PHẦN
THỨ TƯ
TÍNH BÌNH ĐẲNG
Phúc
Âm theo Thánh Marcô 3, 31-35
“Mẹ
ngài và anh em Ngài đến ; đứng bên ngoài, họ sai người
vào gọi Ngài. Ngồi xung quanh Ngài có một đám đông và người
ta nói với Ngài : “Mẹ Thầy và anh em Thầy ở ngoài đang
tìm Thầy.” Đáp lại Ngài nói với họ : “Ai là mẹ ta và
anh em Ta ?” Rồi nhìn các người ngồi chung quanh mình, Ngài
nói : “Này là mẹ ta và anh em ta. Ai làm theo ý Thiên Chúa,
người ấy là anh chị em và là mẹ Ta.” [Marcô 3, 31-35]
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : “Khi đọc bản văn này, ý tưởng đầu
tiên đến với tâm trí tôi là bản văn không chỉ cho một
định nghĩa về lòng từ bi. Nó còn diễn tả những giai đoạn
phát triển của ý thức làm nẩy sinh lòng từ bi. Ví dụ trong
đoạn văn này, Đức Giêsu có một thái độ không dành cho
mẹ và anh chị em của mình một sự quan trọng đặc biệt.
Theo tôi, điều này chứng tỏ lòng từ bi đúng nghĩa và chân
thật loại trừ mọi ràng buộc và những giới hạn của tính
thiên vị nơi con người. Chúng ta rất gần với ý tưởng
của Phật giáo về lòng từ bi, một lần nữa, được hiểu
là chân thật khi thoát khỏi những trói buộc của tình quyến
luyến. Như tôi đã nhấn mạnh trong cuộc thảo luận trước
đây về bản chất của lòng từ bi, điều kiện tiên quyết
để có lòng từ bi chân thành là phải có cảm thức về tính
bình đẳng hay bình đẳng tánh trí đối với mọi chúng sinh.
“Tình
trạng tinh thần bình thường của chúng ta đều in đậm dấu
vết của lòng thiên vị. Chúng ta tránh xa những người chúng
ta cho rằng không thân thiện hoặc đáng ghét, và chúng ta cảm
thấy một tình cảm gần gũi và quyến luyến quá mức đối
với những người mà chúng ta coi như bè bạn. Chúng ta thấy
rõ phản ứng cảm xúc đối với người khác thì thay đổi
và thiên vị biết bao. Chừng nào chúng ta chưa chế ngự những
thiên kiến ấy, chúng ta không thể phát triển lòng từ bi
chân chính. Ngay cả khi chúng ta cảm thấy một lòng từ bi
nào đó đối với người khác, nó vẫn in đậm dấu vết
thiên vị nếu không căn cứ sâu sắc trên tính bình đẳng,
bởi lẽ nó vẫn còn pha trộn với lòng quyến luyến, ràng
buộc.
“Nếu
các bạn quan sát kỹ lòng từ bi có pha trộn sự quyến luyến
ràng buộc thì sự pha trộn này dù mạnh mẽ và vững chắc,
các bạn cũng nhận thấy rằng cảm xúc ấy dựa trên sự
phóng chiếu các tính chất tích cực trên đối tượng của
lòng từ bi – đối tượng ấy có thể là một người bạn
thân, một thành viên của gia đình hay bất cứ ai. Tình cảm
của các bạn cũng sẽ thay đổi tùy theo thái độ của các
bạn đối với đối tượng. Ví dụ như trong quan hệ với
một người bạn, một ngày nào đó bất ngờ các bạn không
còn nhìn thấy những đức tính tốt đã nhận thấy trước
đây nơi anh ta, và lập tức hành vi mới này tác động đến
tình cảm đối với anh ấy. Lòng từ bi chân thật, trái lại
sinh ra từ nhận thức rõ ràng về kinh nghiệm đau khổ mà
đối tượng của lòng từ bi phải gánh chịu và từ nhận
thức chúng sinh đáng được thương xót và yêu thương. Tình
cảm từ bi sinh ra từ hai nhận thức ấy không hề lay chuyển
– cho dù người khác có hành động đối nghịch với các
bạn. Cả khi hành động của người ấy rất tiêu cực cũng
không ảnh hưởng gì đến lòng từ bi của các bạn. Lòng
từ bi vẫn thế hoặc còn mạnh hơn lên.
“Nếu
các bạn xem xét cẩn thận bản chất của lòng từ bi, bạn
cũng phải thừa nhận lòng từ bi chân thật có thể mở rộng
đối với kẻ thù của các bạn – những người thù ghét
các bạn. Trái lại lòng từ bi pha trộn sự quyến luyến không
thể lan tỏa trên một người mà các bạn coi như kẻ thù.
Trong ngôn ngữ thông thường, chúng ta định nghĩa kẻ thù
như một người làm hại bạn, trực tiếp làm bạn đau khổ
hoặc bị thúc đẩy hay cố ý làm hại bạn. Nhận thức về
một người như thế cố tình làm hại bạn không thể làm
nẩy sinh một tình cảm thân cận và đồng cảm, bởi vì các
tình cảm này đòi một sự quyến luyến, ràng buộc với người
đó. Tuy nhiên, dù nhận thức một người khác muốn làm khổ
bạn không còn làm lay chuyển lòng từ bi chân thật vốn được
căn cứ trên nhận thức rõ ràng về con người ấy như một
chúng sinh đau khổ mà khát vọng tự nhiên và bản năng thúc
đẩy đi tìm kiếm hạnh phúc và chiến đấu chống lại đau
khổ như chính chúng ta. Trong bối cảnh tâm linh Kitô giáo,
điều này có thể được giải thích theo cách sau đây : cũng
như tôi, kẻ thù cùng chia sẻ một bản tính Thiên Chúa ; cũng
là một tạo vật do sức mạnh thần thiêng. Từ sự kiện
ấy, tạo vật ấy đáng được thiện cảm và thương xót.
Kiểu thương xót hay đồng cảm ấy là lòng từ bi đích thực
không bị trói buộc vào sự quyến luyến.
“Câu
cuối cùng của Phúc Âm này tuyên bố bất cứ ai thực hiện
ý muốn của Thiên Chúa là anh chị em tôi, là mẹ tôi. Theo
nghĩa đen, điều đó dường như lại đưa đến một sự thiên
vị nào đó, một sự phân biệt dựa trên một điều kiện
: chỉ những người vâng theo ý Chúa mới là anh chị em tôi
và mẹ tôi. Tuy nhiên trong bối cảnh Kitô giáo tôi nghĩ rằng
người ta có thể đề cập đoạn văn bằng cách lý giải
thêm và mở rộng ý nghĩa. Người ta cũng có thể hiểu rằng
tất cả những ai chia sẻ bản tính Thiên Chúa đều có khả
năng hay tiềm năng làm theo ý Chúa, là mẹ tôi và anh chị
em tôi. Điều này bao hàm nhân tính trọn vẹn và nhấn mạnh
sự thống nhất và bình đẳng của mọi người.
“Trong
bối cảnh ấy, tôi muốn nhấn mạnh một yếu tố đặc biệt
trong việc thực hành đạo Bồ tát. Thật vậy có một phạm
trù đặc biệt trong giáo huấn và thực hành được gọi là
lo-jong – luyện tập tinh thần hay chuyển hóa tư tưởng –
được áp dụng trong trường hợp này. Thật vậy một cách
đặc biệt để nghĩ về lòng tốt của chúng sinh, những con
người trong bối cảnh riêng biệt, được mô tả trong một
số văn bản. Ví dụ như, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra
lòng tốt của một người trực tiếp trong cuộc sống hay
trong sự học vấn của chúng ta. Nếu như các bạn xét kỹ
bản chất của hiện hữu, kể cả sự tồn tại vật chất,
thể lý, các bạn sẽ phải thừa nhận rằng mọi yếu tố
tạo thành sự hiện hữu và tiện nghi của các bạn – lương
thực, chỗ ở và kể cả tiếng tăm – là hoa quả của sự
cộng tác của người khác.
“Điều
này đặc biệt đúng khi người ta sống một cuộc sống đô
thị. Hầu như mọi khía cạnh của cuộc đời các bạn lệ
thuộc chặt chẽ vào người khác. Ví dụ như thình lình các
công nhân điện lực đình công nhiều ngày, tất cả thành
phố sẽ bị phong tỏa. Sự lệ thuộc lẫn nhau chặt chẽ
quá rõ ràng không cần phải nhấn mạnh thêm. Lương thực
và chỗ ở cũng thế. Các bạn cần sự hợp tác trực tiếp
hay gián tiếp của nhiều người để có được những tiện
nghi cần thiết. Ngay cả một hiện tượng phù du như sự vinh
quang, bạn cũng cần đến người khác. Nếu các bạn sống
biệt lập trong rừng núi vắng vẻ, để tiến đến vinh quang
do mình tạo ra, bạn cũng cần phải có một người đưa tin
thuật lại cho người khác biết ! Không có sự giúp đỡ của
người khác, không thể tạo ra danh tiếng. Như thế, những
người khác đều bao hàm và tham dự vào hầu hết các phương
diện của cuộc đời các bạn.
“Cũng
trong dòng tư tưởng này, các bạn sẽ bắt đầu nhận ra lòng
tốt của người khác, và nếu là một người thực hành tâm
linh, các bạn cũng nhận thấy mọi truyền thống tâm linh lớn
của thế giới đều thừa nhận giá trị của lòng vị tha
và lòng từ bi, thương xót. Nếu xét kỹ cảm xúc quý giá
ấy hay tinh thần vị tha và lòng thuơng xót, các bạn sẽ thấy
rằng cần có một đối tượng cho tình cảm đó phát sinh
và đấy là một người anh em nhân loại. Từ quan điểm ấy,
trạng thái tinh thần đặc biệt quý giá là lòng từ bi không
thể có nếu người khác không hiện diện. Mọi phương diện
của đời sống các bạn – thực hành tôn giáo, phát triển
tâm linh, sinh tồn vật chất – không thể có được nếu
không có những người khác. Chỉ cần nghĩ như thế, các bạn
sẽ có đủ lý do để cảm thấy mình ràng buộc với những
người khác, và cảm thấy nhu cầu đáp trả lòng tốt của
họ.
