THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglishMirrorsite
.
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA NÓI VỀ CHÚA GIÊSU
Nguyên tác: LE DALAI LAMA PARLE DE JÉSUS Éditions Brepols, Paris. 1996
Người dịch : VĨNH AN nhà XUẤT BẢN: THIỆN TRI THỨC, 2003

PHẦN THỨ BẢY
SỰ TRUYỀN GIÁO
Phúc Âm theo Luca 9, 2-6

“Đức Giêsu tập họp nhóm Mười hai ; Ngài cho họ uy lực và quyền năng trên mọi ma quỷ và quyền chữa các bệnh tật. Ngài sai họ đi rao giảng nước Thiên Chúa và chữa lành những người tàn tật. Ngài nói với họ : “Đi đường các ngươi đừng mang theo gì, không gậy, không túi, không bánh, không tiền, không mang hai áo. Các ngươi đã vào nhà nào, thì cứ ở nơi đó cho đến khi rời khỏi nơi ấy. Nơi nào, người ta không tiếp nhận các ngươi, hãy rời khỏi nơi ấy và phủi bụi khỏi chân để làm chứng cáo tội họ.” Các môn đệ ra đi, từ làng này sang làng khác, loan báo Tin Mừng và chữa lành bệnh ở khắp nơi.” [Luca 9, 2-6]

Đức Đạt Lai Lạt Ma : “Tôi nghĩ rằng đoạn văn này lưu ý chúng ta về một lý tưởng tâm linh rất quan trọng, chung cho mọi tôn giáo. Đó là một người hành đạo tâm linh đạt đến một mức độ thành tựu nhất định sau một thời gian dài thực hành, không được tự mãn với tình trạng ấy. Người hành đạo này trái lại phải cố gắng truyền đạo cho những người khác để họ cũng có thể thực hành kinh nghiệm đạo. Vì mọi sự thực hành tâm linh trong yếu tính là sự thực hành của tình thương yêu, lòng từ bi và độ lượng, một khi các bạn đã có kinh nghiệm sâu sắc về đạo thì tự nhiên các bạn ước mong chia sẻ với người khác.

“Trong Phật giáo, khi chúng ta nói về các giáo huấn hay học thuyết, chúng ta xét đến hai trình độ, hai kiểu mẫu. Một kiểu liên quan đến văn tự, kiểu kia liên quan đến sự thực hiện. Cách tuân thủ lời giáo huấn bằng văn tự là truyền bá bằng giảng dạy và chú giải. Những lời giáo huấn liên quan đến sự thể nghiệm được tuân thủ khi vun đắp kinh nghiệm thực hiện nơi chính mình. Điều rất quan trọng là một cá nhân muốn dạy một người khác giáo huấn liên quan đến sự thực hành phải có kinh nghiệm tối thiểu về điều mình dạy, và phải thành tựu một con đường nào đó trong việc thực hiện tâm linh. Như vậy ở đây sự việc diễn ra khác hẳn với những kiểu mẫu thông tin khác như khi một người kể lại một câu chuyện hay khi một sử gia thuật lại một biến cố của quá khứ. Trong những trường hợp ấy, cá nhân dựa trên kiến thức mình, có thể kể lại các sự kiện mà mình chưa từng sống qua. Nhưng trong trường hợp các lời giáo huấn tâm linh, điều chủ yếu là vị sư huấn giáo phải có mức thành tựu tối thiểu và thể nghiệm bản thân.

“Ở đây, Đức Giêsu nói với các môn đệ không mang theo gì trong cuộc hành trình (truyền giáo), không lương thực, không gậy, không túi xách, không tiền. Có lẽ đoạn văn này quy chiếu vào một lý tưởng tâm linh quan trọng : đơn giản và khiêm tốn. Thật vậy, trong các tu viện Phật giáo một tăng hay một ni được chỉ thị phải luôn tâm niệm không được sở hữu gì và sống nhờ bố thí. Bình bát mà các tu sĩ mang theo được gọi là lhangse có nghĩa là cái bình để nhận cái gì người ta bỏ vào đấy”. Từ ngữ ấy chỉ một tu sĩ sống nhờ bố thí không thể vì cớ gì bày tỏ sự ưa thích đối với thực phẩm người ta cho mình. Một hôm, tôi đã tranh luận với một nhà sư Sri-lan-ka rất uyên bác về sự ăn chay và vị sư ấy đã nói với tôi người ta không thể xếp các tu sĩ Phật giáo vào loại ăn chay hay không ăn chay bởi lẽ họ sống nhờ của bố thí, dù thực phẩm người ta cho là gì cũng phải chấp nhận. Đoạn Phúc Âm này cũng làm tôi nghĩ đến một câu nói của người Tây Tạng : nếu người thiền định ẩn dật còn sống trên núi chưa xuống thì lương thực và thực phẩm sẽ lên núi tới chỗ của người ấy.

“Trong Luật Tạng (Vinaya Sutra) quy định những luật lệ của cuộc sống tu hành, Đức Phật tuyên bố cách sống lý tưởng đối với một tu sĩ là đi từ làng này qua làng khác để khất thực. Sau khi đã được tiếp nhận ở làng này, tu sĩ ấy phải đi sang làng khác. Ẩn dụ ở đây là con ong bay từ hoa này sang hoa khác, nhận phấn hoa của hoa này rồi hoa kia mà không làm đau đớn tổn hại cho hoa nào. Cũng vậy, các nhà sư phải đi từ làng này sang làng khác, không gây ra chút thiệt hại tàn phá nào.

“Đoạn Phúc Âm này cũng kể lại các hiện tượng như ma quỷ và sự chữa lành các bệnh tật. Những ý tưởng tương tự được tìm thấy trong các truyền thống tôn giáo khác. Tôi nghĩ rằng đó là những từ ngữ và những cách nói thông dụng ở một thời kỳ và trong một bối cảnh nhất định có chú trọng đến các hệ thống tín ngưỡng của một dân tộc. Nhưng ở đây nhấn mạnh đến một lý tưởng tâm linh lớn : Người hành đạo tâm linh không được tự mãn với trình độ thành tựu của mình. Điều chính yếu là bắt tay phục vụ người khác, đóng góp tích cực cho lợi ích của người khác. Tôi thường nói với các hành giả tuân theo nguyên tắc sau đây : về những nhu cầu cá nhân, phải lo lắng quan tâm càng ít càng tốt, còn về việc phục vụ người khác, phải lo lắng quan tâm càng nhiều càng tốt. Đó là ý tưởng của một hành giả tâm linh.

“Lời tường thuật việc đi chữa bệnh không tất yếu được hiểu theo nghĩa đen tức là chữa các bệnh tật thể lý. Bệnh tật cũng có thể được mở rộng theo nghĩa tâm lý và cảm xúc. Đối với tôi, kết hợp việc chữa trị bệnh tật với loan báo Tin mừng có nghĩa bằng sự chia sẻ các kinh nghiệm tâm linh của mình, bằng việc giảng dạy và loan báo Tin mừng mà người ta có thể giúp đỡ những người khác chiến thắng các bệnh tật của họ. Lời cảnh báo của Đức Giêsu trong đoạn Phúc Âm rất gần với nhiều đoạn của kinh Phật. Ví dụ trong một số bản văn, Đức Phật tuyên bố cuối bài giáo huấn : “Những ai tuân thủ các lời giáo huấn mà ta đã giảng dạy hôm nay cho các ngươi bằng việc ghi chép lại trên giấy, đọc lại, giảng giải lại cho người khác sẽ được công đức lớn lao.” Ý tưởng thì giống nhau.

“Một vấn đề khác rất quan trọng được liên kết với vấn đề nói trên. Đối với chúng ta, những độc giả ngày hôm nay, điều chủ yếu là phân biệt giữa sự cải giáo và khái niệm truyền giáo. Như chúng ta đã nói trước đây, người ta phân biệt nhau bởi sự đa dạng trong thiên hướng tâm linh. Đến nỗi thử áp đặt niềm tin tôn giáo cho một người rõ ràng có xu hướng trái ngược, hành động ấy sẽ không mang lại hiệu quả ích lợi mà còn có hại. Cảm thức ấy được diễn tả rất rõ ràng trong lý tưởng Bồ Tát theo đại thừa. Như thế, theo một trong mười tám giới luật của Bồ Tát, người ta không được dạy học thuyết sâu sắc về Chân Không cho một người có các trình độ tâm lý không thích hợp. Bởi lẽ, nếu người ta do thiếu cảm thức cứ khăng khăng truyền dạy học thuyết ấy cho một người như thế người ta có nguy cơ gây ra những phản ứng đối nghịch. Thay vì giúp người ấy tinh luyện sự thực hành tâm linh, sự truyền dạy ấy có thể gieo vào tâm trí người ấy sự lầm lẫn và có thể đẩy người ấy vào chủ nghĩa hư vô. Trong trường hợp này, thay vì tích lũy công đức qua việc giảng pháp, người ta lại tích lũy sự tiêu cực do không nhạy cảm với nhu cầu và sự tiếp thu của người khác.

“Những lời giáo huấn của Đức Phật rất rõ ràng về vấn đề này. Người ta tìm thấy trong đó một danh sách các câu hỏi được gọi là mười bốn câu hỏi nêu ra mà Đức Phật không trả lời. Khỏi cần phải nói có nhiều cách giải thích về hiện tượng những câu hỏi không có câu trả lời. Một trong những câu hỏi ấy là : “Có một thực thể như một “yếu tính của con người” hay ngã vị không ?” Đức Phật đã không trả lời có cũng không nói rằng không. Câu hỏi đặt ra do một người tin tưởng mạnh mẽ vào sự đồng nhất của ngã vị với một tâm hồn vĩnh cửu và thường hằng. Bởi thế, Đức Phật cảm thấy khi phủ nhận hiện hữu của ngã vị, Ngài sợ rằng cá nhân ấy bị mất ổn định và bị đẩy vào chủ nghĩa hư vô – một sự phủ nhận toàn bộ hiện hữu của con người hay của tác nhân. Ngược lại, khẳng định hiện hữu của ngã vị cũng hoàn toàn có hại cho người ấy bởi vì càng cũng cố sự bám víu, gắn chặt của người ấy vào khái niệm ngã vị ích kỷ và cô lập. Đối diện với tình huống ấy, Đức Phật đã không đưa ra bất cứ câu trả lời xác định nào. Như thế, người ta thấy Đức Phật đã chọn lựa với sự nhạy cảm những từ ngữ thích hợp với nhu cầu của mỗi cá nhân.

“Một hôm, tôi đã nói chuyện với một tu sĩ Phật giáo người Ấn Độ về học thuyết vô ngã (anatman) của Phật giáo. Đó là một hành giả nghiêm túc mà chính tôi đã truyền giới. Khi vị tu sĩ lần đầu tiên nghe được cách diễn tả ấy, ông hoàn toàn bị rúng động, toàn thân run rẩy. Ông tuyệt đối không thể nhìn thẳng vào khái niệm ấy. Tôi đã phải làm dịu bớt hậu quả bằng những lời giải thích đầy đủ và dài dòng. Ông cần phải có nhiều thời gian để lĩnh hội thật sự ý nghĩa của học thuyết anatman. Các bạn thấy đấy, điều chính yếu là các bạn hãy đo lường sự phù hợp của giáo huấn với thiên hướng tâm lý của một người và các xu hướng tâm linh của người ấy. Trong Phật giáo truyền thống, không có sự cải giáo tích cực – ngoại trừ trong sử ký biên niên của vương triều A-Dục ở Ấn Độ, dường như nhà vua đã tích cực gởi nhiều phái đoàn truyền giáo sang các nước lân bang. Theo luật chung, thái độ của Phật giáo đối với việc truyền bá sứ điệp là như sau : trừ phi có một người đến với một vị thầy và xin được thọ giáo riêng, ngoài ra một vị thầy không nên áp đặt quan điểm và học thuyết của mình cho người khác.

