IV
Phẩm
BỒ TÁT
Lúc bấy
giờ Phật bảo Bồ Tát Di Lặc: Ông đi đến thăm bệnh ông
Duy Ma Cật, Bồ Tát Di Lặc từ chối vì lúc trước Ngài nói
hạnh bất thối chuyển cho các vị Vua Trời ở cõi Trời Ðâu
Suất thì ông Duy Ma Cật đến hỏi về việc Ngài Di Lặc được
thọ ký Bồ Ðề, ông Duy Ma Cật đứng về Pháp Tánh mà hỏi,
Ngài Di Lặc sở trường tu Duy Thức là Pháp Tướng nên không
trả lời được.
Bồ Tát,
nói cho đủ là Bồ Ðề Tát Ðỏa: phiên âm chữ Phạn Bodhisatra,
dịch nghĩa là Giác Hữu Tình là loài hữu tình đã giác ngộ
lại hay làm cho chúng sinh cũng được giác ngộ.
Bồ Tát có
10 cấp bậc, từ Sơ Ðịa đến Thập Ðịa, cao thấp do công
phu tu chứng, gồm có ba giai đoạn:
1) Bồ Tát
sơ phát tâm là những người mới phát tâm tu hành theo Ðại
Thừa, lấy việc lợi tha, vì người quên mình, làm phương
châm.
2) Bồ Tát
đã phát tâm lâu rồi, đã thâm nhập giáo lý Ðại Thừa,
tu chứng các cấp Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng,
cho đến Thập Ðịa.
3) Bồ Tát
Ðẳng Giác và Diệu Giác, dứt trừ Trần Sa Hoặc và Vô Minh
Hoặc là tới chỗ giác ngộ hoàn toàn thành Phật. Khi chỉ
còn một đời nữa là sẽ thành Phật thì được gọi là
Nhất Sinh Bổ Xứ, ví như Bồ Tát Di Lặc.
Bồ Tát còn
có thể được chia làm hai loại:
1) Siêu phàm
Bồ Tát là những vị Bồ Tát đã chứng quả vị cao trong
Thập Ðịa, thường thị hiện ở cõi đời để dạy dỗ
và hóa độ chúng sinh, dưới nhiều hình tướng, nhưng người
đời chẳng ai biết đó là Bồ Tát.
2) Phàm phu
Bồ Tát là những người như chúng ta, hãy còn là phàm phu
nhưng phát tâm giữ giới Bồ Tát, 10 giới trọng và 48 giới
khinh, tu hạnh lợi tha Ðại Thừa, diệt lòng kiêu mạn ngã
chấp. Các Phật Tử xuất gia và tại gia đều có thể xin
thọ giới Bồ Tát, nhưng điều cần yếu là phải dám hy sinh
những gì mình có để cứu giúp chúng sinh: tiền của, thuốc
men, y phục, thời giờ, kinh sách giáo lý, có khi cả một phần
thân thể hay tính mạng nữa. Hy sinh tiền bạc, thời giờ,
vật dụng để làm lợi ích chúng sinh thì dễ, nhưng nếu
cần thì phải chia xẻ máu, thận. mắt, da, tủy... cho người
khác, hoặc thí thân cho cọp đói, hoặc giết một người
để cứu nhiều người riêng mình chịu tội báo,... đó là
những việc khó làm, nhưng Bồ Tát vẫn hoan hỷ thực hành,
quên mình vì người.
Hơn nữa,
giữ giới Bồ Tát là bắt buộc phải ăn chay trường, vì
không lẽ gì Bồ Tát còn ăn thịt chúng sinh. Ðiều căn bản
của đạo Bồ Tát là tự lợi lợi tha, tự giác giác tha,
luôn luôn quên mình vì chúng sinh, hy sinh cá nhân mình để
làm lợi ích cho chúng sinh, có làm được như vậy thì mới
là giữ giới Bồ Tát một cách chân cnánh. Ðừng bao giờ
coi việc thọ giới Bồ Tát như một huy chương đeo vào để
được người khác khen ngợi, đừng thọ giới Bồ Tát nếu
chưa ăn chay trường. Trừ trường hợp các vị đại Bồ Tát
thị hiện nghịch cảnh để hóa độ nghịch duyên thì không
kể.