“Trong
ánh sáng của những xác tín ấy, không thể tin rằng một
số người nào đó không có gì quan trọng trong đời sống
các bạn và các bạn tự cho phép mình có một thái độ dửng
dưng với họ. Không có con người nào không liên quan đến
cuộc đời các bạn.
“Tôi
muốn làm sáng tỏ việc tôi dùng từ “cảm xúc”. Có người
đã nói với tôi rằng đối với nhiều người, từ “cảm
xúc” có một nghĩa chung rất tiêu cực – khá sơ đẳng thuộc
bản năng nếu không nói là thú vật. Vả lại, sau đó nhiều
năm, trong một cuộc hội thảo với các nhà sinh vật học
và tâm lý học, chúng tôi đã bàn luận về bản chất của
cảm xúc và các phương tiện để định nghĩa nó. Sau những
cuộc bàn cãi lâu dài, chúng tôi phải đồng ý với nhau cảm
xúc có thể tích cực, tiêu cực và cả trung lập. Trong nghĩa
đó, dù dưới quan điểm Phật giáo, không có gì mâu thuẫn
khi gán những cảm xúc cho một vị Phật giác hạnh viên mãn.
Chính trong nghĩa rộng nhất này mà tôi sử dụng từ cảm
xúc.”
PHẦN
THỨ NĂM
VƯƠNG QUỐC
CỦA THIÊN CHÚA
Phúc
Âm theo Thánh Marcô 4, 26-34
“Ngài
còn nói : “Về nước Thiên Chúa thì như một người gieo
giống xuống đất. Dù người ấy ngủ hay thức, ban đêm và
ban ngày, hạt giống nảy mầm và lớn lên mà người ấy không
biết như thế nào. Trước tiên, tự đất cho ra cây mạ, thành
gié trổ bông rồi thành lúa chắc. Khi mùa màng cho phép, người
ta tra liềm vào cắt, vì mùa gặt đã đến.”
Ngài
còn nói : “Lấy gì để so sánh với nước Thiên Chúa hay
lấy ngụ ngôn nào để trình bày ? Nó như một hạt cải ;
khi gieo xuống đất là loại hạt giống nhỏ nhất gieo trên
đất, nhưng một khi được gieo, nó mọc lên và thành to lớn
hơn mọi thứ rau, trổ những cành lớn, đến nỗi chim trời
có thể nương náu dưới bóng của nó.”
Bằng
nhiều ngụ ngôn, như thế, Ngài loan báo Lời, tùy theo họ
có thể nghe được. Ngài không nói với họ điều gì mà không
dùng ngụ ngôn, nhưng Ngài giải thích tất cả khi ở riêng
với các môn đệ của ngài.” [Marcô 4, 26-34]
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : “Câu cuối cùng làm tôi nhớ đến một
thành ngữ trong tiếng Tây Tạng, me ngag pe khyuš, có nghĩa là
chỉ nên truyền thụ cốt tủy sâu xa nhất của các điều
giáo huấn cho một nhóm nhỏ được tuyển chọn. Người ta
cố gắng giải thích điều này như một sự bỏ lửng của
người đối thoại không muốn vén màn bí mật bởi vì những
người khác sẽ biết được. Truyền thống Phật giáo Tây
Tạng phân biệt nhiều cách tiếp cận sự giáo huấn. Một
cách là tsog she (công truyền) là lời giáo huấn được bày
tỏ công khai mà nội dung được truyền thụ rộng rãi cho
mọi người. Còn cách bí truyền (lop she) theo nghĩa đen là
lời giáo huấn cho các môn đệ. Trong trường hợp này, lời
chú giải sẽ được chọn lọc hơn và gởi đến cho một
nhóm nhỏ có khả năng hiểu được ý nghĩa thật sâu xa của
thông điệp.
“Đoạn
Phúc Âm trên liên hệ trực tiếp đến ý tưởng nước Thiên
Chúa (Thiên quốc). Ẩn dụ dùng ở đây là hạt giống, mầm
cây nẩy mầm và cây con mọc ra từ hạt. Kết hợp của cả
hai – ý tưởng nước Thiên Chúa và ẩn dụ hạt giống –
theo ý tôi chỉ khả năng hiểu biết các giai đoạn khác nhau
để triển khai và hoàn thiện bản tính Thiên Chúa của chúng
ta mà chúng ta đã nói tới. Ngay trước hoặc sau đoạn văn
này, Phúc Âm có nói mức độ tinh tấn tùy thuộc một số
yếu tố như đất đai màu mỡ và nơi người ta gieo hạt.
Trên những mảnh đất nào đó, các bạn có được một mùa
bội thu, trên những mảnh đất khác, cây mọc nhanh hơn. Đã
hẳn ở một số đất đai, cây mọc nhanh hơn và cũng chết
nhanh hơn. Cứ như thế. Đối với một người Phật tử như
tôi, các đoạn văn này nhắc đến một lời giáo huấn tương
tự của Phật giáo phân tích sự khác nhau và những mức độ
tiếp thu khác nhau của mỗi chúng sinh. Như thế, niềm tin vào
Phật tính phổ quát, lòng từ bi của Đức Phật không thiên
vị, bao trùm mọi chúng sinh gặp gỡ ẩn dụ mặt trời mọc
trên người lương thiện và kẻ ác tâm trong Phúc Âm Matthêô.
Tuy nhiên vì chúng sinh khác nhau ở mức độ tiếp thu, sự
tiến bộ tâm linh cũng sẽ khác nhau từ cá nhân này sang cá
nhân khác.
“Tôi
thấy có ý tưởng rất hấp dẫn này mà văn chương Phật
giáo hay nhấn mạnh và khích lệ giữa một nhân loại có nhiều
khuynh hướng tâm lý và tiếp thu, nhiều mối quan tâm và xu
hướng tâm linh. Trong văn chương Phật giáo, mọi trường phái
tư tưởng đều lấy Phật Thích Ca làm giáo chủ. Tuy vậy,
những lời giáo huấn khác nhau được gán cho Đức Phật –
có khi có thể mâu thuẫn lẫn nhau – đều nhắc nhở chúng
tôi tránh xa cám dỗ của chủ nghĩa giáo điều. Tất cả các
giáo huấn khác nhau được truyền thụ cho các tâm lý, nhu
cầu tâm linh khác nhau của chúng sinh. Nếu như tôi đã hiểu
lý do tồn tại của sự khác nhau ấy, tôi mới thật sự biết
quý trọng sự phong phú và giá trị của các truyền thống
khác, bởi lẽ tôi chỉ việc mở rộng cũng một nguyên tắc
đa dạng ấy cho các truyền thống khác. Vì có nhiều học
thuyết giảng dạy trong kinh Phật nên các Phật tử phải phân
biệt giữa nội dung bàn luận của một bản văn cá biệt
và dụng ý của tác giả. Một tuyên ngôn trình bày trong bản
văn không nhất thiết tương ứng với quan điểm của tác
giả.
“Trong
lòng của Kitô giáo, dường như có nhiều cách giải thích
và hiểu ý niệm Thiên Chúa. Trong một cuộc nói chuyện trước
đây với cha Laurence về đề tài này, không chỉ có các quan
niệm khác nhau xuất hiện nhưng còn có một cách hiểu thần
bí sâu sắc ý niệm Thiên Chúa, một cách gặp gỡ Thiên Chúa
ít dùng những từ ngữ chỉ thiên tính ngôi vị hơn là nền
tảng của hữu thể. Vả lại, những phẩm tính như lòng thương
xót cũng có thể quy về nền tảng Thiên Chúa của hữu thể.
Vậy nếu chúng ta phải hiểu Thiên Chúa bằng những từ ngữ
như nền tảng tối hậu của hữu thể thì có thể so sánh
với một số yếu tố của tư tưởng và thực hành Phật
giáo cũng như với một số phương diện trong trường phái
tư
tưởng
Ấn giáo Samkhya như khái niệm Đại Brahman (mahabrahman).
“Chúng
ta cũng phải tránh giản lược tất cả vào một toàn bộ
những từ ngữ chung đến nỗi vào lúc cuối ngày chúng ta
không có gì là đặc trưng phải làm nổi bật trong truyền
thống riêng của mình. Như tôi đã nói trước đây, tôi nghĩ
rằng sẽ có lợi và hữu ích hơn khi các tôn giáo lớn duy
trì tính độc đáo, niềm tin, quan điểm và sự thực hành
riêng của mình. Ví dụ như, nếu người ta muốn tìm, với
bất cứ giá nào trong Phật giáo một điểm so sánh được
với khái niệm Ba Ngôi, khái niệm đầu tiên đến với tâm
trí là Tam Thân (Kayas), học thuyết về ba thân của Đức Phật
: Pháp thân, hóa thân và báo thân. Nhưng dù đương nhiên có
thể tìm những điểm giống nhau, tôi nghĩ rằng chúng ta phải
đề phòng đừng đẩy sự so sánh đi quá xa. Cha Laurence đã
nhấn mạnh – và tôi cũng đã lưu ý – có nhiều trường
hợp trong thần học Kitô giáo Con Thiên Chúa đã được đồng
hóa với Ngôi Lời của Thiên Chúa trong sự quan hệ của Ba
Ngôi : Cha, Con và Thánh Thần. Tôi đã lập tức nghĩ đến
sự đối chiếu trong Phật giáo đại thừa trong đó, hóa thân
(sambhogakaya) một trong tam thân thường được định nghĩa
như Lời thành tựu của Đức Phật.
