VII
Phẩm
QUÁN CHÚNG SINH
Ngài Văn
Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng: Bồ Tát quán sát chúng
sinh phải thế nào?
Chúng sinh
là tất cả muôn loài có sự sống, hữu tình và vô tình,
bao gồm cả động vật, thực vật, khoáng chất, đã chịu
nhiều phen luân hồi sinh tử trong ba cõi sáu đường. Phẩm
này thuyết minh về chúng sinh tướng chỉ rõ Bản Lai Diện
Mục của chúng sinh ngõ hầu đi tới chỗ phá chấp chúng sinh
tướng.
Chúng ta thường
thấy có ta, có người, có chúng sinh, có đời sống kéo dài
một khoảng thời gian tương đối dài hay ngắn, nhưng ông
Duy Ma Cật lại nói chúng sinh không thật có, chỉ là giả
tạm mà thôi, ví như người huyễn do ảo thuật biến hóa
ra, như trăng đáy nước, như mặt trong gương... Tất cả những
thí dụ do ông Duy Ma Cậl nói ra đều diễn tả những vật
không có thật. Ngài Văn Thù liền hỏi: Nếu chúng sinh không
có thật thì tại sao lại phải thực hành bốn Tâm Vô Lượng
(Từ, Bi, Hỷ, Xả)? Ông Duy Ma Cật giải thích: Tuy biết chúng
sinh không thật có, không bền chắc, nhưng các Bồ Tát vẫn
thực hành Từ, Bi, Hỷ, Xả, dĩ huyễn độ chân, dùng pháp
huyễn, độ người huyễn, đắc quả huyễn. Ðứng về Bản
Tánh thì tất cả là huyễn, nhưng đứng về tướng trạng
thì vẫn có ta, có người, có phương pháp tu hành, có quả
vị để chứng, cho nên các Bồ Tát vẫn lặn lội ở đời
để cứu độ chúng sinh. Các Bồ Tát quán chúng sinh như thế,
không phải thật, không phải giả.
Chúng sinh
khác nhau do chịu nghiệp báo gây tạo nặng nhẹ chẳng đồng,
nhân lành quả ngọt, nhân xấu quả đắng; Bồ Tát quán sát
chúng sinh chỉ là giả có, huyễn hóa, trước có sau không.
Lúc sự việc đương hiện tiền thì là tạm có, vì mắt thấy
tai nghe được, khi sự việc đã qua thì coi là huyễn hóa,
qua rồi thì bỏ, đừng nhắc tới hoặc đem theo làm gì. Khi
nhớ lại, thấy hình bóng trong tâm thì phải quán mọi sự
mọi vật như huyễn, biết là huyễn thì lìa. Nếu chưa lìa
được thương ghét thì việc quán sát chưa thuần thục, cần
gắng sức tu thêm, niệm Phật, trì chú, tụng kinh để diệt
trừ túc nghiệp, phá hết phiền não.
Khi quán chúng
sinh như huyễn rồi, Bồ Tát tâm được tự tại an vui; muốn
cho chúng sinh cũng được an vui như mình, Bồ Tát liền dạy
chúng sinh quán tất cả như huyễn, đó là do lòng từ chân
thật, mong cho chúng sinh được như Bồ Tát, tuy nhiều mà một.
Bồ Tát có gì, chúng sinh có nấy, cho đến khi được sự
an vui của Phật, rốt ráo tự tại, đó là lòng Từ của Bồ
Tát. Lòng Bi là Bồ Tát làm được công đức gì thì chia với
chúng sinh cùng hưởng khiến chúng sinh hết khổ hoặc bớt
khổ. Lòng Hỷ thì tâm được vui khi thấy chúng sinh vui, cùng
nhau hoan hỷ, khi việc làm hợp với Chân Lý, không hại người
khác, mình và người cùng vui, thân và tâm đều vui vẻ, sự
vui này không xây dựng trên cái khổ của người khác. Lòng
Xả là buông bỏ mọi tâm niệm cầu phước báo, hoặc tham
sân si. Làm việc lành không mong cầu được đền ơn, quên
hết các việc đã làm giúp đỡ người khác; cả đến những
việc ác lỡ làm cũng cần quên đi, sau khi thành tâm sám hối,
vì nếu cứ bị ám ảnh nhớ đến hoài những việc xấu,
lòng buồn rầu khổ sở cắn rứt thì tâm cũng khó thanh thản
mà tu hành. Nếu sau khi giúp ai một việc gì mà mình không
xả, không quên, còn mong người ta trả ơn, thì thường bị
thất vọng, vì chúng sinh phần đông bội bạc, ơn thì quên
chóng, oán thì nhớ lâu. Nếu cứ nhớ là đã làm việc lành
rồi thì cho là đủ, không chịu tiếp tục làm thêm nữa.
