XIV
PHẨM CHÚC
LỤY
Chúc là
phú chúc, phó chúc, dặn dò chỉ bảo.
Lụy là
gánh vác nặng nhọc.
Chúc lụy
là dặn dò người sau tiếp tục gánh vác công việc nặng
nhọc. Ðức Phật đem bộ kinh quý (Pháp Bảo) này trao cho các
đệ tử dặn bảo họ giữ gìn cẩn thận, dù cực nhọc cũng
phải cố gắng để truyền bá trong các đời sau này.
Ðây là lời
kết luận một bộ kinh, Ðức Thế Tôn ân cần dặn bảo các
đệ tử phải thay Phật mà lưu truyền kinh này không để
thất lạc. Ðây là lời cuối của Ðức Phật nói trong mỗi
bộ Kinh, có khi Ngài rời sang chỗ khác, có khi Ngài sắp nhập
Niết Bàn, nên lời phú chúc lúc chia tay bao giờ cũng cảm
động, lòng Phật thương chúng sinh như mẹ hiền thương con
nhỏ, rộng rãi bao la như biển cả. Ngài dặn dò chỉ bảo
thật chu đáo thắm thiết ân nghĩa, mong các đệ tử ghi nhớ
mà thực hành.
Bồ Tát Di
Lặc là người được Ðức Phật Thích Ca thọ ký sẽ tiếp
nối Ðức Thích Ca đắc quả vị Phật trong một đời nữa,
kế thừa Ðức Thích Ca để giáo hóa chúng sinh cõi Ta Bà.
Ðây chính là lời người đi trước căn dặn người đi sau
vậy.
Có hai hạng
Bồ Tát:
1) Bồ Tát
mới học gọi là Bồ Tát sơ pháp tâm, chưa thâm nhập Bồ
Tát Ðạo, còn ưa những câu văn hay đẹp.
2) Bồ Tát
tu hành đã lâu, không nhiễm trước nơi kinh điển thậm thâm,
không sợ sệt, hiểu rõ nghĩa lý rồi thanh tịnh thọ trì
đúng như lời kinh mà tu hành.
Không nhiễm
trước là không đắm nhiễm chấp trước vào văn tự ngữ
ngôn. Ðây là ý Phật muốn dạy các đệ tử hãy nương theo
nghĩa lý cao siêu chứ đừng nương theo câu văn lời nói (Y
Nghĩa Bất Y Ngữ). Kinh Phật dùng nhiều tỷ dụ ám chỉ nghĩa
bóng răn đời, người đọc cần tìm ra nghĩa ẩn mà tin hiểu
thực hành. Ví như người ăn mía, chỉ nhai mía uống nước
ngọt rồi nhả bã ra, chỉ lấy phần cốt yếu mà bỏ qua
phần xác xơ.
Pháp thậm
thâm chưa từng nghe: đây là để phá lòng nghi của người
đời sau. Những người tu theo Nam Tông (Tiểu Thừa) không công
nhận một số kinh Bắc Tông (Ðại Thừa) mà họ cho là ngụy
tạo, không phải chính Ðức Thích Ca nói, mà do các đệ tử
Phật sau này viết ra. Phái Bắc Tông đả phá quan niệm hẹp
hòi này và đề cao công đức người hộ trì giải nói kinh
điển sâu xa cao siêu huyền diệu. Nếu ai không chịu gần
gũi cung kính cúng dường người thọ trì kinh này, hoặc còn
dùng lời nói xấu, thì đúng là người mới học, chỉ tự
làm tổn hại mà thôi, không được hưởng công đức do pháp
thậm thâm này mang lại để điều phục tâm mình. Ðây là
một cách cải chính lời xuyên tạc của Nam Tông, và đề
cao cùng bảo vệ kinh điển Bắc Tông.
Ðến đây,
Ðức Phật e các người theo Bắc Tông có lòng kiêu mạn khinh
chê phái Nam Tông nên Ngài dạy thêm để hòa hợp hai phái:
1) Ðừng
khinh chê các Bồ Tát mới học, mà cần phải dạy bảo họ.
2) Dù đã
tin hiểu pháp thậm thâm, nhưng đừng chấp tướng phân biệt
cao thấp.
Chỉ có một
giáo pháp duy nhất là Nhất Thừa Phật Ðạo, nhưng Phật đã
phương tiện chia là hai, làm ba đoạn đường nối tiếp và
bổ túc cho nhau. Chỉ có một hạng đệ tử Phật, tất cả
đều là con Phật, dù là Bắc Tông Ðại Thừa hay Nam Tông
Tiểu Thừa, dù là xuất gia hay tại gia. Ðừng đem lòng chấp
tướng phân biệt mà quên cái Bản Tánh Nhất Như Bình Ðẳng.
Bồ Tát Di
Lặc nhận lời phú chúc của Ðức Thích Ca, quyết định xa
lìa các lỗi chấp trước và hứa sẽ giúp người đời sau
nhận được giáo lý Ðại Thừa, ghi nhớ thọ trì đọc tụng
diễn nói cho người khác, đó là tự giác giác tha.
Các Bồ Tát
và bốn vị Thiên Vương đều chắp tay vâng lời Phật dạy,
nguyện gìn giữ và truyền bá kinh này, ủng hộ chúng sinh
đời sau nghe hiểu, suy ngẫm và tu hành (Văn, Tư, Tu) để được
lợi ích an vui.
Ngài A Nan
được nghe hiểu, thọ trì rồi nói lại, nhờ vậy bộ kinh
này được lưu truyền tới các đời sau. Ðức Phật đặt
tên Kinh này là Duy Ma Cật Sở Thuyết, cũng gọi là Bất Khả
Tư Nghị Giải Thoát Pháp Môn.
Trưởng Giả
Duy Ma Cật, các Ngài Văn Thù Sư Lợi, Xá Lợi Phất, A Nan...
và các hàng Trời người, A tu la, tất cả đại chúng nghe
lời Phật nói đều rất vui mừng, cung kính tin nhận vâng
lời làm theo.
Ðây là phần
lưu thông chấm dứt quyển kinh, mọi hàng thính giả đều
hoan hỷ phụng hành.