“Nhưng
một câu tục ngữ Tây Tạng nói rằng điều gì cũng trở
thành chấp nhận được, nếu được một người thông minh
diễn tả, trình bày ! Vì vậy nếu người ta tìm mọi cách
để rút ra những điểm tương đồng và so sánh chúng, chúng
ta có nguy cơ kết hợp tất cả trong một thực thể đơn nhất
và thô lậu. Tôi xin lập lại điều này, tôi không tán thành
việc tìm kiếm một tôn giáo phổ quát. Tôi nghĩ làm như thế
là không sáng suốt. Và nếu chúng ta đẩy quá xa sự tìm kiếm
những điểm tương đồng mà quên đi những điểm dị biệt
thử hỏi chúng ta sẽ đi tới đâu ?
“Bởi
thế, điều chính yếu là các vị thầy dạy tôn giáo giáo
huấn tùy theo sự tiếp thu, xu hướng tâm linh và tâm lý của
mỗi người. Cũng như người ta không thể ăn bất cứ món
gì rồi sau đó nói “Tôi thấy ngon quá, mọi người phải
ăn món đó như tôi”, mỗi người phải ăn món nào đem lại
cho mình sức khỏe thể chất tốt nhất tùy theo cấu tạo
thể chất của chính mình. Người ta phải theo một số chế
độ ăn uống thích hợp với sức khỏe cá nhân vì khi ăn,
người ta tìm chất nuôi dưỡng cơ thể. Lúc nào cũng muốn
ăn một món ăn đặc biệt là ngốc nghếch, ngu xuẩn khi mà
nó không phù hợp trái lại còn có hại, chỉ vì nó là món
ăn đắc tiền nhất và hiếm có.
“Cũng
thế, tôn giáo là món ăn của tinh thần và trí tuệ. Khi người
ta bước vào con đường tâm linh, điều quan trọng là sự
hành đạo phải phù hợp nhiều nhất với sự phát triển
tâm lý và các xu hướng tâm linh của mình. Điều chính yếu
là mỗi cá nhân tìm kiếm hình thức hành đạo và tin tưởng
tâm linh thích hợp nhất với các nhu cầu đặc thù của mình.
Nhờ thế, mỗi cá nhân sẽ đạt đến sự biến đổi nội
tâm, sự thanh thản tâm hồn để thành một người trưởng
thành tâm linh, tốt lành, nhân hậu đoàn kết và một con tim
rộng mở. Đó là tiêu chuẩn phải xem xét kỹ khi người ta
đi tìm của ăn tâm linh.
“Niềm
tin vào sự sáng tạo (sáng thế) và một Đấng Thần thiêng
không phải là niềm tin chung cho mọi truyền thống tôn giáo
lớn. Có nhiều người đặt sự hành đạo và đức tin của
mình trên tiên đề chủ yếu ấy, còn nhiều người khác không
làm thế. Tuy nhiên điều chung cho mọi tôn giáo, là mỗi người
hành đạo phải có nền tảng vững chắc là sự trợ lực
duy nhất của đức tin hay lòng trông cậy vào một đối tượng
che chở. Ví dụ như trong trường hợp Phật giáo, một tôn
giáo không – thần (non-théiste) người ta trông cậy vào sự
trợ lực duy nhất cho lợi ích tâm linh là Tam bảo – Phật,
Pháp, Tăng. Đây là nền tảng của sự thực hành đạo Phật.
“Để
có được lòng tin cậy hướng về một đích điểm và có
sức mạnh quy chiếu vào một đối tượng che chở vì lợi
ích tâm linh, người ta cần phát triển một tình cảm gắn
bó và liên kết sâu xa với các đối tượng của niềm tin.
Trong trường hợp các tôn giáo có thần chủ trương mọi tạo
vật đều do một sức mạnh của Thiên Chúa tạo nên, các
bạn có những chỗ dựa rất vững chắc để triển khai tình
cảm liên kết, thân mật là nền tảng của đức tin và lòng
trông cậy được tập trung trọn vẹn. Điều ấy cho phép
các bạn trông cậy lợi ích tâm linh của mình nơi đối tượng
đó.”
Lời
chú giải về bài đọc Phúc Âm
Cha
Laurence : Cám ơn Đức ngài rất nhiều. Ngài càng phân tích
tỏ tường những điểm khác nhau tế nhị giữa hai tôn giáo
chúng ta, tôi càng cảm thấy có một sự thống nhất. Tôi
nghĩ rằng có một sự nghịch lý giữa thống nhất và dị
biệt, và tôi cám ơn ngài đã cho chúng tôi chia sẻ tư tưởng
của ngài đầy sự khôn ngoan và khiêm tốn.
Tôi
xin giới thiệu với ngài những vị tham gia cuộc thảo luận
sắp tới của chúng ta. Sư Ajahn Amarao là một nhà sư Phật
giáo từ tu viện Amaravati, không xa nơi này lắm và Xơ Eileen
O’hea một nữ tu dòng Saint Joseph làm việc như một nhà liệu
pháp học bang Minnesota, Hoa Kỳ. Sư Ajahn Amarao sẽ đưa ra lời
chú giải mở đầu.
Ajahn
Amarao : Thưa Đức ngài, tôi xin trở lại những đề tài ngài
đã đề cập. Trước hết, tôi rất tâm đắc lời giải thích
của ngài về sự dứt bỏ ràng buộc liên quan đến lòng từ
bi và biến cố giữa Đức Giêsu với Mẹ Maria là sự biểu
hiện lòng từ bi đích thực như thế nào. Là một nhà sư
Phật giáo sống ở Tây Phương, tôi thường được hỏi về
sự dứt bỏ ràng buộc, bởi lẽ người ta coi đó như một
thứ cứng cỏi, khép kín tấm lòng. Lời giải thích của ngài
rất hữu ích và tôi sẽ cố gắng áp dụng trong tương lai.
Tuy nhiên, cũng như sự dứt bỏ ràng buộc, một cách diễn
tả khái niệm đó của Phật giáo có thể là không-chiếm-hữu
đối với người khác và sự vật. Người ta lập tức thừa
nhận rằng sự chiếm hữu tự bản chất là không lành mạnh
và một tình cảm chiếm hữu thì khó sống và đưa đến thất
vọng, chia rẽ và các vấn đề khác. Sự dứt bỏ ràng buộc
mà ngài diễn tả như ấn chứng của lòng từ bi và thanh tịnh
có bản chất không chiếm hữu.
Thật
hữu ích cho chúng tôi được nghe ngài giải thích sự dứt
bỏ ràng buộc thực ra là không quyến luyến với khía cạnh
ảo tưởng của sự vật mà quyến luyến chân lý, đến mức
thật sự người ta buông bỏ một cái nhìn hạn hẹp. Tôi
rất ngạc nhiên vì sự tương đồng của đoạn Phúc Âm này
với một nguyên tắc của Phật giáo theo truyền thống Theravada.
Theo truyền thống này khi một cá nhân nhìn thấy chân lý,
đúng lúc người ấy bước vào con đường đạo và thấy
đạo, cái nhìn này, sự thay đổi thái độ ấy được gọi
là đổi dòng (nhập lưu). Và đoạn Tin Mừng của Matthêô
diễn tả một sự thay đổi thái độ hay đổi hướng qua
đó Đức Giêsu không còn quy chiếu vào chính mình đơn thuần
như một người có mẹ là Maria. Khi ngài nói rằng “Thiên
Chúa là Cha tôi”, Đức Giêsu chuyển từ quan điển căn cứ
trên ngã vị cá nhân sang một quan điểm căn cứ trên chân
lý tối hậu.
Tôi
cũng ngạc nhiên thấy Đức ngài diễn tả quan điểm ấy cho
rằng mọi người là anh chị em của ngài. Khi người ta thôi
không còn nhìn thế giới dưới một góc độ cá nhân và có
kinh nghiệm về sự dứt bỏ ràng buộc, một sự thay đổi
thái độ diễn ra giống như giác ngộ. Những điểm tương
đồng tạo ấn tượng mạnh trong tôi. Tôi cũng cảm động
vì ngài lưu ý phải duy trì cái gì của Phật giáo cho Phật
giáo, cái gì của Kitô giáo cho Kitô giáo. Ngài nói không nên
tìm cách pha trộn tất cả. Nhưng tôi phải thừa nhận mình
không ngừng tự nhủ : “Vâng, chắc hẳn họ nói về cùng
một sự việc”. Lớn lên ở Phương Tây trong một môi trường
Kitô giáo nhưng là Phật giáo từ nhiều năm nay, trong nhận
thức của tôi, có một sự pha trộn các thành phần bằng
nhau của hai nhóm nguyên tắc. Khi lấy nền tảng là trầm tư
thiền định hơn là chỉ học kinh Phật, cùng với thời gian,
tôi nhận ra rằng, càng ngày tôi càng tin những cách nói khác
nhau đều quy về các kinh nghiệm đồng nhất.
Tôi
tò mò biết được quan điểm của ngài ở trên. Như thế,
ngài so sánh ba ngôi Cha, Con và Thánh Thần với Pháp thân, hóa
thân, báo thân. Theo truyền thống của tôi hẳn tôi sẽ so
sánh Ba Ngôi với Phật, Pháp, Tăng. Trong quan điểm này. Pháp
thể hiện nền tảng của hữu thể, của Pháp thân hay nơi
an trú của Pháp. Đức Phật như là sự biểu hiện của Pháp.