Di Lặc, phiên
âm chữ Phạn Maitreya, họ Từ thị, tên là A Dật Ða (Ajita),
là vị đại Bồ Tát được Ðức Thích Ca thọ ký đời sau
sẽ thành Phật ở Hội Long Hoa, hiện đang tu ở cõi Trời
Đâu Suất nội viện, Ngài chuyên giảng môn Duy Thức Học,
phân tích tâm thức ra Tâm Vương và Tâm Sở. Ðức Di Lặc
thường thị hiện ở cõi trần để hóa độ chúng sinh, nhưng
không ai hay biết, chỉ khi nào ngài thị tich để lại bài
kệ thì người ta mới biết đó là Bồ Tát Di Lặc. Một hình
bóng quen thuộc nhất với chúng ta là Ngài đã thị hiện làm
một vị sư mập mạp, nét mặt hoan hỷ, hay đeo một cái túi
vải lớn trong đựng nhiều kẹo bánh đồ chơi phân phát cho
trẻ em rồi dạy chúng niệm Phật, do đó được gọl là Bố
Ðãi Hòa Thượng. Còn đối với người lớn thì Ngài dạy
môn Duy Thức, trước khi nhập diệt, Ngài để lại bài kệ
cho biết Ngài là Bồ Tát Di Lặc hiện thân. Người ta thường
đúc tượng Ngài Di Lặc mập mạp bụng phệ, cười hoan hỷ
mặc cho sáu đứa trẻ bám quanh, một đứa chọc mắt, một
đứa chọc tai, một đứa chọc mũi, một đứa chọc miệng,
một đứa chọc ngực, một đứa chọc bụng, tượng trưng
cho sáu thức: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Nếu mình để
cho sáu thức đó dẫn dụ làm điều sái quấy thì sáu đứa
trẻ tượng trưng cho Lục Tặc, sáu tên giặc. Nếu biết đối
trị sáu thức, kèm chặt không cho loạn động vọng niệm,
chuyển Thức thành Trí, thì sáu đứa trẻ tượng trưng cho
Lục Thức Tâm Vương chuyển thành Thành Sở Tác Trí và Diệu
Quán Sát Trí. Thâm ý của bức tượng là Ngài Di Lặc đã
chứng được Duy Thức Tánh, điều phục sáu căn (mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý), không để sáu trần (sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp) chi phối quyến rũ, hàng phục lục lặc, tu
hành Lục Ðộ, diệt hết đau khổ vô minh, được an vui tự
tại, tâm hoan hỷ.
Hạnh bất
thối chuyển là tâm tu hành tinh tấn chẳng còn lui sụt chuyển
rời nữa, cứ ròng rặc mà tiến tới chỗ giải thóat.
Ðoạn này,
Cư Sĩ Duy Ma Cật đứng về Pháp Tánh mà luận nên không phân
biệt thời gian có quá khứ, hiện lại, vị lai. Ðứng về
tướng, tương đối mà nói thì thời gian vô thường, quá
khứ đã qua, hiện tại không dừng, vị lai chưa đến, nếu
Ngài Di Lặc còn một đời sẽ thành Phật thì là đời nào?
Ðứng về Tánh, tuyệt đối mà luận thì thời gian là vĩnh
cửu, là Như. Thời gian được người đời chia ra làm giây,
phút, giờ, ngày, tháng, năm, thế kỷ... là do ước lệ tùy
khái niệm tương đối mà đặt ra. Tháng bẩy ở Bắc Bán
Cầu là mùa hè, nhưng ở Nam Bán Cầu là mùa lạnh. Ðối với
người đang sung sướng thì lúc nào cũng là mùa xuân tươi
vui, còn đối với người khổ đau thì ngày nào cũng là mùa
đông ảm đạm buồn bã. Vậy chẳng có gì là đồng nhất
cả. Người tu hành quy tất cả về Tâm nên không phân biệt
thời gian và không gian, thấy tất cả tập trung vào một điểm
gọi là Ðương Xứ, vạn niên nhất niệm, đặt cả thế giới
trong hạt cải (Kinh Hoa Nghiêm).
Ðoạn kinh
sau so sánh Ngài Di Lặc với chúng sinh. Ðứng về tướng thì
Ngài Di Lặc và chúng sinh khác nhau xa, Ngài Di Lặc là vị Ðại
Bồ Tát sắp thành Phật, chúng sinh là phàm phu còn sinh tử
luân hồi nhiều đời nhiều kiếp, nhưng đứng về Tánh thì
hai bên cùng có Phật Tánh bình đẳng như nhau, là một. Ðứng
về tướng thì thấy có chúng sinh để độ, có pháp môn tu,
có quả vị chứng, có phát tâm bồ đề vô thượng chánh
đẳng chánh giác, có phân biệt pháp lành pháp dữ, có thời
gian và không gian, có tâm bất thối chuyển đối với sự
thối chí nản lòng của chúng sinh, có phiền não phải đoạn,
có chướng ngại phải vượt qua. Nhưng đứng về Tánh thì
Ngài Di Lặc và chúng sinh đều có Trí Huệ sẵn có sáng suốt
Như nhau, Di Lặc được gì thì chúng sinh được nấy, Di Lặc
được diệt độ thì chúng sinh cũng diệt độ. Tánh đó rốt
ráo vắng lặng, chính là Niết Bàn, vậy Ngài Di Lặc không
cần phải dạy hạnh Bất Thối Chuyển nữa, vì không có thối
lui, không có phân biệt, không cần phát tâm, chẳng có gì
là được cả. Chúng sinh đều có đủ Ðức Tánh Như Lai,
chỉ vì mê vọng điên đảo mà tưởng là không có. Chúng
sinh phân biệt bồ đề là giác đối với vô minh là mê, nhưng
đứng về Tánh thì vượt qua mọi quan niệm giác mê, biết
tất cả là giả, là không thật có thì chẳng còn tham đắm
thủ xả, khi biết có viên ngọc báu trong túi áo thì không
mong cầu, không tham đắc gì nữa.