“Tôi muốn nói thêm một lời về một điểm quan trọng khác rút ra từ Phúc Âm. Khi người ta suy nghĩ về ma quỷ – bởi lẽ từ này trở lại rất thường xuyên trong nhiều bản văn Kinh thánh – điều quan trọng là không nên nói đến khái niệm ấy như một sức mạnh của “cõi bên kia”, vĩnh hằng, độc lập và tự quyết tồn tại như một sức mạnh tiêu cực tuyệt đối. Cách diễn tả ấy tốt hơn nên liên kết với các xu hướng và xung động tiêu cực nằm sâu trong mỗi người chúng ta. Tôi đã tranh luận điểm này với cha Laurence và dường như cha đồng ý với cách giải thích đó. Nếu không, mọi ý niệm về quỷ Satan trở thành một khu vực rộng lớn của sự lầm lẫn. Bản thân tôi, tôi tò mò muốn biết quan điểm của Kitô giáo truyền thống về bản chất của quỷ Satan, tôi không tài nào hình dung ra được !”

Lời chú giải về bài đọc Phúc Âm

Cha Laurence : Thưa Đức ngài, tôi xin được giới thiệu với ngài, hai vị sẽ tham gia vào cuộc thảo luận sáng nay. Trước tiên, đó là Phu nhân Maureen Allen, thực hành tĩnh tâm thiền định từ ba mươi năm và đã giúp chúng tôi nhiều để chuẩn bị cuộc hội thảo này bằng sự liên lạc với Văn phòng Tây Tạng ở Luân Đôn. Kế đó là Ông Peter Ng từ Singapore và là giám đốc đầu tư của Singapore Investment Corporation và trên một bình diện tâm linh hơn, là một trong các giám đốc của Trung Tâm Chirtian Meditation Center tại Singapore cùng đi với vợ là bà Patricia. Tôi muốn Ông Peter trình bày điểm đầu tiên của cuộc thảo luận.

Peter Ng : Thưa Đức ngài, câu hỏi tôi muốn đặt ra khá sơ đẳng. Nó liên quan mục đích và con đường của cuộc sống tâm linh trong viễn cảnh Phật giáo, cũng như phương cách mà ngài quan niệm việc thiền định trên một điểm duy nhất như trợ lực cho sự phát triển tâm linh. Trong viễn cảnh Kitô giáo, mục đích của đời sống tâm linh của chúng tôi, số mệnh của chúng tôi, như cha Laurence đã nói, là tham dự vào hữu thể của Thiên Chúa. Đối với chúng tôi, đường (hay đạo) là chính Đức Giêsu, Giới răn hay giá trị tối thượng để theo Đức Giêsu chính là tình yêu. Quả thật, với tư cách là những Kitô hữu thực hành thiền định, sự thiền định là con đường tình yêu đối với chúng tôi. Chính cha John Main đã dạy chúng tôi về sự thiền định như thế. Bằng sự thiền định, chúng tôi thiết lập một mối quan hệ cá nhân với Đức Giêsu và phát triển tình yêu để đạt đến sự viên mãn của tình yêu là chính Thiên Chúa.

Xin ngài giải thích cho chúng tôi mục đích của đời sống tâm linh là gì theo quan điểm Phật giáo : có một giáo huấn Phật giáo tương đương với giáo huấn tình yêu là đạo hay không và ngài có quan niệm sự trầm tư như một trợ lực của đời sống tâm linh đó không ?

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Để trả lời cho câu hỏi của bạn, có lẽ cần phải trình bày Bốn yếu tố của lòng tốt và hai mục đích mà một cá nhân mong ước. Một trong hai mục đích là hạnh phúc bình thường, ở bình diện thông thường ; mục đích kia là đạt đến sự viên mãn giải thoát tâm linh, niết bàn. Phương tiện để đạt đến hạnh phúc bình thường là tích lũy của cải vật chất trong khi phương tiện thích hợp để đạt đến giải thoát và sự viên mãn tâm linh là sự thực hành chánh pháp. Trong trường hợp của bạn, hai mục đích ấy dường như hội tụ bởi lẽ bạn là ông chủ nhà băng (ngân hàng) ! Trong ngôn ngữ Tây Tạng, từ ngữ tương đương với Phật pháp là choš có nghĩa là “chuyển hóa” hay “sức mạnh”. Lòng từ bi về nhiều phương diện là nguyên tắc căn bản của Pháp ; tuy nhiên, lòng từ bi gắn liền không thể tách rời với Trí Huệ. Đạo hay Pháp, đó là sự kết hợp của Trí Huệ và lòng từ bi.

Khi người ta nói về lòng từ bi và trí huệ (minh triết) hoặc về lòng từ bi và trí năng hay sự hiểu biết phải hiểu rằng chúng tôi còn muốn nói đến những trình độ và kiểu mẫu hiểu biết và trí huệ khác nhau. Một cách tổng quát, người ta phân biệt hiểu biết quy ước gắn liền với lãnh vực kinh nghiệm hằng ngày, và hiểu biết tối hậu liên quan đến những phương diện sâu xa nhất của thực tại. Dĩ nhiên, đối với Phật tử, “chân lý tối hậu” quy chiếu vào bản chất tối hậu của thực tại mà người ta chỉ thị bằng anatman (vô ngã hay không yếu tính). Tóm lại, khi các Phật tử nói về bản chất tối hậu của thực tại, họ có ngay trong đầu học thuyết sunyata, Chân Không.

Một cách tổng quát, không có gì là của riêng Phật giáo trong việc thực hành sự thiền định tập trung trên một điểm và những kỹ thuật khác nhau được dùng để phát triển năng lực ấy. Các truyền thống tâm linh lớn của Ấn Độ Phật giáo hay không Phật giáo đều có chung những kỹ thuật ấy. Đặc điểm của việc áp dụng khả năng tập trung vào một điểm duy nhất là nó cho phép người thực hành tâm linh tập trung tinh thần trên một đối tượng chọn trước, không bị rối loạn bởi sự phân tâm. Cần phải thấy rõ sự tập trung tinh thần trên một điểm duy nhất ấy là một từ ngữ phân loại, trong khi samatha (chánh định trong ngôn ngữ sanskrit) nói đến một trạng thái hướng thượng của tinh thần. Trong đời sống hằng ngày, chúng ta đều biết mọi trạng thái chóng qua của việc tập trung trên một điểm duy nhất, từ đó chúng ta có thể phát triển khả năng ấy với việc áp dụng các kỹ thuật thích hợp cho sự thiền định. Tình trạng phát triển và tinh luyện khả năng ấy là samatha. Khi áp dụng các kỹ thuật thiền định, khi bồi đắp và tinh luyện sự tập trung nhất điểm ở nội tâm, các bạn có thể phát triển không chỉ sự ổn định sâu xa của tinh thần – vì như thế, bạn thoát khỏi tình trạng thường bị phân tâm làm năng lực tâm lý của bạn phân tán và tan tác – nhưng còn phát triển sự cẩn trọng sâu xa. Vậy, các kỹ thuật ấy cho phép tập trung năng lực tâm lý đồng thời phát triển sự ổn định và sáng suốt của các bạn. Vì khi đạt được sự phát triển hai đức tính đó, các bạn có thể điều khiển rất hiệu quả tinh thần trên đối tượng của sự thiền định : lòng từ bi, trí huệ hay một đối tượng khác.

Nếu chúng ta nhìn kỹ, chúng ta nhận thấy trong tinh thần có hai yếu tố chính ngăn cản chúng ta phát triển đầy đủ khả năng tiên thiên tập trung trên nhất điểm. Một là tình trạng chia trí và phân tán của tinh thần giữ các bạn trong một tình trạng kích động và ngăn cản các bạn đạt đến một ổn định nào đó. Đó là trở ngại chính đối với việc duy trì sự ổn định sâu xa. Một trở ngại khác là hôn trầm tâm lý. Ngay cả khi các bạn thắng được sự phân tán tâm thức và tìm thấy được chút ít ổn định, tinh thần các bạn đôi khi lại thiếu sự chăm chú. Vậy thì các bạn đã đạt đến một tình trạng tinh thần cách ly, tạm thời thoát khỏi tình trạng chia trí, nhưng nó lại thiếu động lực và sức sống. Đó là một kiểu tinh thần bay lượn, “lâng lâng”. Trong thuật ngữ Phật giáo người ta gọi đó là sự suy nhược, sự hôn trầm của tinh thần. Hai trở ngại này phải được vượt qua. Khi các bạn vượt qua được sự hôn trầm tinh thần, ngoài sự ổn định, các bạn đạt đến sự sáng suốt và sức mạnh sâu xa. Và khi liên kết hai sức mạnh ấy, các bạn sẽ có được sự ổn định cần thiết để cố định tinh thần trên đối tượng và có được sự chăm chú cần thiết để dồn mọi năng lực tinh thần để thâm nhập bản chất của đối tượng.

Phu nhân Allen : Trong lúc này đây, tôi chính là sự minh họa hoàn hảo của tinh thần phân tán, tôi rất sợ điều này !

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Dĩ nhiên mọi người đều có ấn tượng ấy ! Khi chúng ta thảo luận thành nhóm, tôi nghĩ rằng phần lớn chúng ta đều có tinh thần trong thế giới hoặc cảnh giới phân tán. Còn khi chúng ta thiền định, tinh thần ở trong thế giới hôn trầm tâm linh !

Phu nhân Allen : Trong cuộc thảo luận hôm nay có một điều mà tất cả chúng tôi đánh giá cao. Đó là Đức ngài là hiện thân của hạnh phúc. Thật là một ân huệ đối với các Kitô hữu vốn đã học cách coi mình là những người tội lỗi khốn khổ, Đức ngài nói về lương thực tâm linh và chúng tôi phải cám ơn Ngài đã dọn cho chúng tôi một đại tiệc. Về câu hỏi của tôi, tôi sẽ biết ơn ngài nếu ngài đẩy xa hơn ý tưởng về đại vũ trụ. Ngày xưa, khoa học và tôn giáo đi theo những con đường tách biệt nhau ! Nhưng hình như ngày nay chúng đang trên đường hòa hợp. Trong Kitô giáo Phương Tây, định nghĩa hay định nghĩa lại Thiên Chúa đặt ra những vấn đề. Tôi không nghĩ rằng những người có mặt ở đây còn hình dung Thiên Chúa như một ông già có một bộ râu bạc trắng trên các tầng trời mặc dù tôi e rằng luôn luôn có người nghĩ như thế ở nhiều nơi trên thế giới. Hôm qua, Đức ngài đã cho chúng tôi một sự mô tả tuyệt vời và hiện đại về Thiên Chúa ; chúng tôi biết ơn ngài về điều đó. Ngài có thể triển khai ý niệm lệ thuộc lẫn nhau (tương duyên) bởi lẽ rõ ràng ngày nay là những thành viên nhân loại, chúng ta lệ thuộc nhau một cách hữu cơ. Chúng ta đã quan sát trái đất từ mặt trăng. Và khoa học càng ngày càng nói sự lệ thuộc nhau trong thiên nhiên. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ hiểu lệ thuộc nhau trong cùng một tinh thần là gì – hiểu theo tâm lý và cảm xúc. Tôi tin rằng chúng tôi có thể rút ra điều bổ ích từ những soi sáng của Đức ngài.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Tôi nghĩ trước tiên điều quan trọng nhất là phải hiểu chúng ta muốn nói gì qua từ ý thức. Bản chất của ý thức, hay tri thức – tiếng Tây Tạng là shepa – không có chút gì là vật chất : nó không có hình thức vật chất, không thực thể, không màu sắc. Vậy nó không thể định lượng bằng các thuật ngữ khoa học và không là đối tượng tìm tòi của khoa học thông thường. Thay vì là bản chất vật chất, ý thức có bản chất của một “kinh nghiệm thuần túy và đơn giản” hoặc “tri thức thuần túy và đơn giản”.

Khi tôi nói “Tôi biết” hoặc “Tôi có ý thức”, dường như có một tác nhân “Tôi” hàm ngụ trong hoạt động biết hoặc có ý thức ; nhưng điều chúng ta muốn nói bằng từ ý thức là khả năng chi phối hành động biết hoặc có ý thức. Nói cách khác, nó là hoạt động hay quá trình của chính sự hiểu biết và nếu đúng như thế, nó là “ý thức thuần túy và đơn giản” hay “tri thức sáng ngời”. Thông thường chúng ta kết hợp khả năng ấy với một đối tượng bên ngoài hoặc đối với một cảm giác dễ chịu hay khó chịu. Như thế dù chúng ta suy nghĩ với các ý niệm hoặc đơn giản chỉ có một kinh nghiệm cảm giác, ý thức tự nó khởi lên với hình thức hay hình tướng của một đối tượng và do đó chúng ta thường không nhận ra ý thức như “ý thức thuần túy và đơn giản” hoặc “tri thức trong trẻo và sáng ngời”. Tóm lại, trong cuộc sống thường nhật, ý thức bị trói buộc trong những biểu hiện nhị nguyên của đối tượng và chủ thể.

