Phật tử hay Kitô hữu theo ý nghĩa trọn vẹn của danh xưng không phải chỉ bởi điều mà chúng ta tin, nhưng còn bởi phẩm chất của những hành động và sự làm chứng của chúng ta. Theo nghĩa này, có những Kitô hữu là những Phật tử tốt lành hơn cả các Phật tử, bởi lẽ họ thực hành sự định tâm với nhiều sự trang nghiêm hơn hay có một cái nhìn thấu suốt hơn về bản chất vô thường của các sự vật. Cũng có những Phật tử vượt qua các Kitô hữu trên mảnh đất của riêng mình, bởi lẽ họ đem đức bác ái ra thực hành chứ không chỉ bằng lòng nói về nó. Ở mức độ chính danh ấy, thì kinh nghiệm cá nhân và sự thánh thiện quan trọng hơn các hệ thống khách quan của niềm tin và những điểm tinh tế của triết học hay thần học. Sự so sánh giữa triratna, tức Tam bảo của Phật giáo với Ba ngôi, hoặc giữa dharmakaya và Thánh-Linh của các Kitô hữu, có thể đưa đến những cuộc đối thoại mà một số người sẽ cảm thấy vô cùng thích thú lại không liên quan gì đến đức hạnh và thái độ cá nhân của người tham gia đối thoại.

Anityatà (vô thường), duhkha (khổ não), anàtman (vô ngã), dharmatà (pháp tánh), sunyatà (tánh Không) và tathatà (Như lai) tất cả có thể được đối chiếu với các từ ngữ của Kitô giáo như đức khó nghèo, sự thống hối, sự quên mình, sự sống trong Đức Kitô, tính đơn sơ, Thánh Linh và mầu nhiệm. Tuy nhiên một trong những dụ ngôn của Đức Phật khuyên chúng ta đừng để cho năng lực thực hành tâm linh chuyển hướng sang tư duy lý thuyết. Nếu trong một lúc nào đó được ban phước, chúng ta đạt đến sự xác thực triết lý thì chúng ta cũng sẽ không tới gần Niết bàn hơn cho tới khi sự tra vấn nội tâm được bắt đầu. Trong dụ ngôn, Đức Phật trả lời Malunkyaputta, người đã trách Ngài không nói gì về những đề tài tư biện. Đức Phật hỏi vặn lại nếu một người bị trúng tên có tẩm thuốc độc thì người này có chịu mất thời giờ để tự hỏi ai là cung thủ, tên được bắn từ hướng nào và tẩm chất độc nào ? Chẳng phải người ấy phải mau lẹ nhổ mũi tên ra sao ?

Đức Giêsu trong một phút thần hiệp kể lại trong Tin Mừng đã ngước mắt lên trời và cảm tạ Cha Người đã bày tỏ các mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn và dốt nát nhưng lại dấu kín các mầu nhiệm ấy với những người trí thức và kẻ “khôn ngoan”. Thánh Phao Lô đã khiển trách những Kitô hữu đầu tiên đã mất thời giờ cãi nhau về những từ ngữ thay vì phải minh chứng cho ý nghĩa của các từ ngữ ấy bằng cuộc sống gương mẫu. Phần ngài, ngài nói về sự điên rồ của thập giá, và tránh việc tranh luận triết học với cả những người Hy Lạp uyên bác. Quyền bính của ngài là do Thánh Linh chứ không phải do tài hùng biện. “Chúng tôi lật đổ mọi lý luận, ngài nói một cách tự hào, và mọi sự kiêu ngạo chống lại sự hiểu biết về Thiên Chúa.”

Ở đây, những viễn cảnh của Phật giáo và Kitô giáo về căn bản thì giống nhau. Một mặt có kinh nghiệm, mặt khác có sự suy nghĩ về kinh nghiệm. Nếu các bạn muốn suy nghĩ, cả hai tôn giáo đều khuyên phải sử dụng kinh nghiệm lẫn suy tư, ít ra các bạn phải chắc rằng mình đang suy nghĩ trực tiếp về kinh nghiệm của mình chứ không phải về một kinh nghiệm của một người khác, người này lại suy nghĩ về những kinh nghiệm của một người khác nữa…

Niết bàn và Nước trời không phải là những từ ngữ có thể thay đổi cho nhau được, cho dù hai từ ấy phản ánh một biến cố trong cuộc đời này mà không phải một kinh nghiệm đời sau. Cứu độ và giải thoát một cách chính xác cũng không đồng nghĩa, nhưng cả hai chỉ rõ một mục đích của đời người đòi hỏi sự dấn thân và kiên trì. Phật tử cũng như Kitô hữu phải chuyên chú vào mục đích ấy. Các trở ngại và tật xấu mà họ gặp trên con đường đạo – trong chính họ và dưới hình thức nghiệp hoặc tội lỗi thống trị thế gian – thì đồng nhất về mặt hiện sinh nhưng lại khác nhau về mặt quan điểm. Dẫu sao, một Phật tử kiêu ngạo và sân hận cũng rơi vào sự lầm lạc giống như một Kitô hữu kiêu ngạo và sân hận.