Nếu dùng
vô sinh mà được thọ ký, vô sinh là cái bất sinh bất diệt
mà ai cũng có, đó là khả năng thành Phật, thì Di Lặc được
thọ ký, chúng sinh cũng được thọ ký, nếu Di Lặc được
quả vô thượng chánh đẳng chánh giác, tất cả chúng sinh
cũng đều được, vì tất cả chúng sinh chính là tướng bồ
đề. Quan niệm về bồ đề của phàm phu thường là sai lầm:
người tại gia thì cúng vái cầu xin, còn người xuất gia
thì chắp nhặt các hình lướng, không biết tùy duyên phương
tiện uyển chuyển thực hành các pháp môn, mỗi người có
một quan niệm về bồ đề, mong được bồ đề, đó là còn
chấp tướng, làm sao thấy bồ đề? Cư Sĩ Duy Ma Cật lột
bỏ mọi quan niệm đó, phá tướng nhập Tánh, ly các duyên,
lìa vọng tưởng, thuận Chân Như, trụ Pháp Tánh, đồng hư
không... Bồ Ðề chính là Bản Tâm thanh tịnh, xuất gia tại
gia ai cũng sẵn có, ai cũng có khả năng đạt tới Bồ Ðề.
Vậy chúng ta đừng cầu xin gì cả vì cầu được thì kiêu
căng, không được thì oán hận, cứ theo luật nhân duyên mà
vui với những gì mình đang có, đó là Vô Sở Cầu Hạnh.
Tóm lại,
Ngài Di Lặc đứng về Duy Thức mà phân biệt có tốt xấu
lành ác, phát tâm và thối chuyển, có tu có chứng, Ngài tượng
trưng cho Sai Biệt Trí, còn Cư Sĩ Duy Ma Cật đứng về Pháp
Tánh, Bản Thể thì không còn phân biệt gì nữa, mà thấy
tất cả Không Hai (Bất Nhị), tượng trưng cho Căn Bản Trí.
Xin đừng
lầm tưởng Bồ Tát Di Lặc chỉ thâm hiểu và thực hành Duy
Thức mà chưa có Trí Huệ, đoạn kinh ở đây chỉ muốn nói
Thức chưa siêu việt bằng Trí, vì Thức còn phân biệt. Trí
thì biết trực tiếp ngay không cần phân biệt, chứ thật
ra thì Bồ Tát Di Lặc chỉ còn một đời sẽ thành Phật,
chắc chắn Ngài đã đầy đủ trí huệ sáng suốt lắm rồi.
Ðoạn kinh này chỉ đưa ra hai đường lối tu hành, một theo
tông phái Pháp Tướng, một theo tông phái Pháp Tánh.
Sau khi Bồ
Tát Di Lặc từ chối không đi thăm bệnh, Ðức Phật bảo
Ðồng Tử Quang Nghiêm đến thăm ông Duy Ma Cật, Ðồng Tử
cũng từ chối, không kham lãnh nhiệm vụ vì nhớ lại ngày
trước, Ðồng Tử gặp ông Duy Ma Cật, hai người luận bàn
ý nghĩa của Ðạo Tràng, Ðồng Tử cảm thấy còn thấp kém
thua sút nên nay không dám đi thăm bệnh.
Ðồng Tử
có nghĩa đen là trẻ thơ, còn có nghĩa là người tu hành từ
khi còn ít tuổi, không phạm dâm dục, giữ hạnh thanh tịnh
trọn đời, nhờ đó đến khi nhiều tuổi vẫn được gọi
là Ðồng Tử, không nhiễm ô. Về nghĩa bóng, Ðồng Tử ở
đây là người đang tu Bồ Tát Ðạo nhưng chưa giác ngộ hòan
toàn, ví như trẻ thơ chưa thành người lớn, chưa trưởng
thành. Cũng có nghĩa là người tu hành chân chánh, gột rửa
hết các trần cấu phiền não, tâm hồn thanh tịnh sáng trong
như trẻ thơ; trong Ðạo Học có câu: Ðồng Ðồng Vãng Lai,
nghĩa là cùng trẻ thơ qua lại với nhau. Chữ Ðồng thứ nhất
có nghĩa là cùng, chữ Ðồng thứ hai (chữ Hán viết khác
nhau) là đồng tử, trẻ thơ.
Ở đây Ðồng
Tử Quang Nghiêm là một vị Bồ Tát tu hành chứng quả, dùng
ánh sáng của trí huệ và công đức để trang nghiêm, nên
có tên là Quang Nghiêm. Người đời thường dùng đồ trang
sức vàng ngọc, dầu thơm, quần áo... để làm đẹp cho thân
hình, thêm phần trang nghiêm oai vệ khiến người chung quanh
phải nể sợ hoặc khen ngợi. Ðồng Tử Quang Nghiêm dùng trí
huệ sáng suốt và công đức tu hành để trang nghiêm Pháp
Thân, khiến mọi lòai chúng sinh đều kính phục. Các tranh
tượng Phật và Bồ Tát thường được vẽ có hào quang quanh
đầu hoặc bao trùm toàn thân, tượng trưng cho trí huệ sáng
suốt thanh tịnh đối với vô minh tối tăm nhiễm ô.
Ðạo Tràng
là nơi Ðức Thế Tôn thành Ðạo (Bồ Ðề Ðạo Tràng), là
nơi Phật và các đệ tử cư ngụ (Trúc Lâm, Xá Vệ, Tỳ Xá
Ly...),nơi truyền dạy phổ biến Phật Pháp như các chùa, các
Phật Học Đường đó là những nghĩa đen. Nhưng ở đây,
Cư Sĩ Duy Ma Cật đứng về Tánh mà luận theo nghĩa bóng thì
tất cả pháp đều là đạo tràng, bất cứ pháp môn hạnh
tu gì làm lợi ích cho chúng sinh, đưa đến chỗ giác ngộ
đều là đạo tràng, vì khế hợp với Chân Tâm, Phật Tánh.
