PHẦN
THỨ BẢY
SỰ TRUYỀN
GIÁO
Phúc
Âm theo Luca 9, 2-6
“Đức
Giêsu tập họp nhóm Mười hai ; Ngài cho họ uy lực và quyền
năng trên mọi ma quỷ và quyền chữa các bệnh tật. Ngài
sai họ đi rao giảng nước Thiên Chúa và chữa lành những
người tàn tật. Ngài nói với họ : “Đi đường các ngươi
đừng mang theo gì, không gậy, không túi, không bánh, không
tiền, không mang hai áo. Các ngươi đã vào nhà nào, thì cứ
ở nơi đó cho đến khi rời khỏi nơi ấy. Nơi nào, người
ta không tiếp nhận các ngươi, hãy rời khỏi nơi ấy và phủi
bụi khỏi chân để làm chứng cáo tội họ.” Các môn đệ
ra đi, từ làng này sang làng khác, loan báo Tin Mừng và chữa
lành bệnh ở khắp nơi.” [Luca 9, 2-6]
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : “Tôi nghĩ rằng đoạn văn này lưu ý chúng
ta về một lý tưởng tâm linh rất quan trọng, chung cho mọi
tôn giáo. Đó là một người hành đạo tâm linh đạt đến
một mức độ thành tựu nhất định sau một thời gian dài
thực hành, không được tự mãn với tình trạng ấy. Người
hành đạo này trái lại phải cố gắng truyền đạo cho những
người khác để họ cũng có thể thực hành kinh nghiệm đạo.
Vì mọi sự thực hành tâm linh trong yếu tính là sự thực
hành của tình thương yêu, lòng từ bi và độ lượng, một
khi các bạn đã có kinh nghiệm sâu sắc về đạo thì tự
nhiên các bạn ước mong chia sẻ với người khác.
“Trong
Phật giáo, khi chúng ta nói về các giáo huấn hay học thuyết,
chúng ta xét đến hai trình độ, hai kiểu mẫu. Một kiểu
liên quan đến văn tự, kiểu kia liên quan đến sự thực hiện.
Cách tuân thủ lời giáo huấn bằng văn tự là truyền bá
bằng giảng dạy và chú giải. Những lời giáo huấn liên
quan đến sự thể nghiệm được tuân thủ khi vun đắp kinh
nghiệm thực hiện nơi chính mình. Điều rất quan trọng là
một cá nhân muốn dạy một người khác giáo huấn liên quan
đến sự thực hành phải có kinh nghiệm tối thiểu về điều
mình dạy, và phải thành tựu một con đường nào đó trong
việc thực hiện tâm linh. Như vậy ở đây sự việc diễn
ra khác hẳn với những kiểu mẫu thông tin khác như khi một
người kể lại một câu chuyện hay khi một sử gia thuật
lại một biến cố của quá khứ. Trong những trường hợp
ấy, cá nhân dựa trên kiến thức mình, có thể kể lại các
sự kiện mà mình chưa từng sống qua. Nhưng trong trường hợp
các lời giáo huấn tâm linh, điều chủ yếu là vị sư huấn
giáo phải có mức thành tựu tối thiểu và thể nghiệm bản
thân.
“Ở
đây, Đức Giêsu nói với các môn đệ không mang theo gì trong
cuộc hành trình (truyền giáo), không lương thực, không gậy,
không túi xách, không tiền. Có lẽ đoạn văn này quy chiếu
vào một lý tưởng tâm linh quan trọng : đơn giản và khiêm
tốn. Thật vậy, trong các tu viện Phật giáo một tăng hay
một ni được chỉ thị phải luôn tâm niệm không được
sở hữu gì và sống nhờ bố thí. Bình bát mà các tu sĩ mang
theo được gọi là lhangse có nghĩa là cái bình để nhận
cái gì người ta bỏ vào đấy”. Từ ngữ ấy chỉ một tu
sĩ sống nhờ bố thí không thể vì cớ gì bày tỏ sự ưa
thích đối với thực phẩm người ta cho mình. Một hôm, tôi
đã tranh luận với một nhà sư Sri-lan-ka rất uyên bác về
sự ăn chay và vị sư ấy đã nói với tôi người ta không
thể xếp các tu sĩ Phật giáo vào loại ăn chay hay không ăn
chay bởi lẽ họ sống nhờ của bố thí, dù thực phẩm người
ta cho là gì cũng phải chấp nhận. Đoạn Phúc Âm này cũng
làm tôi nghĩ đến một câu nói của người Tây Tạng : nếu
người thiền định ẩn dật còn sống trên núi chưa xuống
thì lương thực và thực phẩm sẽ lên núi tới chỗ của
người ấy.
“Trong
Luật Tạng (Vinaya Sutra) quy định những luật lệ của cuộc
sống tu hành, Đức Phật tuyên bố cách sống lý tưởng đối
với một tu sĩ là đi từ làng này qua làng khác để khất
thực. Sau khi đã được tiếp nhận ở làng này, tu sĩ ấy
phải đi sang làng khác. Ẩn dụ ở đây là con ong bay từ hoa
này sang hoa khác, nhận phấn hoa của hoa này rồi hoa kia mà
không làm đau đớn tổn hại cho hoa nào. Cũng vậy, các nhà
sư phải đi từ làng này sang làng khác, không gây ra chút thiệt
hại tàn phá nào.
“Đoạn
Phúc Âm này cũng kể lại các hiện tượng như ma quỷ và
sự chữa lành các bệnh tật. Những ý tưởng tương tự được
tìm thấy trong các truyền thống tôn giáo khác. Tôi nghĩ rằng
đó là những từ ngữ và những cách nói thông dụng ở một
thời kỳ và trong một bối cảnh nhất định có chú trọng
đến các hệ thống tín ngưỡng của một dân tộc. Nhưng
ở đây nhấn mạnh đến một lý tưởng tâm linh lớn : Người
hành đạo tâm linh không được tự mãn với trình độ thành
tựu của mình. Điều chính yếu là bắt tay phục vụ người
khác, đóng góp tích cực cho lợi ích của người khác. Tôi
thường nói với các hành giả tuân theo nguyên tắc sau đây
: về những nhu cầu cá nhân, phải lo lắng quan tâm càng ít
càng tốt, còn về việc phục vụ người khác, phải lo lắng
quan tâm càng nhiều càng tốt. Đó là ý tưởng của một hành
giả tâm linh.
“Lời
tường thuật việc đi chữa bệnh không tất yếu được hiểu
theo nghĩa đen tức là chữa các bệnh tật thể lý. Bệnh tật
cũng có thể được mở rộng theo nghĩa tâm lý và cảm xúc.
Đối với tôi, kết hợp việc chữa trị bệnh tật với loan
báo Tin mừng có nghĩa bằng sự chia sẻ các kinh nghiệm tâm
linh của mình, bằng việc giảng dạy và loan báo Tin mừng
mà người ta có thể giúp đỡ những người khác chiến thắng
các bệnh tật của họ. Lời cảnh báo của Đức Giêsu trong
đoạn Phúc Âm rất gần với nhiều đoạn của kinh Phật.
Ví dụ trong một số bản văn, Đức Phật tuyên bố cuối
bài giáo huấn : “Những ai tuân thủ các lời giáo huấn mà
ta đã giảng dạy hôm nay cho các ngươi bằng việc ghi chép
lại trên giấy, đọc lại, giảng giải lại cho người khác
sẽ được công đức lớn lao.” Ý tưởng thì giống nhau.
“Một
vấn đề khác rất quan trọng được liên kết với vấn đề
nói trên. Đối với chúng ta, những độc giả ngày hôm nay,
điều chủ yếu là phân biệt giữa sự cải giáo và khái
niệm truyền giáo. Như chúng ta đã nói trước đây, người
ta phân biệt nhau bởi sự đa dạng trong thiên hướng tâm linh.
Đến nỗi thử áp đặt niềm tin tôn giáo cho một người
rõ ràng có xu hướng trái ngược, hành động ấy sẽ không
mang lại hiệu quả ích lợi mà còn có hại. Cảm thức ấy
được diễn tả rất rõ ràng trong lý tưởng Bồ Tát theo
đại thừa. Như thế, theo một trong mười tám giới luật
của Bồ Tát, người ta không được dạy học thuyết sâu
sắc về Chân Không cho một người có các trình độ tâm lý
không thích hợp. Bởi lẽ, nếu người ta do thiếu cảm thức
cứ khăng khăng truyền dạy học thuyết ấy cho một người
như thế người ta có nguy cơ gây ra những phản ứng đối
nghịch. Thay vì giúp người ấy tinh luyện sự thực hành tâm
linh, sự truyền dạy ấy có thể gieo vào tâm trí người ấy
sự lầm lẫn và có thể đẩy người ấy vào chủ nghĩa hư
vô. Trong trường hợp này, thay vì tích lũy công đức qua việc
giảng pháp, người ta lại tích lũy sự tiêu cực do không
nhạy cảm với nhu cầu và sự tiếp thu của người khác.
“Những
lời giáo huấn của Đức Phật rất rõ ràng về vấn đề
này. Người ta tìm thấy trong đó một danh sách các câu hỏi
được gọi là mười bốn câu hỏi nêu ra mà Đức Phật không
trả lời. Khỏi cần phải nói có nhiều cách giải thích về
hiện tượng những câu hỏi không có câu trả lời. Một trong
những câu hỏi ấy là : “Có một thực thể như một “yếu
tính của con người” hay ngã vị không ?” Đức Phật đã
không trả lời có cũng không nói rằng không. Câu hỏi đặt
ra do một người tin tưởng mạnh mẽ vào sự đồng nhất
của ngã vị với một tâm hồn vĩnh cửu và thường hằng.
Bởi thế, Đức Phật cảm thấy khi phủ nhận hiện hữu của
ngã vị, Ngài sợ rằng cá nhân ấy bị mất ổn định và
bị đẩy vào chủ nghĩa hư vô – một sự phủ nhận toàn
bộ hiện hữu của con người hay của tác nhân. Ngược lại,
khẳng định hiện hữu của ngã vị cũng hoàn toàn có hại
cho người ấy bởi vì càng cũng cố sự bám víu, gắn chặt
của người ấy vào khái niệm ngã vị ích kỷ và cô lập.
Đối diện với tình huống ấy, Đức Phật đã không đưa
ra bất cứ câu trả lời xác định nào. Như thế, người
ta thấy Đức Phật đã chọn lựa với sự nhạy cảm những
từ ngữ thích hợp với nhu cầu của mỗi cá nhân.
“Một
hôm, tôi đã nói chuyện với một tu sĩ Phật giáo người
Ấn Độ về học thuyết vô ngã (anatman) của Phật giáo. Đó
là một hành giả nghiêm túc mà chính tôi đã truyền giới.
Khi vị tu sĩ lần đầu tiên nghe được cách diễn tả ấy,
ông hoàn toàn bị rúng động, toàn thân run rẩy. Ông tuyệt
đối không thể nhìn thẳng vào khái niệm ấy. Tôi đã phải
làm dịu bớt hậu quả bằng những lời giải thích đầy
đủ và dài dòng. Ông cần phải có nhiều thời gian để lĩnh
hội thật sự ý nghĩa của học thuyết anatman. Các bạn thấy
đấy, điều chính yếu là các bạn hãy đo lường sự phù
hợp của giáo huấn với thiên hướng tâm lý của một người
và các xu hướng tâm linh của người ấy. Trong Phật giáo
truyền thống, không có sự cải giáo tích cực – ngoại trừ
trong sử ký biên niên của vương triều A-Dục ở Ấn Độ,
dường như nhà vua đã tích cực gởi nhiều phái đoàn truyền
giáo sang các nước lân bang. Theo luật chung, thái độ của
Phật giáo đối với việc truyền bá sứ điệp là như sau
: trừ phi có một người đến với một vị thầy và xin được
thọ giáo riêng, ngoài ra một vị thầy không nên áp đặt
quan điểm và học thuyết của mình cho người khác.
“Tôi
muốn nói thêm một lời về một điểm quan trọng khác rút
ra từ Phúc Âm. Khi người ta suy nghĩ về ma quỷ – bởi lẽ
từ này trở lại rất thường xuyên trong nhiều bản văn Kinh
thánh – điều quan trọng là không nên nói đến khái niệm
ấy như một sức mạnh của “cõi bên kia”, vĩnh hằng, độc
lập và tự quyết tồn tại như một sức mạnh tiêu cực
tuyệt đối. Cách diễn tả ấy tốt hơn nên liên kết với
các xu hướng và xung động tiêu cực nằm sâu trong mỗi người
chúng ta. Tôi đã tranh luận điểm này với cha Laurence và dường
như cha đồng ý với cách giải thích đó. Nếu không, mọi
ý niệm về quỷ Satan trở thành một khu vực rộng lớn của
sự lầm lẫn. Bản thân tôi, tôi tò mò muốn biết quan điểm
của Kitô giáo truyền thống về bản chất của quỷ Satan,
tôi không tài nào hình dung ra được !”