Sau khi làm
các việc ở đời, thấy lo cảnh sinh tử là đáng sợ, Bồ
Tát phải y nơi công đức của Như Lai, trụ vào việc cứu
độ chúng sinh; muốn độ chúng sinh, trước hết mình phải
có đủ oai lực để trừ phiền não, có chánh niệm biết
thân vô ngã vô thường nhiều tham dục, hư vọng điên đảo,
tuy nói trụ nhưng thật là không trụ, mới lập được tất
cả pháp. Ðoạn này giống Kinh Kim Cang: an trụ, mà không an
trụ, mới là an trụ.
Y nơi sức
công đức của Như Lai, hiểu theo Sự thì có nghĩa là nương
tựa vào Ðức Phật, y theo lời dạy của Ngài mà tu hành thành
Phật để hóa độ chúng sinh; hiểu theo Lý thì có nghĩa là
nương vào Chân Tâm, y theo Phật Tánh mà làm các việc lành
lợi ích chúng sinh. Ðiều quan trọng là phải giữ Chánh Niệm,
luôn luôn tỉnh giác, nhớ nghĩ chân chánh, không cho tạp niệm
vọng tưởng nổi lên. Có chánh niệm thì biết các pháp không
sinh không diệt, thân là gốc của tội lỗi, tâm vô trụ thì
mọi pháp đều thành tựu tốt đẹp. Tâm vô trụ đây là
trở về với Bản Tâm thanh tịnh. Lúc mê mờ thì quên hết
Bản Tâm, hư vọng điên đảo hiện ra chi phối mọi hành vi.
Hết mê, tỉnh giác thì Bản Tâm thanh tịnh lại hiện liền,
ví như hết mây che thì mặt trăng lại chiếu sáng.
Ðứng về
tướng thì có chúng sinh để an trụ cứu độ, nhưng không
vì vậy mà Bồ Tát đắm trước trong việc an trụ cứu độ,
vì biết chúng sinh là giả huyễn, việc an trụ cứu độ cũng
giả huyễn. Ðứng về Tánh thì không còn chấp việc an trụ
cứu độ, tất cả chúng sinh đều có Tánh Phật, sáng suốt
như một, vốn vẫn an trụ, không cần cứu độ. Từ chỗ
không an trụ, không gốc này mà lập tất cả Pháp, do đó
chúng sinh là Không, các pháp cũng là Không, Tánh Không mà giả
có. Chân Không Diệu Hữu là như vậy.
Bấy giờ
trơng nhà ông Duy Ma Cật có một Thiên Nữ tung rải hoa trời
trên mình các vị Bồ Tát và đệ tử lớn của Phật, khi
hoa đến mình các Bồ Tát thì liền rơi xuống, còn khi đến
mình các vị đệ lử lớn thì đều mắc lại, các vị này
dùng hết thần lực phủi mà hoa không rớt.
Trong kinh
thường nói đến việc các vị Trời và Thiên Nữ tung hoa
để cúng dường tán thán Phật. Hoa có nhiều mầu sắc rực
rỡ, có mùi hương thơm ngát thanh tịnh, thường được dùng
để trang hoàng đạo tràng, hoặc dâng lên hiến cúng diễn
tả lòng biết ơn hoan hỷ. Ở đây, hoa tượng trưng cho Chánh
Pháp của Phật. Thiên Nữ tung rải hoa là ý kinh muốn nói
lên sự vui mừng của các vị Trời sau khi được nghe Diệu
Pháp liền tuyên lại cho người khác nghe.