Nếu đã biết tất cả các pháp đều là đạo tràng, tất
cả các pháp đều là Phật Pháp, thì đạo tràng ở khắp
mọi nơi, chỗ nào cũng tu được, ở nhà ở chợ cũng tu,
không cứ phải vào chùa mới tu. Tại gia cũng tu được, việc
tu sửa không phải chỉ dành riêng cho giới xuất gia. Tu là
sửa, tu tâm dưỡng tánh, tu sửa tâm mình, trưởng dưỡng
tánh mình, thì nhà mình, gia đình mình là Ðạo Tràng, mà cao
siêu hơn hết, phải nói Tâm mình chính là Ðạo Tràng vậy.
Tất cả
các Bồ Tát dùng tâm ngay thẳng chân chánh (trực tâm) mà thực
hành sáu pháp Ba La Mật (Lục Ðộ), bốn Tâm Vô Lượng (Từ,
Bi. Hỷ, Xả)... để hóa độ chúng sinh, mọi việc làm của
các Ngài dù thuận dù nghịch cũng đều lành tốt, đều là
phương tiện dẫn dắt chúng sinh tới cứu cánh, ví như các
Ngài vừa từ Ðạo Tràng mà đến, vừa được nghe lời Phật
dạy nay đem nói lại cho chúng sinh nghe, hoặc nói cao hơn, các
Ngài đem Ðạo Tràng tới cho chúng sinh, đem chúng sinh thâm
nhập Ðạo Tràng.
Khi biết
rõ tất cả các pháp đều là Ðạo Tràng, đều là Phật Pháp
thì không còn phân biệt pháp lành pháp dữ, khéo sử dụng
phương tiện, khéo dùng thì pháp nào cũng tốt cả. Thí dụ:
phiền não là đạo tràng; mới nghe thì hơi chướng tai, các
pháp lành là đạo tràng thì đúng, còn phiền não khổ đau
thì làm sao là đạo tràng được. Khi mình đã trải qua cơn
phiền não đau khổ thì mình nếm biết mùi vị nó ra sao, biết
rõ sự thật đúng với luật nhân quả vô thường vô ngã
nghiệp báo, thì tâm không oán than trách móc khổ não nữa,
không còn sợ sệt; biết rõ nguồn gốc của phiền não là
chính do tâm mình thì sẽ cảm thấy nhẹ nhàng cởi mở, nghịch
cảnh giúp mình tiến tu, mình đau khổ phiền não rồi thì
dễ thông cảm người khác, thấy người khác phiền não thì
mình thương, mình giúp, vậy phiền não chính là đạo tràng,
không sai. Người tu chuyển phiền não thành bồ đề là vậy.
Biết các
pháp là đạo tràng, nhưng Pháp vốn là Không, pháp lành còn
phải bỏ huống là pháp dữ, vậy xin đừng chấp pháp, đừng
chấp có pháp tu, có pháp lành hóa độ chúng sinh, có mình
cứu độ, có chúng sinh được độ, có quả vị được chứng,
phá hết ngã chấp và pháp chấp, đó là mình đang ở trong
Ðạo Tràng. Ðồng Tử Quang Nghiêm thị hiện còn chấp tướng
trạng bề ngoài, còn chăm tu các pháp lành để độ chúng
sinh, còn thấy có hình tướng người xuất gia tu ở đạo
tràng, nay bị Cư Sĩ Duy Ma Cật đứng vè Tánh mà nói, nhất
cử nhất động đều là từ nơi đạo tràng mà ra, ở nơi
Phật Pháp vậy, Ðồng Tử không tranh luận nổi nên chẳng
dám đến thăm bệnh.
Mục đích
đoạn này là phá cái chấp phải vào chùa mới tu, phải xuất
gia mới là đi tu, mà ý muốn nói ở đâu cũng tu được, tu
Tâm quan trọng hơn tu hình thức ngoài, Tâm chính là Ðạo Tràng
vậy.
Phật bảo
Bồ Tát Trì Thế đi thăm bệnh, vị Bồ Tát này cũng từ chối
vì nhớ lạl lúc trước, Thiên Ma Ba Tuần đem một muôn hai
ngàn thiên nữ dâng cho Ngài, Bồ Tát không dám nhận, bỗng
thấy trưởng giả Duy Ma Cật đến bảo đem dâng cho ông, rồi
ông nói pháp cho họ được pháp vui và pháp môn Vô Tận Ðăng,
dù ở cung ma cũng hóa độ được các ma khác. Bồ Tát Trì
Thế thấy ông Duy Ma Cật có thần lực tự tại như thế nên
không kham lãnh đến thăm bệnh.
Trì là nắm
giữ, Thế là đời. Trì Thế là nắm giữ, giữ gìn Phật
Pháp để đem hóa độ chúng sinh trong đời, giữ gìn Phật
Pháp bền lâu ở đời.
Ba Tuần là
một vị Ma Vương có nhiều thần thông, có ác ý, làm các
việc ác cám dỗ người tu hành phạm giới, tiêu tan giới
thân huệ mạng. Thiên Ma Ba Tuần cũng phá Thái Tử Tất Đạt
Đa rất nhiều, trước khi Ngài thành Phật.
