XII
PHẨM
THẤY PHẬT A SÚC
A Súc là
tiếng Phạn, dịch nghĩa là Bất Ðộng. Phật A Súc là Pháp
Thân chẳng sinh diệt, chẳng tới lui, vắng lặng thường còn,
chẳng hề động chuyển, nên gọi là Bất Ðộng.
Ðức Thế
Tôn hỏi ông Duy Ma Cật rằng: Muốn thấy Như Lai thì lấy
gì quán sát?
Như Lai, theo
nghĩa hẹp là Ðức Phật Thích Ca hoặc chư Phật mười phương,
nghĩa rộng là cái gì như như bất động, không sinh không
diệt, không tới không lui, là Bản Thể, là Thật Tướng,
là Pháp Tánh của mọi sự mọi vật, là nguồn gốc của mọi
loài từ đó mà sinh ra, là cái Không sinh ra cái Có, là Chân
Lý cao siêu tuyệt vời huyền diệu vô cùng vô tận.
Trong Kinh
Kim Cang có câu: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược
kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai, nghĩa là những
vật gì có hình tướng đều là giả dối hư huyễn, nếu
thấy được cái Phi Tướng tức tướng Không nằm ẩn trong
hình tướng bên ngoài thì thấy được Như Lai, thấy Chân
Lý.
Ở đây,
ông Duy Ma Cật cũng nói giống như vậy: Muốn thấy Như Lai
phải quán Thật Tướng, lìa phân biệt hư vọng, rời hai bên
đối đãi, phá năm ấm bốn đại, không bờ này bờ kia, chẳng
dòng sông phiền não, không sạch không nhơ, không lớn không
nhỏ, chẳng sinh chẳng diệt, chẳng trí chẳng ngu, chẳng thủ
chẳng xả, chẳng dùng lời nói diễn tả được, đó là quán
sát chân chánh (chánh quán), nếu quán khác thì gọi là tà
quán.
Ngài Xá Lơi
Phất, tùy theo lòng nghi ngờ chưa hiểu biết rốt ráo của
hàng Thanh Văn, hỏi ông Duy Ma Cật ở đâu chết rồi sinh nơi
đây? Hàng Thanh Văn chưa nắm được liễu nghĩa của Như Lai
chẳng đến chẳng đi, chẳng sinh chẳng diệt.. nên vẫn còn
chấp có chỗ đi và có nơi đến. Ông Duy Ma Cật bèn dùng
pháp tu chứng quả và người huyễn hóa sinh ra làm thí dụ
cho Ngài Xá Lợi Phất dễ hiểu.
Ðứng về
hình tướng thì có sinh có diệt, nhưng đứng về Thể Tánh
thì sinh diệt là pháp giả dối huyễn hóa. Chết là tướng
bại hoại của pháp hư dối để rồi lại tiếp tục sinh
hóa, mà sinh cũng là tướng tương tục của pháp hư dối mà
thôi, chẳng có gì thật là sinh, thật là diệt cả. Ví như
nước và sóng. Khi lặng là nước, khi động là sóng, hết
động trở lại là nước, trước sau vẫn là nước, động
tịnh là những hiện tượng giả huyễn tạm thời.
Ðến đây
Ðức Phật e hàng Thanh Văn lạc vào chỗ chấp không rồi sinh
hoang mang mờ mịt nên Ngài đứng về tướng trạng mà bảo
Ngài Xá Lợi Phất: ông Duy Ma Cật vốn ở nước Diệu Hỷ
của Phật Vô Ðộng, chết rồi sinh nơi đây.
Danh từ chết
là Ðức Thế Tôn phương tiện dùng cho hàng Thanh Văn dễ hiểu,
chứ thật ra thì ông Duy Ma Cật vì lòng từ bi thương xót
chúng sinh cõi Ta Bà mà thị hiện ở cõi này để hóa độ,
ông đã ra khỏi vòng luân hồi sinh tử, không còn sống chết
nữa. Ngài Xá Lợi Phất vẫn còn chấp có hai cõi thanh tịnh
(Diệu Hỷ) và nhiều oán hại (Ta Bà), ông Duy Ma Cật phải
lấy thí dụ mặt trời đem ánh sáng soi chiếu nơi tối tăm.