Các đệ
tử lớn thuộc hàng Thanh Văn, chưa phát tâm Bồ Tát, hãy còn
phân biệt pháp chấp, thấy có pháp tu, có quả vị chứng,
chưa đoạn các tập khí kiết sử ràng buộc, chưa xả được
lòng mong cầu chứng đắc, nên hoa dính mắc lại trên áo.
Còn các Bồ Tát đã đoạn hết tư tưởng phân biệt, diệt
trừ ngã chấp và pháp chấp, đoạn hết các tập khí kiết
sử, thực hành tâm Xả tới chỗ rốt ráo nên hoa không dính
mắc. Người tu hạnh Bồ Tát sau khi làm được việc gì tốt
thì quên ngay đi để tiếp tục làm việc lành khác, vả lại
biết tất cả đều là Không, là Một, có liên quan với nhau,
nên xả bỏ được hết các quan niệm ích kỷ hẹp hòi. Còn
những người tu theo hạnh Thanh Văn thì vẫn thấy có ngã có
pháp, có chúng sinh, có việc làm tốt, vì còn nhớ nghĩ đắm
nhiễm như vậy nên không xả được, tâm dính mắc nhiều
thứ ví như hoa dính mắc trên áo, không sao phủi rớt được.
Ngài Xá Lợi
Phất thuộc hàng Thanh Văn nên còn tâm phân biệt hoa này không
như pháp, thấy có đẹp xấu, khen chê, ưa ghét... tâm không
định nên có lúc hồi hộp lo sợ, khiến loài phi nhân, ma
quỷ thừa cơ làm hại. Ví như nhà không đóng kín cửa, gió
mưa vào lọt. Loài phi nhân, ma quỷ tượng trưng cho sáu trần
(sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) vốn chúng không có phân
biệt, chỉ vì tâm ta phân biệt tốt xấu, thương ghét... nên
mới gây phiền não. Khi tu đến chỗ tâm vô phân biệt mới
là vô trụ, được tâm thanh tịnh. Không phân biệt thì không
dính mắc lời khen tiếng chê, màu sắc đẹp xấu, mùi vị
ngon dở... tâm được tự tại. Nếu còn phân biệt, thích
nghe lời khen, nhìn mầu đẹp, nếm vị ngọt... thì còn chấp
trước, sinh lòng thương ghét, yêu người này, ghét người
kia, thích ăn món này, chê món nọ... đó là Thức phân biệt.
Bồ Tát dùng Trí, tuy có phân biệt nhưng không sinh lòng thương
ghét, đối cảnh thuận hay nghịch tâm bình thản, an nhiên
không động.
Hàng Thanh
Văn còn chấp cảnh, còn lòng thương ghét, còn sợ sinh tử,
ưa Niết Bàn... tâm còn trụ nên còn mắc. Bồ Tát tâm vô
trụ nên đi vào vũ trường, quán rượu, ổ điếm mà không
sợ, vì tâm không tham đắm dục lạc. Hàng Thanh Văn không
dám vào, đi qua phải nhắm mắt lại, tránh xa là hơn, vì chưa
đủ tâm dõng mănh, chưa hàng phục và an trụ được tâm.
Ðối với
hàng Thanh Văn thì giải thoát không có ngôn thuyết nên Ngài
Xá Lợi Phất nín lặng. Trái lại, Thiên Nữ cho rằng ngôn
thuyết văn tự đều là tướng giải thoát, vì không ở trong,
không ở ngoài, không ở hai bên, vả lại tất cả pháp đều
là tướng giải thoát. Lời nói của Thiên Nữ có vẽ mâu
thuẫn với giáo lý Tiểu Thừa mà Ngài Xá Lợi Phất thường
học nên Ngài hỏi lại: Không cần lìa dâm nộ si mà được
giải thoát ư?
