II
Phẩm
PHƯƠNG TIỆN
Trong các
Kinh Phật, nhân vật chính thường là Ðức Phật Thích Ca,
A Di Ðà, Dược Sư... hoặc các Ðại Bồ Tát Quán Thế âm,
Di Lặc, Ðịa Tạng, Văn Thù, Phổ Hiền... hoặc các Thanh văn
Ðại Ðệ Tử Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan, Ca Diếp,
Tu Bồ Ðề..., các Thanh Văn đem những chỗ chưa hiểu biết
hay còn nghi ngờ ra thưa hỏi để Phật dạy cho nghe, hoặc
chính Phật gọi các đệ tử ra dạy trực tiếp, như Kinh A
Di Ðà, đó là lối vô vấn tư thuyết. Ở đây, người giữ
vai trò chính lại là một cư sĩ tại gia, nhưng không phải
một cư sĩ tầm thường, mà là một người đã từng cúng
dường vô lượng chư Phật, sâu trồng cội lành, được vô
sinh pháp nhẫn, du hí thần thông, được chư Phật khen ngợi,
Ðế Thích Phạm Vương (là các Vua Trời), Vua Quan thế gian,
Bà La Môn, dân chúng thảy đều kính trọng.
Chúng ta thường
phân biệt có hai hạng đệ tử Phật: xuất gia và tại gia.
Xuất gia có ba nghĩa cao siêu, đứng về Lý:
1) Xuất
phiền não chi gia: ra khỏi nhà phiền não, tội lỗi.
2) Xuất
vô minh chi gia: ra khỏi nhà vô minh, tối tăm.
3) Xuất
tam giới chi gia: ra khỏi nhà ba cõi (dục giới, sắc giới
và vô sắc giới).
Xuất gia
còn một nghĩa thứ tư, đứng về Sự, đó là xuất thế tục
chi gia: ra khỏi nhà thế tục, rời bỏ gia đình vợ con quyến
thuộc, địa vị trong xã hội để vào chùa, tu hành đạo
giải thoát, giữ giới trì trai, diệt trừ phiền não, đoạn
hết vô minh, vượt khỏi ba cõi.
Ðệ tử
tại gia là những người còn ở trong nhà thế tục, có gia
đình và bổn phận đối với xã hội, họ hàng, cha mẹ, vợ
con, bè bạn... Phần đông người tại gia vì còn bận rộn
việc đời, tu hành chưa rốt ráo, trí tuệ chưa sáng suốt,
chưa ra khỏi nhà phiền não, nhà vô minh, nhà ba cõi; nhưng
cư sĩ Duy Ma Cật đây là trường hợp đặc biệt, ông đã
chứng quả vô sinh, ra khỏi vòng sinh tử luân hồi, nhưng vì
muốn cứu độ chúng sinh nên dùng phương tiện thị hiện
trong đời làm trường giả.
Ðoạn kinh
này muốn nói lên lý Bất Nhị, đừng phân biệt xuất gia
tại gia, cao thấp, tịnh uế... mà thấy rằng các đệ tử
Phật tuy hai mà một, xuất gia hay tại gia ai tu hành tinh tấn,
diệt hết vô minh, phát huy trí huệ sẵn có là được giác
ngộ và giải thoát.
Danh từ cư
sĩ được định nghĩa là một đệ tử Phật tu tại gia, có
gia đình vợ con, có địa vị và bổn phận trong xã hội,
nhưng giữ tròn các giới cấm (năm giới căn bản hoặc 58
giới Bồ Tát), tu hành các lời Phật dạy, thực hành Bồ
Tát Ðạo, quên mình làm lợi ích cho chúng sinh, tuy thân còn
lẫn lộn trong cõi trần ô trược, nhưng tâm đã thanh tịnh
không nhuốm bụi trần (cư trần bất nhiễm trần, thị danh
cư sĩ).
Theo định
nghĩa trên, muốn làm cư sĩ không phải là dễ, số người
xứng danh cư sĩ không có bao nhiêu. Bây giờ người ta thường
dùng danh từ cư sĩ để chỉ các đệ tử Phật tại gia, tức
là các ưu-bà-tắc và ưu-bà-di là những người thân cận
ngôi Tam Bảo để phụng sự cúng dường và tu học, như thế
là lạm dụng và gượng ép. Phần đông chúng ta chỉ nên nhận
là Phật Tử tại gia mà thôi, dành chư cư sĩ cho những vị
đã thanh tịnh tu hành tiến xa trên đường Ðạo.
Ở phẩm
Phật Quốc, người đứng ra bạch Phật xin được nghe pháp
là Cư Sĩ Bảo Tích. Ðến phẩm Phương Tiện này, nhân vật
quan trọng được nói đến là Cư Sĩ Duy Ma Cật, ông phương
tiện hiện thân có bệnh để các người tới thăm, rồi nhân
đó mà nói Pháp dạy dỗ khuyến khích mọi người tu hành.
Rõ ràng là Kinh này muốn đề cao vai trò cư sĩ thực hành
Bồ Tát Ðạo, lợi tha, giác tha, nhưng vẫn không làm giảm
giá trị của hàng xuất gia, đại diện là Bồ Tát Văn Thù
tới luận Ðạo với Cư Sĩ Duy Ma Cật, cả hai vị đều đạt
lý Bất Nhị, xa lìa các vấn đáp, im lặng vào pháp môn Không
Hai. Quý vị độc giả chờ đọc tới Phẩm thứ IX sẽ rõ.
Phẩm thứ
II này được gọi là phẩm Phương Tiện. Phương là phương
pháp, tiện là tiện dụng. Phương tiện, do chữ Phạn Upaya,
là những biện pháp đem ra dùng để tiện bề thích hợp với
căn cơ, với hoàn cảnh, với thời đại, với trình độ tiến
hóa của một chúng sinh, một dân tộc, một xã hội, một
quốc gia.... Trong Phật Giáo, phương tiện là những gì thiết
lập tạm thời để dùng vào mục đích khai ngộ, giúp người
khác chứng hiểu Chân Lý. Phương tiện có thể là hành động
hoặc ngôn từ. Các bậc đại sư thường hay có phương tiện
trí (Upaya Jnana) tức là khả năng sáng tạo những phương tiện
thích ứng với mọi căn cơ, mọi trường hợp.
Chân Lý chỉ
có thể thực chứng chứ không thể diễn bày. Giáo lý nhà
Phật không có mục đích trình bày Chân Lý mà phải được
xem như là những phương tiện hướng dẫn người tu hành trong
việc thực chứng Chân Lý. Những phương tiện muốn được
thành công cần phải khế cơ nghĩa là hợp với căn trí của
từng cá nhân hay từng nhóm người, đáp ứng đúng những
trường hợp riêng rẽ đặc biệt. Một phương tiện không
thể áp dụng cho tất cả mọi trường hợp. Vì vậy các Ðạo
Sư phải sáng tạo ra vô số phương tiện khác nhau. Ðức Phật
dạy 84 ngàn pháp môn tức là 84 ngàn cửa đi vào tòa nhà Chân
Lý, các pháp môn công phu tu hành như niệm Phật, thiền, đọc
chú, lễ lạy, các pháp khí như tượng Phật, kinh điển, sách
vở, chuông mõ, thực hành Lục Ðộ, Tứ Ðế, Thập Nhị Nhân
Duyên... tất cả đều là phương tiện.
Một trong
những công năng lớn của phương tiện là phá chấp, đập
vỡ những thành kiến cố chấp để giúp người tu hành thoát
ra ngoài sự kiềm chế của tri thức và ảo giác mà họ đang
bám víu hay mắc kẹt. Trong Ðạo Phật, một trong những chướng
ngại cho sự giác ngộ là những kiến thức đã thu thập được,
gọi là Sở Tri Chướng. Sự hiểu biết của con người dù
là chân thật hay ảo giác đều được xây dựng trong thế
giới khái niệm. Nếu ta ôm chặt những khái niệm ấy, ta
sẽ bị kẹt hoài trong vòng Biến-Kế-Sở Chấp mà không có
cơ hội thể nhập thực tại.
