Vào
tháng chín năm 1994 ở Luân Đôn, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã
hướng dẫn cuộc Hội Thảo John Main: đó là cuộc gặp gỡ
hằng năm nhằm mục đích khai triển đời sống nội tâm để
tưởng nhớ linh mục Biển Đức John Main mà cha Bede Griffiths
đã có lần nói về ngài là vị linh hướng quan trọng nhất
trong Giáo Hội ngày nay.
Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma và Dom John Main đã gặp nhau hai lần. Lần
đầu tiên vào năm 1980 tại nhà thờ Chính Tòa Công giáo ở
Montréal, tỉnh bang Québec, Canada. Tại đó, người ta đã xin
cha John Main đón tiếp vị thủ lãnh Tây Tạng với tư cách
là người tu sĩ anh em, trong buổi tối khai mạc cuộc gặp
gỡ liên tôn.
Trong
những cuộc hội họp chuẩn bị cho buổi chiều hôm đó, tôi
nhớ lại cha John Main đã mạnh mẽ biện hộ là phải đưa
vào chương trình một khoảng thời gian quan trọng cho việc
chiêm niệm trong thinh lặng. Những vị lãnh đạo tôn giáo
có mặt vào buổi chiều tối cầu nguyện liên tôn đó, từ
Đức Tổng Giám Mục cho đến pháp sư người thổ dân châu
Mỹ, đã phát biểu những tâm tình chứng tỏ tình thân hữu
và đọc lên những lời kinh tuyệt vời.
Nhà
thờ Chính Tòa tối hôm đó tràn ngập lời ca, lời xướng
kinh cùng với những mỹ thuật rực rỡ của văn hoá Kitô
giáo. Những người tổ chức đã lo lắng về đề nghị
giữ 20 phút thinh lặng trong một buỗi lễ với tầm vóc rộng
lớn như thế. Nhưng cha John Main đã khẩn khoản yêu cầu
và cuối cùng ngài đã được mọi người đồng ý.
Sau
buổi lễ, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã tìm gặp vị tu sĩ Biển
Đức đón tiếp ngài để nói lên lời cảm kích biết bao
đối với sự kiện bất thường là ngài được thiền định
trong một ngôi thánh đường Công Giáo. Chứng kiến cuộc nói
chuyện giữa họ, tôi nhận ra một sự tương thân tương ái
lớn lao nối kết hai vị.
Những
lời trao đổi giữa họ chỉ có tính cách bình thường, nhưng
tôi có cảm giác họ đã thăm dò một cuộc đối thoại thâm
sâu hơn, có tính cách thinh lặng hơn. Kế đó cha John Main đã
mời Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma tới thăm viếng cộng đoàn bé
nhỏ Biển Đức vừa mới thành lập cạnh trung tâm thành phố
Montréal, chuyên về thực hành và quảng bá đường lối chiêm
niệm theo truyền thống Kitô giáo.
Vào
thời điểm đó, chúng tôi ở ngoại ô thành phố trong một
ngôi nhà nhỏ, sống giữa một cộng đoàn mở rộng gồm nhiều
giáo dân quanh vùng. Đó là một lối sống đời tu ở chốn
thị thành theo đường hướng múc lấy nguồn sinh lực trong
truyền thống tâm linh Kitô giáo.
Tôi
phân vân không biết Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma sẽ nghĩ gì? Chắc
hẳn ngài sẽ hình dung đến những đại tu viện thời Trung
Cổ. Khi thư ký của ngài đã nói chen vào là tiếc thay thời
khóa biểu của ngài đã dày đặc nên không cho phép ngài nhận
lời mời được, tôi chẳng ngạc nhiên chút nào.
Nhưng
rồi Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma xoay về phía người thư ký và
nói với một giọng cương quyết - tuy vẫn ngọt ngào - là
ngài quyết định nhận lời mời và phải dàn xếp để đưa
cuộc thăm viếng đó vào thời khóa biểu của ngài. Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma đã nhấn mạnh như thế và ngài đã thành
công. Cha John Main và Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã nhìn nhau, mỉm
cười và chia tay.
Chúa
nhật kế tiếp, vài giờ sau khi cảnh sát Canada khám xét toàn
diện trung tâm, đoàn xe limuzin của Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã
dừng lại trước tòa nhà của cộng đoàn tu trì. Ngài đã
cùng với chúng tôi ngồi chiêm niệm vào lúc ban trưa trong
phòng chiêm niệm bé nhỏ của chúng tôi. Tiếp theo, ngài đã
ăn trưa với chúng tôi. Cũng theo lệ thường, chúng tôi ăn
trong thinh lặng. Sau bữa ăn, chúng tôi có một cuộc nói chuyện
ngắn ngủi, rồi cha John Main và Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã
rút lui để trò chuyện riêng tư với nhau.Trước khi Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma ra đi, chúng tôi biếu ngài một cuốn “Luật
dòng Thánh Biển Đức” và ngài đã tặng lại cha John Main
dải lụa trắng theo truyền thống Tây Tạng để tỏ lòng
tôn kính. Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma ra về và cha John Main tiếp
tục công việc đặt nền móng xây dựng Cộng Đồng Chiêm
Niệm Kitô Giáo. Và họ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa sau
buổi chiều mùa thu năm 1980 đó.
Giữa
lần gặp gỡ đó và lời mời vào năm 1993, nhiều việc đã
xảy ra. Cha John Main đã qua đời năm 1982 vào lứa tuổi năm
mươi sáu, trong khi Cộng Đồng Chiêm Niệm Kitô giáo vừa mới
hình thành. Nhưng giáo huấn về chiêm niệm Kitô giáo của
cha đã bắt đầu lan rộng trong Giáo Hội. Trong những năm
kế tiếp, các bài học thiêng liêng này tiếp tục phát triển
và chúng nuôi dưỡng cùng củng cố đời sống nội tâm của
một số lớn Kitô hữu. Hai mươi lăm trung tâm đã mọc lên
và hơn một ngàn nhóm nhỏ hàng tuần gặp gỡ nhau ngõ hầu
hỗ trợ việc thực hành chiêm niệm của mỗi cá nhân. Những
nhóm đó ở rải rác trên một trăm quốc gia.