Thông thường,
người tu hành rất cần đoạn dâm nộ si (hoặc tham sân si)
nhưng đó chỉ là bước đầu. Khi tu hành đã vững rồi thì
chẳng cần lìa chúng nữa, vì chúng không còn làm hại được,
xúi giục gây tội lỗi nữa. Các Bồ Tát ra vào các phòng
dâm tửu điếm mà không e sợ vì tâm các ngài đã vững quá
rồi, không thể nào còn bị sa ngã được. Các Ngài cần vào
các nơi trụy lạc tội lỗi để cứu giúp, những ai đang
chìm đắm trong đó, vì vậy đối với các Bồ Tát thì Phật
nói tánh của dâm nộ si là giải thoát.
Kẻ tăng
thượng mạn là những người kiêu căng phách lối, chưa chứng
nói đã chứng, chứng ít nói chứng nhiều. Nếu họ vào những
nơi trụy lạc thì sẽ bị chìm đắm nên Phật khuyên bọn
họ nên lìa dâm nộ si. Còn những người đã chứng đắc
thật thì Phật nói tánh của dâm nộ si là giải thoát: Lời
của Phật không hề mâu thuẫn.
Ðược Ngài
Xá Lợi Phất tán thán, Thiên Nữ không nhận đã chứng đắc,
vì nếu nhận có chứng đắc là kẻ tăng thượng mạn, còn
chấp ngã chấp pháp. Cô Thiên Nữ này không thấy có pháp
để tu có quả vị để chứng, vì chính cô cũng không thật
có. Tùy ý mong cầu, tùy tâm niệm của chúng sinh mà cô hiện
thân Thanh Văn hoặc Bích Chi Phật nói pháp Tiểu Thừa, thật
ra cô chỉ dùng Ðại Thừa để dạy bảo chúng sinh quy về
Nhất Thừa Phật Ðạo. Cô làm theo hạnh Ðại Bi của Ðức
Quán Thế Âm Bồ Tát hóa hiện nhiều thân hình để hóa độ
chúng sinh, không nhất thiết chấp chặt vào một thân hình
nào, một pháp nào, đây cũng là phá ngã phá pháp chấp, dùng
mọi phương tiện, mọi thân hình, mọi pháp môn để hướng
về một mục đích duy nhất: đó là Phật Ðạo. Kinh Pháp
Hoa nói: Vì phương tiện mà chia làm ba thừa, thật ra chỉ
có một Phật Thừa mà thôi. Vì lẽ đó, Cô Thiên Nữ ở tại
nhà ông Duy Ma Cật đã mười hai năm mà chưa từng nghe nói
Pháp Thanh Văn hay Bích Chi Phật, chỉ nghe pháp đại từ đại
bi của Bồ Tát và pháp bất khả tư nghị của Phật. Nhà
này thường hiện ra tám pháp Chưa Từng Có, Khó Ðược:
1) Ánh sáng
sắc vàng chiếu soi ngày đêm không khác: đây không phải là
ánh sáng mặt trời mặt trăng, vì mặt trời chỉ chiếu ban
ngày, mặt trăng chỉ chiếu ban đêm, đây là ánh sáng của
Trí Huệ lúc nào cũng chiếu soi phá tan hắc ám vô minh tội
lỗi.
2) Duy Ma Cật
có nghĩa là Tịnh Danh hay Tịnh Tâm, tâm thanh tịnh sáng suốt.
Vào nhà ông có nghĩa là vào nơi thanh tịnh, giữ tâm thanh
tịnh thì không bị nhiễm ô, không còn tham sân si.
3) Các vị
Trời chuyên tu phước, các Bồ Tát tu huệ lợi tha, chư vị
đến nhóm họp không ngớt nghĩa là phước huệ song tu, làm
hoài không ngừng nghỉ.
4) Thực hành
sáu pháp Ba La Mật và pháp bất thối chuyển của hàng Bồ
Tát vì người quên mình, gặp cảnh nghịch không thối tâm
lui bước.