Lời
chú giải về bài đọc Phúc Âm
Cha
Laurence : Thưa Đức ngài, tôi xin được giới thiệu với ngài,
hai vị sẽ tham gia vào cuộc thảo luận sáng nay. Trước tiên,
đó là Phu nhân Maureen Allen, thực hành tĩnh tâm thiền định
từ ba mươi năm và đã giúp chúng tôi nhiều để chuẩn bị
cuộc hội thảo này bằng sự liên lạc với Văn phòng Tây
Tạng ở Luân Đôn. Kế đó là Ông Peter Ng từ Singapore và
là giám đốc đầu tư của Singapore Investment Corporation và
trên một bình diện tâm linh hơn, là một trong các giám đốc
của Trung Tâm Chirtian Meditation Center tại Singapore cùng đi với
vợ là bà Patricia. Tôi muốn Ông Peter trình bày điểm đầu
tiên của cuộc thảo luận.
Peter
Ng : Thưa Đức ngài, câu hỏi tôi muốn đặt ra khá sơ đẳng.
Nó liên quan mục đích và con đường của cuộc sống tâm
linh trong viễn cảnh Phật giáo, cũng như phương cách mà ngài
quan niệm việc thiền định trên một điểm duy nhất như
trợ lực cho sự phát triển tâm linh. Trong viễn cảnh Kitô
giáo, mục đích của đời sống tâm linh của chúng tôi, số
mệnh của chúng tôi, như cha Laurence đã nói, là tham dự vào
hữu thể của Thiên Chúa. Đối với chúng tôi, đường (hay
đạo) là chính Đức Giêsu, Giới răn hay giá trị tối thượng
để theo Đức Giêsu chính là tình yêu. Quả thật, với tư
cách là những Kitô hữu thực hành thiền định, sự thiền
định là con đường tình yêu đối với chúng tôi. Chính cha
John Main đã dạy chúng tôi về sự thiền định như thế.
Bằng sự thiền định, chúng tôi thiết lập một mối quan
hệ cá nhân với Đức Giêsu và phát triển tình yêu để đạt
đến sự viên mãn của tình yêu là chính Thiên Chúa.
Xin
ngài giải thích cho chúng tôi mục đích của đời sống tâm
linh là gì theo quan điểm Phật giáo : có một giáo huấn Phật
giáo tương đương với giáo huấn tình yêu là đạo hay không
và ngài có quan niệm sự trầm tư như một trợ lực của
đời sống tâm linh đó không ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Để trả lời cho câu hỏi của bạn, có
lẽ cần phải trình bày Bốn yếu tố của lòng tốt và hai
mục đích mà một cá nhân mong ước. Một trong hai mục đích
là hạnh phúc bình thường, ở bình diện thông thường ; mục
đích kia là đạt đến sự viên mãn giải thoát tâm linh, niết
bàn. Phương tiện để đạt đến hạnh phúc bình thường
là tích lũy của cải vật chất trong khi phương tiện thích
hợp để đạt đến giải thoát và sự viên mãn tâm linh là
sự thực hành chánh pháp. Trong trường hợp của bạn, hai
mục đích ấy dường như hội tụ bởi lẽ bạn là ông chủ
nhà băng (ngân hàng) ! Trong ngôn ngữ Tây Tạng, từ ngữ tương
đương với Phật pháp là choš có nghĩa là “chuyển hóa”
hay “sức mạnh”. Lòng từ bi về nhiều phương diện là
nguyên tắc căn bản của Pháp ; tuy nhiên, lòng từ bi gắn
liền không thể tách rời với Trí Huệ. Đạo hay Pháp, đó
là sự kết hợp của Trí Huệ và lòng từ bi.
Khi
người ta nói về lòng từ bi và trí huệ (minh triết) hoặc
về lòng từ bi và trí năng hay sự hiểu biết phải hiểu
rằng chúng tôi còn muốn nói đến những trình độ và kiểu
mẫu hiểu biết và trí huệ khác nhau. Một cách tổng quát,
người ta phân biệt hiểu biết quy ước gắn liền với lãnh
vực kinh nghiệm hằng ngày, và hiểu biết tối hậu liên quan
đến những phương diện sâu xa nhất của thực tại. Dĩ nhiên,
đối với Phật tử, “chân lý tối hậu” quy chiếu vào
bản chất tối hậu của thực tại mà người ta chỉ thị
bằng anatman (vô ngã hay không yếu tính). Tóm lại, khi các
Phật tử nói về bản chất tối hậu của thực tại, họ
có ngay trong đầu học thuyết sunyata, Chân Không.
Một
cách tổng quát, không có gì là của riêng Phật giáo trong
việc thực hành sự thiền định tập trung trên một điểm
và những kỹ thuật khác nhau được dùng để phát triển
năng lực ấy. Các truyền thống tâm linh lớn của Ấn Độ
Phật giáo hay không Phật giáo đều có chung những kỹ thuật
ấy. Đặc điểm của việc áp dụng khả năng tập trung vào
một điểm duy nhất là nó cho phép người thực hành tâm linh
tập trung tinh thần trên một đối tượng chọn trước, không
bị rối loạn bởi sự phân tâm. Cần phải thấy rõ sự tập
trung tinh thần trên một điểm duy nhất ấy là một từ ngữ
phân loại, trong khi samatha (chánh định trong ngôn ngữ sanskrit)
nói đến một trạng thái hướng thượng của tinh thần. Trong
đời sống hằng ngày, chúng ta đều biết mọi trạng thái
chóng qua của việc tập trung trên một điểm duy nhất, từ
đó chúng ta có thể phát triển khả năng ấy với việc áp
dụng các kỹ thuật thích hợp cho sự thiền định. Tình trạng
phát triển và tinh luyện khả năng ấy là samatha. Khi áp dụng
các kỹ thuật thiền định, khi bồi đắp và tinh luyện sự
tập trung nhất điểm ở nội tâm, các bạn có thể phát triển
không chỉ sự ổn định sâu xa của tinh thần – vì như thế,
bạn thoát khỏi tình trạng thường bị phân tâm làm năng
lực tâm lý của bạn phân tán và tan tác – nhưng còn phát
triển sự cẩn trọng sâu xa. Vậy, các kỹ thuật ấy cho phép
tập trung năng lực tâm lý đồng thời phát triển sự ổn
định và sáng suốt của các bạn. Vì khi đạt được sự
phát triển hai đức tính đó, các bạn có thể điều khiển
rất hiệu quả tinh thần trên đối tượng của sự thiền
định : lòng từ bi, trí huệ hay một đối tượng khác.
Nếu
chúng ta nhìn kỹ, chúng ta nhận thấy trong tinh thần có hai
yếu tố chính ngăn cản chúng ta phát triển đầy đủ khả
năng tiên thiên tập trung trên nhất điểm. Một là tình trạng
chia trí và phân tán của tinh thần giữ các bạn trong một
tình trạng kích động và ngăn cản các bạn đạt đến một
ổn định nào đó. Đó là trở ngại chính đối với việc
duy trì sự ổn định sâu xa. Một trở ngại khác là hôn trầm
tâm lý. Ngay cả khi các bạn thắng được sự phân tán tâm
thức và tìm thấy được chút ít ổn định, tinh thần các
bạn đôi khi lại thiếu sự chăm chú. Vậy thì các bạn đã
đạt đến một tình trạng tinh thần cách ly, tạm thời thoát
khỏi tình trạng chia trí, nhưng nó lại thiếu động lực
và sức sống. Đó là một kiểu tinh thần bay lượn, “lâng
lâng”. Trong thuật ngữ Phật giáo người ta gọi đó là sự
suy nhược, sự hôn trầm của tinh thần. Hai trở ngại này
phải được vượt qua. Khi các bạn vượt qua được sự hôn
trầm tinh thần, ngoài sự ổn định, các bạn đạt đến
sự sáng suốt và sức mạnh sâu xa. Và khi liên kết hai sức
mạnh ấy, các bạn sẽ có được sự ổn định cần thiết
để cố định tinh thần trên đối tượng và có được sự
chăm chú cần thiết để dồn mọi năng lực tinh thần để
thâm nhập bản chất của đối tượng.
Phu
nhân Allen : Trong lúc này đây, tôi chính là sự minh họa hoàn
hảo của tinh thần phân tán, tôi rất sợ điều này !
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Dĩ nhiên mọi người đều có ấn tượng
ấy ! Khi chúng ta thảo luận thành nhóm, tôi nghĩ rằng phần
lớn chúng ta đều có tinh thần trong thế giới hoặc cảnh
giới phân tán. Còn khi chúng ta thiền định, tinh thần ở
trong thế giới hôn trầm tâm linh !
Phu
nhân Allen : Trong cuộc thảo luận hôm nay có một điều mà
tất cả chúng tôi đánh giá cao. Đó là Đức ngài là hiện
thân của hạnh phúc. Thật là một ân huệ đối với các
Kitô hữu vốn đã học cách coi mình là những người tội
lỗi khốn khổ, Đức ngài nói về lương thực tâm linh và
chúng tôi phải cám ơn Ngài đã dọn cho chúng tôi một đại
tiệc. Về câu hỏi của tôi, tôi sẽ biết ơn ngài nếu ngài
đẩy xa hơn ý tưởng về đại vũ trụ. Ngày xưa, khoa học
và tôn giáo đi theo những con đường tách biệt nhau ! Nhưng
hình như ngày nay chúng đang trên đường hòa hợp. Trong Kitô
giáo Phương Tây, định nghĩa hay định nghĩa lại Thiên Chúa
đặt ra những vấn đề. Tôi không nghĩ rằng những người
có mặt ở đây còn hình dung Thiên Chúa như một ông già có
một bộ râu bạc trắng trên các tầng trời mặc dù tôi e
rằng luôn luôn có người nghĩ như thế ở nhiều nơi trên
thế giới. Hôm qua, Đức ngài đã cho chúng tôi một sự mô
tả tuyệt vời và hiện đại về Thiên Chúa ; chúng tôi biết
ơn ngài về điều đó. Ngài có thể triển khai ý niệm lệ
thuộc lẫn nhau (tương duyên) bởi lẽ rõ ràng ngày nay là
những thành viên nhân loại, chúng ta lệ thuộc nhau một cách
hữu cơ. Chúng ta đã quan sát trái đất từ mặt trăng. Và
khoa học càng ngày càng nói sự lệ thuộc nhau trong thiên nhiên.
Nhưng chúng tôi chưa bao giờ hiểu lệ thuộc nhau trong cùng
một tinh thần là gì – hiểu theo tâm lý và cảm xúc. Tôi
tin rằng chúng tôi có thể rút ra điều bổ ích từ những
soi sáng của Đức ngài.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Tôi nghĩ trước tiên điều quan trọng nhất
là phải hiểu chúng ta muốn nói gì qua từ ý thức. Bản chất
của ý thức, hay tri thức – tiếng Tây Tạng là shepa – không
có chút gì là vật chất : nó không có hình thức vật chất,
không thực thể, không màu sắc. Vậy nó không thể định
lượng bằng các thuật ngữ khoa học và không là đối tượng
tìm tòi của khoa học thông thường. Thay vì là bản chất
vật chất, ý thức có bản chất của một “kinh nghiệm thuần
túy và đơn giản” hoặc “tri thức thuần túy và đơn giản”.
Khi
tôi nói “Tôi biết” hoặc “Tôi có ý thức”, dường như
có một tác nhân “Tôi” hàm ngụ trong hoạt động biết
hoặc có ý thức ; nhưng điều chúng ta muốn nói bằng từ
ý thức là khả năng chi phối hành động biết hoặc có ý
thức. Nói cách khác, nó là hoạt động hay quá trình của
chính sự hiểu biết và nếu đúng như thế, nó là “ý thức
thuần túy và đơn giản” hay “tri thức sáng ngời”. Thông
thường chúng ta kết hợp khả năng ấy với một đối tượng
bên ngoài hoặc đối với một cảm giác dễ chịu hay khó
chịu. Như thế dù chúng ta suy nghĩ với các ý niệm hoặc
đơn giản chỉ có một kinh nghiệm cảm giác, ý thức tự
nó khởi lên với hình thức hay hình tướng của một đối
tượng và do đó chúng ta thường không nhận ra ý thức như
“ý thức thuần túy và đơn giản” hoặc “tri thức trong
trẻo và sáng ngời”. Tóm lại, trong cuộc sống thường nhật,
ý thức bị trói buộc trong những biểu hiện nhị nguyên của
đối tượng và chủ thể.
