LỜI
NÓI ÐẦU
Lịch sử
truyền bá tư tưởng Phật Giáo thường được chia làm ba
thời kỳ:
1) Thời Nguyên
Thủy: Ðức Phật Thích Ca còn tại thế, Ngài cùng các đệ
tử đi truyền Ðạo rộng rãi khắp nơi, từ thành thị đến
nông thôn, núi rừng đồng ruộng, đem Pháp mầu giáo hóa chúng
sinh; giáo lý của Ngài chỉ có một vị là đem lại sự giác
ngộ và giải thoát cho những người nào nghe theo và thực
hành. Ngài rất hoạt động, đi vào cuộc đời để cứu độ
đời.
2) Thời các
bộ phái: Thời kỳ này còn được gọi là Phật Giáo Tiểu
Thừa hoặc Nam Tông. Ðức Phật đã nhập Niết Bàn, các đại
đệ tử của Ngài cũng lần lượt từ trần, tinh thần nhập
thế cứu độ chúng sinh không còn được thi hành tích cực,
mà các vị tu sĩ Phật Giáo chỉ đề cao công đức xuất gia,
ẩn tu trong núi rừng, tìm đường giải thoát cho chính mình
mà thôi. Phật Giáo chia ra làm nhiều bộ phái, mỗi bộ phái
giảng giải lời Phật hoặc các giới luật theo ý của vị
Trưởng Lão cầm đầu bộ phái, phát sinh những ý kiến bất
đồng. Chí hướng của người tu theo Phật Giáo của
thời kỳ này là tự lợi, tự giác, xa lánh cuộc đời tội
lỗi xấu xa, tìm sự giải thoát cho riêng mình, mục đích
cao tột là đạt quả vị A La Hán, hưởng thú vui Niết Bàn,
ra khỏi vòng sinh tử luân hồi. Các Phật Tử tại gia được
dạy bảo nên cầu phước báo cõi Trời và cõi người, bằng
cách cúng dường chư Tăng, làm lành lánh dữ, mà không có
ý mong cầu xuất thế, đạt tới những gì cao siêu huyền
diệu.
3) Thời phát
triển của Ðại Thừa, còn gọi là Phật Giáo Bắc Tông: Tinh
thần hoạt động của Phật Giáo Nguyên Thủy được phục
hưng, đề cao và vận động phong trào học Phật, tu Phật,
khuyến khích cả hai giới xuất gia và tại gia thực hành Bồ
Tát Ðạo. Tư tưởng cấp tiến này đem lại một luồng gió
mới, chủ trương đem Phật Pháp vào thế gian, tìm sự giác
ngộ và giải thoát ở ngay cuộc đời này; người xuất gia
cũng như tại gia có bổn phận tự lợi rồi lợi tha, tự
giác rồi giác tha, vì tất cả chúng sinh đều có liên hệ
mật thiết với nhau, dính chùm với nhau, không thể tách rời
ra được. Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đều có
khả năng thành Phật, vậy phải đem Ðạo vào đời, người
tu hành không lìa đời mà tìm thấy giác ngộ, còn chúng sinh
đau khổ thì Bồ Tát còn phải ở đời để tìm cách cứu
độ, mà không được vui hưởng Niết Bàn riêng mình.
Kinh Duy Ma
Cật được phát hiện và truyền bá rộng rãi trong thời kỳ
chuyển hướng tư tưởng từ thời kỳ các bộ phái sang thời
kỳ phát triển Ðại Thừa, chống tư tưởng yếm thế sợ
vào đời dễ bị động tâm của các Tỳ Kheo chỉ mong tự
lợi tự giác, rút vào rừng sâu, mà Kinh này chủ trương nhập
thế, tích cực vào đời, ở đâu tu cũng được, ở chùa,
ở nhà, ở rừng, ở ruộng, nơi nào cũng là đạo tràng thanh
tịnh, miễn là TÂM THANH TỊNH thì quốc độ tịnh, hoàn cảnh
nào tu cũng được, giàu nghèo, sang hèn, nam nữ, già trẻ,
.... ai cũng tu được, con đường giải thoát thênh thang rộng
mở cho người có chí muốn tu, con đường tu hạnh Bồ Tát
lợi tha chung cho cả hai giới xuất gia và tại gia, mà giới
tại gia lại được tán thán hơn, vì có nhiều gia duyên ràng
buộc mà vẫn tu được. Kinh này chủ trương chuyển Tâm chứ
không chuyển Cảnh, Tâm tịnh thì cả thế giới thanh tịnh.
