Phẩm
PHẬT HƯƠNG TÍCH
Bấy giờ,
Ngài Xá Lợi Phất, đại diện cho hàng Thanh Văn đệ tử hãy
còn phân biệt thời gian, thấy gần đến giờ ngọ là nghĩ
đến việc ăn trưa. Các tu sĩ Nam Tông giữ giới luật ăn
ngày một bữa trước giờ ngọ, nếu lỡ quá ngọ chưa ăn
thì phải nhịn luôn. Còn các tu sĩ Bắc Tông thì uyển chuyển
hơn, quá ngọ ăn cũng được, hoặc ăn ngày hai hoặc ba bữa
cũng được, không phải là tham ăn, chỉ do thói quen và để
giữ sức khỏe mà thôi.
Ông Duy Ma
Cật muốn làm lợi ích giúp cho hàng Thanh Văn được biết
mùi vị giải thoát bèn nhập chánh định, dùng sức thần
thông hiện bày cho đại chúng thấy rõ cảnh giới phương
trên có nước Phật tên là Chúng Hương, Ðức Phật hiệu
là Hương Tích, nước ấy không có Thanh Văn và Bích Chi Phật,
chỉ có Bồ Tát thanh tịnh được Phật nói pháp cho nghe. Tất
cả nhà lầu, vườn hoa, ruộng đất, cơm nước đều do chất
hương thơm tạo thành. Ông Duy Ma Cật hóa phép ra một vị
Bồ Tát và sai bay lên nước Chúng Hương xin cơm thơm về cho
mọi người ăn.
Nếu cứ
theo nghĩa đen, chữ đâu nghĩa đó, thì ở phương trên có
nước Chúng Hương, có Phật Hương Tích, có các Bồ Tát, có
cơm thơm, không có hàng Thanh Văn và Bích Chi Phật. Theo nghĩa
bóng thì các Thanh Văn cần chuyển tâm niệm hẹp hòi cầu
pháp nhỏ biến thành Tâm Bồ Ðề, bỏ vật chất thế gian
để được của báu xuất thế gian, bỏ giường ghế để
được ngồi tòa sư tử, bỏ cơm gạo thường để được
ăn cơm thơm Chúng Hương, bỏ lòng cầu Niết Bàn cho riêng
mình để phát tâm Bồ Ðề cầu Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh
Giác, hành Bồ Tát Ðạo lợi ích chúng sinh.
Nước Chúng
Hương thanh tịnh thơm tho nhẹ nhàng vì được tạo thành bằng
các hương thơm, trái với cõi Ta Bà nặng nề nhơ uế vì do
vật chất làm ra. Cõi Ta Bà có Thanh Văn và Bích Chi Phật còn
ham pháp nhỏ tu theo Tiểu Thừa, được ít cho là đủ, còn
nước Chúng Hương chỉ có hàng Bồ Tát thanh tịnh được
Phật dạy bảo, ý kinh muốn đưa ra sự so sánh hai cõi để
chuyển tâm hàng Nhị Thừa hướng về Nhất Thừa Phật Đạo.
Chỗ khéo
léo của Kinh này là không muốn làm hàng Thanh Văn hổ thẹn
vì lỡ ham pháp Tiểu Thừa, nên Bồ Tát Văn Thù nói đỡ:
“Chớ nên khinh người chưa học”. Nếu làm quý vị Thanh
Văn xấu hổ quá thì họ sẽ bỏ đi rất uổng nên Bồ Tát
Văn Thù phải nói khéo để gỡ danh dự cho họ, rồi phương
tiện hướng dẫn vào Phật Ðạo. Trong Kinh Pháp Hoa, khi Phật
thuyết giáo lý Ðại Thừa, quy ba thừa về một thừa, có
năm ngàn Tỳ Kheo bỏ đi. Nhưng ở đây, Ngài Văn Thù cố giúp
hàng Thanh Văn chuyển tâm theo Ðại Thừa. Cũng một ý đó,
Ðức Phật Hương Tích căn dặn các Bồ Tát nước Chúng Hương
phải tạm giấu thân hương thơm tho tốt đẹp, chớ để chúng
sinh cõi Ta Bà sinh tâm mê đắm và tự hổ thẹn. Vì sao? Ðức
Phật muốn hóa độ những người ưa pháp nhỏ nên hiện ra
cõi Ta Bà ô trược hầm hố xấu xa, chứ mười phương cõi
nước đều như hư không, vô phân biệt. Ðức Phật biết
rành tâm lý, không muốn hàng Thanh Văn buồn thẹn mà mong họ
thấy cõi Phật Chúng Hương đẹp đẽ mà khởi lòng tu theo
Ðại Thừa.
