Một
Viễn Cảnh Phật Giáo
Về
Những Lời Dạy của Đức Giêsu
MỤC
LỤC
Phần
Mở Đầu
Phần
1: ƯỚC MUỐN HÒA HỢP
Phần
2: NGƯƠI HÃY YÊU KẺ THÙ NGƯƠI
Phần
3: BÀI GIẢNG TRÊN NÚI: CÁC MỐI PHÚC THẬT
Phần
4: TÍNH BÌNH ĐẲNG
Phần
5: VƯƠNG QUỐC CỦA THIÊN CHÚA
Phần
6: SỰ BIẾN HÌNH
Phần
7: SỰ TRUYỀN GIÁO
Phần
8 : ĐỨC TIN
Phần
9: SỰ SỐNG LẠI
Phụ
Lục 1: PHẬT GIÁO TÂY TẠNG VÀ CUỘC ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN
Phụ
Lục 2: CUỘC ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN VÀ CÁC MỐI LIÊN HỆ GIỮA
PHẬT TỬ VÀ KITÔ HỮU
LỜI TỰA
Một
người đàn ông đang nói. Đó là một tiếng nói của một
truyền thống tâm linh của hơn hai ngàn năm, chánh pháp mà
Đức Phật đã giảng dạy.
Các
môn đồ của Đức Ki Tô tụ họp chung quanh ông. Họ đã mời
ông đọc và chú giải “Tin Mừng”, Phúc Âm mà Đức Giêsu
đã loan báo.
Một
cuộc đối thoại hình thành giữa hai bên và hơn thế nữa,
đây là một thời điểm thuận lợi để cho sự thống nhất
nền tảng của nhân loại được khẳng định và cảm nhận
bằng lời cũng như bằng sự im lặng.
Vấn
đề không phải là xóa bỏ hoặc che dấu những điểm khác
nhau nhưng là nêu rõ chúng bởi lẽ xuyên qua các điểm dị
biệt, những điểm đồng quy mới kể cả bổ túc cho nhau
sẽ được phác họa.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma đã dẫn một tục ngữ Tây Tạng : “Trâu
vẫn phải là trâu và cừu vẫn phải là cừu”. Nhưng
phải chăng là điên rồ khi muốn phong phú hóa sự đa dạng,
tìm kiếm cái đơn nhất giữa sự đa tạp, phác thảo một
“kỷ nguyên của Thánh Thần” bên ngoài mảnh đất chung
của các giáo phái hay của thời thượng cầu kỳ, hoặc khi
cùng nhau vạch ra những con đường cổ xưa của cuộc hành
trình nội tâm và không vì thế mà từ bỏ thế giới hiện
đại trong hiện trạng ? Đã hẳn, đó không phải là sự điên
rồ. Nhưng phép lạ của lòng đơn sơ, chân thật đã chiến
thắng mọi trở ngại cho dù sự nể nang của người này hay
sự ngại ngùng của người khác bắt đầu biểu lộ. Cuốn
sách này là sản phẩm của điều đó. Nó chứng tỏ với
chúng ta sự tồn tại của một đối cực với lục điạ
thống nhất của những người mới tòng giáo ; một đất
nước ở đó tính phổ quát từ chối sự đồng phục hóa
và những tính cách dù bị đe dọa nặng nề, cũng khước
từ sử dụng bạo lực như phương tiện để sống còn.
Trước
tiên, lời này gửi đến cho các Kitô hữu và các Phật tử.
Tinh thần của cuộc gặp gỡ tại Assise năm 1986 đã đem lại
một sắc thái và đấy là phương pháp được áp dụng.
Nói
rõ hơn : sau hai mươi thế kỷ thiếu thông tin, chúng ta hãy
nhớ lại các sai lầm và nghịch nghĩa mà chúng ta nghĩ về
Phật giáo với lòng tự phụ từ Rubrouck cho tới các thời
kỳ gần đây nhất. Người ta sẽ ngừng mọi phán đoán tiên
nghiệm, mọi ý tưởng đã nhận lãnh để thực hiện việc
đọc chung một bản văn căn bản : Kinh Thánh. Người ta sẽ
không dừng lại ở sử tính của các sứ điệp để gắn
bó hoàn toàn với sứ điệp. Không phải là vô ích khi ta đi
tìm lại trong lịch sử những dấu vết và âm hưởng các
lời giảng dạy của Đức Như Lai (Tathagata) vang dội đến
vùng đất Palestine nơi Đức Giêsu sẽ giáng thế, và rộng
lớn hơn trong vùng Điạ Trung Hải La-Hy. Các nhà nghiên cứu
trẻ tuổi về lịch sử và triết học đang làm việc ấy.
Ở đây, có một sự cấp bách khác. Hơi giống câu chuyện
mà Đức Phật đã sử dụng, nói về một người đàn ông
bị một mũi tên bắn trúng và ngã lăn dưới chân chúng ta.
Có phải chúng ta sẽ đi tìm lai lịch của người bắn ? Lai
lịch của người buôn bán cung ? Loại gỗ mà mũi tên được
làm ra ? Không. Chúng ta cần phải lập tức tìm ra loại thuốc
để chữa lành và cứu sống người bị nạn.
Vậy
là chúng ta có thể nói rằng Ki tô hữu và Phật tử đã gặp
nhau.
Giữa
Đấng Cứu thế đã đến để làm nhẹ gánh nặng trên vai
nhân loại bằng việc tha thứ tội lỗi thế gian với Đức
Như Lai giảng dạy Tứ diệu đế và Bát chánh đạo để đưa
người ta ra khỏi vòng luân hồi của sự khổ, người ta sẽ
nhận ra ít nhất là một định hướng chung nào đó.