Có lẽ từ bộ Kinh này mà người Việt Nam có câu:
Thứ nhất
là tu tại gia,
Thứ nhì
tu chợ, thứ ba tu chùa
Nhưng nói
vậy không phải là chống đối, khinh thị lối tu xuất gia,
mà chỉ muốn nhấn mạnh ở điểm là ở đâu tu cũng được,
miễn là giữ tâm thanh tịnh, không để hoàn cảnh chi phối,
tâm an thì thế giới bình, khi được giác ngộ và giải thoát
thì ai cũng bằng nhau, giống nhau, vì tất cả là một, Bất
Nhị.
Kinh Duy Ma
Cật được dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán, lưu truyền
cho đến nay còn ba bộ:
1) Bộ thứ
nhất được gọi là Phật Thuyết Duy Ma Cật Kinh, do Ngài Trí
Khiêm đời Ngô dịch.
2) Bộ thứ
hai được gọi là Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh hay Bất Khả
Tư Nghị Giải Thoát Kinh, do Ngài Cưu Ma La Thập đời Diêu
Tần dịch.
3) Bộ thứ
ba được gọi là Thuyết Vô Cấu Xứng Kinh, do Ngài Huyền
Trang đời Ðường dịch.
Trong ba bản
dịch trên, bản của Ngài Cưu Ma La Thập được phổ cập
hơn cả, vì Ngài dịch rất sát nghĩa, văn chương trang trọng
lưu loát sáng sủa như ngọc lưu ly, mỗi chữ mỗi câu như
thêu hoa dệt gấm; ngoài giá trị của một pháp môn giải
thoát siêu đẳng, bộ kinh này còn là một tác phẩm văn chương
nổi danh trong rừng văn học Phật Giáo.
Bản của
Ngài Cưu Ma La Thập được dịch nhiều lần sang chữ Việt,
đáng lưu ý nhất là bản dịch của Thượng Tọa THÍCH HUỆ
HƯNG xuất bản năm 1951 và đã được tái bản nhiều lần.
Nội dung
Kinh này nói rõ cảnh giới của Ðại Bồ Tát chứng nhập,
hiển bày pháp môn Bất Nhị, phá trừ mọi chấp trước: có,
không, thường, đoạn,... mục đích giáo hóa chúng sinh thoát
khỏi triền phược khổ não, đồng hưởng an vui giải thoát.
Muốn vậy, điều kiện đặc biệt là Tâm phải thanh tịnh,
như trong Kinh nói: tùy Tâm thanh tịnh mà cõi Phật được thanh
tịnh.
Nhân vật
chính trong Kinh này là một cư sĩ tại gia tên là VIMALAKIRTI
phiên âm là Duy Ma La Cật Lị Ðế, gọi tắt là Duy Ma Cật.
Duy Ma La nghĩa
là Tịnh, Vô Cấu, trong sạch. Cật Lị Ðế nghĩa là danh tiếng
lừng lẫy. Người ta hoặc dùng phiên âm Duy Ma Cật, hoặc
dùng tên nghĩa Tịnh Danh hay Vô Cấu. Tịnh là sạch, không
đóng bụi bẩn, vắng lặng không lay động. Về phương diện
vật chất, tịnh được ví như ly nước trong sạch không có
cặn, ánh sáng chiếu thông suốt qua không bị ngăn ngại. Về
phương diện tâm linh, Tịnh là vắng lặng, an nhiên tự tại,
tâm không vọng động không dấy khởi. Danh là tên, là phần
tâm linh của các chúng sinh (Danh là phần tinh thần đối với
Sắc là phần vật chất), là đức hạnh, đức tánh, công
hạnh, công đức.
Hai chữ Tịnh
và Danh thường đi đôi với chữ Thanh, hợp thành chữ kép
Thanh Tịnh, Thanh Danh. Thanh Tịnh là trongsạch, không nhiễm
ô, không vọng động. Thanh Danh là tên sạch, không nhuốm bẩn,
người có Thanh Danh là người lương thiện lành tốt, đức
hạnh trang nghiêm, không phạm lỗi lầm nhơ bẩn, không làm
tội ác thấp hèn, ai cũng kính trọng.