Lời Phật dạy cũng được gọi là Pháp : Vậy Đức Phật
là sự tỏ bày của Pháp. Đức Phật cũng được gọi là
“Đấng Toàn Tri”, “Đấng Toàn Giác” và ngài tự mô tả
mình như “sinh ra từ Pháp”. Vậy thì, kết quả của mối
liên hệ giữa Đức Phật và Pháp mà ngài giác ngộ và là
hiện thân, kết quả của sự có mặt của tâm thức giác
ngộ trong thế gian, đó là Tăng mà người ta có thể mô tả
như cộng đoàn tâm linh hay, nếu thích, như sự hiệp thông
thánh thiện. Đó là sự hiệp thông hợp nhất nhiều người
khác nhau sống trong sự hòa thuận. Tôi đã nghĩ có lẽ, tinh
thần tôi thuộc loại đơn sơ chỉ thích làm cho mọi việc
khớp với nhau. Nhưng giờ đây tôi có cơ hội để đặt câu
hỏi ! Trong suốt bao năm, từ các cuộc thảo luận với những
Kitô hữu khác, tôi đã rút ra cảm tưởng chúng tôi đã nói
nếu không phải về những sự kiện như nhau, thì ít ra những
hiện tượng rất gần gũi nhau. Vậy khi một Kitô hữu thuật
lại lời Đức Giêsu “Người nào làm theo ý Thiên Chúa…”
thì chúng tôi có thể nói thực hành Pháp tương đương với
làm theo ý Chúa không ? Hoặc giả đó là một sai lầm về
đánh giá dù chỉ là suy nghĩ như thế ? Lời mào đầu của
tôi hơi dài dòng, nhưng sau hết đó là câu hỏi của tôi !
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Theo luật chung, nhiều phương diện của
việc thực hành tâm linh – trong truyền thống Tây Tạng được
xếp vào khía cạnh phương pháp luận của đạo – như lòng
từ bi, tình yêu, lòng khoan dung… dường như đều giống nhau
trong Kitô giáo cũng như trong Phật giáo. Để đề cập câu
hỏi của các bạn bằng cách đặt nó trong bối cảnh của
truyền thống Phật giáo, phải trả lời câu hỏi bằng một
ngôn ngữ chung cho mọi trường phái tư tưởng của truyền
thống.
Mọi
trường phái triết học Phật giáo đều nói về Tứ Diệu
Đế và nói về hai thực tại tối hậu và tương đối (chân
đế và tục đế). Ngay cả trường phái Samkhya, một trường
phái cổ của Ấn Độ phi-Phật giáo cũng nói về các thực
tại tối hậu và tương đối nhưng khi phải định nghĩa chính
xác Tứ Diệu Đế và hai thực tại – định nghĩa, tính chất
đặc thù của chúng… – chúng ta thấy xuất hiện những
dị biệt sâu xa.
Như
thế, đối với trường phái prasangika-madhyamaka của Phật
giáo đại thừa, thiết lập trên sự chú giải tư tưởng
Nagarjuna của Chandrakirti và Aryadeva thì sự mô tả của văn
chương Phật giáo abhidharma về trạng thái A-la-hán – tức
là trạng thái niết bàn hay giải phóng tâm linh – không được
chấp nhận như sự mô tả viên mãn và chung cuộc của niết
bàn. Theo quan niệm của madhyamaka, tính chất của giải thoát
hay niết bàn theo các trường phái tư tưởng khác chủ yếu
ở sự nhận rõ các trạng thái căn bản của vô minh, sai lầm,
ảo tưởng ngăn che con đường dẫn đến trạng thái A-la-hán,
và biểu thị tính chất như thế chưa đủ tinh tế. Bởi thế,
nếu các trạng thái vô minh cản trở con đường giải thoát
không được nhận rõ đúng đắn thì các biện pháp giải
trừ được cổ vũ sẽ không xác định. Vậy kết quả mà
người ta biểu thị như giải thoát hay trạng thái A-la-hán
cũng không là rốt ráo. Các bạn nhận thấy ngay bên trong các
trường phái Phật giáo, khi người ta dùng những từ ngữ
như nhau – trạng thái A-la-hán, sunyata hay Không tính ; moksa
hay Niết bàn ; klesa hay cảm xúc và bức màn ảo hóa… –
các từ ngữ này không luôn luôn có cùng ý nghĩa. Từ ngữ
thì đồng nhất ; ý nghĩa tổng quát cũng có thể đồng nhất.
Tuy nhiên, do cách hiểu và nhận ra chúng khác nhau tùy theo trường
phái, sự hiểu biết sau cùng sẽ rất khác nhau.
Để
tóm tắt, tôi sẽ nói rằng có những ý nghĩa khác nhau giữa
cách tiếp cận này với cách khác. Và tôi tin vững vàng ở
trình độ sâu xa, các sự phân biệt, các nét đặc trưng có
một giá trị. Người ta thấy rất rõ khi xem xét kỹ các bản
văn sâu sắc của các tôn sư vĩ đại, như các tác giả Phật
giáo, người Ấn Độ trong quá khứ. Họ không phải là học
giả chỉ ham thích tranh luận các vấn đề trừu tượng ;
họ là những môn đệ thuần thành của Đức Phật chuyên
tâm thực hành sự thiền định. Họ không chỉ đạt đến
kinh nghiệm và thành tựu sâu sắc mà họ còn minh chứng một
lòng từ bi vô hạn đối với chúng sinh. Vì thế, tôi tin rằng
các điểm vi tế mà họ đã nhận thấy và diễn tả xuất
phát từ lòng từ bi, từ cảm thức về bổn phận phải chia
sẻ với người khác điều mà chính họ đã thực hiện và
diễn tả. Tôi chắc rằng họ không viết về đề tài ấy
chỉ vì ý thích muốn thêm vào những điều lầm lẫn !
Nữ
tu Eileen : Thưa Đức ngài, thật là một đặc ân lớn được
gặp mặt Ngài nơi đây. Câu hỏi của tôi liên quan đến một
điểm có lẽ tạo nên sự khác biệt trong truyền thống của
chúng tôi. Một trong những cách để chúng tôi biết Đức
Giêsu là hiểu thấu đáo con người lịch sử. Một trong những
sứ mạng của Đức Giêsu là biến đổi tương quan giữa chúng
tôi với Thiên Chúa để đưa tương quan đó từ sự sợ hãi
hoặc thuần túy lý thuyết sang mối liên kết của tình yêu
và sự thân mật. Là các Kitô hữu chúng tôi tin vào Đức
Kitô Phục sinh, và Đức Kitô sống mãi giữa chúng tôi. Chúng
tôi tin rằng chúng tôi có thể thực hiện kinh nghiệm về
Đức Kitô đang ở giữa chúng tôi và đấy là một kinh nghiệm
cá nhân của tình yêu và lòng sùng tín. Với việc đào sâu
sự hành đạo, lòng sùng tín Đức Kitô được đào sâu. Đó
là lý do nhiều người chúng tôi thực hiện việc tĩnh tâm
thiền định. Trước tiên, kinh nghiệm này bắt đầu như bất
cứ mối quan hệ nhân bản nào : chúng tôi cố gắng hiểu
người ấy. Ban đầu, chúng tôi coi người ấy như một đối
tượng. Cho dù chúng tôi thán phục người ấy. Kế đó sự
hiểu biết của chúng tôi từ từ vượt qua nhân cách thuần
túy bên ngoài để đạt tới nhân vị sâu xa của Đức Kitô.
Sau cùng, chúng tôi được mời gọi kết hợp ý thức mình
với ý thức Đức Kitô. Đối với các Kitô hữu, cuộc hành
trình tâm linh này rất cá nhân và riêng tư. Ngài thấy có
điều gì tương tự trong Phật giáo không ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Chắc chắn có một sự tương đồng trong
sự thực hành Phật giáo. Như tôi đã nêu rõ, trong Phật giáo
cũng như trong bối cảnh Kitô giáo điều quan trọng là sự
thực hành tâm linh của mỗi người phải cắm rễ trong niềm
tin và sự trông cậy vào một mục tiêu duy nhất, mà người
ta phó thác đầy đủ và trọn vẹn cho đối tượng của sự
an trú vì lợi ích tâm linh. Trong Phật giáo, sự hành đạo
phải dựa trên sự an trú trong Tam Bảo – Phật, Pháp, Tăng
và nhất là trong Đức Phật. Trong mối quan hệ ấy không chỉ
định hướng cho mình, các bạn còn phải tự đặt mình dưới
sự dẫn dắt soi sáng của Đức Phật với lòng trông cậy
– vì Đức Phật là Đấng giác ngộ viên mãn, đồng thời
các bạn mong ước cũng thực hiện cho chính mình trạng thái
toàn giác. Hành động tìm an trú trong Đức Phật do vậy bao
gồm nhiều phương diện. Đôi khi, người ta cũng dùng từ
ngữ “đạt đến tình trạng bất phân ly” với Đức Phật.
Đúng ra người ta muốn nhấn mạnh rằng các bạn đã đạt
đến một giai đoạn trong đó các bạn giống với một vị
Phật, một vị Toàn giác. Vậy sự thân mật ấy hiện hữu
rất rõ trong mối quan hệ.
Cha
Laurence : Thưa Đức ngài, tôi nghĩ rằng, chúng ta không có
ý định tạo nên một tôn giáo duy nhất, mặc dù chúng ta
đang khám phá một sự thống nhất sâu xa. Và ở đâu có sự
thống nhất, ở đấy có sự khác biệt. Như thế, theo lời
ngài vừa nói, người Phật tử nắm vững sự an trú trong
Đức Phật. Đức Phật là thầy của người ấy. Kitô hữu
đi theo Đức Giêsu, và cũng như người Phật tử, người đó
tận hiến cho người thầy đặc biệt. Tôi cho rằng những
điểm khác nhau nằm ở chỗ chúng ta hiểu và mô tả bản
chất của Đức Phật và của Chúa Giêsu như thế nào.
Ngoài
ra, trong sự hành đạo, những phương pháp dùng để theo đạo
tâm linh hoặc trở thành môn đệ bao gồm nhiều điểm tương
đồng. Ví dụ như Đức Giêsu nói với chúng ta để theo Ngài,
cần phải bỏ cái tôi của mình. Vả lại bản thân tôi, tôi
đã tìm thấy trong Phật giáo một minh triết trong sáng và
lớn lao để hiểu biết ý nghĩa của việc từ bỏ cái tôi,
vượt qua sự ích kỷ. Tôi cũng tìm thấy minh triết ấy khi
Đức Giêsu yêu cầu chúng tôi phải yêu thương lẫn nhau và
yêu thương kẻ thù của mình. Lời trình bày của ngài sáng
nay khám phá một cách tuyệt vời phương thế để điều ấy
vận hành theo quan điểm Phật giáo.