Trung
tâm quốc tế của Cộng Đồng Chiêm Niệm Kitô Giáo Thế Giới
đã được thành lập ở Hoa-Kỳ nhân cuộc hội thảo vào
năm 1991 ở New Harmony, Indiana, do cha Bede Griffiths hướng
dẫn. Cha Griffiths là một tu sĩ Biển Đức và là người đi
tiên phong trong vấn đề đối thoại liên tôn bắt đầu ở
Luân Đôn. Những cuộc hội thảo trước đó được điều
khiển bởi nữ chuyên viên Phạn ngữ là cô Isabelle Glover,
triết gia Charles Taylor, nhà bình luận văn chương Robert Kiely,
nhà tâm lý học thuộc dòng Thánh Giuse là nữ tu Eileen O'Hea,
học giả John Todd, sáng lập viên cộng đoàn “L’Arche”
– chuyên trách những người khuyết tật là ông Jean Vanier,
và nhà thần học kiêm học giả dòng Tên là cha William Johnston.
Đáp
lại lời mời của chúng tôi, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã ngỏ
đôi lời vắn tắt là ngài còn nhớ cuộc gặp gỡ của ngài
với cha John Main mười ba năm trước và ngài sung sướng thấy
cộng đồng lớn mạnh khắp thế giới. Ngài cũng sung sướng
và lấy làm hãnh diện được hướng dẫn cuộc hội thảo
sắp tới. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của hai vị tu sĩ nhiều
năm trước đây đã cung ứng cho chúng tôi một vận hội tuyệt
vời. Chúng tôi đã nắm bắt vận hội đó như thế nào?
Nhiều
lý do đã khiến chúng tôi đề nghị với Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
người đầu tiên không phải Kitô hữu, điều khiển cuộc
hội thảo. Cuộc gặp gỡ của ngài với Dom John Main tuy vắn
vỏi nhưng cực kỳ quan trọng. Sự hội ngộ đó đã đưa
ra ánh sáng sự cần thiết của việc triển khai cuộc “đối
thoại giữa Kitô hữu và Phật tử” ở mức độ thâm sâu
hơn, khả dĩ giúp mọi người có thể tiếp cận được nhờ
vào đường lối chiêm niệm. Có cái gì đó dễ đánh động
lòng người khi cùng nhau chia sẻ sự thinh lặng thâm sâu; điều
gì đó mà ngôn từ có thể trao đổi cho nhau nhưng chẳng bao
giờ thành công để diễn đạt trọn vẹn.
Sự
lựa chọn của chúng tôi cũng hướng đến Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
bởi vì ngài đã trở thành một trong những bậc thầy tu đức
hiện đại được yêu mến nhất và dễ dàng tiếp cận nhất.
Cơn hấp hối của xứ Tây Tạng, cái thường xuyên theo đuổi
ngài, đã đưa đẩy ngài vào vai trò lãnh đạo tâm linh có
tính cách toàn cầu mà những giá trị đạo đức phổ cập
như “hòa bình, công lý, sự khoan dung và bất bạo động”
đã được thể hiện một cách hứng khởi và đồng thời
cũng nghiêm túc nơi con người của ngài. Điều đó được
thấy rõ rệt khi ngài đọc lớn tiếng “Các Mối Phước
Hạnh” trong Phúc Âm trong buổi thảo luận đầu tiên. Mọi
người có cảm tưởng những điều đó mang một chiều kích
khác trên đôi môi ngài. Đó là chiều kích của một tầm
nhìn sắc bén mà ngài đã có kinh nghiệm bản thân.
Khi
tìm cách để nắm bắt cơ hội này, chúng tôi được câu
trả lời rõ ràng: hãy buông trôi trong phó thác. Thật vậy,
chúng tôi ở trước một hoàn cảnh chưa từng xảy ra. Đó
là một cuộc hội thảo ba ngày của một nhóm qui tụ những
người chiêm niệm Kitô giáo với các bằng hữu tuy không
là người Kitô nhưng đã dấn thân một cách thâm sâu trong
hành trình đó, đã cùng nhau tổ chức một “cuộc thảo luận
có tích cách liên tôn”.
Tôi
đã lưu ý Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma là cuộc hội thảo bao gồm
những thời gian “chiêm niệm và thảo luận”. Chúng tôi
phải cùng nhau chiêm niệm ba lần mỗi ngày. Những giờ chiêm
niệm đó không phải là thời gian “đệm” trong cuộc hội
thảo nhưng chính là tâm điểm của cuộc gặp gỡ. Hiển nhiên
ngài không phản đối đề nghị này. Nhưng vấn đề
không phải là chỉ ngồi yên lặng mà còn tìm một đề tài
để thảo luận nữa.
Chúng
tôi đã duyệt xét những đề tài triết lý và tôn giáo thường
được đề cập tới trong những cuộc gặp gỡ như thế giữa
Phật tử và Kitô hữu, nhưng chúng tôi thiết nghĩ điều này
không thích hợp với một cuộc hội thảo có một không hai
này. Cuối cùng chúng tôi quyết định sẽ trao cho Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
những gì mà Kitô hữu trân quý nhất, thánh thiện nhất và
thâm sâu nhất. Vì vậy chúng tôi đã xin ngài dẫn giải “Phúc
Âm”. Ngài đã nhận lời không chút do dự, chỉ lưu ý chúng
tôi là tất nhiên ngài không biết nhiều về những văn bản
đó. Tôi nhận thấy trong điều lưu ý của ngài một dấu
hiệu đầy ấn tượng về lòng tự tin và đức khiêm tốn.