Danh hoặc
phần Tâm linh chính là chỉ cái Tâm vô hình, vô tướng, bất
cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, bao trùm cả ba lần
ngàn đại thiên Thế Giới. Từ Tâm này phát sinh ra mọi sự
mọi vật, và cũng chính là nơi cho mọi sự mọi vật trở
về nguồn gốc căn bản, đó là lý Chân Không Diệu Hữu.
Cư sĩ Duy
Ma Cật được đặt tên là Tịnh Danh hoặc Vô Cấu, vì Ngài
đã lau sạch bụi trần, hết nhiễm ô. Ðúng lý ra thì dùng
một chữ Tâm hay chữ Danh là đủ, không cần thêm chữ Tịnh,
vì đã là Chân Tâm thì bất cấu bất tịnh, nhưng ở đây
người dịch muốn phân biệt rõ ràng Chân Tâm với vọng tâm
hay vọng thức nên thêm chữ Tịnh đứng trước chữ Danh.
Như vậy,
tên bộ Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết có nghĩa đen là bộ Kinh
ghi chép những lời nói của Cư Sĩ Tịnh Danh, nhưng bao hàm
nghĩa ẩn là bộ Kinh nói về Chân Tâm thanh tịnh. Còn cái
tên thứ hai Bất Khả Tư Nghị Giải Thoát Kinh là bộ Kinh
nói về pháp môn không thể nghĩ bàn đưa đến chỗ giải
thoát. Ðức Phật đã lấy cốt tủy và mục đích của Kinh
mà đặt tên.
Kinh Duy Ma
Cật được xuất hiện vào thời kỳ nào?
Theo sự
phân chia của Thiên Thai Trí Giả Ðại Sư thì có năm thời
kỳ thuyết pháp của Ðức Phật:
1. Thời Hoa
Nghiêm dài 21 ngày: Ngay sau khi thành Ðạo, Ðức Phật Thích
Ca đem giáo lý tối thượng thừa ra giảng, chỉ có hàng Ðại
Bồ Tát hiểu được, còn hàng Thanh Văn, Duyên Giác (Nhị Thừa)
sơ cơ không hiểu gì cả.
2. Thời A
Hàm, dài 12 năm: Ðức Phật phải phương tiện giảng giáo
lý từ thấp lên cao, tạm chia Phật Thừa ra làm ba thừa để
thích hợp với căn cơ chúng sinh. Thời A Hàm thuộc Phật Giáo
Tiểu Thừa, còn được gọi là Nguyên Thủy hay Nam Tông.
3. Thời Phương
Ðẳng hay Phương Quảng, dài 8 năm: Ðức Phật chuyển giáo
lý TIểu Thừa bước sang Ðại Thừa. Kinh Duy Ma Cật thuộc
thời này.
4. Thời Bát
Nhã, dài 22 năm: Ðức Phật phá mọi chấp trước để hiển
lộ lý KHÔNG, đề cao trí huệ sẵn có của các chúng sinh.
5. Thời Pháp
Hoa và Niết Bàn, dài 8 năm: Ðức Phật quy ba thừa về Nhất
Thừa hay Phật Thừa, bỏ phương tiện để đạt cứu cánh.
Theo như trên
thì Kinh Duy Ma Cật thuộc thời Phương Ðẳng là giao thời
giữa Tiểu Thừa và Ðại Thừa, phá chấp các tướng trạng
để bước sang thời Bát Nhã. Bộ Kinh này thuyết minh rằng
những lý thuyết, phương pháp tu hành trước kia cho là đúng,
là phải chỉ là những phương tiện tạm dùng trong buổi sơ
cơ, nay đã đến lúc phải bỏ những điều ấy, phải lìa
Tướng nhập Tánh, lìa Sự chứng Lý, lìa tương đối Ngộ
tuyệt đối, bỏ ngã chấp và pháp chấp mà tu Bồ Tát Ðạo,
quên mình vì chúng sinh, tự giác giác tha để tới giác hạnh
viên mãn, thấy tất cả là Một, tất cả đều liên hệ với
nhau, trùng trùng duyên khởi.
Bộ Kinh Duy
Ma Cật cũng góp nhặt các đường lối tu hành khác nhau để
quy về một lối, trăm sông đổ vào một biển và hòa tan
trong đó. Bộ Kinh cũng gián tiếp trả lời những điểm công
kích của ngoại đạo hoặc các phe phái khác nhau trong Phật
Giáo, để đề cao Nhất Thừa Phật Ðạo, tùng Tướng nhập
Tánh, Lý Sự viên dung.