Trong
cuốn phim chúng tôi chiếu hôm qua, chúng tôi đã thấy ngài
đang lắp ráp một chiếc đồng hồ ở Dharamsala. Đôi khi tôi
có cảm tưởng, nhờ có Phật giáo mình biết được đồng
hồ chạy như thế nào. Nói thế để thấy rằng dù là Phật
tử hay Kitô hữu, tất cả chúng ta đều phải đương đầu
với thời gian và ý nghĩa của nó. Không dễ dàng gì để
diễn tả thời gian bằng ngôn ngữ. Ngài nghĩ gì về hình
ảnh ấy để giúp chúng tôi hiểu được tương quan giữa
các tôn giáo khác nhau ? Nói cho cùng điều tôi cho là chủ
yếu là hiểu rõ bằng cách nào Phật giáo và Kitô giáo đối
thoại với nhau, và ngày hôm nay hiểu được nhau. Bởi lẽ
sự gặp gỡ của hai truyền thống ấy rất quan trọng đối
với thế giới.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Để đạt đến một cuộc đối thoại có
ý nghĩa, nói cách khác làm phong phú cả hai truyền thống,
tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải khởi sự từ căn bản là
nhận biết rõ ràng sự khác biệt trong nhân loại : những
tâm lý, những lợi ích, những xu hướng tâm linh khác nhau
của các dân tộc trên thế giới. Ví dụ như, đối với nhiều
người, các truyền thống Kitô giáo đặt nền tảng trên đức
tin vào một Đấng Tạo Hóa có hiệu quả lớn nhất trên đời
sống đạo đức của họ và cổ động họ mạnh mẽ để
họ hành động một cách đạo đức và lành mạnh. Nhưng điều
này không đúng với tất cả mọi người. Truyền thống Phật
giáo dù không nhấn mạnh đến niềm tin vào một Đấng Tạo
Hóa có lẽ sẽ công hiệu hơn đối với những người khác.
Trong truyền thống Phật giáo, người ta nhấn mạnh trên ý
nghĩa của trách nhiệm cá nhân hơn là trên một hữu thể
siêu việt.
Một
điều cũng rất quan trọng là thừa nhận hai truyền thống
cùng chia sẻ một mục đích chung sản sinh ra một con người
hoàn hảo : một con người viên mãn, chín muồi về tâm linh,
tốt lành và quảng đại. Một khi hai điểm đó được thừa
nhận – cộng đoàn có mục đích và sự thừa nhận rõ ràng
con người có những xu hướng khác nhau – tôi nghĩ rằng chúng
ta có được một căn bản vững vàng để đối thoại. Luôn
luôn với các xác tín ấy, hai tiền đề chủ yếu ấy mà
tôi tham gia cuộc đối thoại với những truyền thống khác.
Cha
Laurence : Tôi cảm thấy một chân lý sáng ngời trong ý tưởng
rằng thiên hướng cá nhân của một người điều kiện hóa
hành trình tâm linh của người ấy. Nhưng trong trường hợp
này một truyền thống còn có thể cho rằng mình nắm giữ
một nhận thức tuyệt đối về chân lý không ? Về phần
tôi, chúng tôi đang khám phá những hàm ngụ trong những điều
Đức ngài vừa nói. Điều này, dường như tạo nên một giai
đoạn rất hiện đại và có lẽ tất yếu đối với lịch
sử tiến hóa của tôn giáo. Nhưng chẳng giống chút nào với
điều mà các tôn giáo ngày xưa đã nói !
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Tôi còn nói rằng ngay cả chân lý không
nhất thiết chỉ có một phương diện, mà chúng ta có thể
có một quan niệm đa chiều kích về tâm lý. Đặc biệt đó
là quan điểm của hệ thống triết học madhyamaka, trong đó
chính khái niệm chân lý mặc một chiều kích tương đối.
Nó chỉ tồn tại trong tương quan với sai lầm và chỉ trong
tương quan với một nhận thức khác, mà một sự vật được
coi là thật. Nhưng khi yêu cầu chấp nhận một ý niệm chân
lý phi thời gian và vĩnh cữu, tước bỏ hết mọi khuôn khổ
dùng để quy chiếu thì điều ấy sẽ rất mơ hồ.
Chúng
ta hãy lấy ví dụ trường hợp lời giáo huấn của Đức
Phật ở các hoàn cảnh khác nhau, mà mới nhìn qua, một số
giáo huấn có thể tạo ấn tượng mâu thuẫn. Ví dụ, những
lời giáo huấn của Đức Phật về ngã vị hay cái tôi (atman)
rao giảng cho những ai có xu hướng mạnh mẽ muốn khẳng định
hiện hữu của cái tôi, đối lập với lời giáo huấn nền
tảng về vô-ngã (anatman). Và ngay cả học thuyết vô ngã –
học thuyết về sự không hiện hữu của linh hồn hay ngã
vị cá nhân – mà Đức Phật đã giảng dạy cho các môn đệ
những trường phái triết học thấp hơn, như các hệ thống
vaibhashika và sautrantika, phải được xem như chân thật. Đó
là chân lý bởi vì có tính đến nhận thức và sự lãnh hội
của quần chúng ở một thời đại, trong một môi trường
và bối cảnh đã có sẵn. Phải hiểu khái niệm chân lý trong
Phật giáo là như thế. Một trường phái triết học cao hơn,
như trường phái madhyamaka, đáp lại rằng phát biểu ấy trái
với lý trí và quan điểm về vô ngã (anatman) không phải là
chân lý tối hậu và trọn vẹn. Tuy nhiên, trường phái madhyamaka
không vượt qua giai đoạn kế tiếp để nói Đức Phật đã
giảng dạy sai lầm. Chính họ cũng công nhận phát biểu là
đúng bởi vì nó đúng trong những giới hạn của bối cảnh
và tình huống đặc thù đó.
Tất
cả điều đó đã hẳn rất phức tạp !
Để
tóm tắt tất cả cuộc bàn luận này, tôi nghĩ giữa truyền
thống Kitô giáo và Phật giáo, có một mối đồng quy đặc
biệt và một tiềm năng làm phong phú cho nhau qua đối thoại,
nhất là trong các lãnh vực đạo đức và thực hành tâm linh
– như thực hành lòng từ bi, tình thương yêu, sự trầm tư
và lòng độ lượng. Tôi cũng nghĩ cuộc đối thoại này có
thể đi rất xa và đạt đến một trình độ hiểu biết sâu
xa. Về cuộc đối thoại triết học hay siêu hình học, tôi
nghĩ chúng ta phải tạ từ. Mọi quan điểm Phật giáo về
thế giới dựa trên lập trường triết học là nguyên tắc
nhân duyên sinh, theo đó mọi sự vật hay biến cố là sản
phẩm thuần túy của những tác động hỗ tương của các
nguyên nhân và điều kiện. Trong quan điểm về thế giới
đó, hầu như không thể dành một chỗ cho chân lý phi thời
gian, vĩnh cửu và tuyệt đối. Cũng không thể đưa vào đó
ý niệm Thiên Chúa Sáng tạo. Tương phản lại, đối với
một Kitô hữu mà mọi quan niệm siêu hình về thế giới có
nền tảng trên niềm tin vào sự Sáng tạo và vào một Thiên
Chúa Tạo hóa, người ấy không thể điều hòa với ý tưởng
mọi vật hay biến cố sinh ra từ tác động hỗ tương của
nhân và duyên. Như thế, ở bình diện siêu hình từ một điểm
nào đó, sự đối thoại trở thành nan giải và hai truyền
thống trở thành trái ngược nhau.
Tuy
nhiên, tôi nghĩ cuộc đối thoại có thể động viên một
sự hiểu biết tốt hơn và sự kính trọng lẫn nhau trong những
lãnh vực đạo đức, hạnh kiểm cá nhân và cả siêu hình
– nói cách khác, trong những lãnh vực mà người ta gặp nhiều
sự tương đồng và phù hợp cũng như trong những lãnh vực
có sự dị biệt và khác nhau. Người ta dễ dàng nhận thấy
rằng trong lãnh vực đạo đức và thái độ cá nhân vốn
có nhiều sự tương đồng và giống nhau có thể làm phong
phú cuộc đối thoại và dẫn tới một sự hiểu biết tốt
hơn và lòng kính trọng nhau. Cả trong lãnh vực siêu hình vốn
có những bất đồng căn bản, đối thoại cho phép vượt
qua những sự khác biệt bằng cách thừa nhận khác biệt vẫn
hiện hữu nhưng đánh giá nền tảng chung của chúng về mục
tiêu và về hiệu quả. Trong khi về mặt siêu hình, quan điểm
của Kitô giáo và Phật giáo rất xa nhau, những quan điểm
ấy vẫn có thể đóng góp cho nhau để tạo những con người
tốt như nhau, chín muồi về mặt tâm linh và lành mạnh về
mặt đạo đức. Bởi thế những sự khác nhau ấy không thể
chia rẽ chúng ta.
Nữ
tu Eileen : Tôi nghĩ câu hỏi của tôi đơn giản thôi… Nếu
người ta có thể sắp xếp để Đức ngài và Đức Giêsu
gặp nhau, ngài có vui lòng không ? Ngài sẽ đặt câu hỏi nào
hoặc thích tranh luận điều gì với Đức Giêsu ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Là một Phật tử có đối tượng quy y chính
là Đức Phật, nếu được gặp một người như Đức Giêsu
Kitô mà cuộc đời trên bình diện tâm linh thể hiện rõ ràng
một ảnh hưởng đối với nhiều triệu người, đem lại
cho họ sự giải thoát và đoạn trừ đau khổ – hẳn Đức
Giêsu khơi dậy trong lòng tôi một niềm kính trọng sâu xa
như đối với một Đấng Toàn giác hay một Bồ Tát.