Trong
một ý nghĩa nào đó, người ta có thể nói chúng ta chỉ có
kinh nghiệm về ý thức đã được đối tượng tô màu. Chúng
ta biết chúng ta có tri giác về một vật màu xanh thì gần
như là chính sự tri giác cũng màu xanh. Tuy nhiên, có thể có
kinh nghiệm về bản chất chủ yếu ấy của ý thức – sự
chiếu sáng thuần khiết, kinh nghiệm thuần khiết, tri thức
thuần khiết mà tôi đã nói – bằng nỗ lực có ý thức
bỏ ra ngoài tâm thức mọi thứ công thức, ý niệm, hồi ức
và nhất là những vướng víu của giác quan. Như thế, trong
lúc vẫn duy trì sự tập trung sâu sắc, và nếu người ta
thành công trong việc chấm dứt mọi nhiễu loạn trong tâm
thức – các tiến trình tư tưởng bằng ý niệm và các công
thức thúc đẩy chúng ta tìm kiếm các kinh nghiệm giác quan
– thì người ta có thể bắt đầu nhận ra một bình diện
sâu sắc hơn. Sự kiện hoàn toàn bị cách ly làm cho tiến
trình tư tưởng không phát triển. Cần giữ vững sự tập
trung bằng việc từng bước làm cho sự thăng trầm giao động
của tư tưởng và kinh nghiệm giác quan của tâm thức phải
ngừng lại. Lúc đó, có thể nhận ra bản chất chủ yếu
của tâm thức. Lúc đầu, khi các bạn có kinh nghiệm lần
đầu tiên về điều ấy, kinh nghiệm ấy hiện ra đối với
các bạn như một thứ rỗng không. Nhưng qua thực hành, có
thể kéo dài khoảnh khắc đó. Từ từ, với sự tiến bộ
trong việc thiền định, các bạn có thể kéo dài thời gian
kinh nghiệm. Lúc đó, bản chất chủ yếu của tâm thức, sự
trong trẻo, sáng suốt sẽ ngày càng tỏ hiện. Đó là cách
mà ta có thể nhận ra bản tính cốt yếu của ý thức đối
lập với ý thức thông thường bị trói buộc với thực tại
vật lý.
Về
sự lệ thuộc lẫn nhau của ý thức và vật chất, các Phật
tử nói rằng chính tâm thức và những động lực xuất phát
từ tâm thức xác định một cách thực tiễn hành động và
thái độ của cá nhân. Mọi hành động, dù cho tầm quan trọng
của nó thế nào, đều có một hậu quả và để lại một
dấu vết trong tâm thức. Và hành động ấy tác động trực
tiếp đến kinh nghiệm và chính thế giới trong đó cá nhân
biến chuyển. Còn đối với cá nhân này, thế giới cũng đã
đổi thay. Chính trên nền tảng đó, Phật giáo giải thích
bản chất lệ thuộc lẫn nhau (tương tác) của tinh thần và
vật chất hay của tinh thần và thể xác. Một cách tự nhiên,
trong Phật giáo, người ta đưa ra từ nghiệp (Karma). Cho dù
học thuyết của nghiệp nói về dấu vết hoặc tiềm năng
đã để lại trên tinh thần – tiềm năng ấy được truyền
lại bằng cách nào và động lực của nó vận hành ra sao
– điểm chủ yếu là trong thực tế, hành động hay thái
độ đều được tác động bởi một trạng thái tâm thức.
Trong
Phật giáo, nhất là Phật giáo đại thừa, điều đầu tiên
là phạm trù nhân quả. Trong trường hợp này, sự tương tác
theo đường thẳng : một số nguyên nhân và điều kiện sinh
ra một số hậu quả. Sự tương tác nguyên nhân và điều
kiện (duyên khởi) là quan niệm chung của mọi trường phái
Phật giáo. Có một cách hiểu thứ hai, trong đó sự lệ thuộc
lẫn nhau (duyên khởi) được xét dưới góc độ sự lệ thuộc
hỗ tương, qua lại trong đó một số hiện tượng có quan
hệ qua lại với những hiện tượng khác. Có một thứ quan
hệ hỗ tương. Điều này được minh họa rất rõ trong ý
tưởng “toàn thể” và “các thành phần”. Không có các
thành phần, không thể có một “toàn thể” ; không có toàn
thể thì cũng không thể có các thành phần. Như vậy, có một
sự lệ thuộc hỗ tương. Cách tiếp cận thứ ba của nguyên
tắc lệ thuộc lẫn nhau quy chiếu vào tính đồng nhất : tính
đồng nhất của một biến cố hay một vật cá biệt lệ
thuộc vào bối cảnh hay môi trường của nó. Trong một nghĩa
nào đó, tính đồng nhất được xem như sự khởi xuất :
nó không tuyệt đối, mà tương đối. Một số sự việc và
biến cố có sự đồng nhất trong tương quan với những sự
việc và biến cố khác. Trên đây là ba trình độ hoặc ba
cách thức khác nhau khi xem xét nguyên tắc lệ thuộc lẫn nhau.
Cha
Laurence : Tôi muốn liên kết với phần mô tả tường tận
về ý thức bằng việc áp dụng một cách hiểu của Kitô
giáo đặc biệt về “tinh thần của Đức Kitô”. Các Kitô
hữu tin rằng ý thức nhân loại của Đức Kitô ở với chúng
tôi và ở trong chúng tôi. Bằng việc tĩnh tâm thiền định,
kinh nghiệm chủ yếu của Kitô hữu là đạt đến sự cởi
mở ý thức của mình ra với ý thức của Đức Kitô. Chúng
tôi tin rằng tinh thần của Đức Kitô hiện nay, ý thức nhân
loại của Đức Kitô hiện nay hiện hữu trong điều kiện
mà Đức ngài mô tả như sự thuần khiết tuyệt đối và
sự đơn nhất không phân tán. Nếu ngài cho phép, tôi xin trình
bày ngắn gọn phương cách một Kitô hữu phải gặp gỡ và
hiểu biết Đức Kitô như thế nào để đem lại sự giải
thoát bản thân và sự hoàn thành số mệnh của mình. Có lẽ
Đức ngài sẽ nói với chúng tôi suy nghĩ của ngài về điều
đó.
Những
giai đoạn một Kitô hữu phải đi qua để biết Đức Kitô
bắt đầu từ thời thơ ấu với những câu chuyện người
ta kể lại, với các bài đọc Kinh Thánh như ngài đã cùng
đọc với chúng tôi. Về sau, chúng tôi đạt được sự hiểu
biết và lĩnh hội Đức Giêsu trên các bình diện thần học,
triết học và lịch sử. Kế đó, bằng việc tĩnh tâm, thiền
định, chúng tôi bắt đầu có kinh nghiệm về sự cư ngụ
bên trong, bởi lẽ Đức Giêsu không chỉ là một vị thầy
thuộc về lịch sử đã qua, nhưng giờ đây Đức Giêsu còn
hiện hữu sâu kín trong nội tâm của mỗi con người, đồng
thời Chúa hiện diện trong vũ trụ, Chúa ở bên ngoài thời
gian và không gian và vì vậy Chúa ở mọi nơi và mọi lúc.
Nhưng để hiểu trọn vẹn Đức Kitô là thầy, là Đường
như thế nào, chúng tôi phải trở về Kinh Thánh trong đó Đức
Giêsu nói với chúng tôi Ngài là Đường và tự ví mình như
cánh cửa. Chúng tôi bước qua cửa đó. Ngài là con đường
chúng tôi vượt qua. Con đường không đến chính Ngài, nhưng
luôn luôn dẫn đến Cha. Ví dụ như trong thánh lễ, chúng tôi
nói rằng chúng tôi đến với Cha “bởi Đức Giêsu với Ngài
và trong Ngài”. Với ý nghĩa đó, Đức Giêsu là Thầy, tôn
sư, Đường (Đạo) nhờ sự trú ngụ của ý thức Ngài trong
chúng tôi. Đó là sự hiện diện của tình yêu Thiên Chúa.
Khi hợp nhất trọn vẹn với tình yêu Thiên Chúa, ý thức
của Đức Kitô là một kinh nghiệm tình yêu đối với chúng
tôi. Đức ngài có thể nói với chúng tôi quan niệm đó về
ý thức gợi lên cho Đức ngài điều gì ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Trong khi vẫn quan tâm đến những lời chú
giải của tôi hôm qua về sự quan trọng phải nêu lên những
đặc điểm khác nhau tế nhị phân chia các truyền thống tôn
giáo ở một bình diện sâu xa, tôi vẫn thấy ở đây một
sự tương đồng với sự thực hành Phật giáo. Tuy nhiên không
nên đẩy sự tương đồng ấy đến cực độ. Như một câu
châm ngôn Tây Tạng có nói : “Đừng cố sức đặt cái đầu
con trâu trên thân của con cừu”. Cũng thế, Nagarjuna một
vị thầy nổi tiếng của Ấn Độ ở thế kỷ thứ II nhận
xét trong các bài viết triết học rằng nếu người ta đã
quyết chí làm cho hai vật bằng nhau, thì người ta có thể
tìm thấy những điểm chung của bất cứ vật nào ! Đẩy
đến cực độ thì toàn bộ thế giới hiện tượng có thể
giản lược vào một thực thể duy nhất, thậm chí một vật
duy nhất.
Nói
như thế, nhưng tôi vẫn thấy có một sự tương đồng thật
sự với sự thực hành đạo Phật. Trong Phật giáo, có ý
tưởng bản tính của Phật, được gọi là tathagata-garbha,
chủng tử hay hạt giống của sự hoàn thiện viên mãn. Mặc
dù có những ý kiến khác nhau về bản chất của chủng tử
Phật tính hay bản chất của Phật, thì bản tính ấy ruốt
cuộc là bản tính của tinh thần, một tính chất tồn tại
trong mỗi người chúng ta. Và tathagata-garbha liên quan đến
sự sáng ngời ban đầu, yếu tính thuần khiết, tiềm năng
làm cho chúng ta có thể vượt qua mọi sự bất toàn để đạt
đến sự giải thoát. Một trong những nền tảng cho phép khẳng
định sự hiện diện Phật tính ở mỗi người chúng ta là
khả năng cảm thông của con người. Một số người có cảm
thông mạnh hơn những người khác ; nhưng mỗi người đều
có khả năng cảm thông tự nhiên. Phật tính ấy, chủng tử
giác ngộ hoàn thiện ấy thì bẩm sinh. Đó không phải là
một vật cần được vun trồng ; nó có đó và thường hằng
hiện diện.
Tuy
nhiên, để đạt đến sự hoàn thiện, một người hành đạo
chỉ có bản tính đó chưa đủ ; tính Phật phải được phát
triển trọn vẹn mọi tiềm năng. Để thực hiện điều đó,
cần phải có sự giúp đỡ. Trong sự thực hành đạo Phật,
các bạn cần sự trợ giúp của một người dẫn đường
đã giác ngộ, của một tôn sư hoặc của một vị thầy.
Người ta sẽ nhận thấy các bản văn Phật giáo thường chỉ
vị thầy như cánh cửa qua đó các bạn nhận được phước
lành của Đức Phật. Qua cửa ấy, các bạn bước vào sự
hiệp thông và tiếp xúc với Đức Phật. Nhờ kết hợp sự
hướng dẫn có kinh nghiệm của Thầy với sự hiện diện
của Phật tính trong các bạn, Phật tính này sẽ được tác
động và bạn trở nên có khả năng hoàn thiện và đáp ứng
tiềm năng tròn đầy của Phật tính. Tôi nghĩ rằng điều
này rất gần với ý tưởng Cha Laurence vừa mới diễn tả.
Đối
với những người hành đạo Kitô giáo – mặc dù mỗi người
chúng ta đều có phần trong bản tính Thiên Chúa – chính nhờ
Đức Kitô, nhờ Đức Giêsu mà các bạn hoạt động, sử dụng
đầy đủ trọn vẹn và hoàn thiện thiên tính trong các bạn.
Nhờ Đức Giêsu, thiên tính ấy được triển nở trọn vẹn
và hiệp nhất, trở nên một với CHA. Người ta lưu ý rằng
ngay cả trong Phật giáo, để diễn tả sự hoàn thành viên
mãn Phật tính – Tính giác ngộ – đôi khi người ta nói
người ta trở thành “cùng một mùi vị” với cái bao la
của dharmakaya (Pháp thân). Thành “cùng một mùi vị” chính
là trở nên không thể tách rời với trạng thái của dharmakaya.
Tuy nhiên, tính đồng nhất của cá nhân không vì vậy mà suy
giảm.