Kinh này do
Ðức Phật Thích Ca nói ở Thành Tỳ Xá Li, phiên âm chữ Phạn
Veisali, nghĩa là Thành Quảng Nghiêm, do Ngài A Nan được nghe
và nói lại. Kinh Duy Ma Cật thuộc loại quyền giáo, nghĩa
là Ðức Phật dùng những thí dụ (parables) để diễn tả
Chân Lý cao siêu tuyệt vời mà những danh từ, ngôn ngữ, tâm
duyên không thể dùng để đạt tới được.
Thí dụ:
Muốn tả con cọp cho một người chưa thấy cọp bao giờ,
chúng ta liền chỉ con mèo, nói là con cọp giống con mèo, nhưng
lớn và dữ tợn hơn nhiều, mạnh mẽ hung bạo có thể ăn
thịt người. Nhưng nếu người đó chấp con mèo là con cọp
thì hoàn toàn sai, giống như người chấp ngón tay là mặt
trăng. Thí dụ khác: Muốn tả máy bay trực thăng, chúng ta
chỉ con chuồn chuồn, nói là máy bay trực thăng có hình giống
con chuồn chuồn, nhưng to lớn hơn nhiều, có thể chuyên chở
nhiều người. Ðây là mượn một vật cụ thể để diễn
tả một vật hữu hình hữu tướng mà còn khó khăn mới mường
tượng ra được, nếu mượn một vật hữu hình đễ diễn
tả một một caí gì vô hình, vô tướng, siêu việt, thì thật
muôn ngàn lần khó hơn.
Kinh Duy Ma
Cật là một bộ kinh thuộc Ðại Thừa do Ðức Phật nói cho
hàng Bồ Tát và các đệ tử đã phát Bồ Ðề Tâm nghe, tả
rõ cảnh giới của các Ðại Bồ Tát chứng nhập, vậy là
nói về một cái gì huyền diệu nhiệm mầu cao tột mà không
thể dùng tri thức phàm phu hiểu được. Muốn tạm hiểu vài
ba phần, chúng ta cần phải cố gắng vươn lên cao, bỏ qua
những hình tướng bề ngoài để thấy cái Thể bên trong,
bỏ Tướng để nhập Tánh, bỏ cái vọng thức suy nghĩ phân
biệt của phàm phu để nhập vào Ðại Trí Huệ (Ma Ha Bát
Nhã).
Vì Kinh này
thuộc quyền giáo nên một câu hỏi thường đặt ra: Cư Sĩ
Duy Ma Cật có phải là một nhân vật lịch sử có thật không?
Chúng ta đã
biết Ðức Phật Thích Ca và các đệ tử như Xá Lợi Phất,
Mục Kiền Liên, A Nan, Ca Diếp, Kiều Trần Như,.... là những
nhân vật lịch sử có thật, bằng xương bằng thịt, sống
ở Ấn Ðộ vào một niên đại lịch sử được ghi chép rõ
rệt, thuộc dòng họ nào, ở địa phương nào, đời sống
ra sao từ sinh đến chết, có để lại những di vật được
cất giữ cẩn thận. Còn Ðức Phật A Di Ðà, Ðức Phật Dược
Sư, chư Bồ Tát Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí, Văn Thù, Phổ
Hiền, Ðịa Tạng.... không phải là những nhân vật lịch
sử bằng xương bằng thịt: sở dĩ chúng ta biết được các
Ngài là do Ðức Phật Thích Ca nói cho biết. Chúng ta tin Phật
không nói sai, nhưng có lúc Ngài nói thật, có lúc nói quyền,
vậy đừng lấy quyền làm thật, đừng chấp con mèo là con
cọp, đừng chấp con chuồn chuồn là máy bay trực thăng mà
chúng ta còn suy ngẫm để tìm ra sự thật qua các thí dụ
cũng giống y như các câu chuyện ngụ ngôn.
Dĩ nhiên
là chư Phật, chư Ðại Bồ Tát thường dùng mọi thân hình
thị hiện trong thế gian để độ chúng sinh mà không ai biết
đó là Phật hay Bồ Tát, vì các Ngài dùng một thân tầm thường
như mọi chúng sinh khác để dạy dỗ hướng dẫn tu hành,
chứ không hiện thần thông bay trên trời, chiếu hào quang
rực rỡ. Khi rời bỏ xác phàm, các Ngài để lại một bài
kệ, mọi người mới biết đó là Phật hoặc Bồ Tát giáng
trần thị hiện cứu độ chúng sinh.