Trong một ý nghĩa nào đó, người ta có thể nói chúng ta chỉ có kinh nghiệm về ý thức đã được đối tượng tô màu. Chúng ta biết chúng ta có tri giác về một vật màu xanh thì gần như là chính sự tri giác cũng màu xanh. Tuy nhiên, có thể có kinh nghiệm về bản chất chủ yếu ấy của ý thức – sự chiếu sáng thuần khiết, kinh nghiệm thuần khiết, tri thức thuần khiết mà tôi đã nói – bằng nỗ lực có ý thức bỏ ra ngoài tâm thức mọi thứ công thức, ý niệm, hồi ức và nhất là những vướng víu của giác quan. Như thế, trong lúc vẫn duy trì sự tập trung sâu sắc, và nếu người ta thành công trong việc chấm dứt mọi nhiễu loạn trong tâm thức – các tiến trình tư tưởng bằng ý niệm và các công thức thúc đẩy chúng ta tìm kiếm các kinh nghiệm giác quan – thì người ta có thể bắt đầu nhận ra một bình diện sâu sắc hơn. Sự kiện hoàn toàn bị cách ly làm cho tiến trình tư tưởng không phát triển. Cần giữ vững sự tập trung bằng việc từng bước làm cho sự thăng trầm giao động của tư tưởng và kinh nghiệm giác quan của tâm thức phải ngừng lại. Lúc đó, có thể nhận ra bản chất chủ yếu của tâm thức. Lúc đầu, khi các bạn có kinh nghiệm lần đầu tiên về điều ấy, kinh nghiệm ấy hiện ra đối với các bạn như một thứ rỗng không. Nhưng qua thực hành, có thể kéo dài khoảnh khắc đó. Từ từ, với sự tiến bộ trong việc thiền định, các bạn có thể kéo dài thời gian kinh nghiệm. Lúc đó, bản chất chủ yếu của tâm thức, sự trong trẻo, sáng suốt sẽ ngày càng tỏ hiện. Đó là cách mà ta có thể nhận ra bản tính cốt yếu của ý thức đối lập với ý thức thông thường bị trói buộc với thực tại vật lý.

Về sự lệ thuộc lẫn nhau của ý thức và vật chất, các Phật tử nói rằng chính tâm thức và những động lực xuất phát từ tâm thức xác định một cách thực tiễn hành động và thái độ của cá nhân. Mọi hành động, dù cho tầm quan trọng của nó thế nào, đều có một hậu quả và để lại một dấu vết trong tâm thức. Và hành động ấy tác động trực tiếp đến kinh nghiệm và chính thế giới trong đó cá nhân biến chuyển. Còn đối với cá nhân này, thế giới cũng đã đổi thay. Chính trên nền tảng đó, Phật giáo giải thích bản chất lệ thuộc lẫn nhau (tương tác) của tinh thần và vật chất hay của tinh thần và thể xác. Một cách tự nhiên, trong Phật giáo, người ta đưa ra từ nghiệp (Karma). Cho dù học thuyết của nghiệp nói về dấu vết hoặc tiềm năng đã để lại trên tinh thần – tiềm năng ấy được truyền lại bằng cách nào và động lực của nó vận hành ra sao – điểm chủ yếu là trong thực tế, hành động hay thái độ đều được tác động bởi một trạng thái tâm thức.

Trong Phật giáo, nhất là Phật giáo đại thừa, điều đầu tiên là phạm trù nhân quả. Trong trường hợp này, sự tương tác theo đường thẳng : một số nguyên nhân và điều kiện sinh ra một số hậu quả. Sự tương tác nguyên nhân và điều kiện (duyên khởi) là quan niệm chung của mọi trường phái Phật giáo. Có một cách hiểu thứ hai, trong đó sự lệ thuộc lẫn nhau (duyên khởi) được xét dưới góc độ sự lệ thuộc hỗ tương, qua lại trong đó một số hiện tượng có quan hệ qua lại với những hiện tượng khác. Có một thứ quan hệ hỗ tương. Điều này được minh họa rất rõ trong ý tưởng “toàn thể” và “các thành phần”. Không có các thành phần, không thể có một “toàn thể” ; không có toàn thể thì cũng không thể có các thành phần. Như vậy, có một sự lệ thuộc hỗ tương. Cách tiếp cận thứ ba của nguyên tắc lệ thuộc lẫn nhau quy chiếu vào tính đồng nhất : tính đồng nhất của một biến cố hay một vật cá biệt lệ thuộc vào bối cảnh hay môi trường của nó. Trong một nghĩa nào đó, tính đồng nhất được xem như sự khởi xuất : nó không tuyệt đối, mà tương đối. Một số sự việc và biến cố có sự đồng nhất trong tương quan với những sự việc và biến cố khác. Trên đây là ba trình độ hoặc ba cách thức khác nhau khi xem xét nguyên tắc lệ thuộc lẫn nhau.

Cha Laurence : Tôi muốn liên kết với phần mô tả tường tận về ý thức bằng việc áp dụng một cách hiểu của Kitô giáo đặc biệt về “tinh thần của Đức Kitô”. Các Kitô hữu tin rằng ý thức nhân loại của Đức Kitô ở với chúng tôi và ở trong chúng tôi. Bằng việc tĩnh tâm thiền định, kinh nghiệm chủ yếu của Kitô hữu là đạt đến sự cởi mở ý thức của mình ra với ý thức của Đức Kitô. Chúng tôi tin rằng tinh thần của Đức Kitô hiện nay, ý thức nhân loại của Đức Kitô hiện nay hiện hữu trong điều kiện mà Đức ngài mô tả như sự thuần khiết tuyệt đối và sự đơn nhất không phân tán. Nếu ngài cho phép, tôi xin trình bày ngắn gọn phương cách một Kitô hữu phải gặp gỡ và hiểu biết Đức Kitô như thế nào để đem lại sự giải thoát bản thân và sự hoàn thành số mệnh của mình. Có lẽ Đức ngài sẽ nói với chúng tôi suy nghĩ của ngài về điều đó.

Những giai đoạn một Kitô hữu phải đi qua để biết Đức Kitô bắt đầu từ thời thơ ấu với những câu chuyện người ta kể lại, với các bài đọc Kinh Thánh như ngài đã cùng đọc với chúng tôi. Về sau, chúng tôi đạt được sự hiểu biết và lĩnh hội Đức Giêsu trên các bình diện thần học, triết học và lịch sử. Kế đó, bằng việc tĩnh tâm, thiền định, chúng tôi bắt đầu có kinh nghiệm về sự cư ngụ bên trong, bởi lẽ Đức Giêsu không chỉ là một vị thầy thuộc về lịch sử đã qua, nhưng giờ đây Đức Giêsu còn hiện hữu sâu kín trong nội tâm của mỗi con người, đồng thời Chúa hiện diện trong vũ trụ, Chúa ở bên ngoài thời gian và không gian và vì vậy Chúa ở mọi nơi và mọi lúc. Nhưng để hiểu trọn vẹn Đức Kitô là thầy, là Đường như thế nào, chúng tôi phải trở về Kinh Thánh trong đó Đức Giêsu nói với chúng tôi Ngài là Đường và tự ví mình như cánh cửa. Chúng tôi bước qua cửa đó. Ngài là con đường chúng tôi vượt qua. Con đường không đến chính Ngài, nhưng luôn luôn dẫn đến Cha. Ví dụ như trong thánh lễ, chúng tôi nói rằng chúng tôi đến với Cha “bởi Đức Giêsu với Ngài và trong Ngài”. Với ý nghĩa đó, Đức Giêsu là Thầy, tôn sư, Đường (Đạo) nhờ sự trú ngụ của ý thức Ngài trong chúng tôi. Đó là sự hiện diện của tình yêu Thiên Chúa. Khi hợp nhất trọn vẹn với tình yêu Thiên Chúa, ý thức của Đức Kitô là một kinh nghiệm tình yêu đối với chúng tôi. Đức ngài có thể nói với chúng tôi quan niệm đó về ý thức gợi lên cho Đức ngài điều gì ?

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Trong khi vẫn quan tâm đến những lời chú giải của tôi hôm qua về sự quan trọng phải nêu lên những đặc điểm khác nhau tế nhị phân chia các truyền thống tôn giáo ở một bình diện sâu xa, tôi vẫn thấy ở đây một sự tương đồng với sự thực hành Phật giáo. Tuy nhiên không nên đẩy sự tương đồng ấy đến cực độ. Như một câu châm ngôn Tây Tạng có nói : “Đừng cố sức đặt cái đầu con trâu trên thân của con cừu”. Cũng thế, Nagarjuna một vị thầy nổi tiếng của Ấn Độ ở thế kỷ thứ II nhận xét trong các bài viết triết học rằng nếu người ta đã quyết chí làm cho hai vật bằng nhau, thì người ta có thể tìm thấy những điểm chung của bất cứ vật nào ! Đẩy đến cực độ thì toàn bộ thế giới hiện tượng có thể giản lược vào một thực thể duy nhất, thậm chí một vật duy nhất.

Nói như thế, nhưng tôi vẫn thấy có một sự tương đồng thật sự với sự thực hành đạo Phật. Trong Phật giáo, có ý tưởng bản tính của Phật, được gọi là tathagata-garbha, chủng tử hay hạt giống của sự hoàn thiện viên mãn. Mặc dù có những ý kiến khác nhau về bản chất của chủng tử Phật tính hay bản chất của Phật, thì bản tính ấy ruốt cuộc là bản tính của tinh thần, một tính chất tồn tại trong mỗi người chúng ta. Và tathagata-garbha liên quan đến sự sáng ngời ban đầu, yếu tính thuần khiết, tiềm năng làm cho chúng ta có thể vượt qua mọi sự bất toàn để đạt đến sự giải thoát. Một trong những nền tảng cho phép khẳng định sự hiện diện Phật tính ở mỗi người chúng ta là khả năng cảm thông của con người. Một số người có cảm thông mạnh hơn những người khác ; nhưng mỗi người đều có khả năng cảm thông tự nhiên. Phật tính ấy, chủng tử giác ngộ hoàn thiện ấy thì bẩm sinh. Đó không phải là một vật cần được vun trồng ; nó có đó và thường hằng hiện diện.

Tuy nhiên, để đạt đến sự hoàn thiện, một người hành đạo chỉ có bản tính đó chưa đủ ; tính Phật phải được phát triển trọn vẹn mọi tiềm năng. Để thực hiện điều đó, cần phải có sự giúp đỡ. Trong sự thực hành đạo Phật, các bạn cần sự trợ giúp của một người dẫn đường đã giác ngộ, của một tôn sư hoặc của một vị thầy. Người ta sẽ nhận thấy các bản văn Phật giáo thường chỉ vị thầy như cánh cửa qua đó các bạn nhận được phước lành của Đức Phật. Qua cửa ấy, các bạn bước vào sự hiệp thông và tiếp xúc với Đức Phật. Nhờ kết hợp sự hướng dẫn có kinh nghiệm của Thầy với sự hiện diện của Phật tính trong các bạn, Phật tính này sẽ được tác động và bạn trở nên có khả năng hoàn thiện và đáp ứng tiềm năng tròn đầy của Phật tính. Tôi nghĩ rằng điều này rất gần với ý tưởng Cha Laurence vừa mới diễn tả.

Đối với những người hành đạo Kitô giáo – mặc dù mỗi người chúng ta đều có phần trong bản tính Thiên Chúa – chính nhờ Đức Kitô, nhờ Đức Giêsu mà các bạn hoạt động, sử dụng đầy đủ trọn vẹn và hoàn thiện thiên tính trong các bạn. Nhờ Đức Giêsu, thiên tính ấy được triển nở trọn vẹn và hiệp nhất, trở nên một với CHA. Người ta lưu ý rằng ngay cả trong Phật giáo, để diễn tả sự hoàn thành viên mãn Phật tính – Tính giác ngộ – đôi khi người ta nói người ta trở thành “cùng một mùi vị” với cái bao la của dharmakaya (Pháp thân). Thành “cùng một mùi vị” chính là trở nên không thể tách rời với trạng thái của dharmakaya. Tuy nhiên, tính đồng nhất của cá nhân không vì vậy mà suy giảm.