Có bốn loại
ma:
1) Tử ma:
người chết, phần tinh thần thường gọi là linh hồn chưa
đi tái sinh, còn quanh quẩn đợi chờ, có thể hiện hình cho
thấy.
2) Ngũ ấm
ma: năm phần sắc, thọ, tưởng, hành, thức bị trục trặc
mất quân hình, khiến người ta cảm thấy khó chịu, bứt
rứt, sợ hãi.
3) Phiền
não ma: trong tâm khởi lên các phiền não buồn rầu.
4) Thiên
ma: loại ma này có nhiều phước nên được ở các cõi Trời,
hưởng ngủ dục lạc lấy làm vui sướng, thường hay gây
chướng ngại cám dỗ phá những người đã tu hành cao.
Ngũ dục
lạc là năm thứ ham muốn khoái lạc vui vẻ, đó là tài, sắc
danh, thực, thùy: tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon,
ngủ nghỉ.
Trong đoạn
kinh này, Thiên Ma Ba Tuần dùng sắp đẹp, đàn nhạc ca múa
của các Thiên Nữ để cám dỗ Bồ Tát Trì Thế, vị này
biếl sắc dục là nhơ uế và nguy hiểm, là vật phi pháp có
thể làm hại người tu hành tiêu tan giới đức nên không
nhận. Vả lạl, Bồ Tát Trì Thế lại còn nhận lầm Ba Tuần
là Trời Ðế Thích, khuyên ông này có phước chớ buông lung
mà phải tu pháp bền chắc. Các vị Trời vẫn chưa ra khỏi
vòng luân hồi, còn chịu luật vô thường chi phối, cần tu
hành theo chánh đạo sẽ được thân bất hoại, mạng vô cùng,
của vô tận, đó là ba pháp bền chắc. Bồ Tát Trì Thế chưa
có mắt trí huệ nên không phân biệt Thiên Ma với Vua Trời,
còn Cư Sĩ Duy Ma Cật thấu suốt sự giả trang mập mờ này,
bảo Thiên Ma đem dâng Thiên Nữ cho ông, ông sẽ nhận mà không
sợ. Bồ Tát Trì Thế không biết là ma, và cũng chưa đủ
bản lãnh đối trị ngũ dục lạc, nên tránh xa là hơn, không
dính dáng, không phải việc của Ngài.
Còn trưởng
giả Duy Ma Cật biết rõ là ma, ông không còn đắm nhiễm ngũ
dục lạc nên chẳng sợ bị cám dỗ, ông nhận các Thiên Nữ
để giáo hóa họ, khiến họ phát tâm vô thượng chánh đẳng
chánh giác, họ phát ý đạo, có pháp vui, không ham ngũ dục
lạc nữa. Ðó chính là ý nghĩa của câu kinh: dâm phòng tửu
điếm vô phi thanh tịnh đạo tràng, nghĩa là phòng dâm quán
rượu chẳng khác đạo tràng thanh tịnh, Bồ Tát vào đó mà
không đắm nhiễm, vào đó để tùy duyên hóa độ những người
đang chìm đắm trong đó cả kẻ bán lẫn người mua.
Pháp vui của
Bồ Tát là việc tu hành thanh tịnh sáng suốt, làm lành lánh
dữ, quên mình giúp đở người khác (vô ngã lợi tha), lòng
không chấp trước chướng ngại. Khi Ma Ba Tuần xin lại các
Thiên Nữ, ông Duy Ma Cật liền trả lại ngay, vì tâm đã hỷ
xả, không còn chấp thủ gì. Các Thiên Nữ sau khi được ông
Duy Ma Cật giáo hóa đã thức tỉnh, không muốn trở về cung
ma nữa, vì đã ra khỏi chỗ nhơ uế thì không muốn trở vào.
Ngài Duy Ma Cật liền dạy bọn họ pháp môn Vô Tận Đăng,
dù ở cung ma, đạo tâm cũng chẳng bị tiêu mất mà còn hóa
độ cho các Thiên Nữ khác, thì đó là báo ơn Phật, làm lợi
ích cho tất cả chúng sinh.
Vô Tận
Ðăng là ngọn đèn sáng không bao giờ tắt hết, đèn này
là trí huệ sáng suốt của người tu hành. Có trí huệ dù
bất cứ làm gì cũng lành tốt, không làm ác được nữa,
dù ở hoàn cảnh nào cũng không bị nhiễm ô. Người Việt
Nam có Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tảng tu hành tới chỗ
vô phân biệt, ăn chay ăn mặn cũng vậy vì tâm không động,
luôn nhắm hóa độ chúng sinh. Nhưng người nào chưa tu tới
chỗ tâm thanh tịnh thì đừng bắt chước Ngài, mình ăn mặn
còn thấy ngon rồi ngụy biện là vô phân biệt thì tội nặng
lắm đấy. Tuệ Trung Thượng Sĩ làm thầy dạy Ðạo cho Vua
Trần Nhân Tôn, vị Vua anh hùng này sau khi thắng quân Mông
Cổ, đã lên núi Yên Tử xuất gia, lập phái Thiền Trúc Lâm
và được tôn xưng là Ðệ Nhất Tổ.
Ðoạn kinh
này nhấn mạnh vào điểm Bồ Tát sẵn sàng đi vào mọi nơi,
sống trong mọi hoàn cảnh sướng hoặc khổ, nhận cả kẻ
oán người thân, mà tâm vẫn tự tại, chỉ nhằm mục đích
cứu giúp chúng sinh.