Chư Phật,
chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền đã có hai loại (lịch sử có
thật hoặc do Ðức Thích Ca nói cho biết) thì các chúngsinh
tới nghe Phật nói Kinh Duy Ma Cật cũng có hai loại:
1) Thính chúng
hiển hiện là các đệ tử sinh thời với Ðức Phật Thích
Ca, như: Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan, Ca Diếp, Kiều
Trần Như,... cùng các vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Cận Sự Nam,
Cận Sự Nữ, đại chúng ...
2) Thính chúng
ẩn mặt là các Bồ Tát Văn Thù, Di Lặc, Quán Thế Âm, Ðại
Thế Chí... chư Thiên Long Bát Bộ, Thiên Thần Hộ Pháp, Ðịa
Thần, Quỷ Thần, Thụ Thần,... từ các cõi khác đến nghe
Pháp.
Theo lời
Kinh thì thưở ấy trong Thành Tỳ Xá Li có ông trưởng giả
tên là Duy Ma Cật tu hành chân chánh, sâu trồng cội lành,
được vô sinh nhẫn, biện tài vô ngại, du hí thần thông...
được chư Phật khen ngợi, Trời người kính trọng. Vì muốn
độ người nên ông dùng phương tiện khéo thị hiện làm
thân trưởng giả, có của nhiều để bố thí cho dân nghèo,
tu lục độ để nhiếp độ chúng sinh, tuy là cư sĩ mà giữ
giới thanh tịnh của Sa Môn, thị hiện có vợ con nhưng thường
tu phạm hạnh, dạy bảo các hàng Trời người làm cho tất
cả chúng sinh đều được lợi ích.
Ở phẩm
thứ 10 gọi là phẩm Phật Hương Tích, Cư Sĩ Duy Ma Cật sai
một vị Hóa Bồ Tát sang nước Chúng Hương, xa hơn 42 Hằng
Hà Sa cõi Phật, có Phật hiệu Hương Tích, để xin cơm thơm
mang về cho đại chúng ăn, chỉ có một bát cơm mà tất cả
chúng hội trăm ngàn người ăn không hết.
Ở phẩm
thứ 12 gọi là phẩm thấy Phật A Súc, Ðức Thích Ca bảo
ông Xá Lợi Phất: "Có cõi nước tên là Diệu Hỷ, Phật hiệu
Vô Ðộng, ông Duy Ma Cật này ở nước đó chết rồi sinh
nơi đây...". Cư Sĩ Duy Ma Cật không rời chỗ ngồi, nhập
chánh định, hiện sức thần thông, lấy tay bên hữu nắm
lấy cõi nước Diệu Hỷ, gồm cả Phật Vô Ðộng, chư Bồ
Tát Thanh Văn, núi sông, biển, mặt trời, mặt trăng, tinh tú,
Trời, người, cây cối... đem về cõi Ta Bà này cho mọi người
thấy. Cõi nước Diệu Hỷ dù vào cõi Ta Bà này cũng không
chật hẹp, vẫn y nguyên như trước.
Ðó là hai
đoạn kinh nói về oai lực siêu phàm của Cư Sĩ Duy Ma Cật.
Vậy Duy Ma Cật có thật hay không? Có hai ý kiến:
1) Cư Sĩ
Duy Ma Cật có thật, là một vị trưởng giả ở thành Tỳ
Xá Li bên Ấn Ðộ, có gia đình vợ con, sống cùng thời với
Ðức Phật Thích Ca; ông dùng phương tiện hiện thân có bệnh
để mọi người tới thăm, ông nhân dịp đó nói Pháp để
độ chúng sinh. Ông Duy Ma Cật chính là một vị Ðại Bồ
Tát đã chứng Thánh quả, nhưng khéo hiện thân một cư sĩ,
làm mọi việc như các cư sĩ khác, nhưng với Tâm thanh tịnh,
không còn nhiễm ô ái dục chấp trước, tận diệt tham sân
si, nên tuy sống ở thế gian mà không gây nghiệp ác, ông đã
chứng minh rằng không cứ phải xuất gia mới đắc Ðạo,
mà một người cư sĩ tại gia tu hành chân chánh thì cũng được
giác ngộ và giải thoát. Sở dĩ Bồ Tát Duy Ma Cật n làm trưởng
giả chính là đề cao vi Phật Tử tại gia, còn sống lẫn
lộn trong bụi trần mà không nhiễm ô. Ông phải là một người
bình thường, bằng xương bằng thịt, cho mọi người trông
thấy, gặp gỡ nói chuyện, thấy oai lực thần thông của
ông khiến mọi người kính phục tin theo. Ông đã có dịp
gặp các đại đệ tử của Phật là Xá Lợi Phất, Mục Ken
Liên, A Nan... gặp các Bồ Tát Di Lặc, Quang Nghiêm, Trì Thế,
Văn Thù... Ðức Phật Thích Ca nói rõ như vậy thì tất nhiên
là đúng, Cư Sĩ Duy Ma Cật có thật.