Cha
Laurence : Cám ơn. Thật là rõ ràng, và tôi nghĩ rằng cái đầu
con trâu vẫn sẽ ở trên mình con trâu.
Peter
Ng : Thưa Đức ngài, tôi xin đặt một câu hỏi liên quan đến
sự truyền giáo của Kitô hữu. Ngài khuyến khích những người
hành đạo tâm linh giảng dạy về tâm linh để giúp đỡ những
người khác thăng tiến, nhưng đồng thời, ngài nói rằng
một người muốn giảng dạy cần phải có một mức độ
kinh nghiệm nào đó, và một sự lãnh hội sâu xa điều mình
giảng dạy. Đây là một vấn đề mà nhiều người chúng
tôi ở đây quan tâm vì chúng tôi điều hành các nhóm thực
hành thiền định Kitô giáo, nghĩa là chúng tôi đang giảng
dạy những người khác. Làm thế nào biết được chúng tôi
có khả năng điều hành một nhóm thực hành sự trầm tư
?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Một cách tổng quát, ngoài những trường
hợp mù quáng về chính mình, tự mình có thể lượng giá
trình độ tinh thần của mình tất nhiên không phải trong những
chi tiết nhỏ nhất, nhưng trong một đại thể. Nếu một người
điều hành hay giảng dạy là một hành giả chân chính thì
chắc chắn động cơ của người ấy sẽ thuần khiết –
và động cơ là một nhân tố chính. Chính vì thế mà một
cá nhân có thể phán đoán tình trạng tinh thần của riêng
mình và xem mình làm thầy dạy có thích hợp không. Một người
thứ ba rất khó phán đoán xem một người nào đó có thích
hợp hay không với vai trò làm thầy. Nói chung, phán đoán trình
độ tâm linh của một người khác vô cùng khó khăn, nếu
không nói là không thể. Sở dĩ như thế vì trình độ hoặc
sự thành tựu tâm linh của người khác trong một chiều hướng
nào đó hoàn toàn không thể hiểu thấu được. Tuy nhiên,
có thể phán đoán trình độ tâm linh của người khác bằng
những từ ngữ rất tổng quát. Khi các bạn giao thiệp với
một người lâu ngày, thỉnh thoảng các bạn thoáng thấy trình
độ tâm linh của người đó qua việc quan sát thái độ, cung
cách, ngôn từ, cách hành động với người khác…
Thấy
một người ứng xử một cách rất tâm linh chỉ một lần
chưa đủ. Phải là một thái độ đều đặn có thể được
quan sát nhiều lần. Nếu các bạn nhận thấy sự lâu bền
của những đặc tính như thế, lúc đó các bạn có thể kết
luận một mức độ nào đó của sự trưởng thành tâm linh.
Trong các kinh Phật, Đức Phật sử dụng đại dương làm một
loại suy. Khi các bạn nhìn xuống đại dương, Đức Phật
nói, và cố gắng nhận ra một con cá, các bạn chỉ nhận
ra cá khi nào đại dương yên tĩnh và có cá đang bơi dưới
nước. Nhưng khi sóng đến, một đôi khi các bạn có thể
thoáng thấy một con cá. Cũng thế, Phật tuyên bố rằng trình
độ thành tựu của một vị Bồ Tát, đặc biệt trình độ
từ bi có thể được nhận thấy – có lẽ không phải một
cách dứt khoát nhưng bằng lý luận quy nạp – qua việc đánh
giá cách thế mà vị Bồ Tát nam hay nữ ứng xử trong những
hoàn cảnh, môi trường và những trường hợp đặc biệt.
Cha
Laurence : Chúng ta có thể kết thúc buổi họp với một câu
hỏi của nhiều người. Câu hỏi này do một nhóm thảo luận
đặt ra, có liên quan đến bất bạo động. Người ta hỏi
có phải lòng từ bi chứa đựng một yếu tố tích cực, hoặc
nó tiêu cực ? Lòng từ bi có thể đòi hỏi một hành động
bạo lực không ? Tôi giả sử nếu các bạn thấy một người
sắp sửa phạm một hành động xấu – ví dụ như làm nổ
tung một ngôi nhà, người ta vì lòng từ bi có thể sử dụng
vũ lực để ngăn chặn hắn không ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Lòng từ bi bao hàm một yếu tố tích cực
là hoàn toàn đúng và đem lại một khả năng sử dụng sức
mạnh nếu như người ta cho là thật sự cần thiết. Điều
này được minh chứng rõ ràng trong các truyện jatakas (truyện
tiền thân), một tiền kiếp của Đức Phật trong đó Ngài
sinh ra làm thương gia. Trong lúc đi qua sông trên một con đò,
vị Bồ Tát thấy mình ở vào một hoàn cảnh khó xử : kẻ
lái đò là một tên sát nhân đã dự tính giết chết bốn
trăm chín mươi chín hành khách trong đêm đó. Để xử lý
tình hình ấy, không có cách nào khác hơn phải trừ khử tên
sát nhân. Và vị Bồ Tát đã nhận trách nhiệm ấy. Ông đã
tham gia một hành động không chỉ cứu mạng sống của bốn
trăm chín mươi chín người, mà còn vì lòng từ bi cứu vớt
tên sát nhân tiềm tàng tránh được sự đối đầu tất yếu
với những hậu quả tiêu cực của vụ sát nhân hàng loạt.
Đối với một Phật tử, sự hy sinh của vị Bồ Tát chủ
yếu nhận về phần mình hành động tiêu cực giết người
và đối đầu với những hậu quả của hành động ấy.
Như
thế, khi nói về bạo lực, chúng ta phải hiểu mình đang nói
về một hiện tượng mà trong thực tiễn không ai có thể
tiên đoán hậu quả. Ngay cả khi động lực của người hành
động thuần khiết và tích cực, nếu đã sử dụng đến
bạo lực thì khó tiên đoán mọi hậu quả. Tuy nhiên, nếu
các bạn rơi vào một tình thế đòi hỏi phải hành động
công khai bằng sức mạnh để tự vệ, thì các bạn phải
đáp trả một cách thích hợp. Trong bối cảnh đó, điều
quan trọng là phải hiểu rằng lòng khoan dung và nhẫn lại
không có nghĩa là chịu khuất phục hoặc nhượng bộ trước
sự tấn công. Lòng khoan dung đúng nghĩa phải là một câu
trả lời thung dung của các bạn đối với một tình thế
mà bình thường người ta hay phản ứng bằng một cảm xúc
mạnh mẽ và tiêu cực như giận dữ hay thù hận. Điều này
hiện ra rõ ràng trong từ ngữ Tây Tạng sošpa có nghĩa đen
là “có khả năng chịu đựng”.
Rõ
ràng nhất là trường hợp của lòng khoan dung khi các bạn
dửng dưng với sự đau khổ người ta gây ra cho mình, đây
là một trong ba loại nhẫn nại đã bàn đến ở trên. Người
ta có thể hiểu sai lầm phải nhượng bộ chịu đựng mọi
đau khổ mà người khác gây ra cho bạn – như thể chúng ta
phải luôn hoan hỷ nói rằng : “Nào, các bạn cứ làm tôi
đau khổ đi !” Không phải là như thế, nhưng đúng hơn đây
là một trạng thái tinh thần can đảm giúp chúng ta ít bị
tác động bởi những sự cố. Nó làm cho chúng ta tránh được
sự đau khổ khi chúng ta gặp đau khổ thể xác. Nó không có
nghĩa chúng ta luôn hoan hỷ nhượng bộ.
Cũng
dễ hiểu khi người ta có một ý niệm sai lầm về lòng khoan
dung. Tôi đã gặp những người Tây Tạng đã đọc cuốn Bồ
Tát đạo trong đó nói rất kỹ về lòng khoan dung và họ nói
với tôi : “Nếu chúng ta thực hành lòng khoan dung thì đất
nước Tây Tạng sẽ không bao giờ giành được nền độc
lập !” Nhưng đối với họ, lòng khoan dung là một thái độ
đầu hàng hoặc buông trôi.
PHẦN
THỨ TÁM
ĐỨC TIN
Phúc
Âm Thánh Gio-an 12, 44-50
Cha
Laurence : Thưa Đức ngài. Chúng tôi còn được hân hạnh tiếp
đón ngài ở giữa chúng tôi. Trong buổi họp này, xin ngài
chú giải hai đoạn Phúc Âm sau cùng, cả hai đều của Thánh
Gio-an. Đoạn đầu liên quan đến Đức tin và đoạn thứ hai
là một bài tường thuật về sự Phục Sinh.
“Tuy
nhiên Đức Giêsu lớn tiếng nói : “Ai tin ở Ta, không chỉ
tin ở Ta, mà ở Đấng đã sai phái Ta ; và ai thấy Ta, thấy
Đấng đã sai phái Ta. Ta đã đến thế gian này như là ánh
sáng ; vậy ai tin ở Ta không sống trong bóng tối. Nếu người
nào nghe lời Ta mà không tuân giữ thì không phải Ta sẽ kết
tội họ ; bởi lẽ Ta không đến để kết tội thế gian,
nhưng để cứu thế gian. Ai khinh bỉ Ta và không chấp nhận
lời Ta đã bị kết tội rồi : lời Ta nói ra, chính lời ấy
sẽ xét xử trong ngày sau hết. Quả thật, không phải chính
Ta tự mình đã nói ra nhưng Cha, Đấng sai phái Ta đã truyền
lệnh Ta phải nói gì hay dạy gì. Và Ta biết lệnh truyền
của người, đó chính là sự sống đời đời. Vậy các lời
Ta nói thì như Cha đã nói với Ta sao, Ta cũng nói vậy.” [Gio-an
12, 44-50]
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : “Đoạn kinh trích từ Phúc Âm của Thánh
Gio-an theo tôi có lẽ là một đoạn quan trọng của Kinh Thánh.
Điều đầu tiên làm tôi xúc động, vì nó gần giống với
một đoạn văn đặc biệt của Kinh Phật trong đó Đức Phật
tuyên bố người nào thấy được nguyên lý nhân duyên sinh
người ấy nhìn thấy Pháp và người nào nhìn thấy Pháp,
người ấy thấy được Phật Như Lai (Tathagata). Bởi thế
với sự hiểu biết bản tính của nhân duyên sinh và Pháp,
người ta biết được bản chất chân thực của Phật tính.
Một khía cạnh khác của vấn đề là tri giác thị giác đơn
thuần thân thể của Đức Phật không đồng nhất với thị
kiến chân thực về Đức Phật. Để thấy Phật chân thực,
phải ý thức rằng Pháp thân (dharmakaya) Đức Phật là chân
như. Có như thế mới gọi là thật sự nhìn thấy Phật. Cũng
thế, đoạn Phúc Âm này xác nhận nhờ nhân cách lịch sử
của Đức Kitô mà các bạn có kinh nghiệm về Cha, Đấng mà
Đức Kitô biểu hiện. Đức Kitô là con đường dẫn đến
sự gặp gỡ Cha.
“Cũng
ở đoạn Phúc Âm này, chúng ta gặp ẩn dụ về ánh sáng,
có chung ở mọi truyền thống tôn giáo lớn. Trong bối cảnh
Phật giáo, ánh sáng được kết hợp chặt chẽ với trí huệ
và tri thức ; bóng tối là của vô minh và lầm lẫn. Điều
này tương ứng với hai khía cạnh của đạo : khía cạnh phương
pháp bao gồm những thực hành như lòng từ bi và khoan dung
và khía cạnh trí huệ hay tri thức, một cái nhìn sáng tỏ
thấu suốt bản tính của thực tại. Chính khía cạnh tri thức
hay trí huệ của đạo mới là thuốc trị làm tiêu tan vô
minh.
“Về
đoạn kinh này đồng thời xác nhận sự quan trọng của đức
tin trong sự thực hành tâm linh của mỗi người, tôi nghĩ
rằng đưa ra một vài lời giải thích về cách hiểu đức
tin của Phật giáo là một điều hữu ích. Từ ngữ đức
tin trong tiếng Tây Tạng là té-pa có lẽ gần với tin cậy
hay tín thác. Truyền thống Phật giáo phân biệt ba loại đức
tin khác nhau. Loại thứ nhất là sự thán phục dành cho một
người đặc biệt hay một tình trạng đặc biệt. Loại thứ
hai là đức tin ước muốn. Người ta tìm thấy ở đây ý
niệm ganh đua. Các bạn ước muốn đạt đến tình trạng
ấy. Loại thứ ba là đức tin xác tín.