Cha Laurence : Cám ơn. Thật là rõ ràng, và tôi nghĩ rằng cái đầu con trâu vẫn sẽ ở trên mình con trâu.

Peter Ng : Thưa Đức ngài, tôi xin đặt một câu hỏi liên quan đến sự truyền giáo của Kitô hữu. Ngài khuyến khích những người hành đạo tâm linh giảng dạy về tâm linh để giúp đỡ những người khác thăng tiến, nhưng đồng thời, ngài nói rằng một người muốn giảng dạy cần phải có một mức độ kinh nghiệm nào đó, và một sự lãnh hội sâu xa điều mình giảng dạy. Đây là một vấn đề mà nhiều người chúng tôi ở đây quan tâm vì chúng tôi điều hành các nhóm thực hành thiền định Kitô giáo, nghĩa là chúng tôi đang giảng dạy những người khác. Làm thế nào biết được chúng tôi có khả năng điều hành một nhóm thực hành sự trầm tư ?

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Một cách tổng quát, ngoài những trường hợp mù quáng về chính mình, tự mình có thể lượng giá trình độ tinh thần của mình tất nhiên không phải trong những chi tiết nhỏ nhất, nhưng trong một đại thể. Nếu một người điều hành hay giảng dạy là một hành giả chân chính thì chắc chắn động cơ của người ấy sẽ thuần khiết – và động cơ là một nhân tố chính. Chính vì thế mà một cá nhân có thể phán đoán tình trạng tinh thần của riêng mình và xem mình làm thầy dạy có thích hợp không. Một người thứ ba rất khó phán đoán xem một người nào đó có thích hợp hay không với vai trò làm thầy. Nói chung, phán đoán trình độ tâm linh của một người khác vô cùng khó khăn, nếu không nói là không thể. Sở dĩ như thế vì trình độ hoặc sự thành tựu tâm linh của người khác trong một chiều hướng nào đó hoàn toàn không thể hiểu thấu được. Tuy nhiên, có thể phán đoán trình độ tâm linh của người khác bằng những từ ngữ rất tổng quát. Khi các bạn giao thiệp với một người lâu ngày, thỉnh thoảng các bạn thoáng thấy trình độ tâm linh của người đó qua việc quan sát thái độ, cung cách, ngôn từ, cách hành động với người khác…

Thấy một người ứng xử một cách rất tâm linh chỉ một lần chưa đủ. Phải là một thái độ đều đặn có thể được quan sát nhiều lần. Nếu các bạn nhận thấy sự lâu bền của những đặc tính như thế, lúc đó các bạn có thể kết luận một mức độ nào đó của sự trưởng thành tâm linh. Trong các kinh Phật, Đức Phật sử dụng đại dương làm một loại suy. Khi các bạn nhìn xuống đại dương, Đức Phật nói, và cố gắng nhận ra một con cá, các bạn chỉ nhận ra cá khi nào đại dương yên tĩnh và có cá đang bơi dưới nước. Nhưng khi sóng đến, một đôi khi các bạn có thể thoáng thấy một con cá. Cũng thế, Phật tuyên bố rằng trình độ thành tựu của một vị Bồ Tát, đặc biệt trình độ từ bi có thể được nhận thấy – có lẽ không phải một cách dứt khoát nhưng bằng lý luận quy nạp – qua việc đánh giá cách thế mà vị Bồ Tát nam hay nữ ứng xử trong những hoàn cảnh, môi trường và những trường hợp đặc biệt.

Cha Laurence : Chúng ta có thể kết thúc buổi họp với một câu hỏi của nhiều người. Câu hỏi này do một nhóm thảo luận đặt ra, có liên quan đến bất bạo động. Người ta hỏi có phải lòng từ bi chứa đựng một yếu tố tích cực, hoặc nó tiêu cực ? Lòng từ bi có thể đòi hỏi một hành động bạo lực không ? Tôi giả sử nếu các bạn thấy một người sắp sửa phạm một hành động xấu – ví dụ như làm nổ tung một ngôi nhà, người ta vì lòng từ bi có thể sử dụng vũ lực để ngăn chặn hắn không ?

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Lòng từ bi bao hàm một yếu tố tích cực là hoàn toàn đúng và đem lại một khả năng sử dụng sức mạnh nếu như người ta cho là thật sự cần thiết. Điều này được minh chứng rõ ràng trong các truyện jatakas (truyện tiền thân), một tiền kiếp của Đức Phật trong đó Ngài sinh ra làm thương gia. Trong lúc đi qua sông trên một con đò, vị Bồ Tát thấy mình ở vào một hoàn cảnh khó xử : kẻ lái đò là một tên sát nhân đã dự tính giết chết bốn trăm chín mươi chín hành khách trong đêm đó. Để xử lý tình hình ấy, không có cách nào khác hơn phải trừ khử tên sát nhân. Và vị Bồ Tát đã nhận trách nhiệm ấy. Ông đã tham gia một hành động không chỉ cứu mạng sống của bốn trăm chín mươi chín người, mà còn vì lòng từ bi cứu vớt tên sát nhân tiềm tàng tránh được sự đối đầu tất yếu với những hậu quả tiêu cực của vụ sát nhân hàng loạt. Đối với một Phật tử, sự hy sinh của vị Bồ Tát chủ yếu nhận về phần mình hành động tiêu cực giết người và đối đầu với những hậu quả của hành động ấy.

Như thế, khi nói về bạo lực, chúng ta phải hiểu mình đang nói về một hiện tượng mà trong thực tiễn không ai có thể tiên đoán hậu quả. Ngay cả khi động lực của người hành động thuần khiết và tích cực, nếu đã sử dụng đến bạo lực thì khó tiên đoán mọi hậu quả. Tuy nhiên, nếu các bạn rơi vào một tình thế đòi hỏi phải hành động công khai bằng sức mạnh để tự vệ, thì các bạn phải đáp trả một cách thích hợp. Trong bối cảnh đó, điều quan trọng là phải hiểu rằng lòng khoan dung và nhẫn lại không có nghĩa là chịu khuất phục hoặc nhượng bộ trước sự tấn công. Lòng khoan dung đúng nghĩa phải là một câu trả lời thung dung của các bạn đối với một tình thế mà bình thường người ta hay phản ứng bằng một cảm xúc mạnh mẽ và tiêu cực như giận dữ hay thù hận. Điều này hiện ra rõ ràng trong từ ngữ Tây Tạng sošpa có nghĩa đen là “có khả năng chịu đựng”.

Rõ ràng nhất là trường hợp của lòng khoan dung khi các bạn dửng dưng với sự đau khổ người ta gây ra cho mình, đây là một trong ba loại nhẫn nại đã bàn đến ở trên. Người ta có thể hiểu sai lầm phải nhượng bộ chịu đựng mọi đau khổ mà người khác gây ra cho bạn – như thể chúng ta phải luôn hoan hỷ nói rằng : “Nào, các bạn cứ làm tôi đau khổ đi !” Không phải là như thế, nhưng đúng hơn đây là một trạng thái tinh thần can đảm giúp chúng ta ít bị tác động bởi những sự cố. Nó làm cho chúng ta tránh được sự đau khổ khi chúng ta gặp đau khổ thể xác. Nó không có nghĩa chúng ta luôn hoan hỷ nhượng bộ.

Cũng dễ hiểu khi người ta có một ý niệm sai lầm về lòng khoan dung. Tôi đã gặp những người Tây Tạng đã đọc cuốn Bồ Tát đạo trong đó nói rất kỹ về lòng khoan dung và họ nói với tôi : “Nếu chúng ta thực hành lòng khoan dung thì đất nước Tây Tạng sẽ không bao giờ giành được nền độc lập !” Nhưng đối với họ, lòng khoan dung là một thái độ đầu hàng hoặc buông trôi.


PHẦN THỨ TÁM
ĐỨC TIN
Phúc Âm Thánh Gio-an 12, 44-50

Cha Laurence : Thưa Đức ngài. Chúng tôi còn được hân hạnh tiếp đón ngài ở giữa chúng tôi. Trong buổi họp này, xin ngài chú giải hai đoạn Phúc Âm sau cùng, cả hai đều của Thánh Gio-an. Đoạn đầu liên quan đến Đức tin và đoạn thứ hai là một bài tường thuật về sự Phục Sinh.

“Tuy nhiên Đức Giêsu lớn tiếng nói : “Ai tin ở Ta, không chỉ tin ở Ta, mà ở Đấng đã sai phái Ta ; và ai thấy Ta, thấy Đấng đã sai phái Ta. Ta đã đến thế gian này như là ánh sáng ; vậy ai tin ở Ta không sống trong bóng tối. Nếu người nào nghe lời Ta mà không tuân giữ thì không phải Ta sẽ kết tội họ ; bởi lẽ Ta không đến để kết tội thế gian, nhưng để cứu thế gian. Ai khinh bỉ Ta và không chấp nhận lời Ta đã bị kết tội rồi : lời Ta nói ra, chính lời ấy sẽ xét xử trong ngày sau hết. Quả thật, không phải chính Ta tự mình đã nói ra nhưng Cha, Đấng sai phái Ta đã truyền lệnh Ta phải nói gì hay dạy gì. Và Ta biết lệnh truyền của người, đó chính là sự sống đời đời. Vậy các lời Ta nói thì như Cha đã nói với Ta sao, Ta cũng nói vậy.” [Gio-an 12, 44-50]

Đức Đạt Lai Lạt Ma : “Đoạn kinh trích từ Phúc Âm của Thánh Gio-an theo tôi có lẽ là một đoạn quan trọng của Kinh Thánh. Điều đầu tiên làm tôi xúc động, vì nó gần giống với một đoạn văn đặc biệt của Kinh Phật trong đó Đức Phật tuyên bố người nào thấy được nguyên lý nhân duyên sinh người ấy nhìn thấy Pháp và người nào nhìn thấy Pháp, người ấy thấy được Phật Như Lai (Tathagata). Bởi thế với sự hiểu biết bản tính của nhân duyên sinh và Pháp, người ta biết được bản chất chân thực của Phật tính. Một khía cạnh khác của vấn đề là tri giác thị giác đơn thuần thân thể của Đức Phật không đồng nhất với thị kiến chân thực về Đức Phật. Để thấy Phật chân thực, phải ý thức rằng Pháp thân (dharmakaya) Đức Phật là chân như. Có như thế mới gọi là thật sự nhìn thấy Phật. Cũng thế, đoạn Phúc Âm này xác nhận nhờ nhân cách lịch sử của Đức Kitô mà các bạn có kinh nghiệm về Cha, Đấng mà Đức Kitô biểu hiện. Đức Kitô là con đường dẫn đến sự gặp gỡ Cha.

“Cũng ở đoạn Phúc Âm này, chúng ta gặp ẩn dụ về ánh sáng, có chung ở mọi truyền thống tôn giáo lớn. Trong bối cảnh Phật giáo, ánh sáng được kết hợp chặt chẽ với trí huệ và tri thức ; bóng tối là của vô minh và lầm lẫn. Điều này tương ứng với hai khía cạnh của đạo : khía cạnh phương pháp bao gồm những thực hành như lòng từ bi và khoan dung và khía cạnh trí huệ hay tri thức, một cái nhìn sáng tỏ thấu suốt bản tính của thực tại. Chính khía cạnh tri thức hay trí huệ của đạo mới là thuốc trị làm tiêu tan vô minh.

“Về đoạn kinh này đồng thời xác nhận sự quan trọng của đức tin trong sự thực hành tâm linh của mỗi người, tôi nghĩ rằng đưa ra một vài lời giải thích về cách hiểu đức tin của Phật giáo là một điều hữu ích. Từ ngữ đức tin trong tiếng Tây Tạng là té-pa có lẽ gần với tin cậy hay tín thác. Truyền thống Phật giáo phân biệt ba loại đức tin khác nhau. Loại thứ nhất là sự thán phục dành cho một người đặc biệt hay một tình trạng đặc biệt. Loại thứ hai là đức tin ước muốn. Người ta tìm thấy ở đây ý niệm ganh đua. Các bạn ước muốn đạt đến tình trạng ấy. Loại thứ ba là đức tin xác tín.