Phật Hương
Tích lấy cái bát ở nước Chúng Hương đựng đầy cơm thơm
trao cho Hóa Bồ Tát, vị này cùng chín trăm vạn Bồ Tát ở
nước Chúng Hương biến hình, trong khoảnh khắc về đến
nhà ông Duy Ma Cật. Ông này hóa hiện ra chín trăm vạn tòa
sư tử để mời các Bồ Tát ngồi. Vị Hóa Bồ Tát đem bát
cơm thơm dâng lên ông Duy Ma Cật, mùi thơm xông khắp thành
Tỳ Xá Li và cả cõi tam thiên đại thiên thế giới.
Chín trăm
vạn Bồ Tát ngồi trên tòa sư tử trong nhà ông Duy Ma Cật
mà không thấy chật hẹp vì đây là nói về Bản Thể dung
thông vô ngại, vượt qua mọi hình tướng vật chất nên không
có rộng chật gì cả, mười phương thế giới nằm trong hạt
cải mà vẫn hiện đủ núi non sông biển. Vì không có vật
chất nên không chướng ngại. Thí dụ: chụp hình mặt trăng
vào trong tấm ảnh nhỏ xíu mà phong cảnh mặt trăng hiện
ra đầy đủ. Chúng ta nghĩ tới quê hương thì hình ảnh núi
đồi sông ngòi nhà cửa hiện ra trong tâm thức, những hình
ảnh đó đều dung thông vô ngại.
Trưởng Giả
Chủ là người đứng đầu các vị trưởng giả làm chủ
tể cai trị nhân dân trong thành. Nguyệt Cái là tên ông ta,
mà cũng có ý nghĩa là cái lọng (bảo cái) hình tròn như mặt
trăng dùng để che mưa nắng bụi bậm không làm khó chịu
bậc tôn quý. Trưởng Giả Chủ Nguyệt Cái đem theo tám vạn
bốn ngàn người đến đảnh lề các Bồ Tát và đại đệ
tử, là có ý tượng trưng cho việc các chúng sinh đã phát
tâm quy y Tam Bảo, tuân thủ giáo lý Ðại Thừa. giáo lý này
tròn trặn đầy đủ, hoàn toàn viên mãn, có công năng che
chở chúng sinh khỏi bị nhiễm ô, ví như cây lọng báu che
các vị Vua quan quyền quý.
Bấy giờ
ông Duy Ma Cật bảo Ngài Xá Lợi Phất và các đại đệ tử
Thanh Văn lấy cơm thơm mà ăn, dùng cơm vị cam lồ của Như
Lai do đại bi huân tập, đừng đem ý có hạn lượng mà ăn
thì không tiêu được. Có các Thanh Văn khác nghĩ rằng cơm
này ít lắm mà đại chúng ngưởi nào cũng phải ăn. Làm sao
cho đủ ?
Ðây là
các vị Thanh Văn còn chấp tướng, phân biệt cơm ít người
nhiều, còn ông Duy Ma Cật đứng về Thể Tánh mà bảo: đừng
đem ý có hạn lượng mà ăn thời không tiêu được. Vị Hóa
Bồ Tát cũng nói: Chớ đem trí hẹp đức nhỏ của Thanh Văn
mà so lường phước huệ vô lượng của Như Lai.
Rõ ràng là
đoạn này muốn đưa người đang tu theo giáo lý Tiểu Thừa
bước sang Ðại Thừa, muốn hướng dẫn hàng Thanh Văn vào
Bồ Tát Ðạo. Ðừng có ý hạn lượng phân biệt thì cơm
mới tiêu, thì mới kham được pháp lớn, thì mới bỏ tướng
trạng mà nhập Bản Thể Chân Như vô cùng vô tận. Các Bồ
Tát, Thanh Văn, Trời, ngườì ăn no đủ mà cơm vẫn còn, thân
thể nhẹ nhàng vui vẻ, các lỗ chân lông thoảng ra mùi hương
thơm.
Có một bát
cơm mà tất cả chúng hội mấy trăm vạn người ăn no đủ
mà vẫn còn, người ăn lại cảm thấy thân thể nhẹ nhàng
vui vẻ, các lỗ chân lông thoảng ra mùi hương thơm thì thật
là huyền diệu nhiệm mầu, nhất định không phải là loại
cơm gạo vật chất để nuôi thân, mà là cơm gạo tinh thần
để nuôi tâm, trưởng dưỡng phát huy Tâm Bồ Ðề. Vì không
phải vật chất nên không có hạn lương, vì thuốc tâm linh
nên ảnh hưởng lan rộng cao xa, mùi vị của Đạo thấm vào
tâm hồn khiến mọi người cảm thấy nhẹ nhàng thanh thoát,
lâng lâng thoát tục, mình được hưởng Pháp vị rồi lại
muốn đem Pháp vị cho người khác, nên các lỗ chân lông thường
ra mùi hương thơm, các loài chúng sinh khác cũng được ngửi
mùi hương đó. Người xưa có hai câu thơ để diễn tả Ðạo
vị :
Quế hương
bất viễn thư hương viễn,
Thế vị
vô như Ðạo vị trường.
nghĩa là
mùi hương của quế không thoảng xa bằng mùi thơm của sách
vở, vị ngon ngọt của đời không kéo dài lâu xa bằng mùi
vị của Ðạo Ðức.