Danh từ phương
tiện luôn luôn đi đôi và đứng đối lập với danh từ cứu
cánh. Phương tiện không phải là cứu cánh, phương tiện là
giả, cứu cánh là thật. Các Kinh Ðại Thừa đề cao phương
tiện, nương phương tiện để đạt cứu cánh, nương ngón
tay để thấy mặt trăng, nhờ bè mà sang tới bờ bên kia.
Nhưng đừng lầm phương tìện vớì cứu cánh, đừng nhìn
ngón tay mà quên mặt trăng. Khi đạt cứu cánh rồi thì phải
bỏ phương tiện, tới bờ rồi thì bỏ bè lại, đừng vác
lên vai làm gì cho nặng nề vô ích. Phương tiện nếu bị
nhận lầm là cứu cánh thì không còn có ích lợi mà lại
làm cản trở việc tìm Chân Lý. Kinh Pháp Hoa đưa ra thí dụ
ba xe là muốn nói Phật phương tiện chia Phật Ðạo Nhất
Thừa làm ba thừa, khi ra khỏi nhà lửa thì được xe lớn
tốt đẹp hơn nhiều đó là Phật Thừa, chỉ có một, không
hai, không ba.
Chúng ta được
đọc nhiều câu chuyện các Thiền Sư dùng phương tiện dạy
đệ tử vượt qua những chỗ kẹt do chấp trước mà ra, Ngài
Ðơn Hà chẻ tượng Phật, các Tổ quát mắng, nắm mũi đệ
tử hoặc ném đá xuống nước, có khi im lặng không nói...
đều là dùng phương liện để khai thông cho đệ tử, mắc
kẹt chỗ nào thì gỡ chỗ đó, không ai giống ai.
Bây giờ
chúng ta đi sâu vào từng câu từng chữ trong phẩm Phương
Tiện: Trưởng Giả Duy Ma Cật đã từng cúng dường vô lượng
các Ðức Phật, nghĩa là ông đã tu hành nhiều đời nhiều
kiếp, có duyên lớn gặp nhiều Phật để hy sinh cúng dường,
mà thứ cúng dường quý hơn hết là Pháp cúng dường: hy sinh
hết thảy cho Chánh Pháp, sống đúng với Chánh Pháp, đem Chánh
Pháp ra truyền bá cho tất cả chúng sinh vì Phật đã dạy:
Pháp cúng dường là lối cúng đường cao cả nhất.
Phật là
đấng giác ngộ, cúng dường vô lượng Phật là hy sinh của
báu thế gian để dâng lên Ðấng giác ngộ, ngõ hầu được
giác ngộ như Phật. Phật đã ra ngoài ba cõi, đâu còn hưởng
những của báu thế gian làm gì? Vậy cúng dường vô lượng
Phật nên được hiểu theo nghĩa ẩn là hy sinh mọi lạc thú
thế gian để được giác ngộ, bỏ đi những của cải vật
chất để phát huy những đức tánh Từ Bi Hỷ Xả, tu hành
Lục Ðộ vạn hạnh, Trí Huệ được sáng suốt. Phật là
Pháp, cúng dường Phật là cúng dường Pháp, là thực hành
Pháp, là sống đúng với Chánh Pháp.
Cúng dường
vô lượng Phật còn có một nghĩa rộng nữa là làm lợi ích
cho vô lượng chúng sinh. Phật là Phật đã thành, là Như Lai
xuất triền, còn chúng sinh là Phật sẽ thành, là Như Lai tại
triền. Tâm, Phật chúng sinh tam vô sai biệt, vậy cúng dường
chư Phật là làm lợi ích cho chúng sinh.
Sâu trồng
cội lành là đã làm nhiều công đức trong nhiều đời nhiều
kiếp, đã gieo trồng nhiều hột giống lành vào A Lại Da Thức,
đã làm nhiều việc tốt, đã tạo nhiều duyên lành, nhân
tốt thì quả ngọt, luật nhân quả, duyên khởi, nghiệp báo
không hề sai lầm.
Biện tài
vô ngại là có tài nói năng biện thuyết trôi chảy, không
bị ngập ngừng mà vẫn đúng với Chân Lý. Một nhà hùng
biện, một giáo sư nổi danh ở đời có tài nói lưu loát,
nhưng chỉ thông thạo một vấn đề chuyên môn của mình,
nếu bị hỏi sang lãnh vực khác thì bị kẹt, như vậy không
gọi là biện tài vô ngại được. Ðây là không nói đến
những thuyết khách dụng xảo ngôn để gạt gẫm thuyết phục
người nghe, những kẻ lớn tiếng thao thao bất tuyệt để
lấn áp người khác, những kẻ dùng lời nói thêu dệt nịnh
bợ người khác để lừa dối nghe theo ý họ, hoặc để che
giấu những lỗi lầm, chối bỏ những tật xấu. Có biện
tài vô ngại trong Phật Giáo là nhờ học hỏi chân chánh nên
nắm vững vấn đề, tâm ý và lời nói được thông suốt
rành rẽ, đúng sự thật, việc làm đúng với lời nói có
mục đích lợi lạc chúng sinh khiến người nghe vui vẻ mà
tin theo, không hề bị áp bức mà phải tuân lệnh.
Du hí thần
thông. Du là chơì, Hí là vui, thần thông nói cho đủ là Thần
Túc Thông nghĩa là có phép biến hóa các thân hình, biến chỗ
này hiện chỗ kia, bay đi qua lại các cõi, được tự tại
vô ngại không bị vật chất ngăn trở. Du hí thần thông là
có pháp thuật biến hiện khắp nơi, lấy sự hóa độ chúng
sinh làm vui. Cũng có nghĩa là chứng ngộ Chân Tánh, hiển phát
oai lực, xuất nhập dễ dàng không bị ngăn ngại, do trí huệ
sáng suốt, tự nhiên không cầu mà có thần thông, khác với
những phép lạ của ngoại đạo do tu luyện mong cầu mà được,
với mục đích tự lợi mà thôi, nên còn bị ngăn ngại.
Trưởng giả
Duy Ma Cật nhờ có du hí thần thông mà dùng phương tiện thị
hiện các thân hình ở các cõi để hóa độ chúng sinh, thị
hiện có bệnh để mọi người tới thăm, nhân cơ hội gặp
gỡ nhiều người mà nói pháp.
Tổng Trì,
dịch nghĩa chữ Phạn Dharani phiên âm là Ðà La Ni, có nghĩa
là công năng giữ gìn các pháp lành không cho mất, các pháp
dữ không cho sinh. Ðà La Ni có bốn thứ:
1) Pháp Ðà
La Ni: đối với các pháp Phật dạy, người nghe nắm giữ
không quên.
2) Nghĩa
Ðà La Ni: nắm giữ không quên những nghĩa lý sâu xa.
3) Chú Ðà
La Ni: do sức thiền định, phát ra những lời bí mật có oai
lực thần hiệu lớn lao không lường, gọi là Thần Chú.
4) Nhẫn
Ðà La Ni: An trú nơi Thật Tướng của các Pháp.
Các bài thần
chú hay chân ngôn đều giữ nguyên tiếng Phạn chứ không dịch
ra tiếng Tàu hay tiếng Việt vì thuộc phần mật kín của
Kinh tạng. Kinh tạng gồm có hai phần: Hiển và mật. Phần
hiển thì được dịch nghĩa, diễn giảng, bình luận để
hiển lộ Chân Lý cho mọi người đều thấy. Phần mật thì
chỉ Phật với Phật mới hiểu thấu được, chúng sinh chỉ
dùng lòng tin rnà dụng đọc.
Bồ Tát Long
Thọ giải nghĩa Ðà La Ni là Năng Trì và Năng Già. Năng Trì
là hay nắm giữ mọi điều lành tốt đã tạo được, không
để cho tan mất, ví như một cái bình đựng nước không cho
chảy rỉ. Năng Già là hay che lấp, không cho các niệm ác phát
sinh đâm thọc vào, hoặc khi niệm ác phát sinh thì nắm giữ
lại không cho tác động.