“Tôi
nghĩ rằng ba loại đức tin đó đều có từ tương đương
trong bối cảnh Kitô giáo. Như thế, môït Kitô hữu hành đạo
đọc và suy nghĩ về cuộc đời của Đức Giêsu có thể cảm
thấy một sự sùng tín và thán phục rất mạnh đối với
Đức Giêsu. Đó là trình độ đầu tiên của đức tin, đức
tin thán phục và sùng tín. Sau đó, khi lòng thán phục và đức
tin ngày càng vững chắc, có thể đạt đến trình độ thứ
hai, đức tin ước muốn. Nếu các bạn là Phật tử, các bạn
khát vọng Phật tính. Còn với tư cách Kitô hữu, các bạn
không sử dụng ngôn từ giống như thế, nhưng các bạn có
thể nói rằng các bạn ước muốn đạt đến sự trọn hảo
của Thiên tính, của sự hợp nhất với Thiên Chúa. Kế đó,
một khi ước muốn ấy đã phát triển, các bạn sẽ đạt
được một niềm xác tín sâu xa có thể thực hiện viên mãn
một trạng thái như thế. Đó là trình độ thứ ba của đức
tin. Tôi nghĩ rằng ba trình độ này đều áp dụng được
trong bối cảnh Phật giáo và Kitô giáo.
“Phật
giáo không ngừng nhấn mạnh đến nhu cầu liên kết đức
tin và lý trí để tiến tới trên con đường tâm linh. Nagarjuna,
vị thầy Ấn Độ ở thế kỷ thứ II tuyên bố trong cuốn
sách luận nổi tiếng của ngài, Tràng Hoa Quý Giá rằng đức
tin và lý trí, hay đức tin và sự phân tích là những đòi
hỏi của khát vọng tâm linh. Đức tin sẽ dẫn các bạn đến
một trạng thái hiện hữu cao hơn, trong khi lý trí và sự
phân tích dẫn các bạn đến sự giải thoát trọn vẹn. Trong
bối cảnh của việc thực hành tâm linh, điểm quan trọng
là đức tin phải có nền tảng là lý trí và sự hiểu biết.
“Để
phát triển một đức tin xuất phát từ lý trí hay sự hiểu
biết, một người có khát vọng tâm linh bước đầu phải
tỏ ra có sự cởi mở tinh thần. Do thiếu từ ngữ thỏa đáng,
chúng ta có thể gọi đó là tình trạng hoài nghi lành mạnh.
Khi các bạn ở trong trạng thái tinh thần cởi mở, các bạn
có thể lý luận, và qua lý luận ; các bạn có thể triển
khai một sự hiểu biết nào đó. Khi sự hiểu biết ấy được
củng cố, nó sẽ sinh ra một xác tín, một niềm tin, một
lòng cậy trông vào đối tượng ấy. Lúc bấy giờ đức tin,
lòng cậy trông và sự tín nhiệm này sẽ rất vững chắc
bởi vì nó cắm rễ trong lý trí và sự hiểu biết. Chính
vì thế, chúng ta thấy Đức Phật trong các kinh điển khiển
trách các môn đệ chấp nhận lời Ngài chỉ vì lòng tôn kính
đối với nhân cách của Ngài. Đức Phật khuyến khích họ
đem lời Ngài ra thử thách giống hệt một người thợ kim
hoàn đem vàng ra thử trong lửa. Chỉ khi đó, họ mới hiểu
mình có thể chấp nhận giá trị của lời Phật dạy hay không.
“Trong
đoạn Phúc Âm này, tôi nhận thấy một dẫn chứng về ánh
sáng xua tan bóng tối, tiếp theo sau đó là một dẫn chứng
về sự cứu độ. Để liên kết hai ý tưởng đó, tôi sẽ
nói rằng bóng tối vô minh sẽ bị sự cứu độ chân thật,
tình trạng giải thoát xua tan. Trong ý nghĩa ấy, có thể hiểu
được ý nghĩa của sự cứu độ ngay cả trong bối cảnh
Kitô giáo.
“Xác
định bản chất chính xác của sự cứu độ là một vấn
đề phức tạp. Trong số các hệ thống tôn giáo khác nhau
của Ấn Độ cổ xưa, nhiều người chấp nhận hình thức
này hay hình thức nọ của ý niệm cứu độ. Trong ngôn ngữ
Tây Tạng “cứu độ” là tharpa có nghĩa là “trả tự do”
hay “tự do”. Các truyền thống khác không thừa nhận những
ý niệm như thế. Một số trường phái khác chủ trương những
ảo tưởng của tinh thần thì cố hữu hay nội tại và do
đó chúng là một phần trong bản chất chủ yếu của tinh
thần. Theo các trường phái này, không thể nào có được
sự giải thoát bởi vì những điều tiêu cực và những ảo
tưởng nội tại trong tinh thần và không thể tách rời khỏi
tinh thần. Cả những người chấp nhận một ý tưởng về
cứu độ hay giải thoát nào đó, cũng không thống nhất nhau
về định nghĩa và các đặc tính của giải thoát. Ví dụ
như, một số trường phái Ấn Độ cổ xưa, có khuynh hướng
mô tả tình trạng cứu độ hay giải thoát bằng những từ
ngữ chỉ không gian hoặc cảnh giới bên ngoài với những
đặc tính tích cực, có hình thức như một chiếc dù lật
ngược.
“Tuy
nhiên, nếu một số truyền thống Phật giáo chấp nhận ý
niệm giải thoát, họ thích nhìn giải thoát như một trạng
thái tâm thức hoặc tâm linh riêng cho mỗi cá nhân tức là
tình trạng hoàn thiện tâm thức hơn là một cảnh giới bên
ngoài. Phật giáo hoàn toàn chấp nhận ý niệm những tịnh
độ của chư Phật, tình trạng thanh tịnh mà sự xuất hiện
tùy thuộc vào nghiệp lực tích cực của cá nhân. Những người
bình thường cũng có thể tái sinh và gia nhập những tịnh
độ của chư Phật. Đối với các Phật tử, cảnh giới tự
nhiên của chúng ta – trái đất hoặc hành tinh này – không
thể coi như một thế giới hiện hữu hoàn hảo. Nhưng bên
trong thế giới này, người ta có thể nói rằng có những
cá nhân đã đạt đến Niết Bàn và giác ngộ trọn vẹn.
Theo Phật giáo cứu rỗi hay giải thoát phải được hiểu
như một tình trạng nội tại, một tình trạng của sự phát
triển tâm thức.
“Vậy
các Kitô hữu quan niệm Thiên đàng như thế nào ?”
Cha
Laurence : Thiên đàng là kinh nghiệm của sự chia sẻ niềm
vui, sự bình an và tình yêu của Thiên Chúa trong sự trọn
hảo của khả năng nhân loại.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Vậy thì, Thiên đàng không nhất thiết kết
hợp với một không gian vật lý ?
Cha
Laurence : Không ạ, chỉ vì người ta khéo tưởng tượng ra.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Ngược lại, người ta có thể mở rộng
ra để hiểu khái niệm Hỏa ngục như một tình trạng tinh
thần rất tiêu cực, lầm lạc ?
Cha
Laurence : Hoàn toàn đúng.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Điều đó có nghĩa là không cần phải cứ
nghĩ đến Thiên đàng và Hỏa ngục như những cảnh giới
bên ngoài ?
Cha
Laurence : Không, Hỏa ngục chính là sống trong sự chia lìa
với Thiên Chúa mà tự nó là điều không chân thật. Đó là
một trạng thái hư huyễn bởi lẽ không có gì có thể chia
lìa khỏi Thiên Chúa. Tuy nhiên, nếu chúng ta nghĩ rằng mình
đang tách lìa Thiên Chúa, lúc đó mình đang ở trong Hỏa ngục.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Trong Phúc Âm, Đức Giêsu nói : “Ta không
đến để kết tội thế gian… Lời Ta nói ra, chính lời ấy
sẽ xét xử.” Tôi nghĩ rằng lời này phản ánh rất rõ ý
tưởng karma (nghiệp) của Phật giáo. Không hiện hữu một
hữu thể độc lập ở “cõi cao xanh” làm trọng tài về
những điều chúng ta phải sống và phải biết ; trái lại,
có một chân lý chứa đựng trong chính nguyên lý nhân quả.
Nếu các bạn hành động cách đạo đức hay mẫu mực, các
bạn sẽ lãnh nhận hậu quả tốt đẹp. Nếu các bạn hành
động cách tiêu cực hay ác độc, các bạn cũng phải chịu
đựng những hậu quả của chúng. Chân lý của luật nhân
quả là vị quan tòa chứ không phải một vật hữu thể hoặc
một con người đưa ra lời phán xét.
Các
bạn hiểu điều đó như thế nào ?
Cha
Laurence : Trong Kinh Thánh người ta tìm thấy một ẩn dụ thi
vị Thiên Chúa trừng phạt nhân loại vì tội lỗi của nó.
Nhưng tôi nghĩ rằng giáo huấn của Đức Giêsu giúp chúng
ta vượt qua hình ảnh Thiên Chúa trừng phạt và thay thế bằng
hình ảnh Thiên Chúa yêu thương không điều kiện. Tội lỗi
vẫn còn. Tội lỗi là một sự kiện. Nhưng hình phạt liên
kết với tội lỗi nội tại trong chính tội lỗi. Thay vì
nhấn mạnh trên nhân quả, mặc dù điều ấy có vẻ hợp
lý, tôi nghĩ rằng một Kitô hữu nhấn mạnh trên ý chí tự
do. Chúng tôi có sẵn một ý chí tự do trong các vấn đề
ấy, ít ra trong một mức độ nào đó.
PHẦN
THỨ CHÍN
SỰ SỐNG LẠI
Phúc
Âm Thánh Gio-an 20, 10-18
“Kế
đó, các môn đệ lại trở về nơi họ ở. Tuy nhiên Maria
đứng sát bên mộ phía ngoài mà khóc, bà vừa cúi người
nhìn vào trong mộ ; bấy giờ bà thấy hai thiên thần mặc
áo trắng một người ngồi đằng đầu, một người ngồi
đằng chân nơi đã đặt thi hài Đức Giêsu. Họ nói với
bà : “Này bà tại sao bà khóc ?” Bà nói với họ : “Tại
vì người ta đã lấy Chúa tôi đi và tôi không biết họ đã
đặt Ngài ở đâu ?” Nói thế rồi, bà quay lại và trông
thấy Đức Giêsu đang đứng nhưng không nhận ra Ngài. Đức
Giêsu nói với bà : “Này bà, tại sao bà khóc ? Bà tìm ai
?” Tưởng đó là người làm vườn, bà nói với Ngài : “Thưa
ông, nếu chính ông đã đem Ngài đi, xin ông cho biết ông đã
đặt Ngài ở đâu, tôi sẽ đến lấy Ngài” Đức Giêsu nói
với bà : “Maria !” Bà quay lại nói bằng tiếng Hi-pri với
Ngài : “Rabbuni !” có nghĩa là “Lạy Thầy !” Đức Giêsu
nói với bà : “Đừng giữ Ta lại vì Ta chưa lên cùng Cha
; nhưng hãy đi tìm anh em Ta và nói với họ : Ta lên cùng Cha
ta và cũng là Cha các ngươi, Thiên Chúa của Ta và cũng là
Thiên Chúa của các ngươi” Maria người Magdala đi đem tin
cho các môn đệ : “Tôi đã thấy Chúa và đây là những lời
Ngài đã nói với tôi.” [Gio-an 20, 10-18]
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : “Đoạn Phúc Âm này hoàn toàn phù hợp
cho buổi họp bế mạc cuộc hội thảo. Cái pari nirvana, hay
vô dư niết bàn của Đức Phật được coi như hành động
vĩ đại sau cùng của cuộc đời Ngài và đoạn trích Phúc
Âm của Thánh Gio-an dường như có một ý nghĩa tương tự.
“Đối
với một người đã tin ở sự sống lại, nói về sự chết,
cũng là nói về sự sống lại. Sự sống lại chỉ có thể
xảy đến nếu khi cái chết đã đến trước. Hôm nay chúng
ta đã có một cuộc bàn cãi ngắn về đề tài này – một
lần nữa dường như hầu hết các tôn giáo lớn đều giống
nhau ở chỗ đời sống các vị tôn sư sáng lập đạo chứng
tỏ sự quan trọng của việc các ngài đón nhận kinh nghiệm
đau khổ và thừa nhận giá trị của nó.