“Tôi nghĩ rằng ba loại đức tin đó đều có từ tương đương trong bối cảnh Kitô giáo. Như thế, môït Kitô hữu hành đạo đọc và suy nghĩ về cuộc đời của Đức Giêsu có thể cảm thấy một sự sùng tín và thán phục rất mạnh đối với Đức Giêsu. Đó là trình độ đầu tiên của đức tin, đức tin thán phục và sùng tín. Sau đó, khi lòng thán phục và đức tin ngày càng vững chắc, có thể đạt đến trình độ thứ hai, đức tin ước muốn. Nếu các bạn là Phật tử, các bạn khát vọng Phật tính. Còn với tư cách Kitô hữu, các bạn không sử dụng ngôn từ giống như thế, nhưng các bạn có thể nói rằng các bạn ước muốn đạt đến sự trọn hảo của Thiên tính, của sự hợp nhất với Thiên Chúa. Kế đó, một khi ước muốn ấy đã phát triển, các bạn sẽ đạt được một niềm xác tín sâu xa có thể thực hiện viên mãn một trạng thái như thế. Đó là trình độ thứ ba của đức tin. Tôi nghĩ rằng ba trình độ này đều áp dụng được trong bối cảnh Phật giáo và Kitô giáo.

“Phật giáo không ngừng nhấn mạnh đến nhu cầu liên kết đức tin và lý trí để tiến tới trên con đường tâm linh. Nagarjuna, vị thầy Ấn Độ ở thế kỷ thứ II tuyên bố trong cuốn sách luận nổi tiếng của ngài, Tràng Hoa Quý Giá rằng đức tin và lý trí, hay đức tin và sự phân tích là những đòi hỏi của khát vọng tâm linh. Đức tin sẽ dẫn các bạn đến một trạng thái hiện hữu cao hơn, trong khi lý trí và sự phân tích dẫn các bạn đến sự giải thoát trọn vẹn. Trong bối cảnh của việc thực hành tâm linh, điểm quan trọng là đức tin phải có nền tảng là lý trí và sự hiểu biết.

“Để phát triển một đức tin xuất phát từ lý trí hay sự hiểu biết, một người có khát vọng tâm linh bước đầu phải tỏ ra có sự cởi mở tinh thần. Do thiếu từ ngữ thỏa đáng, chúng ta có thể gọi đó là tình trạng hoài nghi lành mạnh. Khi các bạn ở trong trạng thái tinh thần cởi mở, các bạn có thể lý luận, và qua lý luận ; các bạn có thể triển khai một sự hiểu biết nào đó. Khi sự hiểu biết ấy được củng cố, nó sẽ sinh ra một xác tín, một niềm tin, một lòng cậy trông vào đối tượng ấy. Lúc bấy giờ đức tin, lòng cậy trông và sự tín nhiệm này sẽ rất vững chắc bởi vì nó cắm rễ trong lý trí và sự hiểu biết. Chính vì thế, chúng ta thấy Đức Phật trong các kinh điển khiển trách các môn đệ chấp nhận lời Ngài chỉ vì lòng tôn kính đối với nhân cách của Ngài. Đức Phật khuyến khích họ đem lời Ngài ra thử thách giống hệt một người thợ kim hoàn đem vàng ra thử trong lửa. Chỉ khi đó, họ mới hiểu mình có thể chấp nhận giá trị của lời Phật dạy hay không.

“Trong đoạn Phúc Âm này, tôi nhận thấy một dẫn chứng về ánh sáng xua tan bóng tối, tiếp theo sau đó là một dẫn chứng về sự cứu độ. Để liên kết hai ý tưởng đó, tôi sẽ nói rằng bóng tối vô minh sẽ bị sự cứu độ chân thật, tình trạng giải thoát xua tan. Trong ý nghĩa ấy, có thể hiểu được ý nghĩa của sự cứu độ ngay cả trong bối cảnh Kitô giáo.

“Xác định bản chất chính xác của sự cứu độ là một vấn đề phức tạp. Trong số các hệ thống tôn giáo khác nhau của Ấn Độ cổ xưa, nhiều người chấp nhận hình thức này hay hình thức nọ của ý niệm cứu độ. Trong ngôn ngữ Tây Tạng “cứu độ” là tharpa có nghĩa là “trả tự do” hay “tự do”. Các truyền thống khác không thừa nhận những ý niệm như thế. Một số trường phái khác chủ trương những ảo tưởng của tinh thần thì cố hữu hay nội tại và do đó chúng là một phần trong bản chất chủ yếu của tinh thần. Theo các trường phái này, không thể nào có được sự giải thoát bởi vì những điều tiêu cực và những ảo tưởng nội tại trong tinh thần và không thể tách rời khỏi tinh thần. Cả những người chấp nhận một ý tưởng về cứu độ hay giải thoát nào đó, cũng không thống nhất nhau về định nghĩa và các đặc tính của giải thoát. Ví dụ như, một số trường phái Ấn Độ cổ xưa, có khuynh hướng mô tả tình trạng cứu độ hay giải thoát bằng những từ ngữ chỉ không gian hoặc cảnh giới bên ngoài với những đặc tính tích cực, có hình thức như một chiếc dù lật ngược.

“Tuy nhiên, nếu một số truyền thống Phật giáo chấp nhận ý niệm giải thoát, họ thích nhìn giải thoát như một trạng thái tâm thức hoặc tâm linh riêng cho mỗi cá nhân tức là tình trạng hoàn thiện tâm thức hơn là một cảnh giới bên ngoài. Phật giáo hoàn toàn chấp nhận ý niệm những tịnh độ của chư Phật, tình trạng thanh tịnh mà sự xuất hiện tùy thuộc vào nghiệp lực tích cực của cá nhân. Những người bình thường cũng có thể tái sinh và gia nhập những tịnh độ của chư Phật. Đối với các Phật tử, cảnh giới tự nhiên của chúng ta – trái đất hoặc hành tinh này – không thể coi như một thế giới hiện hữu hoàn hảo. Nhưng bên trong thế giới này, người ta có thể nói rằng có những cá nhân đã đạt đến Niết Bàn và giác ngộ trọn vẹn. Theo Phật giáo cứu rỗi hay giải thoát phải được hiểu như một tình trạng nội tại, một tình trạng của sự phát triển tâm thức.

“Vậy các Kitô hữu quan niệm Thiên đàng như thế nào ?”

Cha Laurence : Thiên đàng là kinh nghiệm của sự chia sẻ niềm vui, sự bình an và tình yêu của Thiên Chúa trong sự trọn hảo của khả năng nhân loại.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Vậy thì, Thiên đàng không nhất thiết kết hợp với một không gian vật lý ?

Cha Laurence : Không ạ, chỉ vì người ta khéo tưởng tượng ra.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Ngược lại, người ta có thể mở rộng ra để hiểu khái niệm Hỏa ngục như một tình trạng tinh thần rất tiêu cực, lầm lạc ?

Cha Laurence : Hoàn toàn đúng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Điều đó có nghĩa là không cần phải cứ nghĩ đến Thiên đàng và Hỏa ngục như những cảnh giới bên ngoài ?

Cha Laurence : Không, Hỏa ngục chính là sống trong sự chia lìa với Thiên Chúa mà tự nó là điều không chân thật. Đó là một trạng thái hư huyễn bởi lẽ không có gì có thể chia lìa khỏi Thiên Chúa. Tuy nhiên, nếu chúng ta nghĩ rằng mình đang tách lìa Thiên Chúa, lúc đó mình đang ở trong Hỏa ngục.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Trong Phúc Âm, Đức Giêsu nói : “Ta không đến để kết tội thế gian… Lời Ta nói ra, chính lời ấy sẽ xét xử.” Tôi nghĩ rằng lời này phản ánh rất rõ ý tưởng karma (nghiệp) của Phật giáo. Không hiện hữu một hữu thể độc lập ở “cõi cao xanh” làm trọng tài về những điều chúng ta phải sống và phải biết ; trái lại, có một chân lý chứa đựng trong chính nguyên lý nhân quả. Nếu các bạn hành động cách đạo đức hay mẫu mực, các bạn sẽ lãnh nhận hậu quả tốt đẹp. Nếu các bạn hành động cách tiêu cực hay ác độc, các bạn cũng phải chịu đựng những hậu quả của chúng. Chân lý của luật nhân quả là vị quan tòa chứ không phải một vật hữu thể hoặc một con người đưa ra lời phán xét.

Các bạn hiểu điều đó như thế nào ?

Cha Laurence : Trong Kinh Thánh người ta tìm thấy một ẩn dụ thi vị Thiên Chúa trừng phạt nhân loại vì tội lỗi của nó. Nhưng tôi nghĩ rằng giáo huấn của Đức Giêsu giúp chúng ta vượt qua hình ảnh Thiên Chúa trừng phạt và thay thế bằng hình ảnh Thiên Chúa yêu thương không điều kiện. Tội lỗi vẫn còn. Tội lỗi là một sự kiện. Nhưng hình phạt liên kết với tội lỗi nội tại trong chính tội lỗi. Thay vì nhấn mạnh trên nhân quả, mặc dù điều ấy có vẻ hợp lý, tôi nghĩ rằng một Kitô hữu nhấn mạnh trên ý chí tự do. Chúng tôi có sẵn một ý chí tự do trong các vấn đề ấy, ít ra trong một mức độ nào đó.


PHẦN THỨ CHÍN
SỰ SỐNG LẠI
Phúc Âm Thánh Gio-an 20, 10-18

“Kế đó, các môn đệ lại trở về nơi họ ở. Tuy nhiên Maria đứng sát bên mộ phía ngoài mà khóc, bà vừa cúi người nhìn vào trong mộ ; bấy giờ bà thấy hai thiên thần mặc áo trắng một người ngồi đằng đầu, một người ngồi đằng chân nơi đã đặt thi hài Đức Giêsu. Họ nói với bà : “Này bà tại sao bà khóc ?” Bà nói với họ : “Tại vì người ta đã lấy Chúa tôi đi và tôi không biết họ đã đặt Ngài ở đâu ?” Nói thế rồi, bà quay lại và trông thấy Đức Giêsu đang đứng nhưng không nhận ra Ngài. Đức Giêsu nói với bà : “Này bà, tại sao bà khóc ? Bà tìm ai ?” Tưởng đó là người làm vườn, bà nói với Ngài : “Thưa ông, nếu chính ông đã đem Ngài đi, xin ông cho biết ông đã đặt Ngài ở đâu, tôi sẽ đến lấy Ngài” Đức Giêsu nói với bà : “Maria !” Bà quay lại nói bằng tiếng Hi-pri với Ngài : “Rabbuni !” có nghĩa là “Lạy Thầy !” Đức Giêsu nói với bà : “Đừng giữ Ta lại vì Ta chưa lên cùng Cha ; nhưng hãy đi tìm anh em Ta và nói với họ : Ta lên cùng Cha ta và cũng là Cha các ngươi, Thiên Chúa của Ta và cũng là Thiên Chúa của các ngươi” Maria người Magdala đi đem tin cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa và đây là những lời Ngài đã nói với tôi.” [Gio-an 20, 10-18]

Đức Đạt Lai Lạt Ma : “Đoạn Phúc Âm này hoàn toàn phù hợp cho buổi họp bế mạc cuộc hội thảo. Cái pari nirvana, hay vô dư niết bàn của Đức Phật được coi như hành động vĩ đại sau cùng của cuộc đời Ngài và đoạn trích Phúc Âm của Thánh Gio-an dường như có một ý nghĩa tương tự.

“Đối với một người đã tin ở sự sống lại, nói về sự chết, cũng là nói về sự sống lại. Sự sống lại chỉ có thể xảy đến nếu khi cái chết đã đến trước. Hôm nay chúng ta đã có một cuộc bàn cãi ngắn về đề tài này – một lần nữa dường như hầu hết các tôn giáo lớn đều giống nhau ở chỗ đời sống các vị tôn sư sáng lập đạo chứng tỏ sự quan trọng của việc các ngài đón nhận kinh nghiệm đau khổ và thừa nhận giá trị của nó.