Vậy Ðà
La Ni có công năng giúp người tu hành nắm giữ các điều
thiện đã làm được và ngăn che các điều ác không cho phát
sinh ra. Sở dĩ chư Tổ không dịch các bài chú mà chỉ đọc
nguyên chữ Phạn phiên âm, vì hễ dịch nghĩa là lạc vào
vòng danh từ ngôn từ kẹt trong trí phân biệt: Cứ để nguyên
tiếng Phạn thì vừa không hiểu nghĩa, vừa trúc trắc khó
đọc, người trì chú phải đặt hết tâm trí vào, cứ đọc
như máy, không hiểu nghĩa thì ý thức không tác động, lần
lần đạt được cái Tâm vô phân biệt, tức là làm sáng
tỏ Căn Bản Trí mà ai cũng có.
Đà La Ni
là tâm ấn của Phật. có một thần lực gia trì không thể
nghĩ bàn, ví như bí phù của Vua trao cho vị tướng cầm quân
dẹp giặc nơi xa, ai cũng phải tuân lệnh, kẻ nghịch phải
phục tòng. Người tu hành tuy đã tinh tấn nhưng trong A Lại
Da Thức vẫn chứa sẵn nhiều hột giống ác, tập khí nhiều
đời vẫn còn tiềm phục, vậy cần phải có một định lực
kiên cố để khắc phục, niệm chú là một phương pháp vô
phân biệt để có Ðịnh. Trì chú giúp người tu hành có thêm
thần lực, tâm không phân biệt, trừ hết vọng tưởng, mà
vọng hết thì Chân hiện, cái Chân Tâm ấy là tuyệt đối,
vượt khỏi vòng ngôn ngữ, văn tự nghĩa lý.
Những người
tu theo Mật Tông chuyên trì chú, nhưng cần đọc đúng giọng,
khi bổng khi trầm, lúc mau lúc chậm, riêng một chữ ÚM hay
chữ HÙM là phải có công phu tu luyện lâu dài mới đọc đúng
giọng được. Ðây là một phương pháp dùng âm thanh cảm
thông với chư Phật, dùng làn sóng từ tính (magnetic) sao cho
cùng một làn sóng điện, cùng cường độ rung động với
Phật, với Chân Tâm thì sẽ có cảm ứng, oai lực phát sinh.
Phật, Tâm đều thanh tịnh, khi chúng sinh cảm ứng với Phật
với Tâm thì cũng được thanh tịnh. Trì chú cũng còn là phương
pháp đọc những tiếng khó đọc, lại không hiểu nghĩa, để
cột chặt miệng lưỡi ý thức, vọng tâm không cho điên đảo
vọng động chạy theo trần cảnh bên ngoài, mà phải quay vào
bên trong, tập trung tâm ý vào một nơi thì Ðịnh sẽ phát
sinh, đưa tới Trí Huệ.
Sức vô úy
là sức mạnh không sợ sệt gì nữa. Trong các thứ bố thí
có vô úy thí là quý nhất, nghĩa là ban cho chúng sinh sự không
sợ hãi. Chúng sinh hay sợ bệnh, sợ già, sợ chết, sợ mất
của, sợ chia lìa, sợ khổ, sợ ma... nay hiểu được
Phật Pháp, nắm vững lý vô ngã, luật vô thường, nhân quả,
duyên khởi, nghiệp báo... thì không còn sợ hãi gì. Hết sợ
thì tâm an định thanh thản tự tại hết mộng tưởng điên
đảo, hưởng Niết Bàn an lạc.
Hàng phục
ma oán; Ma có hai loại: nội ma và ngoại ma. Nội ma là những
thói hư tật xấu, thú tính thấp hèn, dục vọng điên cuồng,
chủng tử độc ác tham sân si... tiềm ẩn, ngủ ngầm trong
lòng chúng ta và luôn luôn chờ cơ hội hiện hành, tác động
xúi giục chúng ta làm những điều xằng bậy, cản trở chúng
ta đi về nẻo giác. Nội ma rất khó trị, chỉ có Trí Huệ
sáng suốt và công phu tu hành sâu dày mới trừ được chúng.
Ngoại ma
là những trần cảnh bên ngoài lôi cuốn chúng ta vào đường
tội lỗi: thầy tà bạn ác, ngũ dục lạc (tài, sắc, danh,
thực, thùy: tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ
nghỉ), đời sống khó khăn... thường thúc đẩy chúng ta phạm
tội. Ngoài ra, còn được gọi là ma những hương linh chưa
đi tái sinh, còn vơ vẩn nơi bờ sông ngọn cỏ, bụi cây,
có thể hiện hình khiến người ta sợ hãi. Danh từ ma, do
phiên âm chữ Phạn Marat dịch là Ma Vương, chuyên làm chướng
ngại người tu hành. Khi Thái Tử Tất Ðạt Ða ngồi thiền
định dưới cội Bồ Ðề sắp thành chánh quả, Ma Vương
sợ hãi liền sai ba con gái thật đẹp (ma nữ) hiện ra trước
Thái Tử để quyến rũ, một cô gảy đàn, một cô ca hát,
một cô uốn mình nhảy múa, hòng dùng sắc đẹp âm thanh mê
hoặc Thái Tử, nhưng Thái Tử an nhiên tự tại, tâm không
động, bảo rằng: “Các túi da nhơ bẩn kia hãy đi nơi khác,
ta không dùng.” Ba ma nữ liền biến mất.
Ðây là một
ẩn dụ diễn tả Thái Tử đã chiến thắng si mê dục vọng
trong lòng, mà cũng có thể là những hột giống tham ái tiềm
ẩn bên trong, nay xuất hiện dưới hình thức ma nữ để cám
dỗ và làm cản trở con người sắp thoát khỏi vòng ảnh
hưởng của chúng. Thắng được những con ma này không phải
là dễ, và chính nhờ chiến thắng oai hùng này mà Thái Tử
Tất Ðạt Ða thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.
Trên đường
tu hành, chúng ta chắc chắn sẽ gặp nhiều loại ma như trong
Kinh đã nói: nào Thiên Ma Ba Tuần, nào ngũ ấm ma, nào ma vương
ma nữ, nào nội ma ngoại chướng, chúng ta cần có trí huệ
sáng suốt để hàng phục ma oán, thoát ra ngoài vòng lưới
nguy hiểm của tham sân si, vượt qua khỏi mọi trở ngại thử
thách, giữ tâm như gỗ đá trước mọi cám dỗ, giữ tâm
như đất trước mọi trái ý nghịch lòng, dùng gươm trí huệ
để chặt đứt phiền não trói buộc, nhờ Chánh Kiến và
Chánh Tinh Tấn mà bước qua mọi cạm bẫy hầm hố chông gai...
thì chủng tử ác sẽ tiêu lần, mọi hắc ám tối tăm sẽ
tan biến trước sự xuất hiện của mặt trời trí huệ.
Danh từ oán
có nghĩa là oán gíận, căm hờn, thù hằn nằm sẵn trong lòng,
chỉ chờ dịp là vùng dậy, xuất hiện phá phách trả thù.
Oán là do các nghiệp dữ mà chúng ta đã tạo ra trong quá khứ,
những nhân ác gây buồn khổ cho các chúng sinh. Khi đủ duyên
thì các hột giống oán hận tác động kết thành quả đắng
mà chúng ta phải lãnh chịu, các chúng sinh sẽ gây ra các điều
chướng ngại để trả oán khiến chúng ta phải khổ sở ân
hận buồn rầu đau đớn. Người có trí huệ thực hành bốn
Tâm Vô Lượng Từ Bi Hỷ Xả, tu pháp vô ngã, xả hết oán
thù thì tâm được an định tự tại, biến oán thành thân,
cải thù thành bạn, chỉ thấy tất cả chúng sinh là một,
không hai, không khác. Vậy hàng phục ma oán là diệt trừ các
dục vọng xấu xa thấp hèn, tham sân si phiền não vô minh là
những chướng ngại trên đường giải thoát.
Thấu rõ
pháp môn thâm diệu. Ở đây, chữ pháp môn có nghĩa là phương
pháp tu hành, là những lời dạy của Phật làm phép tắc khuôn
mẫu cho các đệ tử nương vào đó mà được nhập Ðạo,
ví như đi qua cửa mà vào nhà. Kinh Phật thường nói có 84
ngàn pháp môn là muốn ám chỉ các phương pháp tu hành thì
rất nhiều. Phật là thầy thuốc giỏi tùy bệnh cho thuốc,
bệnh nhiều thứ thì thuốc cũng phải nhiều loại. Chân Lý
chỉ có một, nhưng đường lối đi tới Chân Lý thì nhiều,
ví như một ngôi nhà có nhiều cửa, chúng sinh tùy căn cơ,
tùy ý thích, tùy sức mà chọn một lối đi, một cửa vào,
một pháp môn thích hợp, miễn làm sao bước qua cửa vào trong
nhà là được, cửa nào cũng vậy, pháp môn nào cũng thế,
hễ vào được nhà, nhập được Ðạo, thấy được Chân
Lý là tốt, là cao quý.