Bồ Tát vì bổn hoài lợi tha nên phải thị hiện ở nơi nhơ
uế nhiều đau khổ để cứu giúp chúng sinh, nhưng không hề
nhiễm trần cấu bất tịnh, ví như hoa sen mọc trong bùn mà
chẳng ngại hôi tanh, chuyển chất liệu uế trược của bùn
thành mùi thơm thanh khiết của hoa sen, tung rải hương thơm
khắp nơi.
Nghe lời
Ðức Thích Ca nói xong, tất cả đại chúng đều khát ngưỡng
mong được thấy nước Diệu Hỷ, Phật Vô Ðộng và các hàng
Bồ Tát, Thanh Văn của nước đó. Tuân theo lời Ðức Thích
Ca dạy và muốn cho đại chúng cõi Ta Bà thấy được cõi
Diệu Hỷ, tượng trưng cho Bản Thể, Chân Lý cao siêu mầu
nhiệm, ông Duy Ma Cật liền nhập tam muội, nghĩa là vào chánh
định, hiện sức thần thông mang nước Diệu Hỷ để vào
cõi Ta Bà. Chư vị Bồ Tát và những người có thần thông
ở nước Diệu Hỷ ý thức đươc việc di chuyển này, còn
các người chưa có thần thông thì không hay biết gì cả.
Ðó là nghĩa làm sao?
Ví như quả
đất tự quay và chạy quanh mặt trời với một tốc độ
rất mau, nhưng chúng ta không ý thức được việc chuyển động
đó, vì chúng ta ngu muội không có trí huệ, chúng ta sống
kẹt trong bầu khí quyển bao bọc mịt mùng nên cứ tưởng
là quả đất đứng im; còn đối với các nhà khoa học có
trí thông minh sáng suốt có những dụng cụ tinh vi tối tân,
hoặc đối với các bậc Thánh siêu phàm thì rõ ràng quả
đất chuyển động thật mau. Các Ngài đã vượt lên trên
sự hiểu biết tầm thường của thế gian; nhờ trí huệ sáng
suốt, các ngài đã thấy được sự thật, nhưng sự thật
đó khó tin khó hiểu, nói ra ít ai chịu nghe. Giống như dưới
thời Vua Tự Ðức, ông Nguyễn Trường Tộ đi sang Âu Châu
về tâu Vua những sự phát minh khoa học như đèn điện, tàu
hỏa,... Vua và triều đình không tin, cho là nói dối. Chúng
ta cũng vậy, sự hiểu biết còn nông cạn hẹp hòi, những
gì mắt thấy tai nghe mới tin, còn những gì siêu việt thì
khăng khăng cố chấp cho là huyền hoặc, giống như ếch ngồi
đáy giếng đâu biết bầu trời bao la.
Nhân dân
nước Diệu Hỷ không có thần thông thì không hay biết sự
việc nhiệm mầu, sự biến chuyển siêu nhiên của nước Diệu
Hỷ hòa nhập vào cõi Ta Bà, toàn thể cõi nước của họ
di động mà họ chẳng hay chẳng biết gì cả, chỉ có các
Bồ Tát, Thanh Văn cùng các Trời người có thần thông thì
biết rõ. Nước Diệu Hỷ được đặt vào cõi Ta Bà mà không
thêm không bớt, còn cõi Ta Bà cũng không chật hẹp, vẫn y
nguyên như trước. Ðây là luận về Bản Thể, Pháp Tánh nên
không có sự phân biệt rộng chật, không có vật chất cản
trở ngăn ngại nhau, chỉ có Tâm Thể hòa hợp làm một.
Ðại chúng
cõi Ta Bà thấy rõ nước Diệu Hỷ trang nghiêm tốt đẹp nên
đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, nguyện sinh
sang nước đó. Ðức Thích Ca liền thọ ký cho và bảo muốn
vậy phải học cái Ðạo của Ðức Vô Động Như Lai đã làm,
nghĩa là phải giữ tâm như như bất động, vô phân biệt,
tùng tướng nhập Tánh. Danh từ thọ ký có nghĩa là nói trước,
báo trước cho người tu hành chân chánh biết về sau sẽ thành
tựu quả vị gì, ở lại nước nào, cõi đó tốt đẹp ra
sao, sau bao nhiêu kiếp sẽ được thành Phật.