“Trong cuộc thảo luận của tôi và cha Laurence hôm nay, cha có nhắc lại rằng Bede Griffiths đã phân biệt giữa thể xác vật lý, thể xác vi tế và thể xác tâm linh của Đức Giêsu. Trước cái chết của Đức Giêsu, đó là thân thể vật lý của Người : trong lúc sống lại, trước khi lên cùng với Chúa Cha, đó là thân thể vi tế, và sau khi lên trời, đó là thân thể tâm linh. Trong Phật giáo người ta đã tranh luận nhiều về các loại thân thể, như thân thể vi tế, thân thể tinh thần và thân thể tâm linh. Tuy nhiên, giữa thân thể vi tế của Đức Giêsu với thân thể vi tế mà các sách luận Phật giáo mô tả có một sự khác nhau to lớn. Những mô tả của Phật giáo về mức độ ngày càng vi tế của hóa hiện quy chiếu theo các giai đoạn tiến hóa tâm linh của con người, từ tình trạng bình thường cho đến sự giác ngộ trọn vẹn, trong khi ở trường hợp Đức Giêsu chúng ta đối diện với một con người độc nhất, Con Thiên Chúa. Vì thế tiến trình qua nhiều giai đoạn không áp dụng được. Đức Giêsu không đi qua một loạt các giai đoạn tâm linh, phải thế không ?

Cha Laurence : Không, sự sống lại không phải là sự đầu thai lại.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Chúng ta không nói về sự đầu thai lại ở đây. Chúng ta đang nói về một cá nhân hành đạo. Người này càng có nhiều tiến bộ tâm linh thì thân thể vật lý của người ấy càng trở nên vi tế.

Cha Laurence : Trước khi chết, Đức Giêsu hiện diện với các môn đệ và với thế gian một cách nào đó, và sau khi chết, Người hiện diện với thế gian một cách khác. Chúng tôi nhìn thấy trong sự hiện diện lịch sử của Người ở thế gian, trong sự gặp gỡ của Người ví dụ như với Maria, một sự hiện diện phải được thừa nhận. Còn có một cách thức mới mà người hành đạo phải tri giác để nhận ra sự hiện diện mới của Đức Giêsu. Phúc Âm đã trình bày cho chúng tôi một giai đoạn trung gian giữa một mặt là sự chết và Sống lại và mặt khác là sự Thăng Thiên của Người. Và cách thức mà ngày nay Đức Giêsu hiện diện trong thế gian còn khác với sự mô tả ấy. Ngày nay, chúng tôi nói rằng Người hiện diện bởi Chúa Thánh Thần.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Trong lòng của Phật giáo, một lần nữa, vẫn còn có những quan điểm khác nhau khi hiểu về vô dư niết bàn của Đức Phật. Một trường phái tư tưởng – chủ yếu là phái vaibhasika, một trường phái Ấn Độ cổ xưa – khẳng định niết bàn của Đức Phật tạo thành sự hoàn thành của cuộc đời Đức Phật. Tất cả như thể sự xuất hiện của Đức Phật đã là một sự kiện lịch sử, sự biến mất của Ngài đã là một sự kiện lịch sử ; cuộc đời Đức Phật có một khởi điểm và một chung cuộc. Vô dư niết bàn được coi như giây phút cuối cùng của một ngọn lửa. Khi bạn dập tắt ngọn lửa, đó là lúc cuối của nó ; đó là hư vô toàn diện. Ngay cả dòng tâm thức liên tục của Đức Phật cũng phải chấm dứt. Các môn đệ trường phái vaibhasika tuyên bố rằng tâm thức mặc dù không có khởi đầu, phải có chung cuộc. Tâm thức có thể ngừng hiện hữu.

Trong trường hợp này, vấn đề đặt ra đối với các môn đệ của Đức Phật là phải tìm hiểu đâu là ý nghĩa của việc tôn thờ, dâng cúng và cầu nguyện Đức Phật ? Để được lợi ích gì ? Tại sao lại làm mọi điều đó khi mà Đức Phật không còn nữa ? Câu trả lời của truyền thống này là sự giác ngộ viên mãn của Đức Phật là kết quả của sự tích lũy công đức và trí huệ qua vô lượng kiếp. Suốt cả thời gian đó, Đức Phật đã phát triển và vun trồng một ý hướng vị tha rất mạnh mẽ để phục vụ và mang lại lợi ích cho mọi người. Sức mạnh của năng lượng ấy và của chân lý ấy vẫn còn mãi ở giữa chúng ta. Và sức mạnh ấy sẽ đến phù trợ chúng ta khi thờ phụng và tôn kính Đức Phật. Tuy nhiên những gì liên quan đến con người lịch sử của Đức Phật đã kết thúc.

Quan điểm ấy không phải là quan điểm của một số truyền thống Phật giáo khác, trong đó có Phật giáo Tây Tạng. Theo trường phái này, Phật tính hay sự giác ngộ viên mãn được quan niệm trong bối cảnh của học thuyết tam thân (ba kayas). Đức Phật Thích Ca rõ ràng là một nhân vật lịch sử –Ngài đã sống ở một thời kỳ nhất định tại một địa điểm, một bối cảnh và một môi trường nhất định – và vô dư niết bàn của Ngài ở Kushinagar là một biến cố lịch sử. Nhưng tâm thức và dòng tâm thức của Đức Phật đã tiếp tục và luôn luôn hiện diện. Đức Phật, như một thực thể hóa hiện dưới hình thức nhân loại đã ngừng tồn tại, nhưng Đức Phật luôn luôn hiện diện dưới hình thức sambhogakaya (Báo thân), tình trạng hoan hỷ trọn vẹn. Và Ngài tiếp tục hóa hiện và biểu hiện dưới những hình thức khác nhau thích ứng tốt nhất và có lợi nhất cho chúng sinh. Từ quan điểm này, nếu Đức Phật Thích Ca như một khuôn mặt lịch sử đã ngừng hiện hữu thì sự hiện diện của Đức Phật vẫn còn. Theo truyền thống này, tâm thức thì vô thủy, vô chung bởi lẽ nó liên tục.

Đối với một Phật tử hành giả, vô dư niết bàn của Đức Phật có một ý nghĩa rất tượng trưng bởi những lời cuối cùng của Đức Phật hướng về học thuyết vô thường và bản chất giả tạm của mọi vật. Ngài tuyên bố rằng mọi vật và mọi biến cố đều giả tạm, vô thường. Ngài cũng tuyên bố thân thể của một đấng toàn giác – Đức Phật, hay Như Lai (Tathagata) – thì cũng vô thường và chịu chung những quy luật. Nói xong những lời này, Ngài tịch diệt. Đối với một Phật tử hành giả, vô dư niết bàn của Đức Phật, hiện thể lịch sử đã tịch diệt tái khẳng định sự quan trọng của việc thực hành tính vô thường.

Tôi phải suy nghĩ về câu nói trong Phúc Âm của Đức Giêsu : “Ta chưa lên cùng Cha”. Tôi tò mò muốn biết thần học Kitô giáo giải thích như thế nào về sự Thăng Thiên.

Cha Laurence : Trước kia. Trong Phúc Âm của Thánh Gio-an, Đức Giêsu đã nói : “Ta biết ta từ đâu đến và ta biết ta sẽ về đâu” Người diễn tả cuộc đời Người, sứ mạng của Người như sự trở về suối nguồn của Người. Khắp mọi nơi, Người nói : “Ta đến từ Chúa Cha…” Sự Thăng Thiên của Người là sự hội nhập lại nhân tính đã được triển khai trọn vẹn vào suối nguồn của nó trong Cha, trong Thiên Chúa. Trong một ý nghĩa nhất định, Thăng Thiên là sự hội nhập toàn diện của Thiên tính và nhân tính Đức Giêsu.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Phật giáo nghĩ rằng một quan hệ đặc biệt kết hợp sự hóa hiện và sức mạnh hóa hiện và một hóa hiện chấm dứt khi đã hoàn thành số phận của mình. Người ta thấy ý tưởng hóa hiện được hấp thu lại về suối nguồn của mình, mặc dù trong một số trường hợp hóa hiện sẵn lòng biến mất. Như thế trong trường hợp Đức Phật Thích Ca lịch sử, sau khi nhập niết bàn thân thể vật lý của Ngài vẫn còn hiện diện ; thân thể này đã được thiêu ra tro, và mọi người có thể thấy. Một Phật tử hành giả sẽ nói tâm thức của Đức Phật, tinh thần siêu việt của riêng Ngài đã hội nhập hay hấp thu vào trạng thái dharmakaya (Pháp thân). Một số văn bản cũng tham chiếu một loại hiện tượng khác – hiện tượng các hữu thể tinh thần phát triển cao có khả năng tiếp xúc với những thế giới thuần túy khác và không cần tách khỏi thân thể vật lý của họ.

Cha Laurence : Đấy là những điểm đại cương tráng lệ để hiểu sự sống lại theo ý nghĩa Kitô giáo và thật là phấn khởi. Tôi nghĩ rằng khi Kitô hữu hiểu về sự Phục sinh, sự lĩnh hội ấy cũng bao hàm một chiều kích vũ trụ. Đức Giêsu là sự nhập thể của Thiên Chúa trong hình thể nhân loại, và qua Ngôi Lời của Thiên Chúa đã sinh ra sự Sáng tạo hay Vũ trụ. Lúc mà hình thể nhân loại của Đức Giêsu chết, xảy ra một sự biến đổi mở ra viễn ảnh những gì sẽ xảy đến cho toàn bộ vũ trụ. Thân xác nhân loại của Đức Giêsu trong toàn bộ năng lượng và hình thể vật lý của Người, được hấp thu vào trung tâm của suối nguồn vũ trụ, trong Thiên Chúa. Điều này sau cùng sẽ xảy ra cho toàn bộ vũ trụ. Tất cả trong vũ trụ đã từ Thiên Chúa mà đến, là một sự hóa hiện của Thiên Chúa và sẽ trở về với Thiên Chúa. Vì thế, tôi nghĩ trong sự sống lại, chúng ta nhìn thấy một sự biến đổi của vật chất đang trở lại suối nguồn nguyên thủy điều này xảy ra cho thân xác của Đức Giêsu dưới hình thể nhân loại – thể xác, tinh thần và tâm hồn – nhưng đó cũng là một viễn ảnh, một sự tham dự trước của điều sẽ xảy đến cho vũ trụ khi đến giờ của nó, ở thời kỳ sau rốt.

Thưa Đức ngài, vì chúng ta sắp đến lúc kết thúc cuộc hội thảo này, tôi nghĩ chúng tôi phải nhất trí nói rằng chúng tôi cần phải có hai cuộc đời – hay hơn thế ! – để đồng hóa quà tặng tuyệt vời của ngài dành cho chúng tôi. Tôi xin trình lên một vài câu hỏi do chủ tọa đặt ra từ các nhóm hay cá nhân. Chúng tôi phải sắp xếp và chọn lọc – vì nhiều câu hỏi liên quan đến cùng một đề tài. Như chúng tôi đã nói khi mở đầu cuộc hội thảo, tôi nghĩ rằng chúng tôi đã bắt đầu bằng việc quan tâm đến dân tộc và đất nước Tây Tạng mà ngài là đại diện và hiện thân đồng thời bảo đảm sự hỗ trợ hoàn toàn của chúng tôi vì công lý và hòa bình cho Tây Tạng.

Một trong các câu hỏi liên quan đến ý niệm không gian linh thánh và đất thánh, theo sau lời chú giải của ngài về sự hành hương. Ngài đã nói về ích lợi rút ra từ các cuộc viếng thăm thánh địa. Câu hỏi mà chúng tôi xin đặt ra là : điều gì theo ngài làm cho một nơi thành thánh địa.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Theo tôi, lúc ban đầu, một nơi trở nên thánh nhờ sức mạnh của người hành đạo tâm linh đang sống ở đó. Sức mạnh của những thành tựu tâm linh một cá nhân “nạp vào” nơi đó và cho nó một năng lượng nào đó ; đến lượt nơi ấy “nạp lại” cho những người đến viếng thăm. Kế đó các nơi thánh đóng một vai trò quan trọng khác nhất là đối với những người liên kết với cuộc đời của các vị thầy sáng lập các tôn giáo lớn. Khi đến viếng thăm những nơi ấy, các môn đồ của một tôn giáo có cơ hội đặc biệt để suy nghĩ sâu xa về mẫu mực của những vị tôn sư và khi được động viên, khích lệ như thế, họ có một cơ may theo gương sáng các vị thầy.

Cha Laurence : Ngài có nghĩ rằng sẽ có ích khi người của các tôn giáo khác nhau cùng đi hành hương ?