Cơm thơm
của Phật Hương Tích ban cho chúng hội trong nhà ông Duy Ma
Cật chính là Pháp Thực, là Thiền Duyệt Thực là món ăn
tinh thần để nuôi dưỡng phần tâm linh, chúng ta nghe một
bài pháp say sưa quên đói, ngồi thiền cảm thấy no đủ sung
sướng, mà Pháp và Thiền thì rộng rãi vô cùng, bao nhiêu
người nghe, người tu cũng đầy đủ, không thiếu. Pháp, Thiền,
Ðạo, sách vở kinh điển... đều là những món ăn tinh thần
cần thiết giúp người tu mở mang trí huệ, tự giác giác
tha. Mình được ăn rồi, nếm rồi, nghe rồi thì phải mời
người khác cùng hưởng Pháp vị như mình.
Ðoạn kinh
sau đây so sánh lối nói pháp ở hai cõi Chúng Hương và Ta
Bà. Cõi Chúng Hương ở trên cõi Ta Bà cách xa 42 số cát sông
Hằng cõi Phật, nhẹ nhàng siêu việt hơn cõi Ta Bà nhiều,
cho nên Ðức Phật Hương Tích không cần dùng ngôn ngữ văn
tự để nói, mà chỉ dùng các mùi hương thơm khiến các Trời
người vâng giữ luật hạnh (giữ gìn giới luật, không làm
việc ác, chỉ làm hạnh lành). Các Bồ Tát cõi đó chỉ việc
ngồi dưới cây hương, ngửi mùi hương thơm mầu nhiệm là
được Tam Muội Nhất Thiết Ðức Tạng, nghĩa là được chánh
định đầy đủ tất cả mọi công đức. Ý kinh muốn nói
chúng sinh cõi Chúng Hương nghiệp nhẹ nên chi cần ngửi mùi
hương là phát tâm tu hành. Tâm Phật và chúng sinh dễ dàng
cảm thông.
Còn chúng
sinh ở cõi Ta Bà thì nghiệp nặng, cang cường khó giáo hóa,
cứng đầu cứng cổ, nên Ðức Phật Thích Ca phải phương
tiện dùng lời nói cứng rắn mạnh mẽ để điều phục họ.
Ðây là các phương pháp giáo hóa khác nhau mà chư Phật áp
dụng tùy từng cõi. Chúng sinh dễ dạy thì dùng phương pháp
nhẹ nhàng dịu ngọt, chúng sinh khó dạy thì dùng phương pháp
oai dũng nặng nề như trách mắng đe dọa, nhưng tất cả mọi
phương pháp đều cùng một mục đích là chỉ đường dẫn
lối chúng sinh về nẻo giác. Ở cõi Ta Bà uế trược, Ðức
Phật cho thấy có ba cõi sáu đường, có luật nhân quả luân
hồi chi phối, để chúng sinh sợ hãi nhàm chán, rồi Ngài
dạy quy y giữ giới, làm lành lánh đữ, điều phục thân
miệng ý, so sánh phân biệt tội phước, hữu lậu với vô
lậu, thế gian với Niết Bàn... Tuy biết rằng phân biệt như
vậy là không đúng với Chân Lý Bình Ðẳng Nhất Như, nhưng
Ðức Thế Tôn ẩn cái sức tự tại vô lượng của Ngài mà
dùng phương tiện tùy theo sở thích của người nghèo hèn
để độ thoát chúng sinh: Phật biết chúng sinh ưa gì thì
cho nấy, lúc đầu chúng ưa pháp nhỏ, được Hữu Dư Y Niết
Bàn đã cho là đủ, nay đã đến thời cơ đem pháp lớn dạy
người tu hành tiến tới chỗ giác ngộ rốt ráo. Kinh Pháp
Hoa đưa ra thí dụ Hóa Thành là cùng một ý nghĩa như vậy.