Huyền nghĩa
của đoạn kinh này là chúng sinh nào muốn trở về Bản Tâm
như như bất động thì phải bỏ qua những tướng trạng bên
ngoài mà quay về thâm nhập Thật Tướng bên trong. Chúng sinh
thường chỉ tin tưởng vào những gì mắt thấy tai nghe và
những sự việc vật chất do giác quan tiếp thụ, còn những
gì siêu việt do Tâm cảm nhận thì không tin. Ông Duy Ma Cật
dùng thần thông đem nước Diệu Hỷ để vào cõi Ta Bà khiến
cho chúng sinh thấy và phát lòng tin rằng ngoài cõi Ta Bà còn
có nhiều cõi nước khác nhiều cảnh giới tốt đẹp nhiệm
mầu, nhưng đều không ngoài Tâm mà có. Duy Ma Cật được
dịch là Tịnh Danh hoặc Tịnh Tâm. Ông Duy Ma Cật đem nước
Diệu Hỷ cho chúng sinh thấy, nghĩa là phải giữ tâm thanh
tịnh, như như bất động, phải tu Ðịnh thì trí huệ phát
sinh, thấy được sự thật huyền diệu an vui (nước Diệu
Hỷ của Phật Vô Ðộng). Muốn tới đó thì phải bỏ lòng
chấp trước ích kỷ hẹp hòi tán loạn điên đảo mà quay
về với Tâm Bất Ðộng, chính Tâm này là Bản Thể nguồn
gốc sinh ra mọi sự mọi vật, là Chân Không phát sinh Diệu
Hữu.
Sau khi làm
xong những việc lợi ích nơi cõi Ta Bà, Ðức Phật Bất Ðộng
và tất cả nhân dân nước Diệu Hỷ trở về chốn cũ, cả
đại chúng đều thấy rõ. Ngài Xá Lơi Phất tán thán thần
thông của ông Duy Ma Cật và nguyện tất cả chúng sinh được
thanh tịnh như Phật Vô Ðộng. Ngài và đại chúng thời bấy
giờ được nhiều lợi lành, được gặp và cúng dường ông
Duy Ma Cật, Ngài nguyện cho những chúng sinh đời hiện tại
hoặc vị lai được nghe kinh này, tin hiểu thọ trì đọc tụng
giải nói, đúng như pháp mà tu hành, sẽ được kho tàng Pháp
bảo và được chư Phật hộ niệm.
Nghe, tin hiểu,
thọ trì, đọc tụng, giải nói Kinh này là tốt lắm, nhưng
quan trọng hơn hết là phải đúng như pháp mà tu hành. Nếu
không tu hành đúng như pháp thì chỉ là học suông, chỉ có
bề ngoài, chỉ có học mà không tu thì khác gì cái đãy đựng
sách, cái tủ sách đầy bụi, không lợi ích cho ai cả. Ðã
học rồi thì phải hành, mà phải hành đúng như pháp, nghĩa
là đúng Chân Lý, đúng luật Phật, hợp thời hợp cơ, tùy
hoàn cành, tùy phương tiện, miễn làm sao lợi người lợi
mình, tự giác giác tha, cùng nhau đi trên đường giác ngộ
và giải thoát. Phật dạy gì ta làm nấy, Pháp dạy thế nào
ta theo nấy, Tăng sống hòa hợp thanh tịnh như thế nào ta
bắt chước nấy, bất cứ làm việc gì cũng chỉ vì cứu
giúp chúng sinh, không mong cầu, không ích kỷ ngã chấp, không
chứng không đắc đó là đúng như pháp mà tu hành vậy. Cúng
dường những người tu hành như vậy tức là cúng dường
chư Phật, vì người đó đã đi đúng con đường Phật, làm
đúng việc Phật, chắc chắn sẽ thành Phật. Tuy còn mang hình
tướng chúng sinh nhưng hột giống Phật trong người đó đã
nẩy mầm mạnh mẽ, Phật Tánh đã được lau chùi hết bụi,
ánh sáng giác ngộ đã chiếu sáng, chẳng bao lâu sẽ ngồi
dưới cội bồ đề, đại phá ma quân, thành Ðạo Vô Thượng.