Ngoài ý nghĩa
thông thường nói trên, danh từ Pháp Môn Bất Nhị có một
ý nghĩa cao siêu để chỉ cái Chân Lý tuyệt đối, tương
đương với Chân Tâm, Phật Tánh, Chân Như, Bồ Ðề, Viên
Giác, Lý Tánh, Bản Thể, Ðạo, KHÔNG,... Ðây là những danh
từ rnà các tôn giáo và triết học tạm dùng một cách gượng
ép để chỉ cái tuyệt đối siêu việt vượt ra ngoài vòng
danh từ ngôn ngữ tâm duyên, chỉ khi nào chứng ngộ mới biết
rõ mà thôi.
Trong phẩm
thứ IX của Kinh này, Cư Sĩ Duy Ma Cật hỏi các vị Bồ Tát:
“Thế nào là Bồ Tát vào Pháp Môn Bất Nhị ?” tức là
thể nhập Chân Lý tuyệt đối. Mỗi Bồ Tát tùy theo chỗ
hiểu của mình mà nói. Ðến lượt Bồ Tát Văn Thù phát biểu
ý kiến: “Không nói không rằng, không chỉ không biết, xa
lìa các vấn đáp, đó là vào Pháp Môn Không Hai.” Rồi ngài
Văn Thù hỏi ông Duy Ma Cật ông này im lặng không nói. Bồ
Tát Văn Thù khen rằng: “Hay thay ! Hay thay! Cho đến không có
văn tự ngữ ngôn, đó mới thật là vào Pháp Môn Không Hai.”
Thâm là sâu,
diệu là nhiệm mầu. Thấu rõ pháp môn thâm diệu là thấy
biết rõ ràng phương pháp sâu kín nhiệm mầu để vào cửa
Ðạo, và cũng có ý nghĩa cao siêu hơn, đó là thâm nhập Chân
Lý, minh tâm kiến tánh, chứng ngộ lý KHÔNG, đạt tới tuyệt
đối.
Khéo nơi
trí độ. Trí là trí huệ, độ là vượt sang bờ bên kia,
dịch nghĩa chữ PRAJNA PARAMITA, phiên âm là Bát Nhã Ba La Mật
Ða. Khéo nơi trí độ là ngưởi tu hành đã phát huy được
cái trí huệ sẵn có của mình, vượt qua sông mê bể khổ
sang tới bờ bên kia là bờ giác ngộ và giải thoát. Cao hơn
một bực, có nghĩa là người tu hành đã thức tỉnh và thấy
mình vẫn ở bờ bên kia.
Nói bờ bên
kia là phải có bờ bên này, ở giữa là dòng sông phiền não
sinh tử ngăn cách đôi bờ. Phật Giáo Nam Tông dạy: Chúng
sinh ở bờ bên này chịu khổ sở, tham sân si trói buộc, vô
minh che lấp Chân Tánh nên mê mờ vọng tưởng điên đảo,
luân hồi..., phải cố gắng tu hành vượt qua sông phiền não
sinh tử sang tới bờ bên kia là giác ngộ, giải thoát, an lạc,
hết sinh tử luân hồi, đắc Niết Bàn.
Cùng một
ý ấy, nhưng Phật Giáo Ðại Thừa dạy hơi khác: không có
đôi bờ bên này và bên kia, không có dòng sông phiền não
sinh tử, mà chúng sinh có đầy đủ tánh Phật, vốn là giác
ngộ giải thoát, chỉ vì một niệm bất giác nổi lên, như
người mê ngủ nằm chiêm bao cảm thấy có hai bờ sông, mình
ở bên này, xa cách với bờ bên kia muôn trùng. Khi tỉnh giấc
mộng, mở con mắt Ðạo, thì thấy mình vẫn tự tại giải
thoát, chẳng có dòng sông, chẳng có đôi bờ. Ðể diễn tả
lý ẩn thâm diệu này, Kinh Pháp Hoa đưa ra hai tỷ dụ: anh
cùng tử và anh say rượn. Anh cùng tử không biết mình là
con ông trưởng giả gìau sang, cứ cam tâm chịu khổ làm thuê
làm mướn bẩn thỉu dơ dáy, khi được cha chỉ bày mới biết
mình thật là con, được sung sướng. Anh say rượu được
bạn cbo viên ngọc cột vào vạt áo mà khôug biết, cứ cam
phận nghèo hèn, đến khi bạn gặp lại nói cho biết mới
đem ngọc ra buôn bán và được giàu có.
Kinh điển
Phật Giáo thường có câu “Quay đầu lại là bờ, đồ tể
bỏ đao thành Phật” là có ý dạy chỉ cần chuyển tâm hướng
về giác ngộ, hết mê là giác, hết mộng là thật, rất mau
trong giây phút mà thôi. Nhưng làm thế nào để tỉnh giấc
chiêm bao, quay đầu lại? Làm sao đồ tể bỏ dao? Ðó là thời
điểm phát tâm tu hành, lựa chọn một pháp môn thích hợp
với căn cơ của mình để vào cửa Ðạo, tu nhất kiếp ngộ
nhất thời, tu hành thì lâu phải trải qua nhiều đời nhiều
kiếp, nhưng lúc ngộ thì chỉ một chớp mắt, một sát na.
Ví như người thợ điện phải chế tạo ra máy phát điện,
bóng đèn, dây điện... mất nhiều thời giờ công phu khó
nhọc, đến lúc hoàn thành thì chỉ cần ấn nhẹ ngón tay
là đèn sáng rực rỡ, phá tan bóng tối.
Vậy khéo
nơi Trí Ðộ là lau hết bụi để gương in bóng sáng, là gió
thổi mây bay để mặt trăng chiếu soi, chính là phát huy được
trí huệ sẵn có nơi mỗi chúng sinh, chính là nhận thấy Bản
Lai Diện Mục. Có trí huệ rồi lại khéo dùng phương tiện
để hóa độ chúng sinh, giúp chúng sinh thức tỉnh thấy tất
cả đều là Phật sẽ thành, lúc đó không còn hai bờ, hết
nhị nguyên đối đãi, không có dòng sông phiền não ngăn cách,
mà chỉ có cõi Phật thanh tịnh. Nói sang bờ bên kia là nói
tạm, nói quyền, là ẩn dụ theo thế gian mà nói cho dễ hiểu,
chứ đã không có dòng sông thì làm gì có bờ. Chúng sinh và
Phật khác nhau ở chỗ mê và giác, mê là chúng sinh, giác là
Phật, tâm niệm xấu ác là chúng sinh, tâm niệm từ bi là
Phật, chỉ cần chuyển tâm từ mê thành giác, từ xấu ác
thành từ bi, là chúng sinh thành Phật, mau chóng vô cùng.
Thành tựu
đại nguyện. Nguyện là lời hứa, lời thề sẽ làm một
việc gì nhắm một mục đích nào đó. Ðại nguyện là phát
lời thệ nguyện lớn lao, nói lời hứa mong thành tựu một
mục đích cao siêu khác lời mong ước tầm thường. Ðại
nguyện của người tu hành là trên cầu Phật đạo, dưới
cứu chúng sinh. Chỉ khi nào làm xong đại nguyện đó thì việc
tu hành mới được coi là hoàn toàn rốt ráo viên măn. Biết
rõ tâm chúng sinh đến đâu. Biết rõ tâm mình đã khó, biết
rõ tâm chúng sinh lại khó hơn. Tục ngữ có câu: “Suy bụng
ta ra bụng người”, ta toan tính gì thì người cũng toan tính
nấy. Người tu hành được sáng suốt rồi, thấu rõ Chân
Tánh, tâm ý dung thông thì cảm ứng được với lòng chúng
sinh, biết rõ tâm chúng sinh muốn gì, rồi tìm phương tiện
dìu dắt hướng dẫn chúng sinh vào Phật Ðạo. Ðó là Tha
Tâm Thông, một trong sáu phép thần thông mà người chứng
Ðạo tự nhiên có, dù không mong cầu.