Một đệ
tử hỏi Ngài Triệu Châu, một thiền sư cao Tăng đời nhà
Ðường:
- Có thể
nào một Thánh Tăng như Sư Phụ sa vào địa ngục không ?
- Thầy sẽ
là người đầu tiên đi vào đó.
- Một người
phước huệ trang nghiêm như Thầy sao vào địa ngục được?
- Nếu Thầy
chẳng vào thì ai giáo hóa cứu vớt con đây?
Các Bồ Tát
đã có trí huệ Ba La Mật thì không còn bị sa ngã trước
mọi cám dỗ, tâm không dao động trong mọi cảnh thuận hoặc
nghịch, nên các Ngài không sợ hãi, không bị ngăn ngại. Phàm
phu chưa có đủ bản lãnh thì nên tránh xa nơi xấu xa tội
lỗi thì hơn. Người tu hạnh Bồ Tát tuy chưa được như Cư
Sĩ Duy Ma Cật nhưng nên cố gắng bắt chước Ngài vài ba phần,
gặp phiền não mà không bỏ được thì cứ lãnh, rồi tùy
duyên mà hóa giải, sử dụng, biến thành bồ đề, an lạc.
Ði ra đường thấy người đẹp thì cứ nhìn không sao, giữ
tâm không ham ái dục, quán sát người đó như mẹ, như chị
thì hết ham muốn, được thảnh thơi. Khi biết là ma, là phiền
não cám dỗ thử thách thì hết si mê tham dục, hết ái nhiễm,
mà chuyển ma thành Phật, chuyển ma cung thành Tịnh Ðộ, đây
là một tư tưởng rất tích cực, không xa lánh cuộc đời
phiền não khổ đau mà nhẩy thẳng vào đời để giúp đời,
ở đâu Bồ Tát cũng tu được. Các Thiên Nữ đã được Cư
Sĩ Duy Ma Cật dạy bảo tu hành, được hiểu biết sáng suốt,
liền theo ma Ba Tuần trở về Thiên Cung để hóa độ các Thiên
Nữ, ma nữ khác, đó là tự giác giác tha, tự lợi lợi tha.
Ở đời
chúng sinh có tài thì cũng có tật, khi chung đụng với ngườì
khác, chúng ta ráng học cái tài của họ và chịu đựng cái
tật, rồi rút kinh nghiệm chuyển hóa lần lần thì cái dở
cũng thành hay. Dùng người như dùng gỗ, gỗ lớn thì làm
cột kèo, gỗ nhỏ thì làm bàn ghế, gỗ vụn thì làm củi
đun, nếu bỏ đi thì uổng. Ðừng nói suông mà phải làm,
mình làm trước rồi người khác sẽ bắt chước làm theo,
tu Bồ Tát Ðạo là phải lợi tha, quên mình giúp người, mình
có hết tham sân si thì mới dạy người khác trừ tham sân
si được đó là thân giáo, đem thân mình, lối sống của
mình ra dạy người khác.
Sau khi Bồ
Tát Trì Thế từ chối, Ðức Phật bảo Trưởng Giả Tử Thiện
Ðức đi thăm bệnh, ông này cũng từ chối vì trước kia,
ông lập hội đại thí, cúng dường người tu hành và bố
thí cho nhửng kẻ nghèo đói, thì Cư Sĩ Duy Ma Cật đến bảo
ông rằng tài thí không bằng pháp thí, người bố thí dùng
tâm bình đẳng thí cho người ăn xin hèn hạ xem cũng như tướng
phước điền của Như Lai, ông Thiện Ðức thấy mình thua
sức biện tài trí huệ của Cư Sĩ Duy Ma Cật nên không kham
lãnh đến thăm bệnh.
Trong Phẩm
Bồ Tát này, ba vị đầu (Bồ Tát Di Lặc, Ðồng Tử Quang
Nghiêm, Bồ Tát Trì Thế) là Bồ Tát xuất gia, còn vị thứ
tư Trưởng Giả Tử Thiện Ðức là Bồ Tát tại gia, nên có
nhiều tiền bạc của cải lập hội đại thí.
Thiện Ðức
là người làm nhiều việc lành tốt, vun trồng nhiều phước
báo công đức. Trưởng Giả Tử Thiện Ðức cúng dường các
vị tu hành chân chánh cũng như ngoại đạo, bố thí cho những
kẻ nghèo cùng khốn khổ, nhưng Cư Sĩ Duy Ma Cật đến bảo
rằng tài thí chưa rốt ráo, pháp thí quý gía hơn.
Tài thí là
đem của cải vật chất (tiền bạc, quần áo, đồ ăn, thuốc
men, nhà cửa ruộng vườn, châu báu vàng ngọc...) ra cúng dường
người tu hành và cứu giúp người nghèo khó, dĩ nhlên là
có đem lại phước báo, người thực hành tài thí sẽ đươc
hưởng quả báo lành trong đời nay và nhiều đời khác.
Pháp thí
là đem những pháp môn tu hành chân chánh chỉ dạy cho người
ta thực hành tu sửa thân tâm, hướng về giác ngộ và giải
thoát. Thuyết giảng giáo lý, dạy lễ bái niệm Phật tu Thiền,
biếu tặng kinh sách đều là pháp thí, an ủi người đau khổ,
khuyên giải kẻ ác độc mê mờ, cảnh tỉnh người tham dục
nóng giận.... cũng là pháp thí.