5) Mọi âm
thanh đều là pháp, pháp âm bất tuyệt, là tiếng nói của
cõi lòng sâu kín nhiệm mầu, của Tâm thanh tịnh, có diệu
dụng khiến người nghe tin hiểu vâng làm.
6) Bốn kho
tàng chứa đầy của báu tượng trưng cho bốn Tâm Vô Lượng:
Từ, Bi, Hỷ, Xả, bốn pháp môn tu của hàng Bồ Tát có mục
đích ban vui cứu khổ, giúp chúng sinh qua sông mê bể khổ,
tới bờ bên kia.
7) Tâm thanh
tịnh nên cảm ứng với chư Phật mười phương, nghe được
Chánh Pháp của chư Phật. Cũng có nghĩa là chư Phật lúc nào
cũng hiện tiền, tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh. Khi
tâm nghĩ lành, làm lành thì Phật Tánh hiện, nhưng khi nghĩ
ác, làm ác thì Phật Tánh ẩn, ví như chư Phật trở về bổn
độ.
8) Cung điện
của các vị Trời là phước báo, cõi Tịnh Ðộ của chư
Phật là công đức, cả hai đều hiện trong nhà, nghĩa là
Tâm thanh tịnh chứa đầy phước báo và công đức, đủ cả
hai phương diện thế gian và xuất thế gian.
Ngài Xá Lợi
Phất hỏi sao Thiên Nữ không chuyển thân nữ thành nam? Theo
quan niệm cổ xưa, người nữ nặng nghiệp hơn người nam,
địa vị trong xã hội và cả trong Giáo Hội Phật Giáo cũng
thua kém, các vị Ni phải tuân theo tám điều luật cung kính
đối với chư Tăng (Bát Kỉnh Pháp), trước khi thành đạo
giác ngộ phải chuyển thành thân nam đã... Nói vậy không
phải khinh chê, phân biệt nữ thua kém nam, mà nên hiểu nữ
tượng trưng cho sự mềm yếu ủy mị, thiếu cương quyết,
còn nam tượng trưng cho sự dõng mãnh cương cường quyết
tâm bền chí. Chuyển nữ thành nam có nghĩa là người tu hành
cần phát thệ nguyện lớn, dõng mãnh tinh tấn tu hành, ròng
rặc mà tiến, gặp khó không lui, giữ tâm như sắt đá không
gì lay chuyển được. Nữ thân hoặc nam thân không quan trọng,
vì thân là giả huyễn, chỉ có trí huệ là hơn hết. Ðoạn
này phá cái bệnh chấp tướng nam nữ, nam hơn nữ kém của
xã hội thời đó, và chủ trương Cần chuyển Tâm hơn Chuyển
Thân. Ngài Xá Lợi Phất còn thấy có tướng nam nữ, còn quan
niệm hẹp hòi nên thân chuyển thành đàn bà. Cô Thiên Nữ
tâm niệm rộng rãi nên biến thành đàn ông. Xong rồi nhiếp
thần lực, hai người trở lại nam nữ như trước, vì Cô
đã dạy cho Ngài Xá Lợi Phất một bài học về bệnh chấp
tướng nam nữ rồi.
Thiên nữ
hóa mình giống như Ngài Xá Lợi Phất và biến Ngài Xá Lợi
Phất thành cô Thiên Nữ, mà Ngài Xá Lợi Phất không sao chuyển
lại được, vì sao? Ngài Xá Lợi Phất tu hạnh Thanh Văn còn
chấp tướng, chưa thoát ra ngoài vòng hình danh sắc tướng,
còn kẹt trong vòng phân biệt nên chưa tự tại biến hóa;
còn Thiên Nữ tu hạnh Bồ Tát không còn chấp trước gì nên
có sức thần thông tự tại biến hiện mọi thân hình. Cô
muốn chứng minh rằng thân nam hay nữ đều là biến hiện,
không phải nam không phải nữ, tất cả đều là giả huyễn
mà thôi.