Hai
ba năm trước đó ở Luân-Đôn, khi thuyết trình nhiều bài
về triết lý Phật giáo, ngài đã làm ngạc nhiên cử tọa
về tầm hiểu biết chính xác và sâu rộng của ngài. Giờ
đây ngài đã vui lòng chấp nhận phát biểu trước một cử
tọa Kitô hữu - dĩ nhiên cởi mở và trầm ngâm - để
đề cập tới một lãnh vực mà ngài biết rất ít - ít ra
đó là điều mà ngài đã khẳng định với một nụ cười.
Được
sự chấp thuận của Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma, những tham dự
viên đã cương quyết dấn thân, nhưng kết quả không biết
trước được. Đây là một cuộc đánh cược với niềm tin
của cả hai tôn giáo. Chúng tôi không chút hoài nghi là thời
gian chiêm niệm cũng như sự hiện diện của ngài để trao
đổi tự nó đã có giá trị rồi. Những ai có thời gian tiếp
cận với Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma, đều biết rằng sự hiện
diện của ngài tỏa ra “sự bình an, chiều sâu nội tâm và
sự an lạc”. Dù vậy, cũng chẳng có gì bảo đảm rằng
cuộc hội thảo này sẽ thành công về mặt đối thoại.
Cuộc
hội thảo năm 1994 với chủ đề “ĐỨC TỪ TÂM” (The
Good Heart) đã mang lại một sự thành công lớn lao mà chúng
tôi không dự liệu trước. Những lời bình luận của Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma đối với những đoạn Phúc Âm chủ yếu
của cuốn sách này. Hiệu ứng của những lời này sẽ
kéo dài đến những cuộc đối thoại ở thiên niên kỷ tới
giữa các tôn giáo lớn của nhân loại. Điều này đặt để
nhân loại trước một sự thách đố mới là phải kiến tạo
một thế giới an bình và hòa hợp cho những thập niên kế
tiếp: ngài đã đề nghị một mô thức đối thoại.
Trong
những nhận xét khởi đầu của ngài, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
đã nhắc lại tầm mức quan trọng của những hình thức đối
thoại hiện đang được áp dụng đối với các tôn giáo.
Ngài đã nhấn mạnh đến những cuộc “đối thoại giữa
các học giả”. Nhưng theo ngài, việc đối thoại cốt yếu
và có tính cách thao tác nhất không nằm trên bình diện trí
thức. Chính là một cuộc “trao đổi chân thật giữa những
người thực hành đạo giáo một cách chân thành” từ quan
điểm của chính đạo giáo họ, đây là cuộc đối thoại
nhằm chia sẻ những sự thực hành liên hệ của chính họ.
Ý
niệm đó tạo thành mẫu số chung cho những tư tưởng gia
Kitô giáo lẫn Phật giáo. Trong truyền thống đan viện Kitô
giáo lúc ban sơ, Các Thánh Giáo Phụ đã nhấn mạnh đến trọng
tâm của việc “thực hành” (praktike) tức là kiến thức
xuất phát từ kinh nghiệm chứ không phải từ sự hiểu biết
có tính cách khái niệm. Đức Hồng Y Newman đã cảnh cáo
sự nguy hiểm sống niềm tin của mình theo một đề cương
giới hạn vào sự “đồng ý tự biện” mà quên đi sự
“kiểm chứng bằng kinh nghiệm cá nhân”.
Nếu
cha John Main hết sức khuyến khích Kitô hữu tìm lại chiều
kích chiêm niệm của đức tin mình, chính là để chúng ta
phải “kiểm chứng những chân lý thuộc về đức tin chúng
ta bằng chính kinh nghiệm chúng ta”. Trong bối cảnh của cuộc
thảo luận này - một cuộc thảo luận dựa trên Phúc Âm -
ý hướng đó mang lại điều mới mẻ là áp dụng vào cuộc
“đối thoại liên tôn”, chứ không chỉ truy tầm có tính
cách cá nhân về niềm tin đạo giáo của mình
Do
đó, cuộc hội thảo nầy là cơ hội để Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma
khai tâm cho chúng ta nhận chân giá trị của sự khác biệt.
Ngay từ đầu, ngài đã cảnh cáo chúng ta là mục đích của
ngài không nhằm đóng góp vào việc xây dựng một tôn giáo
đại đồng. Ngài không tin là có thể tạo lập một tôn
giáo đại đồng duy nhất, trái lại ngài tin tưởng ở sự
kính trọng, thúc đẩy chúng ta “tôn sùng những đặc trưng
của mỗi tôn giáo”.
Nếu
có những Kitô hữu ủng hộ một quan điểm có tính cách chính
thống cực đoan thì nhiều Kitô hữu khác lại hội nhập trào
lưu tự do và chấp nhận ý niệm tôn kính những truyền thống
tôn giáo khác nhau, mặc dù với những lý do khác với Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma.
Rất
nhiều lần, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma đã nhấn mạnh đến sự
kiện ngài là một Phật tử. Mặc dù ngài nhận thấy nhiều
điểm tương đồng rất xác thực và nổi bật giữa những
giáo huấn của Chúa Kitô và Đức Phật Thích Ca, nhưng ngài
cảm thấy sự nguy hiểm của một số từ ngữ có thể gây
ra ngộ nhận. Vì vậy ngài nhắc đến sự quan trọng phải
nhận chân tầm mức bao quát của “những điểm hội tụ
cũng như bất đồng” mà người ta phải truy tầm ý nghĩa
trong khi theo đuổi những ước vọng tâm linh.
Người
ta có những nhu cầu tâm linh khác nhau mà mỗi tôn giáo có
thể cung ứng cho họ theo những điểm đặc thù khác nhau.
Điều xác quyết đó xem ra dễ dàng chấp nhận, hoàn toàn
có tính cách bao dung và tự do. Nhiều người xem đó là thái
độ thích ứng đối với đặc tính đa dạng có tính cách
toàn cầu trong thiên niên kỷ sắp tới.