Tài thí đem
an vui cho thân, pháp thí đem an vui cho tâm, mà tâm quan trọng
hơn thân nhiều. Trong Kinh Pháp Hoa có câu: Ðem của báu đầy
ba lần ngàn đại thiên thế giới ra bố thí cúng dường cũng
không bằng Pháp cúng dường, đem một câu kinh, một bài kệ,
một bài chữ ra dạy chúng sinh. Của báu dù nhiều đến đâu
cũng là vô thường, tiêu mãi cũng hết, nên gọi là giả huyễn,
không thật có, không bền lâu, có khi còn đem lại phiền não
trái ngược. Pháp thí đem lại an vui Niết Bàn, hạnh phúc
chân thật, lợi mình lợi người, lâu dài đời này đời
sau. Pháp thí gồm có bốn Tâm Vô Lượng (Từ, Bi, Hỷ, Xả),
sáu pháp Ba La Mật (Lục Ðộ), Không, Vô Tướng, Vô Tác...
Ðược Cư
Sĩ Duy Ma Cật hướng dẫn, ông Thiện Ðức được tâm thanh
tịnh liền đảnh lễ và cởi chuỗi ngọc đáng giá trăm ngàn
lạng vàng đem dâng cúng cư sĩ, vị này không chịu lấy, ông
Thiện Ðức năn nỉ xin Ngài cứ nhận tùy ý Ngài cho. Cư sĩ
Duy Ma Cật chia chuỗi ngọc làm hai phần, một phần đem cho
người ăn xin hèn hạ nhất trong hội, một phần đem dâng
Ðức Nan Thắng Như Lai. Câu truyện này giống trong Kinh Pháp
Hoa. Bồ Tát Vô Tận Ý dâng chuỗi ngọc lên Bồ Tát Quán Thế
Âm, vị Ðại Bồ Tát này chia làm hai phần, một phần cúng
dường Ðức Phật Thích Ca, một phần cúng dường tháp Phật
Ða Bảo.
Nan Thắng
là khó thắng. Chúng sinh phàm phu thường có ý thức hay phân
biệt cao thấp, sang hèn, quý tiện... nay bảo phải tu vô phân
biệt thì thật là khó; điều gì khó làm mà làm được thì
mới là quý, khó hiểu mà hiểu được thì mới là hay, là
giỏi. Ý thức hay phân biệt, xúi giục chúng ta phân chia giai
cấp, quý trọng người sang, khinh rẻ người nghèo, chúng ta
thường nghe theo ý thức đó, để cho ý thức chi phối hành
động, ý thức đã thắng, điều khiển chúng ta. Nay nếu chúng
ta biết chuyển ý thức thành trí huệ sáng suốt vô phân biệt
thì chúng ta đã thắng lại nó, tuy khó mà làm được mới
quý, khó thắng mà thắng được mới tài, danh từ Nan Thắng
có nghĩa ẩn như vậy. Ðức Thế Tôn dạy: Chiến thắng trăm
ngàn quân địch không khó bằng điều phục tâm mình. Cúng
dường Phật hoặc bố thí cho kẻ ăn xin mà không khởi tâm
phân biệt, chỉ một lòng đại bi bình đẳng, không ham quả
báo, đó gọi là đầy đủ Pháp Thí vậy. Thật là cao quý
siêu việt, không còn chấp trước mọi hình tướng ngã pháp,
vô cầu, vô đắc, pháp thí quý hơn tài thí ở chỗ đó, nhưng
thật là khó làm. Trong kinh sách cũng có câu: bố thí cho chúng
sinh tức là cúng dường mười phương chư Phật, vì tất cả
chúng sinh đều có Phật Tánh, đều là Phật sẽ thành, Pháp
Thí vô phân biệt là vậy.
Nói dễ làm
khó, người tu hành phải làm những gì mình nói, tránh bệnh
nói suông, nếu nói nhiều nói cao mà chẳng làm được gì
thì chỉ để người ta chê cười, tổn hại cho cả kẻ nói
lẫn người chê không lợi gì cho việc truyền bá giáo pháp.
Muốn thực hành pháp thí trước hết mình phải có trí huệ
sáng suốt, hiểu biết thâm sâu rồi đem cái sự sáng suốt
đó ra bố thí cho người khác, nghĩa là làm cho người khác
cũng hiểu biết sáng suốt như mình; khi người ta đã sáng
suốt thì không còn tham mê ngũ dục lạc nữa mà họ sẽ tu
theo Chánh Pháp, tiến tới giác ngộ. Nếu người ta mong gì,
xin gì, mình cho nấy mà không khiến họ mở mang trí huệ thì
chỉ làm tăng thêm lòng tham dục của họ, lòng tham không đáy
biết bao nhiêu cho vừa, đó không phải là bố thí đúng pháp.
Muốn có trí huệ thì cần phải xả bỏ các chấp trước,
không phân biệt thân sơ, nhiều ít, trước sau, tâm tự tại
an định như mặt trời chiếu sáng không phân biệt núi sông
vườn ruộng, như mưa tưới nước đều khắp, không phân
biệt loại cây lớn nhỏ, cỏ dại hay cỏ thuốc. Khi ta có
trí huệ rồi thì làm việc gì cũng lành tốt cả.