Trong đoạn
kinh này, Ngài Xá Lợi Phất đóng vai trò chịu thua Thiên Nữ,
dùng phương tiện dạy chúng sinh rằng hàng Thanh Văn còn thấy
có nam nữ, sinh tử, chấp thân có thật, tu hành chứng Niết
Bàn, hết sinh tử. Làm sao bằng trí huệ của Thiên Nữ tu
hạnh Bồ Tát không còn chấp mọi hình tướng, thân là giả
huyễn, sinh tử là giả huyễn. Niết Bàn là giả huyễn, không
chứng không đắc. Các pháp không ở đâu mà ở tất cả,
Bồ Ðề không xứ sở nên không có được. Bồ Đề không
có quá khứ, vị lai và hiện tại đó là phá chấp không gian
và thời gian, đây là đứng trên phương diện tuyệt đối
bình đẳng mà nói. Nhờ Thiên Nữ khai ngộ mà Ngài Xá Lợi
Phất hiểu được lý Ðại Thừa vô phân biệt, vô xứ sở,
siêu thời gian nên Ngài nói tướng đàn bà không ở đâu mà
ở tất cả, Ngài không đắc quả A La Hán mà chính là đắc.
Thiên Nữ
giúp Ngài Xá Lợl Phất phá chấp có sinh có tử, vì theo tướng
trạng thì có sinh ra, có già có chết, nhưng đứng về bản
thể thì không sinh diệt, chỉ tùy duyên biến hiện. Ví như
nước với sóng, có gió thổi thì là sóng, hết gió là nước.
Thiên Nữ cũng phá chấp có tu có chứng quả Vô Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác, vì có gì là được đâu (vô sở đắc);
đứng về tướng thì có chúng sinh tu các pháp môn rồi chứng
quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, đứng về Thể Tánh
thì tất cả là Một, là Không, là Chân Như, là Bồ Ðề,
người tu hành giác ngộ trở về cái tánh sẵn có của mình.
Chúng sinh vốn sáng suốt, vốn giải thoát, vì vô minh sinh
khởi, một niệm bất giác nổi lên, tự cho là mê muội, mang
dây tự trói, cảm thấy sinh tử trầm luân, khi giác ngộ thấy
mình trở về quê cũ, ung dung tự tại. Ðức Thích Ca khi thành
đạo dưới cội Bồ Ðề, Ngài nói: “Lạ thay! Lạ thay! Các
chúng sinh vốn đầy đủ đức tướng của Như Lai.”
Thiên Nữ
phá chấp thời gian, thường được chia làm ba thời kỳ: quá
khứ, hiện tại, vị lai là để dễ phân biệt, tạm nói mà
thôi, chứ Bồ Ðề (giác ngộ, sáng suốt) không có ba thời,
mê là chúng sinh, giác là Phật. Khi mê thì thấy có Phật,
Bồ Tát sáng suốt, có chúng sinh mê mờ, có không gian vô tận
(nhiều cõi, nhiều cảnh giới khổ hoặc vui), có thời gian
vô cùng (quá khứ, hiện tại, vị lai), nhưng khi giác ngộ
thì thấy tất cả chúng sinh đều là Phật (đã thành hoặc
sẽ thành), không gian và thời gian đều nằm trong một điểm
gọi là Ðương Xứ, tất cả là Một, Nhất Thiết Tức Nhất,
Sự Sự Vô Ngại của Kinh Hoa Nghiêm.
Không đặng
mà đặng: tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh, nay giác
ngộ thấy mình trở về ngôi vị cũ, có gì là mới đặng
đâu.
Ông Duy Ma
Cật bảo Ngài Xá Lợi Phất rằng: Thiên Nữ đây chính là
Bồ Tát thị hiện theo bổn nguyện để giáo hóa chúng sinh,
chứ thật ra đã có thần thông du hý, chứng vô sinh nhẫn,
tùy ý ứng hiện thân nữ mà thôi.
Thâm ý của
đoạn kinh này nhấn mạnh tất cả mọi chúng sinh, dù nghiệp
nặng (mang thân nữ), dù chỉ ham tu phước (các vị Trời)
đều có thể phát tâm tu hạnh Bồ Tát được.