Nữ
tu Eileen : Đức ngài sẽ đặt cho Đức Giêsu những câu hỏi
nào ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Câu hỏi đầu tiên sẽ là “Chúa có thể
diễn tả bản chất của ngôi Cha ?” Bởi lẽ sự khiếm khuyết
trong nhận thức của chúng ta về bản tính thật sự của
Cha dẫn chúng ta đến bao nhiêu là lầm lẫn ở cõi đời này
!
Nữ
tu Eileen : Thật ra, ngày nay, chúng tôi nghĩ ngôi Cha vừa là
Cha vừa là Mẹ !
Cha
Laurence : Có lẽ Đức Mẹ Maria cũng phải tham gia cuộc bàn
cãi này.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Cứ mỗi lần tôi được nhìn thấy hình
ảnh của Đức Mẹ Maria, tôi tự nhủ Mẹ thể hiện lòng
yêu thương và lòng từ bi. Mẹ là biểu tượng của tình yêu.
Trong các ảnh tượng của Phật giáo, nữ thần Tara có một
vị trí tương tự.
Ajahn
Amarao : Không biết tôi có nên đặt một câu hỏi về siêu
hình… Nhưng vì chúng ta đã nói về bất đồng trong hai truyền
thống của chúng ta, với tư cách một người Phương Tây,
tôi luôn luôn thấy khó khăn phải chấp nhận tính độc nhất
của Đức Giêsu Kitô, tức là nhìn nơi Đức Giêsu một con
người riêng biệt, khác hẳn mọi người khác đã đến thế
gian này. Ngài có những suy nghĩ gì về vấn đề này muốn
chia sẻ với chúng tôi, bởi lẽ ý tưởng ấy xuyên suốt
mọi kinh điển Kitô giáo. Quan điểm của ngài như thế nào
về bản tính độc nhất, đặc biệt của Đức Giêsu.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Nếu bạn hỏi một Kitô hữu hành đạo
phải biết khẳng định tính độc nhất của Đức Giêsu Kitô
như thế nào, câu trả lời của tôi là không có sự chọn
lựa nào ngoài sự tín thác vào quyền bính của các giáo phụ
xưa kia. Nhưng khi bạn hỏi ý kiến của riêng tôi, tôi sẽ
dẫn lại những lời trước đây đã nói. Đối với tôi,
một người Phật tử, Đức Giêsu Kitô hoặc là một Đấng
toàn giác hoặc là một vị Bồ Tát đã thể nghiệm tâm linh
cao độ.
Giai
thoại sau đây mặc dù không trực tiếp đến câu hỏi liên
quan của bạn, nhưng tôi muốn kể ra đây cuộc hành hương
của tôi đến Lộ Đức (Lourdes) năm rồi. Đứng trước hang
động, tôi đã cảm nhận một điều rất đặc biệt. Tôi
đã cảm thấy sự rung động tâm linh, một thứ hiện diện
tâm linh và kế đó, trước tượng thánh, tôi đã cầu nguyện.
Tôi đã nói lên niềm thán phục tôi cảm nhận đối với
nơi thánh ấy, nơi từ lâu là nguồn suối hưng phấn và sức
mạnh đã đem lại sự an ủi, ủy lạo và chữa trị tâm linh
cho hàng triệu con người. Tôi đã cầu nguyện cho điều đó
còn tiếp tục dài lâu. Như thế lời cầu nguyện của tôi
không hướng về một đối tượng xác định rõ ràng, Phật,
Chúa hay một vị Bồ Tát mà đơn giản hướng đến những
vị vĩ nhân được phú bẩm một lòng từ bi vô hạn hướng
về tất cả chúng sinh.
Cha
Laurence : Tôi có một câu hỏi đặt ra cho Đức ngài do một
nhóm thảo luận đầu giờ chiều xung quanh bài trình bày của
ngài. Câu hỏi xoay quanh sự đau khổ trong đó có những loại
đau khổ vượt qua được, và những loại khác thì không ?
Ngài có thể nói cho chúng tôi biết theo kinh nghiệm của ngài,
ngài phân biệt chúng bằng cách nào ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Tôi nghĩ điều ấy khá hiển nhiên. Khi đối
diện với một vấn đề, bạn làm hết sức mình để chế
ngự nó nhưng sau cùng, bạn thấy vấn đề vẫn còn đó, thế
là không thể vượt qua được. Trong loại phân biệt này,
người ta không bắt đầu bằng một sự phân tích sáng suốt
cho phép bạn xác định xem một đau khổ đặc thù nào đó
có thể được chế ngự hay không. Người ta không làm theo
cách đó.
Cha
Laurence : Cám ơn ngài. Giờ đây tôi xin đặt ra bốn câu hỏi
rất đơn giản. Không chỉ là những câu hỏi ngắn nhất trong
ngày mà còn là khó nhất. Tôi sắp nói đây. Cái gì tái sinh
? Cái gì là thần thiêng trong chúng ta, ngay lúc này ? Cái gì
xảy ra sau khi chết ? Ý thức của chúng ta có tạo nên thực
tại của chúng ta không ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Trước tiên, tôi muốn trả lời câu hỏi
sau cùng. Những kinh nghiệm cá nhân về đau đớn, thống khổ,
khoái lạc và hạnh phúc cho tới một điểm nào đó thường
là những sáng tạo của tinh thần chúng ta. Thật vậy, nhiều
kinh nghiệm về loại này đã do ý thức của chúng ta tạo
ra : nhưng từ đó mà nói rằng thực tại là một kiến trúc
của tinh thần thì không, đó là khẳng định một sự việc
hoàn toàn khác. Trong Phật giáo, một số trường phái chủ
trương quan điểm ấy, nhưng còn có những quan điểm khác.
Theo quan điểm thế giới của hệ thống madhyamaka, và tôi
theo quan điểm này, ý niệm mọi vật đều do ý thức tạo
ra không thể chấp nhận được.
Đến
lúc này, Đức ngài mỉm cười, yêu cầu mỗi thành viên trong
nhóm thảo luận – Ajahn Amarao, Cha Laurence và Nữ tu Eileen –
trả lời ba câu hỏi còn lại : Cái gì sẽ tái sinh ? Cái gì
là thần thiêng trong chúng ta ? Cái gì xảy ra sau khi chết ?
Ajahn
Amarao : Cái gì sẽ tái sinh ? Theo quan điểm Phật giáo Theravada,
không có một quan điểm lý thuyết được thiết lập. Đức
Phật đã mô tả quá trình tái sinh rất rõ ràng, nhưng ngài
cũng nói mọi nhận biết đều dựa trên kinh nghiệm cá nhân.
Thế nên, khi Đức Phật nói về ý tưởng của sự chết và
sự tái sinh trong một kiếp sống khác, ngài đã vạch nó ra
như một tấm bản đồ. Nó không được chuyển giao cho chúng
ta như một đồ vật mà mọi cá nhân chúng ta phải tin nhưng
đúng hơn như một lược đồ có thể giúp chúng ta lưu tâm
đến kinh nghiệm thực tế của mình.
Nhìn
chung, chính những tập quán của chúng ta tái sinh. Đó là yếu
tính của sự đầu thai. Tất cả những gì tâm thức bám víu
đi tái sinh : điều mà chúng ta yêu, ghét, sợ hãi, tôn thờ
và điều mà chúng ta có ý kiến về nó. Sự đồng hóa của
chúng ta với những khía cạnh này của tâm thức tạo ra một
động lực lôi kéo tâm thức. Sự trói buộc này giống như
một cái bánh trớn. Chấm dứt tái sinh là sự giác ngộ, một
sự dứt bỏ ràng buộc trọn vẹn và không đồng hóa mình
với những tư tưởng, tình cảm, nhận thức, cảm giác vật
lý và các ý tưởng. Đến độ khi chúng ta nói thoát khỏi
sinh, tử, chấm dứt sự tái sinh, điều ấy có nghĩa là giác
ngộ quả thật là điều kiện tự nhiên của tâm thức khi
tâm thức không bị một đối tượng bên ngoài hoặc bên trong
nó làm giao động, đồng hóa hay hấp thụ.
Trong
chúng ta, cái gì đồng nhất hóa với các đối tượng, cái
đó tái sinh từ kiếp này qua kiếp khác. Hoặc giả trong trường
hợp một vị Bồ Tát theo truyền thống đại thừa – hơi
khác với truyền thống của tôi ; mong rằng các vị theo truyền
thống Bắc tông đính chính dùm nếu tôi sai lầm – vị Bồ
Tát nam hay nữ ấy chọn tái sinh duy chỉ bởi lòng từ bi,
vì lợi ích của chúng sinh. Thông thường đối với phần
lớn con người, quá trình tái sinh xảy đến do bất ngờ mà
không do ý chí. Nhưng những điều kiện của sự tái sinh không
kiểm soát đó được quyết định bởi điều người ta bám
víu. Vậy nếu một vị Bồ Tát sinh ra một cách tự tại là
do hành động thủ đắc hoàn toàn tự tại đối với sự
vật. Ví dụ giờ đây tôi có thể lấy tờ giấy và giữ
nó, nhưng sự nắm giữ ấy có thể được thực hiện một
cách bình thản. Hoặc tôi có thể chộp lấy tờ giấy và
nói : “Đây là tờ giấy của tôi !” Trong trường hợp này,
có sự đồng hóa và tính sở hữu ; đó là sự nắm giữ
mù quáng. Sự tái sinh có thể đến một cách đơn giản, mặc
lấy một thân xác và thủ đắc không trói buộc, bám víu
: một vị Bồ Tát mặc lấy một thân xác và một cuộc sống
nhân loại theo cách đó. Tôi nói hơi nhiều, nhưng tôi không
thể nói ngắn gọn hơn !
Cha
Laurence : Cái gì là thần thiêng trong chúng ta ngay lúc này ?