Hay phân biệt
rành rẽ các căn lợi độn. Chữ căn ở đây là căn cơ, căn
bản, căn nguyên, có nghĩa là gốc rễ, nguồn cội. Lợi căn
là tâm tính thông minh lanh lẹ sáng suốt sắc bén, còn độn
căn là ngu đần, chậm lụt, chậm chạp. Hay phân biệt các
căn lợi độn nghĩa là biết rõ ràng người nào căn tánh
lanh lẹ sáng suốt, người nào chậm lụt ngu đần mà tùy
cơ dạy bảo đúng với trí thông minh, sức hấp thụ, lòng
mong cầu và sở thích của họ.
Ở lâu trong
Phật Ðạo, là đã tinh tấn tu hành lâu đời, thấm nhuần
Phật Pháp, có lòng tin kiên cố, có tâm đạo vững bền không
gì lay chuyển.
Lòng đã
thuần thục. Chữ thuần là khéo, có quy củ nền nếp, ròng
một thứ không lẫn lộn hỗn tạp. Chữ thục là chín, nhuần
nhuyển êm ái, không lộn xộn chướng ngại. Lòng đã thuần
thục là tâm đã thanh tịnh, chín chắn, thành thạo, một lòng
hướng về đạo giải thoát, không còn sai đường lạc lối,
không còn mong cầu điều gì khác nữa.
Quyết định
nơi Ðại Thừa. Nhất định tu theo Ðại Thừa, phát tâm cầu
đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, một lòng cầu thành
Phật để hóa độ chúng sinh, thực hành Bồ Tát Ðạo, quên
mình vì chúng sinh chứ không cầu quả vị Thanh Văn Duyên Giác
của Tiểu Thừa, không mong phước báo cõi Trời và cõi người.
Những hành
vi đều khéo suy lường. Mọi việc làm của thân, miệng và
ý đều được suy gẫm cẩn thận, cân nhắc kỹ càng, không
làm mất lòng ai, dịu dàng êm ái mà cứu vớt chúng sinh, lời
nói và việc làm thích ứng với lòng mong cầu của chúng sinh
khiến chúng sinh vui thích mà tin theo. Các Bồ Tát có những
hành vi khéo suy lường vì đã chuyển ý Thức thành Diệu Quán
Sát Trí có công năng quán sát rõ ràng mọi tâm niệm của
chúng sinh rồi tùy theo đó mà hành động, đó gọi là Tùy
Thuận Chúng Sinh, lời nguyện thứ chín của Phổ Hiền Bồ
Tát. Khi ý thức hết tác động thì chỉ còn trí huệ chiếu
soi, mọi hành động đều khéo léo, đúng Chân Lý, hợp căn
cơ.
Giữ gìn
đúng oai nghi của Phật. Trong các giới luật của Phật có
sự giữ gìn đúng bốn oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm, sao
cho đúng với mọi quy định, phải tề chỉnh khoan thai đàng
hoàng chậm rãi như voi chúa, oai nghiêm hùng dũng mà vẫn lộ
vẻ Từ Bi Hỷ Xả khiến mọi người kính trọng mà không
sợ hãi, muốn thân cận chứ không lánh xa. Người tu hành
cần có cử chỉ đĩnh đạc từ tốn không vội vàng hấp
tấp, đây là lối tu hành bắt từ ngoài vào trong, cử chỉ
bên ngoài có ngay thẳng thì tâm ý bên trong mới thanh tịnh,
giống như câu tục ngữ: “Một tâm hồn thanh tịnh trong một
thân thể trong sạch mạnh khỏe”.
Lòng rộng
như biển cả. Mở rộng lòng, giơ hai tay để đón chúng sinh
như mẹ hiền thương con, các Bồ Tát cứu độ chúng sinh không
phân biệt, còn chúng sinh đau khổ là Bồ Tát còn lặn lội
trong biển sinh tử để giúp đỡ, chỉ khi nào tất cả chúng
sinh được an vui thì Bồ Tát mới viên thành Phật Ðạo. Bồ
Tát Ðịa Tạng có lời thệ nguyện: Ðịa ngục chưa trống
rỗng thì Ngài thề chẳng thành Phật, chúng sinh độ hết
thì Ngài mới chứng quả Bồ Ðề. Ðức Bồ Tát Quán Thế
âm có 12 lời nguyện: Thường ở biển Nam tầm thanh cứu khổ,
dùng thuyền Bát Nhã đưa tất cả chúng sinh sang bờ bên kia,
tiếp dẫn mọi hương linh về Tây Phương Cực Lạc. Ðức
Bồ Tát Phổ Hìên có 10 lời nguyện lớn: Sám hối nghiệp
chướng của chúng sinh, tùy hỷ mọi công đức, cúng dường
chư Phật, hằng thuận chúng sinh, hồi hướng mọi công đức
cho tất cả chúng sinh đồng thành Phật Ðạo.
Chư Bồ Tát
quên mình để hóa độ chúng sinh, làm gì cũng vì lợi ích
chúng sinh, không còn chấp ngã chấp pháp, vô cầu vô chứng
vô đắc, không phân biệt kẻ oán người thân, kẻ dữ người
lành, vì biết Tất Cả Là Một, tâm an nhiên tự tại, cho
nên gọi là lòng rộng như biển cả bao la chứa đựng vô
lượng vô biên vô số các loài thủy tộc, rong rêu, sóng nước.
Trưởng Giả
Duy Ma Cật được chư Phật khen ngợi, hàng đệ tử Ðế Thích,
Phạm Vương, Vua ở thế gian... thảy đều kính trọng, vì
ông đã thành tựu được nhiều công đức không thể nghĩ
bàn như đã nói ở trên; trong các kinh điển, chúng ta thường
đọc lời Phật tán thán: Lành thay ! Lành thay ! để khen ngợi
người nào làm được việc lành, đúng với Chánh Pháp, lợi
ích chúng sinh, chứng minh các việc làm đều đúng Chân Lý.
Còn các hàng đệ tử, Phạm Vương Ðế Thích là các Vua cõi
Trời, và các Vua ở cõi người... đều kính trọng. Ðệ là
em, tử là con. Ðệ tử là danh từ chỉ những người theo
Phật tu hành, tự nhận là em là con Phật, đứng dưới hoặc
đứng sau Phật để tỏ lòng tôn kính.
Các người
theo đạo Phật thường nhận mình là Phật Tử, là con Phật,
nhưng ít ai hiểu rõ ý nghĩa cao cả của chữ Phật Tử. Theo
kinh điển thì Phật Tử có nghĩa như sau: “Tòng Phật khẩu
sinh, tòng Pháp hóa sinh, đắc Phật Pháp phần, cố danh Phật
Tử,” theo miệng Phật mà sinh ra, theo Chánh Pháp mà hóa ra,
được một vài phần Phật Pháp, nên được gọi là Phật
Tử (con Phật), nghĩa là nghe theo lời Phật dạy mà tu hành,
tuân theo Chánh Pháp mà sống, ví như nhờ có Phật và Pháp
mới có mình. Nhờ có tu có học thì mới được một vài
phần Phật Pháp, cải tà qui chánh, bỏ xấu theo tốt, bỏ
ác làm lành, thân tâm thanh tịnh, như vậy mới xứng danh là
Phật Tử, là con Phật. Con thì phải giống cha, không giống
cả mười phần thì cũng được vài phần, mới xứng đáng.
Muốn xứng danh Phật Tử, người tu hành ngoài việc quy y giữ
giới, phải tu tâm sửa tánh, thực hành lời Phật dạy để
phál huy trí huệ, dù chưa được hoàn toàn thì cũng cố lấy
đôi ba phần, chứ nếu chỉ đến chùa quy y để có pháp danh,
ở nhà lập bàn thờ cho có lệ, nhưng chẳng lo sửa thân tâm,
không theo học Chánh Pháp, tham sân si không bớt, sát đạo
dâm không chừa, thì họ chỉ là Phật Tử bề ngoài thôi.