“Trong
cuộc thảo luận của tôi và cha Laurence hôm nay, cha có nhắc
lại rằng Bede Griffiths đã phân biệt giữa thể xác vật lý,
thể xác vi tế và thể xác tâm linh của Đức Giêsu. Trước
cái chết của Đức Giêsu, đó là thân thể vật lý của Người
: trong lúc sống lại, trước khi lên cùng với Chúa Cha, đó
là thân thể vi tế, và sau khi lên trời, đó là thân thể
tâm linh. Trong Phật giáo người ta đã tranh luận nhiều về
các loại thân thể, như thân thể vi tế, thân thể tinh thần
và thân thể tâm linh. Tuy nhiên, giữa thân thể vi tế của
Đức Giêsu với thân thể vi tế mà các sách luận Phật giáo
mô tả có một sự khác nhau to lớn. Những mô tả của Phật
giáo về mức độ ngày càng vi tế của hóa hiện quy chiếu
theo các giai đoạn tiến hóa tâm linh của con người, từ tình
trạng bình thường cho đến sự giác ngộ trọn vẹn, trong
khi ở trường hợp Đức Giêsu chúng ta đối diện với một
con người độc nhất, Con Thiên Chúa. Vì thế tiến trình qua
nhiều giai đoạn không áp dụng được. Đức Giêsu không đi
qua một loạt các giai đoạn tâm linh, phải thế không ?
Cha
Laurence : Không, sự sống lại không phải là sự đầu thai
lại.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Chúng ta không nói về sự đầu thai lại
ở đây. Chúng ta đang nói về một cá nhân hành đạo. Người
này càng có nhiều tiến bộ tâm linh thì thân thể vật lý
của người ấy càng trở nên vi tế.
Cha
Laurence : Trước khi chết, Đức Giêsu hiện diện với các
môn đệ và với thế gian một cách nào đó, và sau khi chết,
Người hiện diện với thế gian một cách khác. Chúng tôi
nhìn thấy trong sự hiện diện lịch sử của Người ở thế
gian, trong sự gặp gỡ của Người ví dụ như với Maria, một
sự hiện diện phải được thừa nhận. Còn có một cách
thức mới mà người hành đạo phải tri giác để nhận ra
sự hiện diện mới của Đức Giêsu. Phúc Âm đã trình bày
cho chúng tôi một giai đoạn trung gian giữa một mặt là sự
chết và Sống lại và mặt khác là sự Thăng Thiên của Người.
Và cách thức mà ngày nay Đức Giêsu hiện diện trong thế
gian còn khác với sự mô tả ấy. Ngày nay, chúng tôi nói rằng
Người hiện diện bởi Chúa Thánh Thần.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Trong lòng của Phật giáo, một lần nữa,
vẫn còn có những quan điểm khác nhau khi hiểu về vô dư
niết bàn của Đức Phật. Một trường phái tư tưởng –
chủ yếu là phái vaibhasika, một trường phái Ấn Độ cổ
xưa – khẳng định niết bàn của Đức Phật tạo thành sự
hoàn thành của cuộc đời Đức Phật. Tất cả như thể sự
xuất hiện của Đức Phật đã là một sự kiện lịch sử,
sự biến mất của Ngài đã là một sự kiện lịch sử ;
cuộc đời Đức Phật có một khởi điểm và một chung cuộc.
Vô dư niết bàn được coi như giây phút cuối cùng của một
ngọn lửa. Khi bạn dập tắt ngọn lửa, đó là lúc cuối
của nó ; đó là hư vô toàn diện. Ngay cả dòng tâm thức
liên tục của Đức Phật cũng phải chấm dứt. Các môn đệ
trường phái vaibhasika tuyên bố rằng tâm thức mặc dù không
có khởi đầu, phải có chung cuộc. Tâm thức có thể ngừng
hiện hữu.
Trong
trường hợp này, vấn đề đặt ra đối với các môn đệ
của Đức Phật là phải tìm hiểu đâu là ý nghĩa của việc
tôn thờ, dâng cúng và cầu nguyện Đức Phật ? Để được
lợi ích gì ? Tại sao lại làm mọi điều đó khi mà Đức
Phật không còn nữa ? Câu trả lời của truyền thống này
là sự giác ngộ viên mãn của Đức Phật là kết quả của
sự tích lũy công đức và trí huệ qua vô lượng kiếp. Suốt
cả thời gian đó, Đức Phật đã phát triển và vun trồng
một ý hướng vị tha rất mạnh mẽ để phục vụ và mang
lại lợi ích cho mọi người. Sức mạnh của năng lượng
ấy và của chân lý ấy vẫn còn mãi ở giữa chúng ta. Và
sức mạnh ấy sẽ đến phù trợ chúng ta khi thờ phụng và
tôn kính Đức Phật. Tuy nhiên những gì liên quan đến con
người lịch sử của Đức Phật đã kết thúc.
Quan
điểm ấy không phải là quan điểm của một số truyền thống
Phật giáo khác, trong đó có Phật giáo Tây Tạng. Theo trường
phái này, Phật tính hay sự giác ngộ viên mãn được quan
niệm trong bối cảnh của học thuyết tam thân (ba kayas). Đức
Phật Thích Ca rõ ràng là một nhân vật lịch sử –Ngài đã
sống ở một thời kỳ nhất định tại một địa điểm,
một bối cảnh và một môi trường nhất định – và vô
dư niết bàn của Ngài ở Kushinagar là một biến cố lịch
sử. Nhưng tâm thức và dòng tâm thức của Đức Phật đã
tiếp tục và luôn luôn hiện diện. Đức Phật, như một thực
thể hóa hiện dưới hình thức nhân loại đã ngừng tồn
tại, nhưng Đức Phật luôn luôn hiện diện dưới hình thức
sambhogakaya (Báo thân), tình trạng hoan hỷ trọn vẹn. Và Ngài
tiếp tục hóa hiện và biểu hiện dưới những hình thức
khác nhau thích ứng tốt nhất và có lợi nhất cho chúng sinh.
Từ quan điểm này, nếu Đức Phật Thích Ca như một khuôn
mặt lịch sử đã ngừng hiện hữu thì sự hiện diện của
Đức Phật vẫn còn. Theo truyền thống này, tâm thức thì
vô thủy, vô chung bởi lẽ nó liên tục.
Đối
với một Phật tử hành giả, vô dư niết bàn của Đức Phật
có một ý nghĩa rất tượng trưng bởi những lời cuối cùng
của Đức Phật hướng về học thuyết vô thường và bản
chất giả tạm của mọi vật. Ngài tuyên bố rằng mọi vật
và mọi biến cố đều giả tạm, vô thường. Ngài cũng tuyên
bố thân thể của một đấng toàn giác – Đức Phật, hay
Như Lai (Tathagata) – thì cũng vô thường và chịu chung những
quy luật. Nói xong những lời này, Ngài tịch diệt. Đối với
một Phật tử hành giả, vô dư niết bàn của Đức Phật,
hiện thể lịch sử đã tịch diệt tái khẳng định sự quan
trọng của việc thực hành tính vô thường.
Tôi
phải suy nghĩ về câu nói trong Phúc Âm của Đức Giêsu : “Ta
chưa lên cùng Cha”. Tôi tò mò muốn biết thần học Kitô
giáo giải thích như thế nào về sự Thăng Thiên.
Cha
Laurence : Trước kia. Trong Phúc Âm của Thánh Gio-an, Đức Giêsu
đã nói : “Ta biết ta từ đâu đến và ta biết ta sẽ về
đâu” Người diễn tả cuộc đời Người, sứ mạng của
Người như sự trở về suối nguồn của Người. Khắp mọi
nơi, Người nói : “Ta đến từ Chúa Cha…” Sự Thăng Thiên
của Người là sự hội nhập lại nhân tính đã được triển
khai trọn vẹn vào suối nguồn của nó trong Cha, trong Thiên
Chúa. Trong một ý nghĩa nhất định, Thăng Thiên là sự hội
nhập toàn diện của Thiên tính và nhân tính Đức Giêsu.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Phật giáo nghĩ rằng một quan hệ đặc
biệt kết hợp sự hóa hiện và sức mạnh hóa hiện và một
hóa hiện chấm dứt khi đã hoàn thành số phận của mình.
Người ta thấy ý tưởng hóa hiện được hấp thu lại về
suối nguồn của mình, mặc dù trong một số trường hợp
hóa hiện sẵn lòng biến mất. Như thế trong trường hợp
Đức Phật Thích Ca lịch sử, sau khi nhập niết bàn thân thể
vật lý của Ngài vẫn còn hiện diện ; thân thể này đã
được thiêu ra tro, và mọi người có thể thấy. Một Phật
tử hành giả sẽ nói tâm thức của Đức Phật, tinh thần
siêu việt của riêng Ngài đã hội nhập hay hấp thu vào trạng
thái dharmakaya (Pháp thân). Một số văn bản cũng tham chiếu
một loại hiện tượng khác – hiện tượng các hữu thể
tinh thần phát triển cao có khả năng tiếp xúc với những
thế giới thuần túy khác và không cần tách khỏi thân thể
vật lý của họ.
Cha
Laurence : Đấy là những điểm đại cương tráng lệ để
hiểu sự sống lại theo ý nghĩa Kitô giáo và thật là phấn
khởi. Tôi nghĩ rằng khi Kitô hữu hiểu về sự Phục sinh,
sự lĩnh hội ấy cũng bao hàm một chiều kích vũ trụ. Đức
Giêsu là sự nhập thể của Thiên Chúa trong hình thể nhân
loại, và qua Ngôi Lời của Thiên Chúa đã sinh ra sự Sáng
tạo hay Vũ trụ. Lúc mà hình thể nhân loại của Đức Giêsu
chết, xảy ra một sự biến đổi mở ra viễn ảnh những
gì sẽ xảy đến cho toàn bộ vũ trụ. Thân xác nhân loại
của Đức Giêsu trong toàn bộ năng lượng và hình thể vật
lý của Người, được hấp thu vào trung tâm của suối nguồn
vũ trụ, trong Thiên Chúa. Điều này sau cùng sẽ xảy ra cho
toàn bộ vũ trụ. Tất cả trong vũ trụ đã từ Thiên Chúa
mà đến, là một sự hóa hiện của Thiên Chúa và sẽ trở
về với Thiên Chúa. Vì thế, tôi nghĩ trong sự sống lại,
chúng ta nhìn thấy một sự biến đổi của vật chất đang
trở lại suối nguồn nguyên thủy điều này xảy ra cho thân
xác của Đức Giêsu dưới hình thể nhân loại – thể xác,
tinh thần và tâm hồn – nhưng đó cũng là một viễn ảnh,
một sự tham dự trước của điều sẽ xảy đến cho vũ trụ
khi đến giờ của nó, ở thời kỳ sau rốt.
Thưa
Đức ngài, vì chúng ta sắp đến lúc kết thúc cuộc hội
thảo này, tôi nghĩ chúng tôi phải nhất trí nói rằng chúng
tôi cần phải có hai cuộc đời – hay hơn thế ! – để
đồng hóa quà tặng tuyệt vời của ngài dành cho chúng tôi.
Tôi xin trình lên một vài câu hỏi do chủ tọa đặt ra từ
các nhóm hay cá nhân. Chúng tôi phải sắp xếp và chọn lọc
– vì nhiều câu hỏi liên quan đến cùng một đề tài. Như
chúng tôi đã nói khi mở đầu cuộc hội thảo, tôi nghĩ rằng
chúng tôi đã bắt đầu bằng việc quan tâm đến dân tộc
và đất nước Tây Tạng mà ngài là đại diện và hiện thân
đồng thời bảo đảm sự hỗ trợ hoàn toàn của chúng tôi
vì công lý và hòa bình cho Tây Tạng.
Một
trong các câu hỏi liên quan đến ý niệm không gian linh thánh
và đất thánh, theo sau lời chú giải của ngài về sự hành
hương. Ngài đã nói về ích lợi rút ra từ các cuộc viếng
thăm thánh địa. Câu hỏi mà chúng tôi xin đặt ra là : điều
gì theo ngài làm cho một nơi thành thánh địa.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Theo tôi, lúc ban đầu, một nơi trở nên
thánh nhờ sức mạnh của người hành đạo tâm linh đang sống
ở đó. Sức mạnh của những thành tựu tâm linh một cá nhân
“nạp vào” nơi đó và cho nó một năng lượng nào đó ;
đến lượt nơi ấy “nạp lại” cho những người đến
viếng thăm. Kế đó các nơi thánh đóng một vai trò quan trọng
khác nhất là đối với những người liên kết với cuộc
đời của các vị thầy sáng lập các tôn giáo lớn. Khi đến
viếng thăm những nơi ấy, các môn đồ của một tôn giáo
có cơ hội đặc biệt để suy nghĩ sâu xa về mẫu mực của
những vị tôn sư và khi được động viên, khích lệ như
thế, họ có một cơ may theo gương sáng các vị thầy.
Cha
Laurence : Ngài có nghĩ rằng sẽ có ích khi người của các
tôn giáo khác nhau cùng đi hành hương ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Vâng, đó chính là dự tính trong hoạt động
của tôi. Tôi tin chắc thực hành ấy sẽ mang lại nhiều lợi
ích to lớn.
