XI
PHẨM
HẠNH BỒ TÁT
Khi đó, Ðức
Phật đang nói pháp ở vườn cây Am La, vườn ấy bỗng nhiên
rộng rãi trang nghiêm, tất cả đại chúng trong pháp hội đều
trở thành sắc vàng. Lời kinh muốn diễn tả tâm thức của
đại chúng đã rộng mở sẵn sàng đón nhận tư tưởng Ðại
Thừa. Người Ấn Ðộ có mầu da nâu hoặc đen, nay chuyển
sang da mầu vàng là mầu đẹp đẽ tôn quý, vườn cây trở
nên rộng rãi trang nghiêm, ám chỉ sự hoán chuyển nội tâm
biến hiện ra bên ngoài, trong tốt thì ngoài cũng đẹp, tinh
thần sáng suốt thì tướng trạng vật chất bề ngoài cũng
oai nghiêm, Chánh Báo và Y Báo đều tốt đẹp.
Ông A Nan
thấy điềm lành này liền hỏi và được Phật giải thích
đây là ông Duy Ma Cật, Ngài Văn Thù cùng đại chúng phát
tâm muốn đến đảnh lễ cúng dường Ðức Thế Tôn. Câu
kinh này muốn nói là sau khi được ông Duy Ma Cật khai ngộ
giáo lý Ðại Thừa, tất cả đại chúng đều phát tâm hướng
về chỗ giác ngộ hoàn toàn, giải thoát hoàn toàn, chứ không
ham phước báo cõi Trời, cõi người, không mong những địa
vị tu chứng cục bộ từng phần của hàng Nhị Thừa nữa.
Họ đã được nghe Chánh Pháp rồi, nay mong được đảnh lễ
cúng dường Phật, họ đã được chỉ con đường giác ngộ,
nay mong tiến bước đạt tới Chân Lý.
Ông Duy Ma
Cật dùng sức thần thông đem tất cả đại chúng và các
tòa sư tử để trên tay hữu đi đến chỗ Phật, tất cả
cúi đầu lễ dưới chân Phật rồi đứng qua một bên. Theo
phong tục tập quán Ấn Ðộ thời bấy giờ, để tỏ lòng
tôn kính Phật hoặc một vị giáo chủ, các đệ tử cúi đầu
đảnh lễ, trán hai tay hai chân phải chạm đất (ngũ thể
đầu địa), đi quanh bên hữu bảy vòng, rồi chắp tay đứng
sang một bên. Sau đó hai bên mới bắt đầu thưa hỏi và trả
lời. Ở đây, Ðức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất là vị đại
đệ tử có trí huệ bậc nhất trong hàng Thanh Văn, có thấy
thần lực của Bồ Tát Ðại Sĩ Duy Ma Cật chăng? Ngài Xá
Lợi Phất tán thán oai lực tự tại đó không thể nghĩ bàn
được. Rồi đến ông A Nan, vị đệ tử nổi tiếng là đa
văn đệ nhất trong hàng Thanh Văn, ngửi thấy mùi hương thơm
từ xưa chưa từng có, không biết là mùi hương gì ? Ngài
Xá Lợi Phất nói lỗ chân lông của chúng tôi cũng có mùi
hương thơm đó, do được ăn cơm thơm do ông Duy Ma Cật xin
ở cõi Chúng Hương về, nên có mùi thơm như vậy. Mùi thơm
này kéo dài cho đến khi cơm đó tiêu, nghĩa là khi hàng Thanh
Văn phát tâm tu theo Ðại Thừa, được vào chánh vị, giải
thoát, được vô sinh nhẫn, chỉ còn một đời là được
thành Phật. Cơm thơm này chính là giáo lý Nhất Thừa Phật
Ðạo, có công năng đưa hàng Thanh Văn tới quả vị Phật,
ví như thuốc tốt trừ được các chứng nan y gây bệnh nơi
thân, diệt trừ các phiền não gây khổ trong tâm, xé màn vô
minh đưa chúng sinh ra khỏi luân hồi sinh tử.
Ðây là pháp
môn phương tiện tu hành đặc biệt của chúng sinh cõi Chúng
Hương chỉ ăn cơm thơm, ngửi mùi hương ngồi dưới cây hương
mà được tam muội đầy đủ công đức của Bồ Tát. Còn
ở cõi Ta Bà cùng các cõi khác thì chư Phật dùng mọi phương
tiện tùy căn cơ, tùy hoàn cảnh địa phương mà làm Phật
sự, dẫn dắt chúng sinh đi trên đường chân chánh tu hành.
Có cõi lấy ánh sáng của Phật hoặc thân Phật mà làm Phật
sự, có cõi lấy Bồ Tát, lấy cây bồ đề, lấy cơm ăn,
lấy mộng huyễn, lấy tiếng nói văn tự, có cõi dùng thanh
tịnh vắng lặng... mà làm Phật sự. Tóm lại, tất cả mọi
oai nghi đi đứng ngồi nằm, các việc thi vi nhỏ nhặt của
chư Phật đều là Phật sự cả. Ðây là ý nghĩa câu: Tất
cả các việc đều là việc Phật, tất cả các pháp đều
là Phật Pháp. Mỗi việc, mỗi pháp, dù thuận dù nghịch,
nếu khéo dùng đúng thời, đúng căn cơ đều có tác dụng
ích lợi để giáo hóa chúng sinh.