Một
cách chính xác hơn khi Đức Giêsu hay làm phép lạ làm cho người
ta què đi được, người cùi được lành lặn, Ngài chẳng
nói với họ rằng : “Hãy đi đi, tội lỗi của ngươi
đã được tha thứ !” hay sao ?
Bằng
những ngôn từ khác : “Này đây, ngươi lại được ban
cho một tinh thần vô cùng thanh tịnh, thân thể ngươi sẽ
chứng minh điều đó”. Niềm tin ấy vào sự thanh tịnh
và tự tại của tinh thần là nền tảng của mọi tư duy Phật
giáo. Nhiều Kitô hữu cũng chia sẻ điều đó.
Thomas
Merton, một tu sĩ dòng Trappes, khẳng định : “Ở trung tâm
của hữu thể chúng ta, có một vùng ánh sáng thuần khiết,
một vùng mà tội lỗi và ảo tưởng không thể xâm phạm.”
Đã
hẳn, độc giả sẽ nhận thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn
mạnh và các người đối thoại với Ngài quan tâm so sánh
mà không hề lẫn lộn “tia sáng linh thiêng” hiện diện
trong mỗi tạo vật, ít ra đối với những người tự nhận
mình là con cái của Thiên Chúa Tạo hóa, và “tia sáng giác
ngộ”, bồ đề, hiện diện trong mỗi chúng sinh, đối với
người Phật tử.
Thật
vậy, nếu cần phải đồng hành đi tìm Thần Khí, thì cả
việc đọc lẫn việc chú giải các bản văn, như chúng ta
biết, sẽ không đủ.
Dấu
ấn của tinh thần nằm ở nội tâm, trong chiều sâu thinh lặng
của mỗi người. Người ta chỉ có thể đạt đến bằng
sự trầm tư chiêm niệm.
Ai
cũng dễ dàng nhận thấy rằng cả Đức Phật và Đức Kitô
không viết sách ; các Ngài đã để cho những môn đệ lo việc
chuyển giao sứ điệp như họ đã nhận thức, với tất cả
nhân tính của họ. Như thế, đến lượt chúng ta, chúng ta
phải tìm lại sứ điệp trong chính chúng ta : bên ngoài và
bên trên chữ viết. Giới hạn ấy của Lý (logos) mà các Kitô
hữu vẫn thường chấp nhận bởi vì Ngôi Lời đã trở thành
xác thịt, người ta gọi đó là mầu nhiệm, ngoại lý hoặc
đơn giản hơn sự thiết yếu của kinh nghiệm, đối với
tôi đó là một trong những bài học chủ yếu của sự gặp
gỡ. Khả năng đánh thức “một cái gì bên ngoài chữ nghĩa”
rõ ràng là một phần của sự tỏa sáng tâm linh nơi các vị
tôn sư đắc đạo.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma thường khiêm tốn khẳng định rằng do ít
nghiên cứu, ngài hiểu không đúng về Kitô giáo, cho dù các
cuộc gặp gỡ giữa ngài với Kitô hữu đã tăng lên nhiều
trong vòng mười năm nay. Tuy nhiên chúng ta thấy Ngài đi vào
lý luận của Phúc Âm không thua kém ai không ngượng ngùng
giả tạo, như thể lời nói của Đức Giêsu rất thân thuộc
với ngài và ngôn ngữ của các dụ ngôn không có gì là bí
hiểm. Và sự dễ dàng ấy tác động mạnh mẽ đến cử tọa
hiện diện và có sức khai thị vô cùng đến định hướng
chung khả dĩ động viên người hành đạo bước vào con đường
tâm linh đích thực. Rõ ràng là ở đây sự đồng cảm mang
lại điều mà lý tính được nêu ra ở trên đôi khi còn để
lại trong bóng tối.
Đối
với tôi, một người đã không tham gia hội thảo đó, nhưng
nhớ lại những giờ phút trôi qua ngồi lắng nghe vị tôn
sư Tây Tạng thì cuốn sách này quả là một cảm hứng cho
hành động tâm linh. Một cách tiên thiên, người ta thường
có xu hướng đối lập hai từ đó. Không. Trầm tư hoặc tham
thiền chính là hành động, và đôi khi hành động, chính là
trầm tư hoặc tham thiền. Đối với tôi, chưa bao giờ điều
đó rõ ràng hơn. Y như rằng sự rời bỏ thế gian đôi khi
là con đường nhanh nhất và thiết yếu để tìm lại thế
gian trong thực tại của nó với đầy đủ ý nghĩa, sự quân
bình và lợi lạc.
Ý
tưởng về một cuộc hành hương chung đến với các truyền
thống lớn, hoàn toàn gây hứng khởi từ người con của xứ
sở du mục, đất nước Tây Tạng mà các người hành đạo
đi qua, đôi lúc bái quỳ để cho trán mình chạm đất.
.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Bên
ngoài sự vận dụng một bút pháp đầy ấn tượng mà Đức
Đạt Lai Lạt Ma cống hiến cho chúng ta, chính là sự đóng
góp hoan hỷ và từ bi của chúng ta vào việc thực hành đời
sống mà cuốn sách này giúp ta đối diện.
Jean-Paul
Ribes
Chủ
tịch Ủy ban trợ giúp Tây Tạng ở Pháp.
05-25-2007
17:23:14