Cha
Laurence : Một câu hỏi khác có lẽ xuất phát từ sự kiện
các Kitô hữu và các truyền thống khác – không phải ở
Tây Tạng – nhạy cảm với các nhu cầu của Tây Tạng và
xấu hổ vì sự dửng dưng của Phương Tây. Làm thế nào,
với một phương tiện tâm linh hay một phương tiện khác mà
ngài có thể đưa ra, các Kitô hữu, các Phật tử và tín đồ
của những tôn giáo khác có thể giúp đỡ ngài và ủng hộ
chính nghĩa của nhân dân Tây Tạng ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Vì vấn đề tự do của Tây Tạng liên hệ
chặt chẽ với sự tự do và quả thực với sự tồn tại
của đời sống tâm linh ở Tây Tạng, và chắc chắn có hậu
quả với toàn thế giới. Chất tâm linh cổ xưa của Tây Tạng
là giá trị quý báu. Nếu nó sống còn qua cơn đe dọa, thì
không chỉ người dân Tây Tạng có lợi, nhưng nó còn góp
phần to lớn vào hạnh phúc của nhân dân Trung Quốc. Trong
nghĩa đó, tôi nghĩ những người hành đạo và các tổ chức
tôn giáo khác – mọi người nhìn nhận giá trị của tâm
linh – phải có một vai trò đặc biệt đem đến sự ủng
hộ cho chính nghĩa của chúng tôi.
Cha
Laurence : Đối với nhiều người, có lẽ đại đa số chúng
tôi ở đây, việc thực hành tĩnh tâm thiền định từ ngày
này qua ngày nọ là phương tiện trực tiếp chúng tôi sử
dụng để phát triển lòng từ bi và sự phục vụ quảng đại
việc nghĩa như chính nghĩa của Tây Tạng. Hẳn là tất cả
chúng tôi sẽ được động viên và thêm phong phú nếu ngài
có thể ban cho chúng tôi sự động viên và những lời khuyên
về phương tiện kiên định trong con đường trầm tư mỗi
ngày. Rất nhiều người sống trong thành phố phải đối đầu
với những vấn đề của cuộc sống hiện đại và cảm thấy
những khó khăn lớn khi thiền định. Chính vì thế mà Cộng
Đồng Kitô hữu thiền định đã được thành lập, để hỗ
trợ họ. Những thực hành thiền định thường khó khăn cho
những người không sống trong các tu viện – và đôi khi cũng
khó cho những người đang sống trong tu viện ! Xin ngài vui
lòng mang lại cho chúng tôi sự động viên và cái nhìn thấu
suốt về điều phải phát triển để chúng tôi kiên trì và
đào sâu sự thiền định mỗi ngày.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Nếu một người được lợi ích của sự
thăng tiến tinh thần thúc đẩy, sẽ không thể bỏ qua việc
thực hành thiền định. Đó là chìa khóa ! Một lời cầu
nguyện đơn giản hay một ước muốn không thể sinh ra sự
thay đổi tâm linh bên trong. Cách duy nhất để tiến bộ là
có một nỗ lực bền bỉ do thiền định ! Đương nhiên, lúc
ban đầu không phải dễ. Các bạn sẽ cảm thấy những khó
khăn hoặc lòng nhiệt thành bị suy giảm. Hoặc giả một sự
nhiệt thành thái quá sau một vài tuần hay một vài tháng được
tiếp nối bằng sự suy thoái. Cần phải phát triển một tiếp
cận đều đặn, kiên trì và dựa trên một sự tham gia dài
hạn.
Cha
Laurence : Khi nản lòng, những phương tiện chủ yếu nào giúp
chúng tôi kiên định ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Cần thường xuyên suy nghĩ và cân nhắc
cái được, cái mất về việc thiền định hay không thiền
định. Một mặt phải đo lường lợi ích, giá trị và hiệu
quả của việc thiền định, và mặt khác những hậu quả
tiêu cực của việc gạt bỏ thiền định. Khi so sánh thường
xuyên hai khía cạnh ấy, người ta có thể duy trì được lòng
nhiệt thành. Hành tinh của chúng ta có hơn năm tỷ con người
; đại thể có thể chia làm ba hạng người : những người
là tín đồ và hành đạo tâm linh ; những người không chỉ
vô tín mà còn chống tôn giáo ; và sau cùng những người không
hành đạo cũng không đặc biệt phản đối tôn giáo. Họ
ở trong một tình trạng lãnh đạm. Tuy nhiên cả ba loại người
đó về cơ bản giống nhau : tất cả đều được thúc đẩy
bởi bản năng và ước muốn tự nhiên được hạnh phúc và
chiến thắng đau khổ.
Nếu
người hành đạo hay tín đồ muốn so sánh mình với người
khác thì không nên so sánh với những người thuộc nhóm thứ
ba, mà phải so sánh mình với một đại diện của nhóm thứ
hai gồm những người chống tôn giáo, không những không tin,
họ còn nghĩ rằng tôn giáo vô ích và sai lầm. Các bạn hãy
đối chiếu cuộc đời mình với cuộc đời của họ để
xem cuộc đời nào chứng thực sự hài lòng và hạnh phúc
lớn nhất. Dĩ nhiên, qua một số khía cạnh, những người
làm bất cứ việc gì để đạt đến cứu cánh của họ có
thể tạo ra ấn tượng họ rất thành công. Nhưng về lâu
dài, phải phán đoán sự thành công của một phong cách sống
bằng chất lượng cuộc sống mà một cá nhân biểu hiện
và sự bình an nội tâm của người đó. Loại người thứ
nhất cũng mong tìm được hạnh phúc và phương pháp của họ
là tôn giáo. Ở đây, chúng ta gặp được những người hành
đạo thuần thành chứ không phải những người chỉ thích
nói mình tin và hành đạo mà đạo không có chút gì quan trọng
trong đời họ. Nếu chúng ta so sánh hai loại người vừa kể,
chúng ta phải thừa nhận không chút mơ hồ rằng cuộc đời
người hành đạo chân thật biểu lộ nhiều hạnh phúc, thư
thái và bình an hơn. Và cả trong xã hội nói chung, tôi tin
chắc rằng người ta cũng sẽ dành cho loại người sau nhiều
sự tôn kính và tín nhiệm hơn.
Khi
xem xét sự việc dưới góc độ ấy, các bạn sẽ thấy hội
nhập tôn giáo và một hình thức tâm linh nào đó vào cuộc
đời của các bạn là một việc làm hữu ích. Các bạn hãy
so sánh mình với người khác để củng cố niềm xác tín.
Cũng là một điều tốt khi thỉnh thoảng đối chiếu các
kinh nghiệm của mình với kinh sách. Bằng cách ấy, từ từ
và từng bước một, các bạn sẽ thấy giá trị sâu sắc
của cuộc sống tâm linh. Xác tín các bạn càng lớn, các bạn
cảm thấy lòng nhiệt thành và sức mạnh càng cao để tiến
lên phía trước.
Điều
đó phải được coi là quan trọng, nhưng khổ nỗi trong thế
giới thực tại, chúng ta quan sát thấy điều ngược lại.
Nếu các bạn mong ước mạnh mẽ có được điều gì, nỗ
lực của các bạn đương nhiên sẽ phải lớn hơn. Chúng ta
hãy lấy ví dụ các nhà chính trị, quyết tâm phải được
đắc cử : người ta thường có cảm tưởng họ hy sinh gần
như tất cả để đạt được mục đích. Họ bắt đầu chiến
dịch tranh cử, dừng lại ở tất cả địa phương. Trong suốt
chiến dịch, họ già đi thấy rõ ! Thế đấy, họ cống hiến
tất cả năng lực của họ. Người ta cũng thấy một sự
quyết tâm như thế nơi một số nhà doanh nghiệp mà mục tiêu
duy nhất của họ là kiếm được nhiều tiền và thu được
nhiều lợi nhuận. Họ yêu thích tiền cuồng nhiệt đến nỗi
họ sẽ hy sinh tất cả để đạt được mục đích ấy. Đối
với người hành đạo tâm linh cũng phải như thế nhưng dường
như người ta chưa thấy những người hành đạo tâm linh nhiệt
tâm trong nỗ lực của mình được như vậy ! Điều tôi muốn
nói là nếu các bạn càng thấy rõ mục đích mình khao khát,
các bạn càng phải dấn thân mạnh mẽ để đạt mục đích
và trên con đường đạo, các bạn phải có động lực mạnh
mẽ hơn.
Từ
lúc khởi đầu, phải tuyệt đối hiểu rằng sự phát triển
tâm linh không dễ dàng chút nào ; nó cần có thời gian. Nếu
lúc đầu, người ta hy vọng một sự thay đổi triệt để
quá nhanh thì đó là dấu hiệu của một sự thất bại không
thể tránh khỏi ! Về tinh thần, phải chấp nhận sự tiến
bộ cần có thời gian.
Cha
Laurence : Ngài có thể nói với chúng tôi cần bao nhiêu thời
gian ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Trong ngôn ngữ Phật giáo, chúng tôi nói
về vô lượng kiếp ! Và khi các bạn nghĩ bằng từ ngữ kiếp
vũ trụ, thì năm tháng sẽ không là gì cả ! Một cuộc sống
ngắn ngủi không là gì cả ! Trăm năm nào có nghĩa gì đâu
! Suy tư về vô số kiếp thật ra giúp chúng ta triển khai một
quyết tâm mạnh mẽ ! Nhưng điều ấy không quan trọng ở
đây. Điều cốt yếu là làm thế nào để được thiện hảo
trong suốt cuộc đời này !
Cha
Laurence : Là Kitô hữu, chúng tôi tin rằng Chúa Thánh Linh đang
hoạt động không chỉ ở giữa các Kitô hữu, nhưng trong toàn
thể nhân loại, nơi nào người ta thấy có chân lý. Đã hẳn
nhiều người sẽ đồng ý với tôi để nói rằng Thánh Linh
đang hoạt động trong cách thức ngài và nhiều huynh đệ tu
sĩ và Phật tử của ngài đã đem minh triết của đất nước
Tây Tạng đến Phương Tây và đã là những khuôn mẫu của
lòng từ bi, tha thứ và quảng đại với cái giá của những
đau khổ và hy sinh cá nhân đáng kể. Tôi coi các lần thăm
viếng của Đức ngài ở đất nước này và Phương Tây như
một món quà tặng lớn lao cho Kitô giáo. Đối với những
người Phương Tây đã đánh mất sự nhiệt thành tâm linh
và quyết tâm thăng tiến, ngài cho phép hiểu tôn giáo dưới
một góc độ mới. Tôi tự hỏi ngài có thể giúp chúng tôi
hiểu được tại sao thế giới hiện đại – khi mà chúng
ta có nhiều thời giờ nhàn hạ, một sức khỏe và những
điều kiện sống tốt nhất, nhiều tiện nghi vật chất hơn
bao giờ hết – lại đánh mất ý nghĩa của tôn giáo chân
chính và của sự thực hành tâm linh ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Có lẽ trong tu viện của các bạn, các bạn
có thời gian nhàn rỗi, nhưng ở bên ngoài – nhất là trong
những thành phố – cuộc sống chạy theo nhịp hối hả, như
một chiếc đồng hồ, không bao giờ ngừng lại dù chỉ một
giây ! Thật vậy, cách nay vài ngày thôi, tôi đã nói với
một người thân cận khi quan sát kỹ cuộc sống trong các
thành phố, người ta có cảm tưởng rằng tất cả những
khía cạnh nhỏ nhặt của đời sống cá nhân phải được
xác định thật chính xác, như một con đinh ốc được vặn
khít chính xác vào lỗ đinh. Nói cách khác, các bạn không
thể làm chủ cuộc sống riêng của mình. Để tồn tại, các
bạn phải theo mô hình đó và nhịp sống đã được chia sẵn
cho các bạn.
Cha
Laurence : Thưa Đức ngài, Ngài sẽ nói gì về nhận xét mà
ngài đã nghe thấy nhiều lần : “Tôi trầm tư tốt nhưng
tôi không có thời gian.”
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Về việc này tôi xin kể lại các bạn một
câu chuyện. Ngày xưa có hai nhà sư – một thầy và một trò.