Tôi sẽ chia sẻ câu hỏi này với nữ tu Eileen để chỉ ra
rằng chính các Kitô hữu cũng có những cách tiếp cận khác
nhau. Tôi nghĩ rằng sự thần thiêng chính là nguồn gốc của
chúng ta. Thánh Phao-lô diễn tả Thiên Chúa như nguồn gốc,
người dẫn đường và mục đích của mọi sự hữu. Thánh
nhân cũng có nói trong thư gởi tín hữu Ê-phê-sô Thiên Chúa
đã biết chúng ta và đã chọn chúng ta – mỗi con người
đặc thù –trước khi trời đất bắt đầu. Thiên Chúa là
nguyên ủy của thời gian và không gian, của sáng tạo và của
vũ trụ – tất cả đều hiện hữu trong mầu nhiệm Thiên
Chúa. Vậy thì, chúng ta đang hiện hữu vĩnh hằng trong mầu
nhiệm của Thiên Chúa. Chúng ta được biểu lộ, tồn tại,
xuất phát từ bản chất Thiên Chúa là Đấng biểu lộ và
yêu thương. Tôi nghĩ rằng điều thánh thiêng trong chúng ta
là suối nguồn, là gốc gác của chúng ta. Chúng ta luôn luôn
là một với nguồn gốc của chúng ta. Mọi vật có sự hiện
hữu luôn luôn là một với nguồn gốc của mình. Đó là sự
thánh thiện và là thần tính của chúng ta. Đó là mục tiêu
của chúng ta. Cuộc hành trình của chúng ta từ suối nguồn
đến mục tiêu – chúng cũng cùng một nơi, một điểm –
là cuộc hành trình mà chúng ta đang thực hiện trong giây phút
này. Đó là cuộc hành trình của sự giải thoát hay giác ngộ.
Nữ
tu Eileen : Giáo huấn Kitô giáo vẫn luôn luôn chủ trương chúng
ta được tạo thành theo hình ảnh của Thiên Chúa, chúng ta
là những đền thờ của Thánh Linh và luôn kết hợp làm một
với Thiên Chúa. Nhưng điều kiện nhân loại làm cho chúng
ta không cảm thấy điều đó trọn vẹn bởi lẽ chúng ta còn
bị giam hãm trong tâm thức và cơ cấu của chúng ta. Chính
vì thế, chúng ta tĩnh tâm thiền định và theo đuổi việc
thực hành tâm linh để có thể quay về với điều mà Phật
giáo Thiền Tông gọi là “bản lai diện mục” của chúng
ta, và với kinh nghiệm uyên nguyên về hữu thể mà chúng ta
là tạo vật đã được dành sẵn. Và như ngài đã nói, thưa
Đức ngài, điều đó không có nghĩa là đánh mất căn tính
mà là kinh nghiệm hợp nhất với Thiên Chúa.
Cha
Laurence : Chúng ta giờ đây sẽ thắp nến để chuẩn bị việc
tĩnh tâm, thiền định.
Mở
đầu việc hát kinh và tĩnh tâm, thiền định, Đức Đạt
Lai Lạt Ma và các đại diện của cộng đoàn thắp sáng năm
cây nến dấu chỉ sự hòa đồng tôn giáo. Động tác này
được lập lại mỗi ngày. Mặc dù bằng sự khiêm cung, đơn
giản tột độ và được thực hiện không chút khoa trương
hay với nghi lễ long trọng, việc đốt nến được chính cuộc
đời ngài làm cho sống động, một cuộc đời nằm ở khoảng
giữa sự ngẫu hứng và nghi thức quen thuộc nhất. Động
tác ấy mặc một tính chất linh thánh bởi lẽ mọi nền văn
hóa và mọi tôn giáo mà người ta biết được đều luôn
luôn nhìn ánh sáng và đặc biệt ngọn lửa với niềm sợ
hãi và tôn kính. Tuy nhiên, trong trường hợp này chính vì
không có khuôn khổ nghi thức định trước và vì các ngọn
nến có khi không đứng thẳng hoặc cháy mãi, cho nên giây
phút tỏa sáng ngắn ngủi này, không hoàn hảo nhưng xúc động
bởi sự tự nhiên và nhân tính lại giữ được tính chất
tự phát của cuộc hội thảo.
Khi
ngài yên vị trên chiếc ghế đặt ở giữa bục giảng, người
ta giảm bớt ánh sáng trong phòng. Ngài gấp và tém gọn những
vạt áo cà sa, chọn tư thế để định thân, lấy xâu chuỗi
ngọc ra, mắt nhắm lại và bắt đầu cầu nguyện. Trong cử
tọa, những ai có một người mẹ hay người bà công giáo,
đều ngạc nhiên nhận thấy những sự chuẩn bị nho nhỏ
của Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhất là cách thức hoàn toàn quen
thuộc, nhẹ nhàng, thoải mái và dịu dàng khi lần chuỗi ngọc,
dường như vượt qua mọi phân chia văn hóa và ngôn ngữ. Lời
kinh kệ vang lên dù không phải kinh Kính Mừng Maria của chuỗi
Mân Côi nhưng sự tôn kính khi đọc tụng, lúc lắng nghe thì
hoàn toàn giống nhau. Lời kinh kệ như sau :
Coi
tất cả chúng sinh
Còn
hơn cả viên ngọc như ý
Để
thành tựu mục tiêu cao cả nhất,
Ước
gì chúng sinh mãi mãi là cái mà tôi yêu quý nhất.
Khi
tôi sống giữa người khác
Tôi
luôn luôn coi mình như bé mọn nhất.
Và
trong thẳm sâu của trái tim tôi
Tôi
luôn luôn xử sự với họ như những người thân yêu và ở
trên tất cả
Cảnh
giác, đúng lúc xuất hiện như một bức màn che làm cho người
khác và chính tôi gặp nguy hiểm,
Tôi
sẽ tiến tới và gạt bức màn ra
Không
chậm trễ.
Khi
tôi nhìn thấy những người có bản chất dữ tợn
Bị
những hành vi bạo lực tiêu cực và sự đau khổ đè bẹp,
Những
con người họa hiếm đó sẽ quý giá cho tôi,
Như
thể tôi đã tìm thấy một kho tàng quý giá.
Khi
người khác vì ganh ghét, đối xử với tôi bằng bạo lực.
Nhục
mạ tôi hoặc gây cho tôi nỗi đau khác,
Tôi
chấp nhận sự thất bại
Và
dâng sự thành công cho những người khác.
Khi
một người mà tôi đã làm điều tốt cho
Một
người mà tôi đã hy vọng rất nhiều
Làm
cho tôi đau đớn ê chề.
Tôi
sẽ xem người ấy như người bạn tâm linh thánh thiện
của
tôi.
Tóm
lại, vừa trực tiếp vừa gián tiếp, tôi dâng
Mọi
lợi lạc và hạnh phúc cho tất cả chúng sinh, các người
mẹ
tôi :
Tôi
có thể âm thầm hứng chịu
Mọi
hành vi xấu xa và đau khổ của họ.
Ước
gì họ không bị các ý niệm làm vấy bẩn
Các
ý niệm của tám mối lo âu trần tục.
Và
ý thức rằng mọi sự là huyễn hóa.
Ước
gì bằng sự buông bỏ, họ được giải thoát khỏi mọi
phiền
trược.
PHẦN
THỨ SÁU
SỰ BIẾN HÌNH
Phúc
Âm theo Thánh Luca 9, 28-36
“Khoảng
tám ngày sau cuộc đàm thoại, Đức Giêsu đem theo Phêrô, Gio-an
và Gia-cô-bê lên núi cầu nguyện. Trong lúc Ngài cầu nguyện,
khuôn mặt Ngài biến đổi sáng ngời và y phục Ngài trở
thành trắng tinh rực rỡ. Và kìa có hai người đang nói chuyện
với Ngài : đó là Môi-sê và Êli, xuất hiện trong vinh quang
nói về cuộc khổ nạn mà Ngài phải hoàn tất ở Giê-ru-sa-lem.
Phêrô và hai bạn còn ngủ li bì ; tuy nhiên khi tỉnh dậy,
họ nhìn thấy vinh quang của Đức Giêsu và hai vị Môi-sê
và Êli đứng gần Ngài. Khi họ chia tay với Đức Giêsu, Phêrô
nói với Ngài : “Thưa Thầy, chúng con sung sướng được ở
đây : chúng con có thể dựng ba lều, một cho Thầy, một cho
Môi-sê và một cho Êli.” Phêrô không biết điều mình đã
nói. Khi ông còn đang nói, một đám mây đến bao trùm lấy
các Ngài, các môn đệ hoảng sợ khi thấy các ngài biến mất
trong đám mây. Lúc đó từ đám mây có tiếng nói vang ra :
“Đây là CON yêu quý của ta, các ngươi hãy nghe lời người
!” Và trong lúc tiếng nói còn vang dội, Đức Giêsu ở lại
một mình. Các môn đệ lặng thinh, và trong những ngày ấy,
không nói cho ai biết điều họ đã trông thấy.” [Luc, 9,
28-36]
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : “Một lần nữa, đoạn văn về sự biến
hình nêu ra những đề tài chung cho những truyền thống tôn
giáo lớn của thế giới. Các đề tài chung ở đây là khả
năng có những kinh nghiệm thần bí bằng thị kiến và sự
quan trọng của các ẩn dụ như cầu vồng, đám mây, mặc
dù trong văn cảnh của Phúc Âm, ý nghĩa của các đề tài
ấy có hơi khác vì tính độc nhất (vô nhị) khi quan niệm
về Đức Giêsu như CON Thiên Chúa. Nhưng đại thể, nếu một
Phật tử thuần thành đạt đến một độ cao thành tựu trên
đường tiến hóa tâm linh thì một sự biến đổi như thế
có thể được biểu lộ ở cả bình diện vật lý. Các kinh
Phật (sutras) kể lại những câu chuyện tương tự về Đức
Phật. Giống như trong Phúc Âm, các câu chuyện bắt đầu cho
biết Đức Phật đang ngụ tại một nơi nào đó, ở một
lúc nào đó. Các môn đệ – chủ yếu là hai môn đệ xuất
chúng, Shariputa (Xá Lợi Phất) và Maudgalyayana (Mục Kiền Liên)
– nhận thấy có sự thay đổi trong ngoại hình của Đức
Phật. Một luồng ánh sáng chiếu tỏa từ thân thể Ngài và
một nụ cười nhẹ nhàng đặc biệt chiếu sáng dung nhan Ngài.