Phật và chư Bồ Tát không phân biệt ai là Phật Tử ai không
là Phật Tử, mà các Ngài thương xót tất cả như nhau, nhưng
chúng sinh ai tu nấy chứng, ai tội nấy mang, Ðức Phật giơ
tay cứu vớt mà chúng sinh không đưa tay ra nắm lấy lại còn
ngoảnh mặt nơi khác thì Phật cũng đành chịu. Cần phải
xứng danh Phật Tử cả bề ngoài lẫn bề trong mới thật
là đầy đủ và chân chánh.
Đế Thích,
viết cho đủ là Thích Ðề Hoàn Nhân phiên âm chữ Phạn Sakya
Devanam Indra là vị Trời chúa tể Ðạo Lợi Thiên trên chót
núi Tu Di, thuộc Dục Giới. Cảnh Trời này có 33 cõi mà Ðế
Thích ở cõi chính gíữa, thống lãnh cả 32 cõi kia.
Phạm Vương
hay Phạm Thiên, viết cho đủ là Ðại Phạm Thiên Vương, dịch
nghĩa chữ Phạn Brahma, là vua cõi Trời Sơ Thiền, thuộc Sắc
Giới.
Vua ở thế
gian là người cầm đầu một nước, có oai quyền lớn lao,
mọi người dân phải theo lệnh phục tòng. Các hàng Ðệ Tử,
Ðế Thích, Phạm Vương, Vua ở thế gian thảy đều kính trọng
Cư Sĩ Duy Ma Cật, nhờ những công đức, hạnh lành của Ngài.
Như vậy, ông Duy Ma Cật có một địa vị cao quý vô cùng,
chỉ kém chư Phật, còn thì cao hơn Trời và người. Ðây là
địa vị do sự tiến hóa tâm linh, do tu hành chứng ngộ, hóa
độ chúng sinh chứ không phải địa vị sang giàu ở cõi đời.
Ông Duy Ma
Cật muốn cứu độ chúng sinh, dùng phương tiện khéo thị
hiện làm thân trưởng giả ở thành Tỳ Xá Li. Thị là chỉ
bày, hiện là cho thấy. Thị hiện là hiện ra tỏ bày cho thấy,
làm gương sáng cho mọi người noi theo. Nếu hiểu theo nghĩa
đen của lời kinh thì ông Duy Ma Cật cũng làm giống như Ðức
Phật Thích Ca, giáng trần làm người, sinh ra như một trẻ
nhỏ thường, lớn lên làm Trưởng Giả, có vợ con quyến
thuộc, để mọi người thấy rõ ông cũng giống như mọí
người, chỉ khác ở chỗ ông thực hành Lục Ðộ và dùng
mọi phương tiện để hóa độ chúng sinh, đời sống gương
mẫu. Ðây là Bồ Tát thị hiện ở đời làm Trưởng Giả,
tức là một cư sĩ tại gia, có nếp sống thanh tịnh, có thần
thông lớn, được tự tại, giác ngộ.
Còn nếu
muốn hiểu theo nghĩa bóng thì đoạn kinh này chỉ bày các
phương pháp tu hành của người cư sĩ tại gia, dùng mọi phương
tiện để tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn, như tu Lục
Ðộ tu Phạm hạnh, không đắm nhiễm ba cõi, hướng về giải
thoát.
Tùy theo căn
cơ, ai muốn hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng cũng được,
miễn là bắt chước Cư Sĩ Duy Ma Cật tu hành nhiếp độ chúng
sinh. Nếu việc làm được viên mãn tốt đẹp thì trí huệ
sẽ phát huy sáng suốt, lúc đó sẽ biết Duy Ma Cật có thật
hay chỉ là nhân vật tượng trưng. Ðiều quan trọng là thực
hành, là làm, là tu là sửa đừng bàn lý thuyết suông.
Sau đây là
những phương pháp tu hành, những việc làm của ông Duy Ma
Cật để hóa độ chúng sinh. Từ câu: có của cải nhiều
vô lượng... đến câu nhiếp độ những kẻ vô trí: là nói
về Lục Ðộ hay Lục Ba La Mật gồm có: Bố Thí, Trì Giới,
Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Ðịnh và Trí Huệ, là sáu phương
pháp tu hành của các Bồ Tát hoặc của những người phát
tâm Bồ Ðề, thọ Bồ Tát Giới, tu Bồ Tát Hạnh, phá ngã
chấp và pháp chấp, quên mình vì người.
Nhiếp là
sửa cho ngay thẳng, đoan chính, nghiêm trang. Ðộ là đưa qua
sông mê bể khổ, tội lỗi phiền não, tới bờ bên kia. Nhiếp
độ là thâu phục, giúp đỡ chúng sinh bằng những phương
tiện hợp căn cơ hoàn cảnh để đạt mục đích thức tỉnh
chúng sinh ra khỏi giấc đại mộng triền miên, cứu giúp họ
bỏ tà theo chánh, bỏ xấu theo tốt, bỏ ác theo thiện, bỏ
trầm luân hướng về giải thoát.
Vì chúng
sinh nghèo hèn khốn khổ, lại hay làm điều xằng bậy, giận
dữ, biếng lười, tâm ý tán loạn vô trí nên ông Duy Ma Cật
thực hành sáu Ba La Mật để đối trị, bắt đầu bằng Bố
Thí và tận cùng là Trí Huệ. Bố Thí là bước đầu để
thâu phục nhân tâm khiến họ cảm mến, rồi dạy họ tu tập
lần lần đưa đến Trí Huệ sáng suốt, thật là một phương
pháp khéo léo, dễ thành công.
Các Bồ Tát
tùy theo đối tượng mà làm các công hạnh, chúng sinh thiếu
gì muốn gì cần gì thì cho nấy, nghèo đói thì cho cơm áo,
làm điều xằng bậy thì dạy giữ giới, giận dữ thì dùng
hạnh nhu hòa nhẫn nhục, lười biếng thì dạy chăm chỉ cần
mẫn, tâm ý tán loạn thì dạy thiền định để cột giữ
tâm ý, vô trí ngu si thì dạy cách làm sáng tỏ Trí Huệ để
được giác ngộ. Lục Ðộ thật là những phương thuốc thần
diệu để chữa trị các tâm bệnh của chúng sinh. Các Bồ
Tát thực hành Lục Ðộ đến chỗ Tam Luân Không Tịch nghĩa
là phá chấp hoàn toàn, không thấy có người làm, không thấy
có người được hưởng, không thấy có việc làm, các Bồ
Tát thấy việc phải là làm, làm xong là quên, là xả hết,
tâm không dao động, an nhiên tự tại, như vậy mới là rốt
ráo, vô cầu, vô chứng, vô đắc.
Tuy làm người
bạch y cư sĩ mà giữ gìn giới hạnh thanh tịnh của Sa Môn.
Bạch y là áo trắng, theo phong tục Ấn Ðộ, người tại gia
ưa thích mặc y phục mầu trắng vì nó không thu hút sức nóng,
bụi bẩn là thấy rõ đem giặt sạch ngay. Mầu trắng cũng
tượng trưng cho sự tinh khiết trong sạch, kinh sách dùng danh
từ bạch y cư sĩ để chỉ những người tại gia, khác với
người xuất gia thường mặc y phục mầu vàng hoặc nâu.
Giới hạnh
là những việc làm ngay thẳng không phạm các điều răn cấm
của Phật. Cư sĩ tại gia giữ năm hoặc tám hoặc 58 giới
Bồ Tát, Sa Di 10 giới, Tỳ Kheo 250 giới, Tỳ Kheo Ni 348 giới.
Khi đã tự nguyện giữ giới rồi thì suốt đời không được
phạm một giới nào cả, giữ gìn hành động, lời nói và
ý nghĩ nữa, không cho phạm giới.
Sa Môn, phiên
âm chữ Phạn Samana, có ba nghĩa:
1) Cần sách:
siêng làm việc thiện.
2) Tức từ:
kbông làm việc ác.
3) Khất
sĩ: đi xin ăn, trên cầu giáo pháp của Phật, dưới hóa độ
chúng sinh, giữ phận nghèo, không giữ tiền. Xin ăn không phải
là lười biếng ươn hèn mà là phương tiện gần gụi chúng
sinh để dạy bảo, giúp đỡ. Xin ăn để khỏi lo bận tâm
nấu nướng, có nhiều thời giờ tu thiền quán tưởng, làm
các Phật sự.