Vì chúng
sinh cõi Ta Bà phước mỏng nghiệp dầy, khó bảo khó dạy,
nên các Bồ Tát phải dùng sức phương tiện chịu khổ sở
nhẫn nhục, dùng lòng đại bi vô lượng thị hiện sinh vào
cõi này, ẩn giấu thân tướng to lớn cao đẹp và hiện ra
thân hình bé nhỏ xấu xa, thật là mộl sự hy sinh rất lớn
lao mà chỉ các Ðại Bồ Tát mới làm được. Tuy nhiên, các
Bồ Tát ở cõi này làm lợi ích cho chúng sinh trong một đời
còn hơn trăm ngàn kiếp tu hành ở các cõi khác, vì sao? Vì
chúng sinh cõi Ta Bà có nhiều thói hư tật xấu để Bồ Tát
dạy dỗ, chúng sinh các cõi khác không có tật xấu thì Bồ
Tát lấy ai mà cứu độ? Ðúng vậy, có người nghèo đói
thì mình mới có cơ hội bố thí, có người giận dữ thì
mình mới có cơ hội tu nhẫn nhục, có người loạn động
thì mình mới có cơ hội dạy họ tu thiền định, có kẻ
ngu si thì mình mới có cơ hội khuyên họ tu trí huệ, có người
ưa pháp Tiểu Thừa thì mình mới có dịp đem giáo lý Ðại
Thừa ra thuyết giảng... còn ở các cõi Tịnh Ðộ khác, dân
chúng đều thanh tịnh tinh tấn tu hành thì các Bồ Tát không
có duyên lành giáo hóa, thiếu mục tiêu làm việc lợi tha.
Bồ Tát cần
nương chúng sinh để được sinh về cõi Tịnh Ðộ, cần hóa
độ chúng sinh để hoàn mãn nguyện lớn tiến lên quả vị
Phật. Muốn vậy, các Bồ Tát cần thành tựu tám pháp lành:
1) Làm lành
mà không mong báo đáp (vô cầu).
2) Gánh chịu
khổ não cho chúng sinh (từ bi).
3) Ban công
đức cho chúng sinh (hỷ, xả, lợi tha).
4) Dưới
khiêm nhường chúng sinh, trên cung kính Bồ Tát (trên kính,
dưới nhường, hạ mình đối đãi bình đẳng, không ngăn
ngại).
5) Cầu học
những điều chưa biết (tiến tu, không nghi ngờ).
6) Không
chống trái với hàng Thanh Văn (không khinh chê người tu kém,
dùng phương tiện dắt dẫn họ tiến thêm).
7) Không
ganh ghét tật đố, không khoe mình chê người (điều phục
tâm).
8) Trách
mình, tha thứ cho người (hướng nội tự tu, hướng ngoại
lợi tha), nhất tâm cầu công đức (hướng về giác ngộ giải
thoát, không mong phước đức thế gian).
Ðây là tám
phương pháp mà các Bồ Tát và tất cả những ai tu hạnh Bồ
Tát Ðại Thừa cần phải thực hành, tựu trung vẫn là phá
ngã chấp và pháp chấp, phát triển từ bi hỷ xả, lợi tha,
không khinh chê kẻ có tội hay người tu còn kém, thượng cầu
Phật Ðạo, hạ hóa chúng sinh, điều phục tâm mình, chỉ
tự trách mà còn tha thứ cho người, chỉ nhìn lỗi mình không
thấy lỗi người, có được chút công đức gì thì chia xẻ
cho tất cả chúng sinh đồng thành Phật Ðạo.
Sau khi được
nghe ông Duy Ma Cật và Ngài Văn Thù nói pháp mầu, trong đại
chúng có trăm ngàn Trời người phát tâm vô thượng chánh
đẳng chánh giác, những hạng Trời người này trước chỉ
tu phước hoặc mong cầu Niết Bàn của Tiểu Thừa, nay tỉnh
ngộ phát tâm tu theo Ðại Thừa.
Mười ngàn
Bồ Tát chứng được Vô Sinh Pháp Nhẫn: Các Bồ Tát mới
phát tâm được nghe Chánh Pháp cao siêu nhiệm mầu, trí huệ
sáng soi, diệt trừ được vi tế vô minh, chứng quả vô sinh
bất thối chuyển, thẳng tới quả vị Phật.
Mật ý của
phẩm này là đề cao sức oai thần của các vị Ðại Bồ
Tát mà từ trước các hàng Thanh Văn, Trời người chưa thấy
chưa biết, sự hiểu biết của họ còn nông cạn, như những
người mù sờ voi, chỉ biết một phần sự thật mà thôi.
Ông Duy Ma Cật xin cơm thơm ở nước Chúng Hương bên trên
đem về cho hàng Thanh Văn, Trời người ăn, có ý nghĩa là
đem Chân Lý cao siêu huyền diệu tột cùng ra chỉ dạy để
dắl dẫn người tu tiểu Thừa hoặc tu phước, nay chuyển
sang Ðại Thừa, hướng về giác ngộ và giải thoát cho tất
cả chúng sinh. Nhờ cơm mà chúng sinh no, nhờ pháp Ðại Thừa
mà chúng sinh được giải thoát.