Lược
trình của cha Laurence Freeman
KHÁT
VỌNG HÒA ĐIỆU
Hội
trường Đại Học Middlesex ở phía bắc Luân-Đôn xem ra không
trang trọng chút nào: chỉ một gian phòng chật hẹp với những
dãy ghế gỗ lưng thoai thoải, kêu răn rắc mỗi khi hơi động
đậy.
Những
bích chương lớn ghi lại những câu nói của cha John Main được
viết nắn nót và gắn vào các cửa sổ mở ra trên khung trời
màu xám nước Anh-Cát-Lợi. Vài chiếc ghế ỷ, một tấm thảm
nhỏ và một bình bông được bày biện ra đó, trên một bệ
gỗ lắc lư. Người ta có cảm tưởng như nơi đó đã được
cất lên vội vàng đêm hôm trước và xem như chẳng có gì
quan trọng sẽ diễn ra ở đó cả.
Mọi
người trong phòng nao nức chờ đợi. Trong số giáo dân nói
tiếng Anh - những người Gia-Nã-Đại và Hoa-Kỳ - có
xen lẫn vài tăng ni Phật giáo trong áo màu vàng và nâu sòng,
với những mái đầu nhẵn bóng bất động giữa đám đông
người không ngừng chuyển động. Các nam nữ tu sĩ dòng Biển-Đức
– một số mặc áo dòng đen, riêng các tu sĩ ở Olive thì
mặc áo dòng màu trắng – ngồi hàng ghế đầu. Những máy
phát thanh và thu hình được điều chỉnh lại. Người ta hắng
giọng cho trong trẻo. Không một tiếng đàn vọng lại.
Một
nhóm nhỏ đi vào cửa hông và bước lên bệ gỗ. Ở giữa
họ là Đức Đạt Lai Lạt Ma đang tiến bước, ngài mang đôi
hài khá thoải mái, khoác chiếc áo màu vàng lẫn nâu sòng,
nụ cười tươi nở trên môi, gật đầu và khoác tay, hơi
e lệ nhưng sung sướng ra mặt. Ngài tiến vào theo cách thức
một Phật tử, không có tính cách một đoàn rước. Có khi
không thấy ngài đâu, rồi lại thấy ngài xuất hiện rõ ràng
ở đó.
Nhiều
diễn văn chào mừng, trong đó có diễn văn của bà quận trưởng
Enfield đại diện cho quận hạt của bà là một quận “đa
chủng, đa văn hóa và đa tôn giáo”. Đó là khu bắc thành
phố Luân-Đôn, tha thiết trong việc duy trì sự hòa hợp đa
nguyên nên rất thích hợp để tổ chức một cuộc hội thảo
qui tụ hai truyền thống tôn giáo lớn.
Sau
những nhận xét của bà quận trưởng, Dom Laurence Freeman, dòng
Biển-Đức, đã đứng lên chào đón Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma.
Với tư cách linh hướng và giáo sư Cộng Đồng Quốc Tế
về Chiêm Niệm Kitô giáo, cha Laurence đã đạt lời mời Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma và giờ đây cha đón tiếp ngài.
Dịu
dàng và đắn đo trong từng cử chỉ, cha để chiếu tỏa một
nghị lực có tính cách trí thức và linh thiêng: điều đó
hiển nhiên đã khơi dậy mối thiện cảm và hiếu kỳ nơi
vị khách danh dự được mời. Cuộc hội thảo càng tiến
hành, mối cảm tình giữa hai vị tu sĩ càng gia tăng thấy
rõ. Khi cha Laurence nói, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma nhìn cách chăm
chú cũng như ngài đã làm đối với mọi đối thoại viên
khác.
Trong
những lời nhận xét về buổi khai mạc, cha đã khai triển
một tâm điểm sẽ trở thành đề tài chính của cuộc hội
thảo - đó là tính chất hỗ tương của biến cố.
Cha
Laurence Freeman
“Thưa
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Thật
là một vinh hạnh cho tôi được đón tiếp ngài. Ngài đã
nói là ngài muốn học hỏi nơi chúng tôi, và chúng tôi ở
đây cũng mong muốn học hỏi nơi ngài. Thật là một đặc
ân lớn lao đối với chúng tôi được ngài đến như vị
khách danh dự của cuộc Hội Thảo John Main về một đề tài
đã được ngài chọn lựa, đó là “Đức Từ Tâm” và ngài
đã chấp nhận với sự cởi mở bằng trí thức và độ lượng
lời mời của chúng tôi để dẫn giải một số đoạn Phúc
Âm.
Theo
truyền thống Kitô giáo, những văn bản nầy được gọi là
“Thánh Kinh” vì chúng tôi tin tưởng có thể nhận chân được
sự hiện diện của Đức Kitô ở đó cho dù chỉ đọc những
giòng chữ đó mà thôi. Đó là những chữ do con người viết,
vì vậy có thể hiểu đúng hay hiểu sai. Những chữ đó cần
đến một sự giải thích bởi lý trí để con tim có thể
lãnh hội ý nghĩa.
Chúng
tôi biết ngài đại diện cho một truyền thống Phật giáo
phong phú tuyệt vời, đã biết tinh luyện những công cụ trí
thức để áp dụng vào việc tiếp nhận chân lý. Vì vậy
chúng tôi rất nóng lòng đọc những văn bản Thánh Kinh của
chúng tôi qua sự gạn lọc trí thức của ngài và với ngài,
có được một cái nhìn mới trên những văn bản đó.
Là
những Kitô hữu, chúng tôi chắc chắn sẽ được phong phú
hơn; chúng tôi cũng hy vọng tất cả những Phật tử hiện
diện nơi đây và mọi tín hữu những tôn giáo khác sẽ ra
về được phong phú hơn – cũng như chúng tôi – bởi cuộc
hội thảo nầy. Chúng tôi nhận thấy việc truy tầm để hiểu
biết không chỉ đơn thuần trên bình diện trí thức, nhưng
phải truy tầm sự nhận thức đích thật bằng trực giác
– “thiền quán” (vipasyana) - một sự trực nhận về ý
nghĩa các chữ linh thánh.