Ba cõi là
Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Dục Giới là cõi
chúng sinh còn tình dục, nhơ uế, ô trược, như cõi Ta Bà
này. Sắc Giới là cõi chúng sinh đã thanh tịnh hơn, không
còn tình dục, nhưng còn hình sắc. Vô Sắc Giới là cõi chúng
sinh không còn hình sắc, nhưng còn tư tưởng. Tất cả chúng
sinh trong ba cõi, từ địa ngục cho đến các cõi trời cao
nhất, đều chưa ra khỏi vòng sinh tử luân hồi, còn phải
tái sinh nhiều đời nhiều kiếp.
Cư Sĩ Duy
Ma Cật vì muốn độ người nên dùng phương tiện khéo thị
hiện làm ông trưởng giả, do lòng từ bi ứng thân xuống
cõi trần chứ không bị nghiệp báo dắt dẫn nữa, vì ông
đã được giải thoát từ lâu, tuy hiện thân ở đời mà
tâm đã hoàn toàn thanh tịnh, ví như người đóng trò trên
sân khấu, cũng hò hét múa may nhưng khi vai trò hoàn tất, cởi
bỏ mũ áo râu ria thì không còn dính dấp gì đến vai trò
vừa đóng. Bồ Tát Duy Ma Cật đã khéo đóng vai trò cư sĩ,
bên trong là mật hạnh cùa người giác ngộ vô nhiễm, bên
ngoài là tại gia cư sĩ, nhưng là một người khác thường,
thường tu phạm hạnh, ưa sự xa lìa... Ðoạn kinh này đề
cao những đức hạnh của Bồ Tát, tuy ở trong đời mà không
đắm nhiễm thế tục còn mang thân hình của một cư sĩ mà
Tâm đã thanh tịnh, đó là biểu tượng hai mặt của một
thực thể bất khả phân, hiện tượng và bản thể tuy hai
mà một, động không lìa tịnh, sóng không rời nước, như
câu thơ sau đây diễn tả:
Thân tuy ở
cõi Ta Bà,
Mà lòng
đã gửi bên tòa hoa sen.
Chúng ta đừng
chấp tướng bề ngoài mà hãy cố gắng đi sâu vào bên trong,
thâm nhập bản thể, dùng phép nội quán để thấy bộ mặt
thật của mình (Bản Lai Diện Mục). Ngài Duy Ma Cật thị hiện
làm cư sĩ nhưng chính là một vị Ðại Bồ Tát nên mới có
được những đức hạnh cao quý như vậy. Chúng ta hãy xem
những hành động của ông trong khi lăn lộn ở thế gian, tiếp
xúc với mọi hạng người trong mọi hoàn cảnh.
Cư sĩ Duy
Ma Cật an nhiên tự tại đi vào những nơi nhơ uế như sòng
bạc, nhà hát, ổ điếm, quán rượu... mà không sợ nhiễm
ô, vì Ðịnh đã vững, Huệ đã sáng, Tâm thanh tịnh thì ngoại
cảnh không làm lay động thân tâm, không cám dỗ nổi. Ngài
cần đi vào những nơi tội lỗi để cứu chúng sinh, nếu
cứ đứng ngoài cửa hoặc đằng xa mà nói thì làm sao cảm
hóa người khác được. Bồ Tát phải hòa quang đồng trần
thân mật sát cánh với người đời thì mọi người mới
thông cảm, quý mến, nghe lời, đó là Bồ Tát khéo dùng phương
tiện thân cận để độ chúng sinh.
Ông Duy Ma
Cật không kiêu căng tự phụ cho rằng chỉ học Phật Pháp
là đủ, là cao quý mà lại còn học hỏi các pháp ngoại đạo,
đọc sách thế tục... để mở mang kiến thức, học hỏi
rộng rãi các pháp môn tu hành, ông thật có một tâm hồn
rộng mở vì biết rằng Vạn Giáo Ðồng Nhất Lý, các tôn
giáo tuy có hình thức khác nhau nhưng đều do một Lý mà ra,
đều suy tầm Chân Lý, đường đi có khác mà mục đích lại
giống nhau, đó là trở về nguồn gốc, thâm nhập bản thể,
phát huy Trí Huệ, nhập một với Chân Như.
Cư Sĩ Duy
Ma Cật giữ vững lòng tin, có chánh kiến, đem pháp Ðại Thừa
ra làm lợi ích cho chúng sinh, nhiếp độ lớn nhỏ, dạy dỗ
trẻ thơ vì biết rằng tất tả chúng sình đều có Phật
Tánh, trước sau rồi cũng thành Phậl. Dù trẻ thơ hoặc người
ngu đần chưa kham nổi giáo lý cao siêu, nhưng cứ gieo hột
giống tốt vào tâm điền, sau này đủ duyên sẽ nẩy mầm,
đơm hoa, kết quả. Tuy học rộng hiểu nhiều, biện tài vô
ngại, giảng nói Ðại Thừa nhưng ông lại không ngã mạn
kiêu căng tự đắc, mà lại cung kính tất cả mọi người,
lấy đó làm việc cao quý nhất trong sự cúng dường, đó
là vì ông đã thấy mỗi chúng sinh là một vị Phật sẽ thành,
bổn phận Bồ Tát là phải giáo hóa để chúng sinh đi mau
trên con đường thành Phật. Vì nhìn thấu suốt Phật Tánh
bên trong mọi người nên ông hết lòng cung kính, đúng như
lời nguyện thứ nhất của Bồ Tát Phổ Hiền: Nhất giả
lễ kính chư Phật. Cung kính lễ Phật, cung kính cúng dường
chúng sinh đều là những phương pháp khéo léo để diệt trừ
ngã chấp, phá hết ngã mạn kiêu căng.
Tuy thị hiện
là trưởng giả, còn làm ăn buôn bán nhưng không phải mục
đích kiếm nhiều lời lãi, mà dùng tiền để bố thí cho
kẻ nghèo, vả lại, ông được tôn quí nhất trong hàng các
trưởng giả nên mọi người đều nghe theo, trong bất cứ
giai cấp nào: Sát Ðế Lợi, Bà La Môn, Vương Tử, Ðại Thần,
cao như Phạm Vương, Ðế Thích, thấp xuống hàng thứ dân,
ông đều khéo léo dùng mọi phương tiện để khuyên dạy
nên ai ai cũng y lời mà tu hành để được an lạc.
Trên đây
là đoạn kinh tả các sự việc để làm nổi bật tư cách
cao quý của ông Duy Ma Cật, thấy chúng sinh sống trong cảnh
khổ mà không biết là khổ, cứ ham vui tạo nghiệp ác nên
ông phải dùng nhiều phương tiện để hóa độ. Thí dụ nhà
lửa trong kinh Pháp Hoa cũng cùng một ý đó.
Các hàng
chúng sinh thiếu đức tánh gì thì ông Duy Ma Cật dạy họ
bổ túc những đức tánh đó ngõ hầu trở nên những người
toàn thiện, phước huệ song tu. Ðoạn kinh này rất giống
phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa nói về Ðức Bồ Tát Quán
Thế âm thị hiện các thân hình khác nhau để thuyết pháp
cứu độ mọi loài chúng sinh.
Chúng ta có
thể hiểu theo nghĩa ẩn như sau: Khi một người bất cứ ở
giai cấp địa vị nào mà quên mình làm lợi ích giúp đỡ
người chung quanh thì chính ngay lúc đó, họ đang thực hành
Bồ Tát Ðạo hoặc có thể nói họ chính là Bồ Tát hiện
thân. Chúng ta đừng lầm tưởng các Bồ Tát phải có tướng
hảo quang minh, hào quang sáng rực, bay trên mây hiện thần
thông... Các Ngài thường sống lăn lộn với người đời
mà không ai hay biết. Một người nhảy xuống sông vớt một
em bé sắp chìm, một người khác xông vào nhà cháy để cứu
một cụ già không tìm được lối ra, một nông dân thấy
đập nước sắp bị nước xoáy thủng liền vác cuốc, lấy
đất đá lấp lỗ hổng, một phụ nữ thấy cây cầu gỗ
lung lay liền mang búa, gỗ, đinh ra chèn cho chắc, một y tá
xông vào chiến trận để cứu thương bệnh binh, mộl bà già
dùng lời nói ngọt ngào khuyên nhủ người buồn khổ, một
trẻ em dắt người mù qua đường... đó là những hành vi
vì người chứ không vì minh, chư Bồ Tát hiện thân hoặc
các người dân thường hành Bồ Tát Ðạo đều như nhau cả.