Một ngày kia, để cho đệ tử có thêm lòng can đảm, sư thầy
nói : “Con tin ta đi, một ngày nào đó, chúng ta sẽ đi dã
ngoại”. Ít ngày sau, sư thầy không còn nghĩ đến điều
đó nữa. Sau đó, đệ tử nhắc lại lời hứa của thầy,
nhưng vị này nhắc lại ông quá bận không thể đi dã ngoại
trước một kỳ hạn nào đó. Một thời gian dài đã trôi
qua mà vẫn không thấy đi dã ngoại. Người đệ tử ấm ức
nhắc lại : “Khi nào chúng ta sẽ thực hiện chuyến đi dã
ngoại lừng danh đó ?” – Thầy nói : “Không phải bây giờ,
thầy bận việc quá chừng”. Cứ như thế, đến một ngày
nọ, đệ tử thấy người ta khiêng một xác người chết,
và thầy hỏi trò : “Việc gì xảy ra vậy ?” Và trò đáp
lại : “Có gì đâu, con người tội nghiệp ấy đi dã ngoại
đấy !”
Bài
học đạo đức của câu chuyện đó là trong cuộc sống, nếu
các bạn không dành một khoảng thời gian đặc biệt cho một
công việc mà bạn đang hoài bão, thì bạn sẽ luôn luôn có
những công việc khác và luôn luôn bị bận rộn.
Cha
Laurence : Thưa Đức ngài, tôi xin nói một vài lời để kết
thúc cuộc hội thảo này ; kế đó tôi sẽ nhờ Xơ Eileen O’Hea
bày tỏ lòng biết ơn của tất cả chúng tôi. Trước hết,
tôi xin cám ơn ngài từ nơi sâu thẳm nhất của hữu thể
tôi – dù hữu thể vẫn còn là một mầu nhiệm đối với
tất cả chúng ta. Nhưng tôi biết chính từ chiều sâu ấy
mà chúng tôi cám ơn ngài về những điều ngài đã làm cho
trở thành khả thi và mang lại cho mỗi người chúng tôi. Từ
mấy ngày nay, tôi cảm nghiệm chúng tôi đang sống những giây
phút lịch sử đã thành hiện thực nhờ lòng can đảm và
tinh thần rất cởi mở của ngài. Ngài đã quảng đại dành
cho chúng tôi khoảng thời gian rất quý báu này trong thời
khóa biểu và can đảm khám phá Phúc Âm vốn còn xa lạ với
Ngài.
Khi
nghe ngài nói, điều làm tôi ngạc nhiên là minh triết bằng
trực giác và cảm thức của ngài về chân lý, vốn được
huân tập trong Phật giáo đã cho phép ngài tìm hiểu rất sâu
sắc và nắm bắt rất rõ ràng nhiều chân lý của Kinh Thánh
và chỉ cho chúng tôi thấy được những ý nghĩa mới. Tôi
cũng thấy rằng điều ấy có thể thực hiện được bởi
chúng tôi đã trao cho ngài điều rất quý giá và linh thánh.
Sự tín nhiệm của chúng tôi đã được trả lại gấp bội
vì ngài đã bàn đến kho Kinh Thánh ấy với sự mến mộ,
với cảm thức về sự linh thiêng và lòng tôn trọng sâu sắc
nhất. Chúng tôi xin được cảm ơn ngài về tất cả điều
đó.
Cách
thức ngài đã khai thác Kinh Thánh cùng với chúng tôi đối
với tôi – và cả chúng tôi nữa – như một bài tập về
bất bạo động. Ngài cũng có thể bàn về các bản văn ấy
một cách khái quát, phiến diện (và ngài có quyền làm như
thế !) Nhưng trái lại, ngài đã vận dụng sức mạnh của
minh triết, trực giác, trí tuệ và sức mạnh tâm linh với
sự tế nhị hiếm thấy. Điều này là một bài học bất
bạo động mà chúng tôi sẽ ghi nhớ mãi trong lòng. Trong quá
trình đào sâu những văn bản khác nhau, để kết thúc chiều
nay chúng ta có đoạn Phúc Âm về sự Sống lại, mầu nhiệm
này là nền tảng của đức tin chúng tôi, tôi cảm thấy rằng
ngài đã sử dụng một ngôn ngữ, một tư tưởng và những
hình ảnh liên kết với nền văn hóa của chúng tôi và đưa
chúng tôi đến giới hạn của ngôn ngữ. Trong lúc kết thúc
cuộc hội thảo, chúng tôi chuẩn bị bước vào những hình
thức diễn tả khác với đại hội liên hoan liên tôn giáo
: ca, vũ, nhạc và ngôn từ. Những hình thức diễn tả ấy
sẽ dẫn đưa chúng tôi vào một chiều kích khác của chân
lý. Còn sự làm chủ tư tưởng và ngôn ngữ của ngài, như
tôi đã nói, đã dẫn chúng tôi đến một giới hạn. Tôi
không nghĩ rằng sự khám phá của chúng tôi chấm dứt. Tôi
hy vọng và tôi nài xin Đức ngài, bằng mọi cách, vui lòng
tiếp tục cuộc đối thoại này.
Tôi
xin cám ơn ngài không chỉ nhân danh cho cộng đoàn World Community
for Christian nhưng còn nhân danh Giáo Hội và dòng tu. Tôi nghĩ
rằng cuộc hội thảo này chứng tỏ những truyền thống tôn
giáo khác nhau có thể tham gia một cuộc đối thoại sâu xa
không chỉ giới hạn ở chỗ duyệt xét những điểm giống
nhau hiển nhiên mà còn đề nghị cùng nhau tìm tòi chân lý.
Có lẽ chúng ta đang đi trên những con đường song hành nhưng
tinh thần thì duy nhất. Là các Kitô hữu, chúng tôi được
khuyến cáo phải hiểu được vai trò của mình là người
phục vụ Đức Giêsu tự giới thiệu mình trong Phúc Âm không
phải như Chúa và Thầy nhưng như người phục vụ. Người
nói : “Ta đã đến giữa các con để phục vụ”. Nhiều
môn đệ của Đức Giêsu trong quá khứ đã quên điều ấy.
Nhiều lần trong lịch sử, nhiều Kitô hữu và cả Giáo Hội
đã đi tìm quyền lực tạm bợ, quyền lực chính trị và
tôn giáo trên người khác gián tiếp qua chủ nghĩa tư bản
và những hình thức độc tài khác. Với tư cách là con người,
chúng tôi thừa nhận như thế là có tội. Nhưng ngài đã giúp
chúng tôi hiểu được bản chất của đức khiêm nhường
và vai trò của Kitô hữu, đồng thời có sự hiểu biết về
chính mình trong cương vị môn đệ và người phục vụ. Chính
vì thế chúng tôi dấn thân theo đuổi công việc này nhằm
đem lại sự đoàn kết của các tôn giáo.
Sau
cùng, tôi muốn cám ơn những người đã làm cho cuộc hội
thảo này thêm phong phú : những nhân viên ban tổ chức, nhóm
quay phim và nhất là nhà phối trí Clem Sauvé đã từ Canada
đến đây tám tuần qua để làm việc với chúng tôi, và sau
cùng nhưng không phải là chuyện nhỏ – tôi mong rằng không
làm cho vị đó lại cười – tôi xin cám ơn Thupten Jinpa, người
thông dịch của ngài.
Và
giờ đây tôi xin nhường lời cho Xơ Eileen.
Nữ
tu Eileen : Thưa Đức ngài, tôi không biết có thể thêm gì
vào những lời của cha Laurence, nhưng với tư cách người
phát ngôn của tập thể có mặt ở đây, tôi xin nói tôi không
biết diễn tả cách nào cho đầy đủ lòng biết ơn của chúng
tôi. Ngài đã chia sẻ với chúng tôi minh triết của văn hóa
và truyền thống Tây Tạng theo một phong cách giúp chúng tôi
hiểu đâu là ý nghĩa thật của sự trong sáng và thuần khiết
tinh thần. Bởi lẽ chúng tôi thừa nhận ước muốn của chúng
tôi là đấu tranh để cùng đạt tới những đức tính ấy.
Nhờ ngài, chúng tôi đã học hỏi được nhiều, không chỉ
bằng lời nói, còn bằng sự hiện diện, lòng từ bi và tình
thương yêu tỏa sáng nơi ngài. Đối với tôi, lòng từ bi
sẽ không còn có ý nghĩa giống như trước đây ! Tôi biết
rằng đối với tôi – cũng như đối với nhiều người trong
chúng tôi – cuộc gặp gỡ này đã thay đổi cuộc đời tôi
và cuộc đời họ.
Chúng
tôi thường nói Kinh Thánh Kitô giáo là Lời hằng sống của
Thiên Chúa. Có những ngày Kinh Thánh dường như không nói với
chúng tôi điều gì mới nữa, luôn luôn là những câu chuyện
đã biết. Nhưng một động tác của ân sủng Chúa Thánh Linh
dẫn dắt chúng tôi băng qua thời kỳ vô minh này. Nếu chúng
tôi kiên trì, những từ ngữ trong Kinh Thánh sẽ sống lại
và chứa đựng những ý nghĩa ngày càng sâu xa hơn. Khi lắng
nghe ngài đọc Kinh Thánh, tôi xác nhận những lời của Đức
Giêsu có được một ý nghĩa ngày càng sâu sắc hơn đối
với tôi, và tôi nghĩ rằng mọi người có mặt tại đây
cũng có thể xác nhận như tôi. Tôi tiếc không thể đáp lại
vinh dự này bằng việc quy tụ để chia sẻ Kinh Phật như
ngài đã chia sẻ Kinh Thánh Kitô giáo. Tôi cũng xin ngài hiểu
nỗi đau khổ của chúng tôi trước sự tàn bạo mà dân tộc
ngài phải chịu đựng. Bản thân tôi một công dân Hoa Kỳ,
tôi xấu hổ vì chính phủ Mỹ không quyết tâm giúp đỡ ngài.
Về vấn đề này, tôi có thể bảo đảm với ngài tôi không
im lặng lâu hơn nữa.
Có
người đã nói rằng chúng tôi đã tham dự một đại tiệc
và chúng tôi ăn để sống. Tôi nghĩ tất cả chúng tôi sẽ
sống tốt hơn sau lần tiếp xúc này với ngài. Tôi không biết
liệu chúng tôi có còn cơ hội để gặp lại ngài hoặc giả
tôi còn có đặc ân sống gần ngài như những ngày vừa qua.
Nhưng tôi tin chắc chúng ta đã hợp nhất nơi đây, nơi mà
chúng ta liên kết nhau trong lời cầu nguyện và sự tĩnh tâm
thiền định. Chúng ta sắp chia tay nhau nơi đây chỉ ở bình
diện thể lý, nhưng qua kinh nghiệm này, chúng ta luôn liên
kết với nhau trong cảnh giới của sự hiệp thông ý thức.
Thưa
Đức ngài, tôi cũng cám ơn ngài sâu sắc đã có mặt với
chúng tôi. Tôi xin gởi đến ngài lời cầu nguyện hạnh phúc,
lòng biết ơn và lời chúc phúc của chúng tôi cho mọi dự
án của ngài. Để kết thúc, tôi xin mượn lời Thomas Merton
: “Ở trung tâm của hữu thể chúng ta có một nơi ánh sáng
thuần khiết, một nơi mà tội lỗi và ảo tưởng không thể
xâm phạm được”. Tôi cám ơn ngài đã cho phép chúng tôi
nhìn thấy nơi ánh sáng thuần khiết ấy trong ngài nhờ cuộc
hội ngộ này.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Tôi xin bày tỏ niềm vui của tôi đã có
cơ hội chia sẻ thời gian rất quý báu này với các bạn.
Tình bạn thắt chặt tôi với cha Laurence đã tăng thêm suốt
mấy ngày nay. Nhân cơ hội này, tôi muốn bày tỏ sự biết
ơn sâu sắc của tôi đối với những lo âu, thiện cảm và
sự hỗ trợ mà cha Laurence Freeman dành cho công việc, đất
nước và dân tộc tôi. Những tình cảm ấy xuất phát từ
con tim rộng mở, không cần che đậy. Những tình cảm ấy
làm cho tôi đầy ắp niềm vui lẫn nỗi buồn. Xin cám ơn.
Tôi
cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tôi với tất
cả các bạn đã tham dự các buổi đọc và thảo luận Phúc
Âm. Mặc dù những điều tôi nói rất “sơ lược” và khá
ngẫu hứng, tôi đã nhận thấy tất cả các bạn đều rất
chú ý và tập trung. Điều này thật sự làm tôi cảm động.
Vì thế nếu các bạn rút ra một chút lợi ích nào từ điều
tôi đã nói trong mấy ngày qua, hoặc giả chỉ đơn thuần
do việc các bạn đã tham dự cuộc hội thảo này, cũng đủ
làm cho tôi vui sướng. Đây là lời kêu gọi mà tôi hướng
về với tất cả các bạn : Xin các bạn vui lòng dùng mọi
nỗ lực để đem lại cho cuộc sống làm người quý báu của
các bạn có được nhiều ý nghĩa cao quý nhất.