Một
trong những đại danh sư thần học Kitô giáo - Thánh Tôma Aquinô
- đã nói rằng chúng ta nên đặt để niềm tin không phải
ở nơi những lý chứng, trái lại ở nơi những thực thể
mà ngôn từ là dấu chỉ. Điều đáng nói là chính kinh nghiệm
chứ không phải chỉ là gom góp những tư tưởng. Chúng tôi
biết con đường chiêm niệm mà chúng tôi sẽ chia sẻ với
ngài trong thinh lặng suốt cuộc hội thảo nầy sẽ là con
đường phổ thông và nối kết tất cả chúng ta để đi vào
một kinh nghiệm vượt ra ngoài ngôn từ.
Cha
John Main hiểu rõ khả năng nối kết của sự “thinh lặng”
đã mang chúng ta qua bên kia ranh giới ngôn ngữ. Do đó, trong
cuộc hội thảo nầy, những lúc có lẽ quan trọng nhất mà
chúng ta hội ngộ nhau sẽ là những lúc thinh lặng.
Sau
khi ngài dẫn giải xong, chúng ta sẽ đi vào thời gian “chiêm
niệm”. Vào mỗi thời khắc đó, chúng ta sẽ có thể vượt
lên trên tri thức lý giải để đi vào ngay chân lý đang tiềm
ẩn bên trong thực tế. Chiêm niệm đã làm cho chúng ta được
phong phú hóa bằng nhiều cách khác nhau. Nhất là chiêm niệm
làm cho chúng ta có thể đọc những sách thánh trên toàn thế
giới với sự minh triết và mẫn cảm hơn.
Thưa
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma,
Chúng
tôi rất cảm kích ân huệ được ngài hiện diện. Nếu chúng
tôi có thể mở lòng để đón nhận thực tế của giây phút
hiện tại mà chúng tôi cảm nhận được trong Thánh Kinh, cảm
nhận khi ngài cởi mở tâm trí ngài cho chúng tôi, chúng tôi
cũng biết làm phát triển nơi chúng tôi tinh thần an lạc và
thân thiện.
Nhân
danh Cộng Đồng chúng tôi đang hiện diện trên toàn thế giới,
chúng tôi xin đoan chắc với ngài là chúng tôi luôn mang hình
ảnh dân Tây Tạng trong tâm thức và tâm hồn chúng tôi. Chúng
tôi cảm thấy dân ngài đang hiện diện với ngài hôm nay đây.
“Thánh Giá và Phục Sinh” của Đức Kitô là trung tâm điểm
đức tin Kitô giáo. Có thể chúng tôi nhận thấy được trong
lịch sử Tây Tạng và trong lịch sử riêng ngài là Thánh Giá
và Phục Sinh trở nên những thực thể có nhân loại tính
thuộc mọi dân tộc và không phải tài sản riêng của một
tôn giáo nào. Chúng tôi là chứng nhân cho sự khổ nạn của
đất nước Tây Tạng, nhưng chúng tôi cũng đã chứng kiến
sự phục sinh của một nền minh triết và huấn giáo của
dân tộc đó, một quà tặng cho toàn thế giới hoàn toàn nhờ
ngài.
Chúng
tôi hoàn toàn cởi mở để đón nhận sự thực tế đầy
huyền bí. Chúng tôi hy vọng và cầu mong rằng trong sự thinh
lặng của chiêm niệm và trong những ngôn từ ngài sẽ hướng
dẫn, chúng ta sẽ có thể đi vào trong sự viên mãn của ý
thức và ánh sáng.”
Bài
diển văn của cha Laurence đã được vỗ tay tán thưởng nhiệt
liệt. Với khuôn mặt rạng rỡ, Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma tỏ
ra cảm kích đối với những nhận xét sâu sắc trong lời
chào mừng và sự đầm ấm tỏ lộ qua buổi đón tiếp đã
dành cho ngài. Ngài đã ngỏ lời bằng tiếng Anh, thỉnh thoảng
bằng tiếng Tây Tạng, khi cần.
Đức
Đạt-Lai-Lạt-Ma
“Thưa
quí anh chị trong tinh thần,
Đối
với tôi thật là một niềm vui và một đặc ân lớn lao được
cơ may tham dự cuộc hội thoại nầy và khai mạc cuộc hội
thảo John Main với đề tài “Đức Từ Tâm”. Xin cho phép
tôi được tỏ bày lòng biết ơn đối với tất cả những
ai đã giúp đỡ trong việc tổ chức cuộc hội ngộ nầy.
Tôi
xin cám ơn bà Quận Trưởng vì những lời chào mừng nồng
nhiệt và tôi cảm thấy khích lệ khi bà nhắc tới sự hòa
điệu và sự cảm thông đang triển nở ngay giữa các cộng
đồng và những truyền thống tôn giáo khác nhau của quận
hạt nầy, được mệnh danh là “đa văn hóa, đa sắc tộc
và đa tôn giáo”. Tôi xin hết lòng tri ân.
Tôi
đã biết cố linh mục John Main từ nhiều năm qua ở Gia-Nã-Đại
và tôi cảm thấy xúc động bởi việc gặp gỡ một vị đại
diện thuộc truyền thống Kitô giáo đã nhấn mạnh đến tầm
mức quan trọng của vấn đề thực hành chiêm niệm. Hôm nay,
khi khai mạc cuộc hội thảo nầy, tôi thiết tưởng rất quan
trọng nên gợi lại kỷ niệm về ngài.
Tôi
cũng sung sướng được nhìn thấy bao khuôn mặt thân thương
và có cơ hội gặp gỡ những bạn hữu cũ và mới.
Mặc
dù quả địa cầu chúng ta đã tiến bộ rất nhiều trên bình
diện vật chất, nhưng nhân loại đang đối diện với rất
nhiều khó khăn mà một số thật ra do chính chúng ta tạo nên.
Phần lớn, chính “thái độ tinh thần” chúng ta - tầm nhìn
chúng ta trên cuộc sống và trên thế giới - sẽ định đoạt
tương lai: tương lai nhân loại, tương lai thế giới và tương
lai môi sinh.
Nhiều
vấn đề tùy thuộc thái độ tinh thần chúng ta, vừa ở trong
lãnh vực công cộng cũng như riêng tư. Hạnh phúc đời sống
cá nhân hay gia đình chúng ta tùy thuộc phần lớn ở chính
chúng ta. Đành rằng những điều kiện vật chất của cuộc
sống là một yếu tố quan trọng để có được một đời
sống tuyệt hảo và hạnh phúc, nhưng thái độ tinh thần chúng
ta cũng quan trọng không kém, nếu không muốn nói là lớn hơn
nữa.
Khi
thế kỷ hai mươi mốt đã điểm, những truyền thống tôn
giáo lớn hơn bao giờ hết càng trở nên thích đáng hơn. Tuy
nhiên, cũng như trong quá khứ, những xung đột và khủng hoảng
đã xuất hiện, nhân danh những truyền thống tôn giáo khác
nhau. Điều đó hiển nhiên rất bất hạnh. Chúng ta phải làm
hết sức để chế ngự tình trạng nầy.
Do
kinh nghiệm riêng, tôi nhận thấy phương thế hữu hiệu nhất
để vượt qua những xung đột đó là việc “tiếp xúc chặt
chẽ và trao đổi” giữa những người thực hành những niềm
tin khác nhau, không những trên bình diện trí thức mà còn
bằng những kinh nghiệm tâm linh sâu đậm nữa. Đó là một
phương cách mãnh liệt nhất để triển khai sự cảm thông
và tương kính lẫn nhau. Chính qua việc trao đổi mà một nền
tảng vững chắc có thể được thiết lập để xây đắp
một sự hòa điệu chân chính.
Vì
vậy tôi luôn cảm nhận một hạnh phúc lớn lao khi tham dự
một cuộc “đối thoại liên tôn”. Tôi rất vui mừng được
trải qua mấy ngày nầy để đàm đạo với quí bạn và để
thực tập tiếng Anh bập bẹ của tôi! Sau mấy tuần lễ tĩnh
tâm ở Dharamsala, tôi nhận thấy tiếng Anh của tôi còn tồi
tệ hơn trước; mấy ngày nầy sẽ cho tôi cơ hội tái thực
tập một cách hoàn toàn đúng lúc.
Cũng
như tôi tin tưởng mãnh liệt rằng sự hòa điệu giữa các
tôn giáo là một điều tối quan trọng và là một sự kiện
rất mực cần thiết, giờ đây tôi xin đề nghị một vài
ý tưởng về những phương cách thực hiện.
Trước
tiên tôi xin gợi ý là nên khuyến khích những cuộc “gặp
gỡ giữa các nhà trí thức” thuộc những tôn giáo khác nhau
để thảo luận những điểm tương đồng và dị biệt giữa
những truyền thống tôn giáo của họ ngõ hầu làm nẩy nở
lòng tha giác và cải tiến sự hiểu biết lẫn nhau.
Thứ
đến, tôi xin gợi ý là chúng ta nên khuyến khích những cuộc
“gặp gỡ giữa các tín hữu” thuộc những tôn giáo khác
nhau nhưng đã có một kinh nghiệm nào đó trong đời sống
tâm linh - những người đó không nhất thiết phải là những
nhà trí thức, mà là những người thực hành chân chính, những
hành giả - sẽ hội họp với nhau để chia sẻ những nguồn
sáng có được do việc thực hành tôn giáo mà ra. Theo kinh
nghiệm riêng tôi, đó là một phương cách hữu hiệu và có
mãnh lực lớn lao để thức tâm lẫn nhau một cách trực tiếp
và sâu đậm hơn.
Một
số người trong quí bạn đã biết việc tôi thăm viếng đại
tu viện ở Montserrat, Tây-Ban-Nha và sự gặp gỡ của tôi với
một tu sĩ dòng Biển Đức. Ngài đã đến gặp riêng tôi và
vì tiếng Anh của ngài còn tệ hơn tôi nên tôi cảm thấy
được can đảm hơn để ngỏ lời trước tiên.
Sau
bữa ăn trưa, chúng tôi đã ngồi gần nhau một mình và tôi
được biết tu sĩ đó đã trải qua nhiều năm ở trong rặng
núi phía sau tu viện. Tôi hỏi ngài đã thực tập loại chiêm
niệm nào trong những năm dài cô tịch đó. Câu trả lời của
ngài thật đơn giản: “Yêu thương, yêu thương, yêu thương.”
Tuyệt diệu biết bao! Tôi thiết tưởng chắc cũng có lúc
ngài ngủ quên.
Mà
không phải ngài chỉ quán chiếu trên bình diện ngôn từ.
Trong suốt những năm đó, ngài chỉ quán chiếu về tình thương
mà thôi. Trong ánh mắt ngài, tôi thấy rõ bằng chứng của
một linh đạo thâm sâu và một tình thương thâm sâu - cũng
như tôi đã cảm nhận nơi cha Thomas Merton. Hai cuộc hội ngộ
đó đã giúp tôi khai triển một sự tôn kính chân thành đối
với truyền thống Kitô giáo và năng lực của truyền thống
đó có thể tạo nên những nhân vật có thiện hảo như thế.
Tôi
tin tưởng mục tiêu của những truyền thống tôn giáo lớn
không phải để xây dựng những đền thờ lộng lẫy ở bên
ngoài mà để kiến trúc “những ngôi đền thiện hảo và
mẫn cảm ở bên trong con tim” chúng ta. Tất cả các tôn giáo
lớn đều có năng lực đó hết. Chúng ta càng ý thức về
giá trị và hiệu năng của những truyền thống tôn giáo khác
thì lòng tôn kính của chúng ta đối với những tôn giáo đó
càng thâm sâu hơn. Đó là con đường tuyệt hảo nên theo đuổi
nếu chúng ta muốn cổ võ một sự mẫn cảm đích thực và
một tinh thần hòa điệu ở giữa các tôn giáo với nhau.
Ngoài
những cuộc gặp gỡ giữa những nhà trí thức và những tín
đồ thực hành đích thực, xem ra quan trọng cũng không kém,
nhất là dưới con mắt người đời, đó là những vị lãnh
đạo các tôn giáo khác nhau thỉnh thoảng nên hội họp lại
để cầu nguyện, như đã xảy ra trước đây ở Assisi năm
1986. Đó là phương cách thứ ba, tuy đơn giản nhưng rất hữu
hiệu, để cổ võ sự khoan nhượng và thông cảm lẫn nhau.
Phương
cách thứ tư là những tín hữu thuộc các tôn giáo khác nhau
nên “cùng nhau đi hành hương” và kính viếng những nơi
linh thánh của nhau.
Cách
đây vài năm, chính tôi đã bắt đầu đi hành hương ở Ấn-Độ.
Từ đó, tôi đã có dịp tới Lộ-Đức và Jerusalem. Ở những
nơi đó, tôi đã cầu nguyện với những tín hữu những tôn
giáo khác nhau, đôi khi bằng chiêm niệm trong thinh lặng. Những
lúc cầu nguyện và chiêm niệm như vậy đã mang lại cho tôi
những kinh nghiệm tâm linh đích thực.
Tôi
hy vọng rằng trường hợp của tôi sẽ làm gương cho những
người khác, tạo thành một thứ tiền lệ, để rồi trong
tương lai mọi người sẽ coi đó như một việc hoàn toàn
bình thường khi cùng nhau đi hành hương những nơi linh thánh
và chia sẻ những kinh nghiệm tôn giáo khác nhau.
Để
kết thúc, tôi xin trở lại vấn đề chiêm niệm đồng thời
hướng về các anh chị Kitô hữu của tôi là những người
đang thực tập một đường lối chiêm niệm trong cuộc sống
hằng ngày. Tôi nghĩ rằng lối thực tập đó tối ư quan trọng.
Nước
Ấn-Độ quen với lối “thiền định” (samadhi), chung cho
mọi tôn giáo ở Ấn-Độ như Ấn-Độ giáo, Phật giáo và
Kỳ-Na giáo (Jainism). Có vài loại “thiền quán” (vipasyana)
cũng chung cho nhiều truyền thống tôn giáo đó. Người ta tự
hỏi tại sao “thiền định” (samadhi) lại quan trọng đến
thế. Bởi vì “thiền định” (samadhi) hay lối thiền tụ
tiêu là một phương cách huy động tinh thần, huy động nghị
lực tâm thần.
“Thiền
định” (Samadhi) được xem như một yếu tố thiết yếu cho
việc rèn luyện tâm linh của mọi truyền thống tôn giáo lớn
ở Ấn-Độ bởi vì điều đó mang lại khả năng tập trung
mọi năng lực tinh thần của hành giả và hướng dẫn tinh
thần đến một đối tượng riêng biệt, giúp tập trung tinh
thần vào một điểm duy nhất.
Tôi
tin chắc rằng lời “cầu nguyện, thiền định hay chiêm niệm”
- càng suy lý và phân tích - nếu được liên kết với nhau
hằng ngày thì hiệu quả trên tinh thần và con tim hành giả
càng tăng trưởng hơn. Việc thực hành tôn giáo trước tiên
nhắm đến sự biến đổi nội tâm hành giả, khiến hành
giả đi từ một trạng thái tâm linh vô kỷ cương, bất trị,
phân tâm đến một trạng thái có kỷ luật, thuần hóa và
quân bình.
Một
người khai triển được khả năng tập trung tinh thần một
cách hoàn hảo trên một tiêu điểm đương nhiên sẽ đạt
tới đích điểm đó một cách dễ dàng hơn. Khi sự chiêm
niệm làm thành một phần bất khả phân ly trong đời sống
tâm linh, quí bạn có thể thực hiện sự biến đổi nội
tâm một cách có hiệu quả hơn.
Khi
đạt đến trạng thái mới đó, các bạn sẽ khám phá ra rằng,
bằng cách nương theo truyền thống tâm linh riêng của chính
bạn, một thứ khiêm tốn tự nhiên triển nở ở nơi bạn
cho phép bạn giao tiếp tốt đẹp hơn với những con người
thuộc những lãnh vực văn hóa và những truyền thống tôn
giáo khác nhau. Quí bạn sẽ ở vào tư thế tốt nhất để
thẩm định giá trị và sự phong phú của những truyền thống
khác nhau bởi vì các bạn đã nhận chân giá trị đó bằng
cách tự đặt mình ngay chính bên trong truyền thống quí bạn.
Người
ta thường cảm nhận những “tư tưởng cố chấp” đối
với tín ngưỡng tôn giáo của mình - xem linh đạo của tôi
là duy nhất và chân chính - mà từ đó phát sinh những mối
bất liên kết đối với những người thuộc các tôn giáo
khác. Tôi nghĩ rằng phương thế hay nhất để chiến thắng
lực vô hình đó là hình thành một thứ kinh nghiệm về chân
giá trị của chính linh đạo mình bằng một đời sống chiêm
niệm, để rồi sau đó nhận chân giá trị và tính chất cao
quí của những truyền thống khác.
Để
có một tinh thần hòa điệu chân chính căn cứ trên những
kiến thức vững chắc, tôi thiết tưởng rất quan trọng phải
“nhận ra những dị biệt căn bản” giữa những truyền
thống đạo giáo. Dĩ nhiên có thể tìm hiểu xem các tôn giáo
đã chia cách nhau ở điểm nào, đồng thời cùng một trật
nhận chân giá trị và những khả năng của mỗi truyền thống.
Nhờ vậy, hành giả sẽ phát huy một nhận thức quân bình
và hòa điệu.
Có
người quan niệm rằng phương cách hữu lý nhất để đạt
tới sự hòa điệu và hóa giải những vấn nạn do sự bất
khoan nhượng tôn giáo gây ra là thành lập một “tôn giáo
hoàn cầu” có giá trị cho toàn thể nhân loại. Tuy nhiên,
tôi luôn quan niệm rằng chúng ta phải có những truyền thống
tôn giáo khác nhau bởi vì nhân loại có biết bao khuynh hướng
tâm linh khác nhau: một tôn giáo không thể thỏa mãn hết mọi
nhu cầu tâm linh của tất cả mọi người. Nếu chúng ta cố
gắng thống nhất các tôn giáo trên thế giới thành một tôn
giáo duy nhất, chúng ta sẽ đánh mất biết bao đặc tính và
sự phong phú của mỗi một truyền thống tôn giáo đó.
Vì
vậy, tôi thiết tưởng tốt hơn hết, cho dù có nhiều xung
đột phát sinh nhân danh tôn giáo, nên “duy trì tính cách đa
dạng” của các truyền thống tôn giáo. Tiếc thay, nếu sự
đa hóa do bản chất có thể thỏa mãn một cách tối đa những
nhu cầu tâm linh nhân loại, sự đa hóa đó cũng tự bản chất
là một nguồn tiềm lực phát sinh ra những xô xát và bất
hòa. Vì vậy, tín đồ của mọi truyền thống tôn giáo phải
gia tăng nỗ lực gấp bội để “vượt thắng sự bất khoan
nhượng và thiếu hiểu biết” ngõ hầu truy tầm sự hòa
điệu.
Đó
là mấy điểm tôi xét thấy hữu ích cần được xác định
trước khi bắt đầu cuộc hội thảo. Giờ đây tôi rất nóng
lòng muốn thăm dò những văn bản và những tư tưởng mà
tôi không quen thuộc.
Quí
bạn đã trao phó cho tôi một trọng trách nặng nề và tôi
sẽ cố gắng hết sức để đáp lại sự chờ mong của quí
bạn. Tôi nhận thấy đó thật là một vinh dự và đặc ân
lớn lao mà quí bạn đã để dành cho tôi bằng cách yêu cầu
tôi dẫn giải những đoạn chọn lọc về Thánh Kinh, một
loại kinh điển mà tôi phải thành thật thú nhận là chưa
biết đến. Tôi cũng xác nhận đây là lần đầu tiên tôi
phải lăn xả vào một cuộc thực tập như vậy. Rồi kết
quả sẽ thành công hay thất bại, tôi hoàn toàn không biết!
Dù
sao đi nữa, tôi sẽ cố gắng hết sức mình. Giờ đây, tôi
xin tụng niệm vài câu kệ để cầu mong điềm lành rồi chúng
ta sẽ chiêm niệm.”
Sự
khiêm tốn cũng như nụ cười không giả dối. Những tràng
cười của cử tọa đã diễn tả sự ngạc nhiên gây nên
bởi một con người có một đức tính đơn sơ tột độ,
hoặc một niềm khát vọng được khích lệ bởi tình bạn.
Đó là điểm khởi đầu của một sự nối kết mà trong vài
ngày sẽ dâng cao tới tuyệt đỉnh giao lưu về tình cảm và
tư duy trong sự tương kính và cảm mến nhau.
Những
ngọn đèn điện đã được tắt đi và, trong ánh sáng mờ
ảo của ban ngày len qua các khe cửa sổ, cử tọa bắt đầu
trầm tĩnh, trong khi Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma nhắm mắt và tụng
niệm bài kệ Tây-Tạng cổ xưa như sau:
“Tràn
đầy ân đức như một đỉnh núi vàng,
những
vị cứu tinh trong tam giới, được tẩy trừ tam độc,
là
những vị Phật, đôi mắt tựa hồ những đoá sen nở;
các
Ngài là ân phúc thứ nhất thuộc điềm lành cho thế giới.
Những
Giáo Pháp các ngài ban bố thì siêu diệu thậm thâm,
vang
rền trong tam giới, được tôn vinh bởi chư thần và nhân
loại.
Giáo
Pháp thánh thiện đó mang lại sự an bình cho toàn thể chúng
sinh;
đó
là ân phúc thứ hai thuộc điềm lành cho thế giới.
Cộng
đồng linh thánh được phong phú hóa nhờ sự tu học,
được
tôn vinh bởi loài người, chư thần và bán thần.
Cộng
đồng tối thượng đó rất khiêm hạ, cho dù chỗ họ ở
tràn ngập ánh vinh quang;
đó
là ân phúc thứ ba thuộc điềm lành cho thế giới.
Đấng
Đại Giác đã đến trong thế giới nầy;
Giáo
Pháp chói lọi như tia sáng mặt trời;
các
minh sư huấn dụ như anh em một nhà, rất mực hòa đồng;
cầu
mong được những ân phúc thuộc điềm lành để những Giáo
Pháp trường tồn miên viễn.”
Hát:
“Mọi
sự sẽ tốt đẹp. Mọi sự sẽ tốt đẹp. Và mọi sự trong
trạng thái khác biệt sẽ tốt đẹp.”
Sau
ba mươi phút chiêm niệm trong thinh lặng, cha Laurence Freeman
đứng lên ngỏ lời:
“Để
chấm dứt buội họp mặt đầu tiên nầy, chúng ta sẽ xin
Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma thắp sáng một ngọn nến tượng trưng
sự hợp nhất và những người được mời thuộc các truyền
thống tôn giáo khác nhau sẽ thắp sáng những ánh nến khác
lấy từ ngọn nến của Đức Đạt-Lai-Lạt-Ma. Các ngọn nến
đó sẽ được thắp sáng mãi trong suốt thời gian hội thảo
để tượng trưng sự hiệp nhất và tình thân hữu nối kết
các tôn giáo chúng ta.”
Người
gửi: Phổ Đồng