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Vâng, đó chính là dự tính trong hoạt động của tôi. Tôi tin chắc thực hành ấy sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn.

Cha Laurence : Một câu hỏi khác có lẽ xuất phát từ sự kiện các Kitô hữu và các truyền thống khác – không phải ở Tây Tạng – nhạy cảm với các nhu cầu của Tây Tạng và xấu hổ vì sự dửng dưng của Phương Tây. Làm thế nào, với một phương tiện tâm linh hay một phương tiện khác mà ngài có thể đưa ra, các Kitô hữu, các Phật tử và tín đồ của những tôn giáo khác có thể giúp đỡ ngài và ủng hộ chính nghĩa của nhân dân Tây Tạng ?

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Vì vấn đề tự do của Tây Tạng liên hệ chặt chẽ với sự tự do và quả thực với sự tồn tại của đời sống tâm linh ở Tây Tạng, và chắc chắn có hậu quả với toàn thế giới. Chất tâm linh cổ xưa của Tây Tạng là giá trị quý báu. Nếu nó sống còn qua cơn đe dọa, thì không chỉ người dân Tây Tạng có lợi, nhưng nó còn góp phần to lớn vào hạnh phúc của nhân dân Trung Quốc. Trong nghĩa đó, tôi nghĩ những người hành đạo và các tổ chức tôn giáo khác – mọi người nhìn nhận giá trị của tâm linh – phải có một vai trò đặc biệt đem đến sự ủng hộ cho chính nghĩa của chúng tôi.

Cha Laurence : Đối với nhiều người, có lẽ đại đa số chúng tôi ở đây, việc thực hành tĩnh tâm thiền định từ ngày này qua ngày nọ là phương tiện trực tiếp chúng tôi sử dụng để phát triển lòng từ bi và sự phục vụ quảng đại việc nghĩa như chính nghĩa của Tây Tạng. Hẳn là tất cả chúng tôi sẽ được động viên và thêm phong phú nếu ngài có thể ban cho chúng tôi sự động viên và những lời khuyên về phương tiện kiên định trong con đường trầm tư mỗi ngày. Rất nhiều người sống trong thành phố phải đối đầu với những vấn đề của cuộc sống hiện đại và cảm thấy những khó khăn lớn khi thiền định. Chính vì thế mà Cộng Đồng Kitô hữu thiền định đã được thành lập, để hỗ trợ họ. Những thực hành thiền định thường khó khăn cho những người không sống trong các tu viện – và đôi khi cũng khó cho những người đang sống trong tu viện ! Xin ngài vui lòng mang lại cho chúng tôi sự động viên và cái nhìn thấu suốt về điều phải phát triển để chúng tôi kiên trì và đào sâu sự thiền định mỗi ngày.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Nếu một người được lợi ích của sự thăng tiến tinh thần thúc đẩy, sẽ không thể bỏ qua việc thực hành thiền định. Đó là chìa khóa ! Một lời cầu nguyện đơn giản hay một ước muốn không thể sinh ra sự thay đổi tâm linh bên trong. Cách duy nhất để tiến bộ là có một nỗ lực bền bỉ do thiền định ! Đương nhiên, lúc ban đầu không phải dễ. Các bạn sẽ cảm thấy những khó khăn hoặc lòng nhiệt thành bị suy giảm. Hoặc giả một sự nhiệt thành thái quá sau một vài tuần hay một vài tháng được tiếp nối bằng sự suy thoái. Cần phải phát triển một tiếp cận đều đặn, kiên trì và dựa trên một sự tham gia dài hạn.

Cha Laurence : Khi nản lòng, những phương tiện chủ yếu nào giúp chúng tôi kiên định ?

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Cần thường xuyên suy nghĩ và cân nhắc cái được, cái mất về việc thiền định hay không thiền định. Một mặt phải đo lường lợi ích, giá trị và hiệu quả của việc thiền định, và mặt khác những hậu quả tiêu cực của việc gạt bỏ thiền định. Khi so sánh thường xuyên hai khía cạnh ấy, người ta có thể duy trì được lòng nhiệt thành. Hành tinh của chúng ta có hơn năm tỷ con người ; đại thể có thể chia làm ba hạng người : những người là tín đồ và hành đạo tâm linh ; những người không chỉ vô tín mà còn chống tôn giáo ; và sau cùng những người không hành đạo cũng không đặc biệt phản đối tôn giáo. Họ ở trong một tình trạng lãnh đạm. Tuy nhiên cả ba loại người đó về cơ bản giống nhau : tất cả đều được thúc đẩy bởi bản năng và ước muốn tự nhiên được hạnh phúc và chiến thắng đau khổ.

Nếu người hành đạo hay tín đồ muốn so sánh mình với người khác thì không nên so sánh với những người thuộc nhóm thứ ba, mà phải so sánh mình với một đại diện của nhóm thứ hai gồm những người chống tôn giáo, không những không tin, họ còn nghĩ rằng tôn giáo vô ích và sai lầm. Các bạn hãy đối chiếu cuộc đời mình với cuộc đời của họ để xem cuộc đời nào chứng thực sự hài lòng và hạnh phúc lớn nhất. Dĩ nhiên, qua một số khía cạnh, những người làm bất cứ việc gì để đạt đến cứu cánh của họ có thể tạo ra ấn tượng họ rất thành công. Nhưng về lâu dài, phải phán đoán sự thành công của một phong cách sống bằng chất lượng cuộc sống mà một cá nhân biểu hiện và sự bình an nội tâm của người đó. Loại người thứ nhất cũng mong tìm được hạnh phúc và phương pháp của họ là tôn giáo. Ở đây, chúng ta gặp được những người hành đạo thuần thành chứ không phải những người chỉ thích nói mình tin và hành đạo mà đạo không có chút gì quan trọng trong đời họ. Nếu chúng ta so sánh hai loại người vừa kể, chúng ta phải thừa nhận không chút mơ hồ rằng cuộc đời người hành đạo chân thật biểu lộ nhiều hạnh phúc, thư thái và bình an hơn. Và cả trong xã hội nói chung, tôi tin chắc rằng người ta cũng sẽ dành cho loại người sau nhiều sự tôn kính và tín nhiệm hơn.

Khi xem xét sự việc dưới góc độ ấy, các bạn sẽ thấy hội nhập tôn giáo và một hình thức tâm linh nào đó vào cuộc đời của các bạn là một việc làm hữu ích. Các bạn hãy so sánh mình với người khác để củng cố niềm xác tín. Cũng là một điều tốt khi thỉnh thoảng đối chiếu các kinh nghiệm của mình với kinh sách. Bằng cách ấy, từ từ và từng bước một, các bạn sẽ thấy giá trị sâu sắc của cuộc sống tâm linh. Xác tín các bạn càng lớn, các bạn cảm thấy lòng nhiệt thành và sức mạnh càng cao để tiến lên phía trước.

Điều đó phải được coi là quan trọng, nhưng khổ nỗi trong thế giới thực tại, chúng ta quan sát thấy điều ngược lại. Nếu các bạn mong ước mạnh mẽ có được điều gì, nỗ lực của các bạn đương nhiên sẽ phải lớn hơn. Chúng ta hãy lấy ví dụ các nhà chính trị, quyết tâm phải được đắc cử : người ta thường có cảm tưởng họ hy sinh gần như tất cả để đạt được mục đích. Họ bắt đầu chiến dịch tranh cử, dừng lại ở tất cả địa phương. Trong suốt chiến dịch, họ già đi thấy rõ ! Thế đấy, họ cống hiến tất cả năng lực của họ. Người ta cũng thấy một sự quyết tâm như thế nơi một số nhà doanh nghiệp mà mục tiêu duy nhất của họ là kiếm được nhiều tiền và thu được nhiều lợi nhuận. Họ yêu thích tiền cuồng nhiệt đến nỗi họ sẽ hy sinh tất cả để đạt được mục đích ấy. Đối với người hành đạo tâm linh cũng phải như thế nhưng dường như người ta chưa thấy những người hành đạo tâm linh nhiệt tâm trong nỗ lực của mình được như vậy ! Điều tôi muốn nói là nếu các bạn càng thấy rõ mục đích mình khao khát, các bạn càng phải dấn thân mạnh mẽ để đạt mục đích và trên con đường đạo, các bạn phải có động lực mạnh mẽ hơn.

Từ lúc khởi đầu, phải tuyệt đối hiểu rằng sự phát triển tâm linh không dễ dàng chút nào ; nó cần có thời gian. Nếu lúc đầu, người ta hy vọng một sự thay đổi triệt để quá nhanh thì đó là dấu hiệu của một sự thất bại không thể tránh khỏi ! Về tinh thần, phải chấp nhận sự tiến bộ cần có thời gian.

Cha Laurence : Ngài có thể nói với chúng tôi cần bao nhiêu thời gian ?

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Trong ngôn ngữ Phật giáo, chúng tôi nói về vô lượng kiếp ! Và khi các bạn nghĩ bằng từ ngữ kiếp vũ trụ, thì năm tháng sẽ không là gì cả ! Một cuộc sống ngắn ngủi không là gì cả ! Trăm năm nào có nghĩa gì đâu ! Suy tư về vô số kiếp thật ra giúp chúng ta triển khai một quyết tâm mạnh mẽ ! Nhưng điều ấy không quan trọng ở đây. Điều cốt yếu là làm thế nào để được thiện hảo trong suốt cuộc đời này !

Cha Laurence : Là Kitô hữu, chúng tôi tin rằng Chúa Thánh Linh đang hoạt động không chỉ ở giữa các Kitô hữu, nhưng trong toàn thể nhân loại, nơi nào người ta thấy có chân lý. Đã hẳn nhiều người sẽ đồng ý với tôi để nói rằng Thánh Linh đang hoạt động trong cách thức ngài và nhiều huynh đệ tu sĩ và Phật tử của ngài đã đem minh triết của đất nước Tây Tạng đến Phương Tây và đã là những khuôn mẫu của lòng từ bi, tha thứ và quảng đại với cái giá của những đau khổ và hy sinh cá nhân đáng kể. Tôi coi các lần thăm viếng của Đức ngài ở đất nước này và Phương Tây như một món quà tặng lớn lao cho Kitô giáo. Đối với những người Phương Tây đã đánh mất sự nhiệt thành tâm linh và quyết tâm thăng tiến, ngài cho phép hiểu tôn giáo dưới một góc độ mới. Tôi tự hỏi ngài có thể giúp chúng tôi hiểu được tại sao thế giới hiện đại – khi mà chúng ta có nhiều thời giờ nhàn hạ, một sức khỏe và những điều kiện sống tốt nhất, nhiều tiện nghi vật chất hơn bao giờ hết – lại đánh mất ý nghĩa của tôn giáo chân chính và của sự thực hành tâm linh ?

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Có lẽ trong tu viện của các bạn, các bạn có thời gian nhàn rỗi, nhưng ở bên ngoài – nhất là trong những thành phố – cuộc sống chạy theo nhịp hối hả, như một chiếc đồng hồ, không bao giờ ngừng lại dù chỉ một giây ! Thật vậy, cách nay vài ngày thôi, tôi đã nói với một người thân cận khi quan sát kỹ cuộc sống trong các thành phố, người ta có cảm tưởng rằng tất cả những khía cạnh nhỏ nhặt của đời sống cá nhân phải được xác định thật chính xác, như một con đinh ốc được vặn khít chính xác vào lỗ đinh. Nói cách khác, các bạn không thể làm chủ cuộc sống riêng của mình. Để tồn tại, các bạn phải theo mô hình đó và nhịp sống đã được chia sẵn cho các bạn.

Cha Laurence : Thưa Đức ngài, Ngài sẽ nói gì về nhận xét mà ngài đã nghe thấy nhiều lần : “Tôi trầm tư tốt nhưng tôi không có thời gian.”