Cũng có khi
Phật dùng các ma chướng phiền não để làm Phật sự, đây
là phương pháp dùng nghịch cảnh để thử thách người tu
hành có nhẫn nhục kiên gan bền chí không? Bồ Tát cần phát
tâm thanh tịnh vô phân biệt mà làm Phật sự, dù thấy cõi
Phật nghiêm tịnh cũng không mừng, không ham muốn kiêu mạn;
dù thấy cõi Phật bất tịnh cũng không lo không ngại không
chán, lúc nào cũng ngợi khen công đức chư Phật chưa từng
có, bình đẳng, chỉ vì giáo hóa chúng sinh tâm tính khác biệt
mà phương tiện hiện ra các cõi Phật không đồng.
Ba danh từ
Tam Miệu Tam Phật Ðà, Ða Ðà A Dà Ðộ và Phật Ðà là để
tôn xưng những vị đã hoàn toàn giác ngộ và giải thoát,
nghĩa là đắc quả Phật. Tam Miệu Tam Phật Ðà nói cho đủ
là A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Phật Ðà, phiên âm chữ Phạn
Anudhara Samma Sam Buddha, dịch nghĩa là Vô Thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác. Vô Thượng là không ai cao hơn, Chánh Ðẳng là
có địa vị chân chánh nhất, để phân biệt với hàng Duyên
Giác mới giác ngộ đẳng phần, từng phần (phần giác), Chánh
Giác là giác ngộ, hiểu biết sáng suốt chân chánh, để phân
biệt với hàng Thanh Văn hãy còn hiểu biết lệch lạc (thiên
giác). Ngoài ra còn hai nghĩa nữa là Chánh Biến Giác và Chánh
Biến Tri: hiểu biết chân chánh cùng khắp các pháp, mọi sự
mọi vật.
Ða Ðà A
Dà Ðộ, phiên âm chữ Phạn Tathagata, dịch nghĩa là Như Lai,
Như Như Bất Ðộng, Lai Thành Chánh Giác, là người giữ được
tâm không động, không từ đâu đến, không đi đâu, đã được
giác ngộ chân chánh. Như Lai là một trong mười đanh hiệu
để tôn xưng Ðức Phật.
Phật Ðà,
phiên âm chữ Phạn Buddha, dịch nghĩa là Giác Giả, là người
đã hoàn toàn giác ngộ, hiểu biết Chân Lý tuyệt đối. Chúng
ta thường đọc là Phật hay Bụt.
Ðức Thích
Ca tán thán công đức trí huệ của mười phương chư Phật
vô ngại không thể nghĩ bàn. Thấy oai đức của chư Phật
lớn lao như vậy, thấy giáo lý Ðại Thừa cao siêu nhiệm
mầu nên ông A Nan đem lòng sợ hãi, hổ thẹn, bị nhiếp phục,
kbông dám tự nhận là đa văn nữa. Ða văn là nghe nhiều,
nhớ kỹ, học rộng, ông A Nan tuy đa văn nhưng chưa phát tâm
tu hành rốt ráo nên chưa chứng quả A La Hán, trong khi đó
nhiều đệ tử khác của Phật, tuy tài học kém ông A Nan nhưng
nhờ quyết tâm tu tập công phu nên đã chứng quả A La Hán.
Ðoạn này
nói riêng về ông A Nan nhưng ám chỉ những hàng Thanh Văn chỉ
ham học rộng nghe nhiều mà không chịu tu hành các pháp môn
thù thắng. Ông A Nan hối hận tự thú lỗi mình, hứa từ
nay xin chừa không dám nhận là đa văn, không chấp vào việc
chỉ học mà không tu. Ðức Phật an ủi: “Chớ khởi tâm
thối lui nản chí. Ta nói ông đa văn hơn hết trong hàng Thanh
Văn, chứ không phải đối với hàng Bồ Tát. Chư Bồ Tát
có trí huệ biện tài, công phu thiền định rộng sâu không
thể nghĩ bàn, hàng Thanh Văn không sao bằng được. Hãy để
riêng việc Bồ Tát ra, ông Cư Sĩ Duy Ma Cật đây hiện bày
sức thần thông trong một lúc mà tất cả hàng Thanh Văn, Bích
Chi Phật trải trăm ngàn kiếp tận lực biến hóa đều không
làm được.”
Đức Phật
đề cao hàng Bồ Tát là để khuyến khích hàng Thanh Văn bỏ
chí hèn kém, được chút ít cho là đủ, nay phải phát tâm
tu hành thêm nữa, tiến tới quả vị Bồ Tát và Phật. Lúc
đó các Bồ Tát ở cõi Chúng Hương tự hối đã khinh thị
cõi Ta Bà xấu xa thấp kém, nay biết là do Phật phương tiện
làm ra vậy để hợp với căn cơ chúng sinh, nay cúi xin Phật
dạy cho một pháp để đem về cõi Chúng Hương tu hành, nghĩ
nhớ đến Phật Thích Ca, ví như hiện thời chúng ta đi du
lịch nơi xa, mua quà kỷ niệm đem về để nhớ đến nơi
vừa đi thăm. Ðức Thích Ca liền dạy pháp môn Tận, Vô Tận
Giải Thoát.