Ðiều quan
trọng là khi bố thí phải có tâm hoan hỷ, không chấp trước
mong cầu, không đợi lời cám ơn, không chờ đền đáp lại.
Cư Sĩ Duy Ma Cật cho người ăn xin và cúng dường Phật với
tâm hoan hỷ bình đẳng như nhau chẳng khác, đó là thực hành
Pháp Thí vậy. Nếu ngay trong đời nay, chúng ta bố thí, làm
việc xã hội cứu tế người nghèo, hoặc cư xử hòa thuận
trong gia đình theo phép Lục Hòa, hoặc cúng dường chư vị
Tăng Ni, giảng nói Phật Pháp, ấn tống kinh sách... với tâm
hoan hỷ bình đẳng như nhau, không mong đền đáp, không cầu
chứng đắc, không chấp thân sơ, thấy việc tốt là làm,
làm xong là quên... đó chính là thực hành Pháp Thí, công đức
vô lậu không cầu mà vẫn có.
Chuỗi ngọc
trên Ðức Phật Nan Thắng biến thành bốn trụ đài quý báu,
bốn mặt đều trang nghiêm rực rỡ không ngăn che nhau: Nhờ
bố thí không chấp tướng mà thực hành được bốn Vô Lượng
Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả), bố thí đứng đầu sáu pháp Ba La
MậI (Lục Ðộ), vì không chấp trước nên được Tam Luân
Không Tịch, bố thí là căn bản nền móng cho việc thực hành
Bồ Tát Ðạo, như Bốn Sự Thật Chân Chánh (Tứ Ðế) là
căn bản nền móng của giáo lý nhà Phật, cho nên chuỗi ngọc
biến thành bốn trụ đài quý báu, chống đỡ tòa lâu đài
Chánh Pháp. Ðứng về tướng thì đời là khổ, nhiều thứ
khổ, mà nguyên nhân của sự khổ là tham sân si vô minh chấp
trước, muốn hết khổ được Niết Bàn an lạc thì cần tu
37 phẩm trợ đạo, quan trọng hơn hết là Bát Chánh Ðạo.
Ðứng về Tánh thì chẳng có khổ có vui, không có pháp môn
tu không có quả vị chứng, không chấp, không cầu, không ta
không người, không có gì ngăn ngại nên kinh nói là bốn mặt
đều trang nghiêm rực rỡ không ngăn che nhau, được thông
suốt, đó là lý Tất Cả Là Một.
Trong Phẩm
Bồ Tát này có bốn vị Bồ Tát đại diện cho bốn loại
người tu theo hạnh Bồ Tát khác nhau:
1) Bồ Tát
Di Lặc, chuyên tu Duy Thức quán, dùng Thức để phân biệt,
chưa đủ trí huệ sáng suốt hoàn toàn, chưa đạt được
Chân Trí.
2) Ðồng
Tử Quang Nghiêm, còn thấy có pháp để tu, có chúng sinh cần
độ, có chùa để xuất gia, có quả vị để chứng có công
đức để trang nghiêm, chưa bỏ được chấp tướng bề ngoài
để quay vào bên trong, tu Tâm mới là quan trọng hơn hết.
Ngài còn chấp tướng nên chưa xứng Tánh làm Phật sự.
3) Bồ Tát
Trì Thế đã nắm giữ được Phật Pháp để độ chúng sinh
trong đời, nhưng chưa đủ trí huệ để hóa độ nghịch cảnh,
không dám dấn thân vào những nơi xấu ác, chưa điều phục
được tâm mình.
4) Trưởng
Giả Tử Thiện Ðức làm hạnh bố thí chưa rốt ráo, có tài
thí nhưng thiếu pháp thí, bố thí mà thiếu trí huệ thì chưa
tới chỗ vô phân biệt được, chưa được hoàn toàn bình
đằng.
Xin quý vị
đọc đến chỗ này đừng khởi tâm chê bốn vị Bồ Tát
là chưa tu cao, các Ngài thị hiện thiếu sót, giả vờ còn
có các nhược điểm, nhân đó Bồ Tát Cư Sĩ Duy Ma Cật (đại
điện cho Ðức Thế Tôn) có cơ duyên đem Chánh Pháp ra nói,
nghĩa đen là nói cho bốn vị Bồ Tát và những nhân vật hiện
diện nghe, nghĩa bóng là dạy bảo tất cả chúng sinh tu hành
chân chánh, đừng chấp tướng bề ngoài, quay vào trong Tâm
mà tu, tu ở đâu cũng được, ở chùa ở chợ ở nhà đều
là đạo tràng, chỉ cần làm sao chuyển được tâm mình từ
nhơ thành sạch, từ tối thành sáng, thế là đủ, tâm tịnh
quốc độ tịnh. Nói tâm chuyển rồi thì ngoại cảnh chuyển
theo, như vậy chỉ cần chuyển tâm, không mong chuyển cảnh,
hãy cải hóa mình trước, rồi giúp cải hóa người khác sau.
Các Bồ Tát thị hiện làm các việc hoặc tốt hoặc xấu,
hoặc thuận hoặc nghịch, để làm gương hóa độ chúng sinh,
vì chúng sinh chứ không vì các Ngài, các Bồ Tát đã chuyển
xong tâm rồi, nay giúp chúng sinh chuyển tâm của họ mà thôi.