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Về việc này tôi xin kể lại các bạn một câu chuyện. Ngày xưa có hai nhà sư – một thầy và một trò. Một ngày kia, để cho đệ tử có thêm lòng can đảm, sư thầy nói : “Con tin ta đi, một ngày nào đó, chúng ta sẽ đi dã ngoại”. Ít ngày sau, sư thầy không còn nghĩ đến điều đó nữa. Sau đó, đệ tử nhắc lại lời hứa của thầy, nhưng vị này nhắc lại ông quá bận không thể đi dã ngoại trước một kỳ hạn nào đó. Một thời gian dài đã trôi qua mà vẫn không thấy đi dã ngoại. Người đệ tử ấm ức nhắc lại : “Khi nào chúng ta sẽ thực hiện chuyến đi dã ngoại lừng danh đó ?” – Thầy nói : “Không phải bây giờ, thầy bận việc quá chừng”. Cứ như thế, đến một ngày nọ, đệ tử thấy người ta khiêng một xác người chết, và thầy hỏi trò : “Việc gì xảy ra vậy ?” Và trò đáp lại : “Có gì đâu, con người tội nghiệp ấy đi dã ngoại đấy !”

Bài học đạo đức của câu chuyện đó là trong cuộc sống, nếu các bạn không dành một khoảng thời gian đặc biệt cho một công việc mà bạn đang hoài bão, thì bạn sẽ luôn luôn có những công việc khác và luôn luôn bị bận rộn.

Cha Laurence : Thưa Đức ngài, tôi xin nói một vài lời để kết thúc cuộc hội thảo này ; kế đó tôi sẽ nhờ Xơ Eileen O’Hea bày tỏ lòng biết ơn của tất cả chúng tôi. Trước hết, tôi xin cám ơn ngài từ nơi sâu thẳm nhất của hữu thể tôi – dù hữu thể vẫn còn là một mầu nhiệm đối với tất cả chúng ta. Nhưng tôi biết chính từ chiều sâu ấy mà chúng tôi cám ơn ngài về những điều ngài đã làm cho trở thành khả thi và mang lại cho mỗi người chúng tôi. Từ mấy ngày nay, tôi cảm nghiệm chúng tôi đang sống những giây phút lịch sử đã thành hiện thực nhờ lòng can đảm và tinh thần rất cởi mở của ngài. Ngài đã quảng đại dành cho chúng tôi khoảng thời gian rất quý báu này trong thời khóa biểu và can đảm khám phá Phúc Âm vốn còn xa lạ với Ngài.

Khi nghe ngài nói, điều làm tôi ngạc nhiên là minh triết bằng trực giác và cảm thức của ngài về chân lý, vốn được huân tập trong Phật giáo đã cho phép ngài tìm hiểu rất sâu sắc và nắm bắt rất rõ ràng nhiều chân lý của Kinh Thánh và chỉ cho chúng tôi thấy được những ý nghĩa mới. Tôi cũng thấy rằng điều ấy có thể thực hiện được bởi chúng tôi đã trao cho ngài điều rất quý giá và linh thánh. Sự tín nhiệm của chúng tôi đã được trả lại gấp bội vì ngài đã bàn đến kho Kinh Thánh ấy với sự mến mộ, với cảm thức về sự linh thiêng và lòng tôn trọng sâu sắc nhất. Chúng tôi xin được cảm ơn ngài về tất cả điều đó.

Cách thức ngài đã khai thác Kinh Thánh cùng với chúng tôi đối với tôi – và cả chúng tôi nữa – như một bài tập về bất bạo động. Ngài cũng có thể bàn về các bản văn ấy một cách khái quát, phiến diện (và ngài có quyền làm như thế !) Nhưng trái lại, ngài đã vận dụng sức mạnh của minh triết, trực giác, trí tuệ và sức mạnh tâm linh với sự tế nhị hiếm thấy. Điều này là một bài học bất bạo động mà chúng tôi sẽ ghi nhớ mãi trong lòng. Trong quá trình đào sâu những văn bản khác nhau, để kết thúc chiều nay chúng ta có đoạn Phúc Âm về sự Sống lại, mầu nhiệm này là nền tảng của đức tin chúng tôi, tôi cảm thấy rằng ngài đã sử dụng một ngôn ngữ, một tư tưởng và những hình ảnh liên kết với nền văn hóa của chúng tôi và đưa chúng tôi đến giới hạn của ngôn ngữ. Trong lúc kết thúc cuộc hội thảo, chúng tôi chuẩn bị bước vào những hình thức diễn tả khác với đại hội liên hoan liên tôn giáo : ca, vũ, nhạc và ngôn từ. Những hình thức diễn tả ấy sẽ dẫn đưa chúng tôi vào một chiều kích khác của chân lý. Còn sự làm chủ tư tưởng và ngôn ngữ của ngài, như tôi đã nói, đã dẫn chúng tôi đến một giới hạn. Tôi không nghĩ rằng sự khám phá của chúng tôi chấm dứt. Tôi hy vọng và tôi nài xin Đức ngài, bằng mọi cách, vui lòng tiếp tục cuộc đối thoại này.

Tôi xin cám ơn ngài không chỉ nhân danh cho cộng đoàn World Community for Christian nhưng còn nhân danh Giáo Hội và dòng tu. Tôi nghĩ rằng cuộc hội thảo này chứng tỏ những truyền thống tôn giáo khác nhau có thể tham gia một cuộc đối thoại sâu xa không chỉ giới hạn ở chỗ duyệt xét những điểm giống nhau hiển nhiên mà còn đề nghị cùng nhau tìm tòi chân lý. Có lẽ chúng ta đang đi trên những con đường song hành nhưng tinh thần thì duy nhất. Là các Kitô hữu, chúng tôi được khuyến cáo phải hiểu được vai trò của mình là người phục vụ Đức Giêsu tự giới thiệu mình trong Phúc Âm không phải như Chúa và Thầy nhưng như người phục vụ. Người nói : “Ta đã đến giữa các con để phục vụ”. Nhiều môn đệ của Đức Giêsu trong quá khứ đã quên điều ấy. Nhiều lần trong lịch sử, nhiều Kitô hữu và cả Giáo Hội đã đi tìm quyền lực tạm bợ, quyền lực chính trị và tôn giáo trên người khác gián tiếp qua chủ nghĩa tư bản và những hình thức độc tài khác. Với tư cách là con người, chúng tôi thừa nhận như thế là có tội. Nhưng ngài đã giúp chúng tôi hiểu được bản chất của đức khiêm nhường và vai trò của Kitô hữu, đồng thời có sự hiểu biết về chính mình trong cương vị môn đệ và người phục vụ. Chính vì thế chúng tôi dấn thân theo đuổi công việc này nhằm đem lại sự đoàn kết của các tôn giáo.

Sau cùng, tôi muốn cám ơn những người đã làm cho cuộc hội thảo này thêm phong phú : những nhân viên ban tổ chức, nhóm quay phim và nhất là nhà phối trí Clem Sauvé đã từ Canada đến đây tám tuần qua để làm việc với chúng tôi, và sau cùng nhưng không phải là chuyện nhỏ – tôi mong rằng không làm cho vị đó lại cười – tôi xin cám ơn Thupten Jinpa, người thông dịch của ngài.

Và giờ đây tôi xin nhường lời cho Xơ Eileen.

Nữ tu Eileen : Thưa Đức ngài, tôi không biết có thể thêm gì vào những lời của cha Laurence, nhưng với tư cách người phát ngôn của tập thể có mặt ở đây, tôi xin nói tôi không biết diễn tả cách nào cho đầy đủ lòng biết ơn của chúng tôi. Ngài đã chia sẻ với chúng tôi minh triết của văn hóa và truyền thống Tây Tạng theo một phong cách giúp chúng tôi hiểu đâu là ý nghĩa thật của sự trong sáng và thuần khiết tinh thần. Bởi lẽ chúng tôi thừa nhận ước muốn của chúng tôi là đấu tranh để cùng đạt tới những đức tính ấy. Nhờ ngài, chúng tôi đã học hỏi được nhiều, không chỉ bằng lời nói, còn bằng sự hiện diện, lòng từ bi và tình thương yêu tỏa sáng nơi ngài. Đối với tôi, lòng từ bi sẽ không còn có ý nghĩa giống như trước đây ! Tôi biết rằng đối với tôi – cũng như đối với nhiều người trong chúng tôi – cuộc gặp gỡ này đã thay đổi cuộc đời tôi và cuộc đời họ.

Chúng tôi thường nói Kinh Thánh Kitô giáo là Lời hằng sống của Thiên Chúa. Có những ngày Kinh Thánh dường như không nói với chúng tôi điều gì mới nữa, luôn luôn là những câu chuyện đã biết. Nhưng một động tác của ân sủng Chúa Thánh Linh dẫn dắt chúng tôi băng qua thời kỳ vô minh này. Nếu chúng tôi kiên trì, những từ ngữ trong Kinh Thánh sẽ sống lại và chứa đựng những ý nghĩa ngày càng sâu xa hơn. Khi lắng nghe ngài đọc Kinh Thánh, tôi xác nhận những lời của Đức Giêsu có được một ý nghĩa ngày càng sâu sắc hơn đối với tôi, và tôi nghĩ rằng mọi người có mặt tại đây cũng có thể xác nhận như tôi. Tôi tiếc không thể đáp lại vinh dự này bằng việc quy tụ để chia sẻ Kinh Phật như ngài đã chia sẻ Kinh Thánh Kitô giáo. Tôi cũng xin ngài hiểu nỗi đau khổ của chúng tôi trước sự tàn bạo mà dân tộc ngài phải chịu đựng. Bản thân tôi một công dân Hoa Kỳ, tôi xấu hổ vì chính phủ Mỹ không quyết tâm giúp đỡ ngài. Về vấn đề này, tôi có thể bảo đảm với ngài tôi không im lặng lâu hơn nữa.

Có người đã nói rằng chúng tôi đã tham dự một đại tiệc và chúng tôi ăn để sống. Tôi nghĩ tất cả chúng tôi sẽ sống tốt hơn sau lần tiếp xúc này với ngài. Tôi không biết liệu chúng tôi có còn cơ hội để gặp lại ngài hoặc giả tôi còn có đặc ân sống gần ngài như những ngày vừa qua. Nhưng tôi tin chắc chúng ta đã hợp nhất nơi đây, nơi mà chúng ta liên kết nhau trong lời cầu nguyện và sự tĩnh tâm thiền định. Chúng ta sắp chia tay nhau nơi đây chỉ ở bình diện thể lý, nhưng qua kinh nghiệm này, chúng ta luôn liên kết với nhau trong cảnh giới của sự hiệp thông ý thức.

Thưa Đức ngài, tôi cũng cám ơn ngài sâu sắc đã có mặt với chúng tôi. Tôi xin gởi đến ngài lời cầu nguyện hạnh phúc, lòng biết ơn và lời chúc phúc của chúng tôi cho mọi dự án của ngài. Để kết thúc, tôi xin mượn lời Thomas Merton : “Ở trung tâm của hữu thể chúng ta có một nơi ánh sáng thuần khiết, một nơi mà tội lỗi và ảo tưởng không thể xâm phạm được”. Tôi cám ơn ngài đã cho phép chúng tôi nhìn thấy nơi ánh sáng thuần khiết ấy trong ngài nhờ cuộc hội ngộ này.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Tôi xin bày tỏ niềm vui của tôi đã có cơ hội chia sẻ thời gian rất quý báu này với các bạn. Tình bạn thắt chặt tôi với cha Laurence đã tăng thêm suốt mấy ngày nay. Nhân cơ hội này, tôi muốn bày tỏ sự biết ơn sâu sắc của tôi đối với những lo âu, thiện cảm và sự hỗ trợ mà cha Laurence Freeman dành cho công việc, đất nước và dân tộc tôi. Những tình cảm ấy xuất phát từ con tim rộng mở, không cần che đậy. Những tình cảm ấy làm cho tôi đầy ắp niềm vui lẫn nỗi buồn. Xin cám ơn.

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tôi với tất cả các bạn đã tham dự các buổi đọc và thảo luận Phúc Âm. Mặc dù những điều tôi nói rất “sơ lược” và khá ngẫu hứng, tôi đã nhận thấy tất cả các bạn đều rất chú ý và tập trung. Điều này thật sự làm tôi cảm động. Vì thế nếu các bạn rút ra một chút lợi ích nào từ điều tôi đã nói trong mấy ngày qua, hoặc giả chỉ đơn thuần do việc các bạn đã tham dự cuộc hội thảo này, cũng đủ làm cho tôi vui sướng. Đây là lời kêu gọi mà tôi hướng về với tất cả các bạn : Xin các bạn vui lòng dùng mọi nỗ lực để đem lại cho cuộc sống làm người quý báu của các bạn có được nhiều ý nghĩa cao quý nhất.

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap