TỔNG
KẾT
Ðức Phật
ra đời chỉ vì nguyện lớn hóa độ chúng sinh đưa vào trí
huệ lớn lao vô thượng, đồng với Phật không khác. Muốn
vậy Đức Thế Tôn chỉ dẫn cho chúng sinh biết con đường
chân chánh mà đi theo, thẳng tới mục đích. Chư Phật ra đời
chỉ vì một đại sự nhân duyên là mở bày và chỉ rõ cho
chúng sinh tỏ ngộ và chứng nhập Phật Tri Kiến hay Chân Lý
(Khai, Thị, Ngộ, Nhập), khi hoàn mãn thì đại sự nhân duyên
ra đời của Phật mới xong. Phật dùng nhiều phương tiện
tùy căn cơ giáo hóa khiến cho mọi loài chúng sinh đều được
lợi ích.
Kinh Duy Ma
Cật thuộc thời Phương Ðẳng, là nhịp cầu nối tiếp giữa
tư tưởng các bộ phái Nam Tông bước sang Ðại Thừa Bắc
Tông, đưa người tu hạnh Thanh Văn sang con đường lớn của
Bồ Tát và Phật. Kinh này thuộc quyền giáo, dùng các thí
dụ để đưa ra Chân Lý tuyệt vời mà danh từ ngôn ngữ không
diễn tả nỗi, Kinh này nói cho hàng Bồ Tát và các đệ tử
đã phát tâm Bồ Ðề nghe, tả rõ cảnh giới cao siêu mà tri
thức phàm phu khó tin khó hiểu.
Mười bốn
phẩm của Kinh Duy Ma Cật được ví như mười bốn bông hoa
tươi thắm nhiều mầu nhiều hương thơm khác nhau, mỗi phẩm
luận giải một vấn đề đặc biệt. Nhưng nếu để rời
rạc thì e khó nắm được ý chính của Kinh muốn nhấn mạnh
đến việc gì nên chúng tôi thêm phần tổng kết để tóm
lược và kết hợp các tư tưởng lại thành nội dung chủ
yếu của bộ Kinh này, ví như dùng một sợi dây để kết
mười bốn bông hoa thành một tràng hoa để trang nghiêm đạo
tràng.
Sau đây là
tóm tắt cương yếu từng phẩm:
Phẩm I.-
Sự thấy biết của chúng sinh nông cạn sai lầm, không đúng
đắn. Cõi Ta Bà vẫn thanh tịnh mà chúng sinh không thấy đó
thôi; cứ tưởng là xấu ác. Tất cả do Tâm tạo, vậy cần
phải đổi lại cái thấy xét lại quan niệm.
Phẩm II.-
Ðề cao phương tiện đưa đến cứu cánh. Ông Duy Ma Cật dùng
phương tiện thị hiện làm Trưởng Giả ở Thành Ty Xá Li
để độ chúng sinh, thị hiện thân có bệnh để độ hàng
Thanh Văn.
Phẩm III.-
Các Thanh Văn công nhận sự thua kém của mình đối với ông
Duy Ma Cật.
Phẩm IV.-
Các Bồ Tát tu theo Duy Thức hoặc mới phát tâm đều không
bì kịp trí huệ của ông Duy Ma Cật.
Từ phẩm
I đến phẩm IV là phần Khai Phật Tri Kiến, mở bày Chân Lý,
giới thiệu ông Duy Ma Cật có trí huệ siêu việt hơn các
hàng đại đệ tử Thanh Văn và các hàng Bồ Tát mới phát
tâm.
Phẩm V.-
Rất quan trọng. Hai loại Trí gặp nhau, Căn Bản Trí hoặc
Vô Sư Trí của ông Duy Ma Cật đối thoại với Hậu Ðắc
Trí hoặc Hữu Sư Trí của Ngài Văn Thù Sư Lợi. Căn Bản
Trí thù thắng hơn Hậu Ðắc Trí.
Phẩm VI.-
Hàng Thanh Văn phải quy y với Tu Di Ðăng Vương Như Lai nghĩa
là phát huy trí huệ, thắp sáng ngọn đèn huệ sẵn có trong
tâm thì mới hiểu được giáo lý Ðại Thừa, vì đó là pháp
không thể nghĩ bàn, bỏ tướng để nhập Tánh.
Phẩm VII.-
Phá chấp ngã chấp pháp, không trụ vào đâu.
Phẩm VIII.-
Bề ngoài là nghịch tướng, bề trong là Phật Ðạo, nhưng
không còn phân biệt, tất cả là một.
Từ phẩm
V đến phẩm VIII là phần Thị Phật Tri Kiến, chỉ thẳng
trí huệ vô phân biệt, vô chấp.
Phẩm IX.-
Các Bồ Tát đều đã hiểu và thực hành lý Bất Nhị, mỗi
vị dùng một đường lối tu hành khác nhau nhưng tựu trung
đều nhập vào Pháp Môn Không Hai. Ngài văn Thù vốn đã thâm
nhập và hiểu lý Bất Nhị lìa danh từ ngôn ngữ, nhưng vẩn
còn nói ra là xa lìa. Ðến ông Duy Ma Cật im lặng mới thật
là nhập Pháp Môn Không Hai.
Phẩm IX
này là phần Ngộ Phật Tri Kiến, các Bồ Tát trình bày sự
tỏ ngộ của mình, duy có ông Duy Ma Cật im lặng vì nói không
được sự tỏ ngộ của mình, bặt văn tự ngữ ngôn tâm
duyên.
Phẩm X.-
Ðừng dùng sự hiểu biết nông cạn của Thanh Văn mà phán
đoán hành động của Bồ Tát; Thể Tánh bao dung tất cả rnọi
tướng trạng, chẳng còn phân biệt lớn nhỏ nhiều ít.
Phẩm XI.-
Thần lực tự tại của Bồ Tát, hàng Thanh Văn không thể
lấy ý mà tính được, không phải suy nghĩ mà lường được.
Ðừng chấp tướng. Cần phải tu Không, Vô Tướng, Vô Tác.
Phẩm XII.-
Trở về Bản Thể Bất Ðộng, từ đó phát sinh các sắc tướng,
đó là Chân Không phát sinh Diệu Hữu.
Phẩm XIII.-
Pháp cúng dường hơn tài cúng dường, đề cao sự quan trọng
của tinh thần hơn vật chất.
Phẩm XIV.-
Ðừng khinh người mới học mới tu. Ðừng chấp tướng phân
biệt.
Từ phẩm
X đến phẩm XIV là phần Nhập Phật Tri Kiến. Sau khi nói về
Lý, Bản Thể tuyệt đối bất khả tư nghị, Ðức Phật trở
về Sự, chỉ dạy đường lối tu hành thực tiễn để vào
Pháp Môn Không Hai.
Chủ yếu
của Bộ Kinh Duy Ma Cật là đề cao Lý Bất Nhị, vào Pháp
Môn Không Hai. Trong thời kỳ Phương Ðẳng chuẩn bị tư tưởng
sắp bước sang Ðại Thừa, một số các đệ tử Phật tu
hạnh Thanh Văn, thỏa mãn với những thành quả đạt được
như A La Hán, A Na Hàm, Tư Ðà Hàm, Tu Ðà Hoàn nhờ thực hành
pháp Bốn Diệu Ðế, được ra khỏi sinh tử luân hồi. Các
vị đó thấy có pháp môn tu, có quả vị chứng, tự giác
tự lợi, cho là đủ rồi, không mong cầu tiến tu cao hơn nữa.
Vả lại, các vị Thanh Văn thấy tu Bồ Tát Ðạo rất khó
khăn cực nhọc, chúng sinh vô biên, khổ đau vô tận, phiền
não vô cùng, cõi Ta Bà xấu ác nhơ uế, tâm địa chúng sinh
cang cường khó dạy khó bảo, Ðịa Ngục khổ vô gián, Niết
Bàn là cõi an vui, nên các Ngài không kham khó nhọc lăn mình
vào cõi trần để cứu độ chúng sinh, mà chỉ muốn trầm
không thú tịch, một mình an hưởng Hữu Dư Y Niết Bàn, không
có lòng mong cầu quả vị Phật.
Ðức Thế
Tôn thường thống trách các vị Thanh Văn, gọi họ là mầm
thối giống nát, tro tàn lửa tắt, chẳng còn giúp ích gì
cho ai, chỉ chuyên tự độ mà quên độ tha, chỉ chấp tướng
trạng mà quên Pháp Tánh Bản Thể chung cùng của vạn vật.
Tất cả chúng sinh đều khới sinh từ một nguồn gốc chung
có liên hệ mật thiết với nhau, ràng buộc chặt chẻ với
nhau không thể chia cắt, bứt dây động rừng. Ðức Phật
muốn đưa các vị Thanh Văn lên hàng Bồ Tát, muốn cho họ
nếm mùi vị thơm ngon của Ðại Thừa, nên nói ra một số
kinh điền thuộc loại Phương Ðẳng, dẫn từ tư tưởng Tiểu
Thừa sang Ðại Thừa, trong đó có Kinh Duy Ma Cật này.
Mặt khác,
trước đây các Phật Tử tại gia cam phận thấp hèn, chỉ
được hướng dẫn quy y cúng dường Tam Bảo, cầu phước
báo Trời người, không dám mong được giác ngộ và giải
thoát. Nay nhờ Kinh này chỉ cho con đường hành Bồ Tát Ðạo,
đường tu này chung cho cả hai giới xuất gia và tại gia. Giới
xuất gia có đường tu giải thoát là lẽ dĩ nhiên, cắt bỏ
luyến ái, lìa nhà nhập chúng, trên cầu Phật Ðạo, dưới
độ chúng sinh. Giới tại gia từ trước đến nay không dám
mơ tưởng mình cũng có đường, nay được Phật khai thị
cho con đường giải thoát, mở sáng đôi mắt đui mù, thấy
con đường chạy song song với đường của giới xuất gia,
thật ra chỉ có một con đường mà thôi, một con đường
duy nhất đưa đến Phật quả, đó là Nhất Thừa Phật Ðạo,
ai tu nấy chứng, ai đi nấy đến, không phân biệt xuất gia
hay tại gia.
Trong bộ
kinh này, Ðức Phật đề cao Lý Bất Nhị, vào Pháp Môn Không
Hai. Tại sao chẳng gọi là một mà lại gọi là Không Hai?
Vì nếu nói một là ngầm có hai, nói Không Hai rõ ràng hơn,
không ám chỉ một con số nào khác. Muốn vào Pháp Môn Không
Hai thì cần phải bỏ Tướng nhập Tánh, bỏ phân biệt đối
đãi mà thâm nhập huyền nghĩa của Kinh, ly ngôn ngữ, rời
tâm duyên để chứng nhập Chân Như. Vào Pháp Môn Không Hai
thì ly ngôn tuyệt tướng, chỉ còn một sự cảm thông trong
im lặng tuyệt vời. Ðây là chỗ ông Duy Ma Cật không nói,
Ngài Ca Diếp mỉm cười. Vẫn biết lời nói hay chữ viết
không diễn tả được Chân Lý tuyệt đối nhưng nếu không
dùng lời nói hay chữ viết thì làm cách nào chỉ bày cho người
khác hiểu, làm sao dạy dỗ khiến người khác tuân theo mà
tu hành, cùng hưởng Ðạo Vị. Do đó Ðức Phật phải phương
tiện hạ thấp giáo lý của Ngài, dùng nhiều thí dụ để
dắt dẫn các đệ tử, rồi sau này chư Phật Tử phải tự
lực tự giác rời bỏ phương tiện để thể nhập cứu cánh
Chân Như, y như qua sông thì phải bỏ bè lại.
Kinh chưa
phải Chân Lý, nhưng Kinh đưa đến Chân Lý, ví như ngón tay
chỉ mặt trăng, thấy mặt trăng rồi thì không cần ngón tay,
chứng nhập Chân Lý rồi thì lìa kinh, im lặng.
Ðạo Phật
chú trọng thực hành, không phải lý thuyết suông. Học kinh
xong rồi thì phải mang những điều hay lẽ phải trong kinh
ra áp dụng vào cuộc đời, hướng dẫn chúng sinh tu sửa thân
tâm, tự giác giác tha, cùng thành Phật Ðạo. Tôn chỉ của
Kinh này là AI TU CŨNG ÐƯỢC, Ở ÐÂU TU CŨNG ÐƯỢC, chỉ
cần chuyển Tâm là cảnh chuyển theo, cảnh nào tu cũng được,
thuận cảnh hoặc nghịch cảnh đều tu được, chỉ cần tu
tâm, vì TÂM TỊNH QUỐC ÐỘ TỊNH. Phật Pháp không cố định
mà uyển chuyển thay đổi, tùy duyên áp dụng vào các trường
hợp khác nhau, nhưng mục đích thì bất biến, đó là phát
huy trí huệ sẵn có, quay về Tâm thanh tịnh sáng suốt để
nắm tay tất cả chúng sinh, cùng tiến bước tới chỗ giác
ngộ và giải thoát./.