Nếu có người
nào biên chép thọ trì kinh này thì chính là trong nhà người
ấy có Như Lai. Kinh là Pháp Bảo, là báu vật đưa chúng sinh
từ mê tới ngộ, từ phàm tới Thánh, tới Phật cho nên trong
nhà có kinh này được gọi là nhà có Như Lai. Kinh Pháp Bảo
là nhân mà Như Lai, Phật Bảo là quả. Nhưng điều cần yếu
là thọ trì rồi y theo nghĩa lý trong kinh mà thực hành thì
mới có lợi, chứ chẳng phải chỉ đọc tụng như con vẹt
mà không hiểu huyền nghĩa ẩn ý của kinh, không thực hành
đúng đắn lời kinh thì dù trong nhà có thiên kinh vạn quvển,
bìa dầy chữ vàng, cũng chẳng có Như Lai.
Người nghe
kinh này mà tùy hỷ thì sẽ được đến bậc Nhất Thiết
Trí. Tùy hỷ là vui theo. Thấy người khác được lợi lạc
mà mình không có lòng ganh ghét đố kỵ, lại vui theo, mừng
cho người ấy thì được gọi là tùy hỷ. Sau khi vui theo rồi,
mình cần bắt chước người đó mà tu hành thì rồi cũng
phát huy được cái trí huệ sẵn có của mình, biết được
tất cả mọi sự mọi vật một cách đúng như thật, đúng
Chân Lý, trí huê sáng suốt đó gọi là Nhất Thiết Trí.
Cho đến
người nào chỉ tin hiểu kinh này cho đến một bài kệ bốn
câu rồi giải nói cho người khác nghe, phải biết người
đó được thọ ký quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Kinh sách có câu: Lòng tin là mẹ sinh ra chư Phật. Phải có
lòng tin ba ngôi báu Phật Pháp Tăng để trở về nương tựa
(quy y) và tinh tấn tu hành thì sẽ được thành Phật. Thiếu
lòng tin thì không có cơ sở vững chắc mà xây dựng tòa nhà
tinh thần, muốn ở nhà lầu cao đẹp mà không đặt nền móng
cho tốt, cho ngay thẳng thì dễ bị sụp đổ. Nhưng không phải
ai nói gì cũng tin, thấy gì cũng tin, tin càn tin bướng, tin
tà ma quỷ quái, mà phải có lòng tin chân thật gọi là Chánh
Tín, tin lẽ phải, tin luật nhân quả, tin lý vô thường, vô
ngã, tin theo gương sáng của Phật, tin theo lời Phật, kinh
Phật tức là Pháp, tin theo đời sống thanh tịnh hòa hợp
của chư Tăng, lòng tin là điều kiện thứ nhất trong ba điều
kiện thiết yếu được vãng sinh về cõi Cực Lạc của Ðức
Phật A Di Ðà (Tín, Nguyện, Hạnh).
Sau khi tin
rồi thì cần phải học hiểu cho rõ lời Phật, nghĩa Kinh
gồm cả nghĩa đen và nghĩa bóng, nhất là thâm ý ẩn tàng
trong Kinh, chư Tổ thường đạy đọc kinh cầu lý là thế
đó. Tin hiểu rồi thọ trì nghĩa là nắm vững lý kinh một
cách chắc chắn sâu xa bền vững không còn sai lầm, rồi đem
giải nói cho những người khác nghe, nghĩa là tự giác rồi
thì phải giác tha, chẳng bao giờ ôm lòng ích kỷ, mà lúc
nào cũng muốn làm lợi ích cho người khác. đó là tâm niệm
của Bồ Tát chỉ nhắm việc lợi tha, nhân lành đó đưa đến
quả vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, là quả vị Phật
cao tột. Kinh điển Ðại Thừa rất nhiều, cao siêu rộng lớn,
nhưng chì dùng một bài kệ bốn câu giải nói cho người khác
nghe mà được lợi ich lớn lao như vậy, vì giúp người khác
nghe rồi tin hiểu thọ trì, cũng như đánh thức người đó
tỉnh giấc chiêm bao, tỉnh rồi thì không mê nữa, mình chỉ
đánh thức một lần là đủ, chĩ dùng bốn câu kệ là đã
tạo duyên lành, mở đầu cho hột giống Phật trong người
đó nẩy mầm, rồi lần lần đơm hoa kết quả. Kẻ nói người
nghe Kinh này đều được thọ ký, chúng sinh đời sau tu hành
theo kinh này cũng được thọ ký, bộ kinh này thật là Pháp
Bảo vô giá vậy.