Rồi thì, một môn đệ hỏi Đức Phật : “Con thấy có những
sự thay đổi nơi Thầy. Tại sao chúng xảy ra ? Vì những lý
do gì ? Tư tưởng nào đang hiện ra trong tâm trí Thầy ? Xin
Thầy vui lòng trả lời cho chúng con.” Những dụ ngôn ấy
giống với dụ ngôn mà chúng ta tìm thấy trong đoạn Phúc
Âm về sự biến hình.
“Thị
kiến về hai vị tiên tri Môi-sê và Êli cũng tương ứng với
nhiều truyện kể Phật giáo nói về các sự kiện thần bí
trong đó một cá nhân thấy mình đối diện với các nhân
vật lịch sử. Người ta gọi đó là những dag-nang, những
kinh ngiệm về những thị kiến thuần túy. Trong một số trường
hợp, có thể đó là những tiếp xúc đích thực với các
nhân vật lịch sử, ở bình diện thần bí. Trong các trường
hợp khác, đó là sự gặp gỡ với những người khác mặc
lấy ngoại hình và dáng vẻ của các nhân vật ấy. Những
sự tiếp xúc như thế có thể xảy ra.
“Để
hiểu được các hiện tượng thần bí ấy, cần phải có
kiến thức tối thiểu về hiện tượng hiển lộ hay hóa hiện
(émanation) nói chung. Ví dụ như mức độ tự trị của một
hóa hiện tùy thuộc trình độ thành tựu của cá nhân tạo
nên hóa hiện, nói cách khác của chủ thể hóa hiện. Ở một
mức độ thấp hơn, một sự hóa hiện được tạo bởi một
cá nhân, trong một mức độ rộng lớn được chủ thể hóa
hiện kiểm soát và điều khiển gần giống như một máy điện
toán. Trái lại, ở một cá nhân đã đạt tới những thành
tựu tâm linh cao, các hình thể được hóa hiện có thể có
một mức độ tự trị cao. Một đoạn trong bản văn Phật
giáo phát biểu rằng những hóa hiện do một vị toàn giác
tạo nên có được một mức độ tự trị rất cao. Tuy nhiên
điều đó không có nghĩa các hóa hiện là có thật và chúng
là những sinh vật. Trong một ý nghĩa nào đó, chúng chỉ là
những tạo vật đơn thuần của tinh thần đã tiến hóa cao
đó. Vì thế, một trong bốn giới răn chính của luật tu là
cấm sát sinh. Để có sát sinh, đối tượng của hành động
sát sinh phải là một con người chứ không phải là một vật
hóa hiện : bởi lẽ những người được hóa hiện không được
coi như những sinh vật có thật.
“Ngày
nay cũng vậy, nhiều người có kinh nghiệm về thị kiến thần
bí. Một số người đã bước vào tiếp xúc với các đại
sư của Ấn Độ và Tây Tạng. Chính tôi cũng thích có những
kinh nghiệm như thế. Nhưng than ôi ! Tôi có nhiều câu hỏi
để đặt ra ! Nếu tôi phải làm một kinh nghiệm như thế
với các đại sư Ấn Độ của quá khứ, tôi sẽ đóng vai
trò một nhà khoa học, một trạng sư của quỷ và tôi có
một đống câu hỏi đặt ra ! Nếu những cá nhân đạt tới
trạng thái tâm linh tiến hóa cao có khả năng hóa hiện và
tự biểu hiện dưới nhiều hình thức, không vì thế mà mọi
người sẽ có khả năng tri giác thị kiến và sự hiện diện
ấy. Để nắm bắt thị kiến người ta phải đạt tới một
mức độ trưởng thành nào đó, có khả năng tiếp thu và
mở rộng tâm linh. Ví dụ trong đoạn văn có nói Phêrô nhìn
thấy Môi-sê và Êli, nếu vào lúc đó những người khác cùng
đi theo Đức Kitô, hoàn toàn có khả năng một số người
trong nhóm đã không nhìn thấy Môi-sê và Êli.
“Đối
diện với hiện tượng hóa hiện như thế, thông thường người
ta muốn biết cơ chế của chúng. Phải giải thích chúng trên
nền tảng nào ? Trong Phật giáo, nếu chúng ta đặt mình trong
nhãn giới tantra, phương diện bí truyền của Phật giáo Tây
Tạng, có thể đưa ra lời giải thích từ động lực của
các năng lượng vi tế được gọi là prana. Nhờ vào những
kỹ thuật thiền định khác nhau, hành giả có thể đạt đến
một trình độ cao của việc điều nhiếp các năng lực tâm
lý. Trong hệ thống các sutra, đó là hệ thống phi-tantra, người
ta tường trình các kinh nghiệm ấy bằng các ngôn từ chỉ
sức mạnh tập trung hay sức mạnh thiền định. Nói đúng
ra, đó là những hiện tượng rất huyền bí, tôi không tự
cho mình có khả năng giải thích chúng chi tiết. Tôi nghĩ rằng
đó là những lãnh vực cần nhiều sự nghiên cứu tìm tòi
cũng như thử nghiệm.
“Những
cuộc gặp gỡ ở trong thị kiến diễn ra ở những trình độ
khác nhau mà người ta có thể xếp thành ba loại lớn. Các
cuộc gặp gỡ loại đầu tiên được cảm nghiệm trên một
bình diện thần bí và trực giác hơn ; cuộc gặp gỡ thực
ra không hiện thực hay hiển nhiên nhưng đúng hơn thuộc bình
diện cảm giác hay trực giác một sự hiện diện. Các cuộc
gặp gỡ thuộc loại thứ hai thì hiển nhiên hơn nhưng không
thuộc bình diện giác quan ; chúng được cảm nhận ở bình
diện tâm lý, ý niệm. Còn loại ba là các cuộc gặp gỡ hiển
nhiên nhất : đó là các kinh nghiệm từ giác quan như gặp
một ai, mặt đối mặt, đôi mắt mở to.
“Một
hiện tượng tương tự đi kèm theo các thị kiến thần bí
xảy ra ở hồ thiêng Lhamoš Lhatso ở Tây Tạng. Tôi đã nghe
nói rằng các du khách nước ngoài đã có những thị kiến
ở hồ ấy. Tuy nhiên, nếu mười người nhìn hồ cùng một
lúc, mỗi người có thể có một thị kiến khác nhau. Nhưng
cũng có thể cả mười người đều thấy cùng một hình ảnh.
Thậm chí người ta cũng có thể chụp ảnh các thị kiến.
Tại sao lại có những sự khác nhau ấy ? Thật là mầu nhiệm
sâu xa. Nhưng hẳn phải có một lời giải thích.
“Trong
các đoạn Phúc Âm này, người ta thấy có một sự quy chiếu
về số mệnh. Điều này dẫn tôi đến chỗ tự hỏi trong
bối cảnh Kitô giáo có hay không niềm tin mỗi người có một
số mệnh riêng biệt phải hoàn tất.”
Cha
Laurence : Vâng. Mọi người đều có một số mệnh mà nói
cho rốt ráo là phải tham dự vào sự hữu của Thiên Chúa.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Người ta có thể nói rằng, do những hoàn
cảnh, mà số phận cá nhân được tiến triển và thay đổi
không ?
Cha
Laurence : Vâng, bởi vì cá nhân được tự do chấp nhận hay
không số mệnh hay “tiếng gọi” đó. Có một mối liên
hệ giữa số mệnh và sự tự do.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Trong Phật giáo, mặc dù người ta không
dùng từ số mệnh, mà thấy có khái niệm karma (nghiệp) là
một từ tương đương gần giống số mệnh. Nếu karma bao
gồm một lực đẩy có mức độ, thì trong mọi trường hợp,
cần có đủ điều kiện để karma được thực hiện. Như
tôi đã nói, một số hình ảnh như đám mây, cầu vồng đều
được thấy trong nhiều truyền thống tôn giáo. Về mặt tự
nhiên, khoa học có thể giải thích cầu vồng hình thành ra
sao do độ ẩm, nhiệt độ… Nhưng tôi luôn luôn buộc phải
suy nghĩ về những cầu vồng riêng của mỗi người không
phải do nhiều màu sắc mà giống như một ánh sáng trắng
thuần khiết trải ra theo đường thẳng thay vì tạo thành
hình cung. Tôi luôn luôn tự hỏi điều ấy có thể hiện hữu
như thế nào.
Trong
Phật giáo Tây Tạng, hình ảnh của cầu vồng bao gồm hai
chức năng. Trước tiên nó thường kết hợp với các dấu
chỉ điềm tốt, may mắn, hoạnh tài. Ngoài ra, cầu vồng còn
minh họa bản chất huyễn hóa và không thực thể của các
sự vật và biến cố. Tôi thích thú thấy đoạn văn này kể
lại một tiếng nói đến từ không trung. Cũng vậy, trong các
lời giáo huấn của Phật giáo, người ta tìm thấy những
quy chiếu tương tự vào một tiếng nói không biết từ đâu
đến. Ở Tây Tạng người ta thường tin rằng vào thế kỷ
thứ VII, dưới triều đại của Lha Tho-thơri, các kinh điển
Phật giáo từ trời giáng xuống. Các học giả đã bác bỏ
và khẳng định kinh điển đưa từ Ấn Độ về. Nhưng thời
kỳ ấy, nếu người ta biết được kinh điển thật ra từ
Ấn Độ đưa về, hẳn người ta đã không tôn thờ kinh điển.
Tóm lại, huyền thoại kinh điển từ Trời giáng xuống đã
xuất hiện và huyền thoại ấy đã đóng một vai trò đặc
biệt trong truyền thống tâm linh của họ.