2) Cư Sĩ
Duy Ma Cật là một nhân vật tượng trưng do Ðức Phật đưa
ra để diễn tả Chân Lý cao siêu tuyệt vời không hai, đó
là Pháp Môn Bất Nhị, là Chân Tâm, Phật Tánh. Ai có được
Tâm thanh tịnh thì thấy thế giới thanh tịnh, thấy được
nước Phật (Phật Quốc) và được giác ngộ và giải thoát.
Phật nói Kinh Duy Ma Cật là muốn đưa ra một phương pháp
tu hành rốt ráo, phá trừ chấp có chấp không, tạm dùng truyện
ông Duy Ma Cật như câu truyện ngụ ngôn để mọi người dễ
hiểu, dễ nhớ. Hơn nữa, các nhân vật đã gặp Cư Sĩ Duy
Ma Cật thì một phần là nhân vật lịch sử, một phần là
nhân vật ẩn mặt siêu hìnhthì cũng khó mà cho rằng ông Duy
Ma Cật là có thật. Lại nữa, Cư Sĩ Duy Ma Cật có thần thông
biến hóa không thể nghĩ bàn, chư Phật khen ngợi, chư thiên
n đều cung kính theo học, nghe lời dạy bảo, thì trong lịch
sử loài người chưa thấy ai được như vậy, ngoài Ðức
Phật Thích Ca.
Ðây là một
vấn đề siêu hình không thể dùng bằng chứng rõ ràng để
minh xác, tùy theo căn cơ của mỗi người mà tin hay không tin,
nhưng điều quan trọng là phải học hiểu, thâm nhập Lý kinh,
rồi thực hành các đức tánh được chỉ dạy trong quyển
kinh, lìa chấp có chấp không để thấy được Chân Lý, trở
về Bản Tánh Không Hai, được giác ngộ và giải thoát. Cũng
vì có diệu dụng siêu việt như vậy nên Kinh này còn được
gọi là Pháp Môn Giải Thoát Không Thể Nghĩ Bàn, đây là diệu
dụng của Kinh đem ra đặt tên.
Ðã không
thể nghĩ bàn thì xin quý vị đừng bàn suông, cãi vã mất
thời giờ vô ích về việc Cư Sĩ Duy Ma Cật có thật hay không,
mà hãy tinh tấn tu học, suy ngẫm lý ẩn, thực hành những
lời dạy trong Kinh, vượt qua ngôn ngữ để thâm nhập Bản
Thể Chân Như, biết mọi sự mọi vật là giả huyễn, là
mộng ảo mà vẫn kiên trì thực hành Bồ Tát Ðạo, tự giác
giác tha, tự lợi lợi tha, giữ Tâm thanh tịnh thì quốc độ
thanh tịnh, tới chỗ Bất Nhị thì chắc chắn sẽ biết Cư
Sĩ Duy Ma Cật là nhân vật lịch sử hay tượng trưng. Ðọc
Kinh cầu lý, y nghĩa bất y ngữ, có bỏ qua văn tự mới đạt
lý, chứng tri, nhưng tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri,
người đã biết, đã tu chứng thì không chịu nói (vì nói
không được), còn phàm phu thì nói rất nhiều nhưng thật
ra lại chẳng hiểu biết thấu đáo.
Trong khi chờ
đợi vấn đề được giải quyết thỏa đáng, kính mời quý
vị hãy mở quyển Kinh Duy Ma Cật ra để cùng học. Quý vị
cần có quyển Kinh Duy Ma Cật do Thượng Tọa Thích Huệ Hưng
dịch ra tiếng Việt để đọc trước và dò theo quyển sách
này thì mới đầy đủ Sự và Lý, một bên là Kinh, một bên
là sách luận giải thâm ý huyền nghĩa của Kinh.