Tận là pháp
hữu vi, Vô Tận là pháp vô vi. Không tận hữu vi, không trụ
vô vi thì được giải thoát.
Các pháp
hữu vi là các việc làm sắc tướng, còn có ý mong cầu, thấy
có việc làm, có pháp môn tu, có quả vị chứng. Các pháp
vô vi là các việc làm thanh tịnh, không còn chấp sắc tướng,
làm mà không thấy làm, vô cầu, vô chứng, vô đắc. Thông
thường thì người tu hành lìa bỏ các pháp hữu vi và tu theo
các pháp vô vi. Nhưng ở đây, các Bồ Tát không tận hữu
vi, là có ý dạy người tu hành đừng khởi tâm phân biệt,
cứ an nhiên làm tất cả mọi việc lành tốt để cầu nhất
thiết trí, hành các pháp môn để cứu giúp chúng sinh. Ðó
là đứng về phần tướng, không bỏ qua một việc tốt nào
mà không làm. Còn không trụ vô vi là tuy tu ba môn Không, Vô
Tướng, Vô Tác mà không lạc vào chỗ chấp không; tuy chứng
vô sinh mà vẫn không chấp có tu có chứng. Tuy biết mọi sự
mọi vật vô thường mà vẫn làm các việc lành, tuy biết
cuộc đời là khổ mà vẫn không ghét sinh tử, tuy biết chúng
sinh vô ngã mà vẫn dạy dỗ dắt dìu... Ðây là người đã
kiến tánh, nhưng vẫn không lìa tướng, vẫn tu vẫn hành,
lìa hai bên chấp có chấp không, giữ vững lý trung đạo.
Ðứng về tướng, chẳng chấp có nhưng không bỏ một việc
phước nhỏ; đứng về tánh, chẳng chấp không mà vẫn làm
các hạnh lành, tu mọi pháp thiện. Ðức Phật thường răn
dạy các đệ tử đừng khinh chê phước nhỏ mà không làm,
một bữa nọ, trên đường đi thuyết pháp, Phật dừng chân
xỏ kim giùm một bà lão kém mắt, nói vài lời mộc mạc khuyên
bảo mấy em nhỏ chăn trâu; cộng nhiều phước nhỏ thành
phước lớn, nếu chê phước nhỏ không làm, lấy đâu phước
lớn, nhưng làm mọi việc lành mà không chấp, không mong cầu
thì mới là tốt. Tuy quán Không, biết mọi sự mọi vật là
giả huyễn, nhưng không vì vậy mà chẳng chịu làm gì, thấy
việc lành là làm, thấy ai cần là giúp, đó là lòng Ðại
Bi của chư Bồ Tát. Làm được mọi việc lợi ích chúng sinh
mà lòng không chấp trước, không mong cầu, đó gọi là Bồ
Tát không tận hữu vi, không trụ vô vi. Ðó gọi là pháp môn
Tận, Vô Tận Giải Thoát.
Các Bồ Tát
nước Chúng Hương nghe Phật nói pháp này rồi hết sức vui
mừng, đem các hoa báu đủ mầu rải khắp tam thiên đạì
thiên thế giới cúng dường Phật, kinh Pháp này cùng các Bồ
Tát, lễ Phật tán thán rồi bỗng nhiên biến trở về cõi
Chúng Hương. Các vị Bồ Tát này được Ðức Phật Thích
Ca khai ngộ cho, bỏ lòng kiêu mạn, hết tâm khinh chê lớn
nhỏ sạch uế, rải hoa cúng dường Tam Bảo Phật Pháp Tăng
tỏ lòng quy y kính ngưỡng, trở về cõi Chúng Hương, nghĩa
là trở về quê cũ, trở về Bản Tâm thanh tịnh vô phân biệt.
Ðoạn kinh
này chỉ dạy người tu đừng quá thiên về Lý mà bỏ Sự,
đừng quá nghiêng về Tánh mà quên Tướng, vẫn làm các Sự
Tướng mà không rời Lý Tánh, thì công phu tu hành mới gọi
là viên dung, sớm thành Phật Ðạo. Nhưng sau khi đã thành
tựu mọi công đức, dứt trừ vi tế vô minh, Bồ Tát sắp
bước vào cửa Phật, đưa mắt nhìn xuống cõi trần thấy
chúng sinh còn đang ngụp lặn trong bể khổ trầm luân mong
được cứu vớt, Ngài ung dung tự tại quay gót trở lại trần
gian với nụ cười đầy từ bi hỷ xả, phát nguyện lớn
độ hết chúng sinh rồi Ngài mới thành Phật. Vô ngã lợi
tha, quên mình vì người, đó là Hạnh Bồ Tát. Do đó phẩm
này được đặt tên là Hạnh Bồ Tát.