Chư Tăng Ni hoặc các cư sĩ đi thuyết pháp, các người giàu
có làm việc phước thiện mà không có lòng mong cầu, thậm
chí đến các loài vậl biết hy sinh cứu giúp đồng loại,
các cây to cho bóng mát, các dòng suối cho nước ngọt... cũng
đều có thể là các Bồ Tát thị hiện làm lợi ích chúng
sinh, những thí dụ như vậy kể ra bao nhiêu cũng không hết.
Tóm lại,
trưởng giả Duy Ma Cật đã khéo thị hiện các thân hình để
hóa độ chúng sinh bỏ ác theo thiện, tu dưỡng thân tâm để
tất cả đều tiến bước trên con đường giải thoát, biết
rõ đời là khổ, thân xác vô thường nên phải mong cầu được
thân Phật, được Pháp Thân như đoạn sau nói rõ.
Trưởng giả
Duy Ma Cật muốn quy tụ một số đông người để nói pháp,
ông liền hiện thân có bệnh. Như trên đã nói, ông là bậc
tôn quý trong các giai tầng xã hội, làm nhiều công hạnh khó
làm cứu giúp nhiều người, ai ai cũng tôn kính quý trọng,
nay nghe tin ông bệnh, mọi người từ Quốc Vương, Ðại Thần,
Cư Sĩ, Bà La Môn cho đến thứ dân, đều đến thăm bệnh,
đông tới vô số ngàn người, ông nhân dịp này mới rộng
nói pháp cho mọi người nghe.
Vì hiện
thân có bệnh nên trước hết ông nói về thân. Ðây là lần
đầu tiên Trưởng Giả Duy Ma Cật lên tiếng trong bộ kinh
này. Từ đầu kinh đến đoạn này đều là những lời Phật
và các đệ tử, chư Thiên nói ra để giới thiệu Cư Sĩ Duy
Ma Cật, bây giờ là lúc ông lên tiếng, mà lời đầu tiên
là một tiếng nổ lớn như sấm sét làm mọi người kinh hoàng.
Thông thường thì ai cũng quý cái xác thân, nó đói thì cho
ăn, mùa lạnh thì mặc áo ấm, mùa nóng thì dùng tơ lụa mát
mềm, nó đau yếu thì lo thuốc thang cứu chữa tẩm bổ, thoa
dầu thơm, bôi son đỏ, giữ gìn sao cho xác thân khỏe mạnh
trẻ đẹp. Cũng vì cưng chiều xác thân quá đáng mà người
ta thường gây nhiều tội lỗi phiền não, đúng như Lão Tử
đã nhận xét: “Ta có nạn lớn vì ta có thân; nếu ta không
có thân thì làm gì có nạn.” Bồ Tát Duv Ma Cật nói thẳng,
không cần vòng vo gì cả: “Này các ngài, cái huyễn thân
này thật là vô thường... người có trí sáng suốt không
bao giờ nương cậy nó.”
Huyền là
giả, không thật, do biến hóa tưởng tượng sinh ra, trước
có sau không, chẳng bền chắc. Cái xác thân mà ai cũng quý
trọng bảo vệ, nghĩ nó là thật, là chắc, là bền, là tốt
thì ông Duy Ma Cật nói là huyễn, là giả, là không thường,
không bền chắc... đúng là một trái bom nổ liệng vào thành
kiến từ xưa của người ta khiến họ kinh hoàng đến tột
độ. Ông nói thân vô thường để phá cái chấp thường của
chúng sinh, xác thân biến hoại, thay đổi từng giây phút,
điều này thì khoa học cũng công nhận trong mỗi giây một
số tế bào trong thân thể chúng ta già yếu, chết đi và được
một số tế bào khác thay thế.
Theo luật
vô thường, xác thân được sinh ra, lớn lên, trụ ở đời
một khoảng thời gian dài hay ngắn, đổi khác vì bệnh, vì
tai nạn, vì già yếu, rồi sau cùng là bị chết, tiêu diệt
(sinh, lão, bệnh, tử hoặc sinh, trụ, dị, diệt).
Sở dĩ chúng
ta cho xác thân ăn ngon mặc đẹp là mong cho nó thoả mãn sung
sướng bền lâu, nay biết nó vô thường thì chẳng nên tiếp
tục làm điều sái quấy tội lỗi (sát sinh, ăn thịt, uống
rượu, tà dâm...) nữa, mà phải hướng về một cáì gì cao
quý hơn, thường còn bất biến, đó là Pháp Thân. Nhưng cũng
không vì thế mà phế bỏ xác thân, hủy hoại tàn phá nó
bằng cách tự tử, biết thân vô thường thì phải tinh tấn
tu hành cho gấp, ví như lửa cháy trên đầu pbải dập tắt
cho mau, không lần chần từ từ được. Cần lìa bỏ hai thái
cực: nuông chiều xác thân hoặc ép xác khổ hạnh, mà phải
theo Trung Ðạo, giữ xác thân sạch sẽ khỏe mạnh để tu
hành đắc Pháp Thân, ví như nuôi con ngựa hay, cho ăn vừa
phải, không no quá, không đói quá, thì nó sẽ đưa chúng ta
về tới đích mau lẹ an lành. Mục đích đoạn kinh này là
phá trừ chấp ngã, chấp thường, hai căn bệnh rất phổ thông
và rất khó chữa.
Sau khi nói
tổng quát về thân vô thường, không bền chắc, mau hư hoại,
không tin cậy được, trưởng giả Duy Ma Cật liền kể rõ
các chi tiết, thật là một lốì trình bày có quy củ trước
sau, đưa ra những nhận xét sai lầm tổng quát của mọi người
rồi sau mới phân tích tỉ mỉ.
Thân như
đống bọt không thể cầm nắm là ý muốn diễn tả không
gian vô thường; thân như bóng nổi không thể còn lâu là diễn
tả thời gian vô thường, xác thân vừa trẻ đẹp đó mà
chẳng bao lâu đã già nua, tóc đen đã điểm sương rồi. Thân
như ánh nắng dợn giữa đồng, nói lên sự vô thường biến
dịch mau chóng, và sự ảo ảnh của thị giác, lấy không
làm có, lấy giả làm thật, Thân như cây chuối không bền
chắc, mau hư hoại. Thân như vật huyễn thuật, do điên đảo
mà ra; thân như cánh chiêm bao, do hư vọng mà thấy có. Hai
câu này nghĩa lý thật rõ ràng, chúng sinh điên đảo vọng
chấp, thân như giả huyễn ví như do ảo thuật làm ra mà cứ
tưởng như có thật, giống như khi nằm chiêm bao, thấy cảnh
nào cũng nghĩ là thật, thấy cọp rượt là chạy cuống quít
kêu cứu, thấy bị ngã từ núi cao là rú lên, kinh sợ hết
hồn... nhưng khi tỉnh giấc thì biết mình vừa nằm mộng,
đâu còn cọp còn núi?
Phật Giáo
chủ trương rằng chúng sinh đang sống trong cảnh mộng lớn,
đang nằm chiêm bao trong suốt mấy mươi năm trường, những
gì chúng ta hưởng sướng hoặc chịu khổ trong cuộc đời
đều là giả. Chỉ cần làm sao thức tỉnh, hết chiêm bao,
sẽ thấy mọi cảnh tượng, danh lợi, ân oán, gia đình thân
thuộc, đều là giả do vọng thức tạo nên. Khi giác ngộ
Chân Tâm thì vọng thức tan biến. Lão Giáo có câu chuyện
giấc mộng kê vàng (Hoàng Lương Mộng) ý nghĩa tương tự.
Chúng sinh điên đảo chấp không làm có, hư vọng chấp giả
làm thật do đó bị trầm luân khồ sở. Phật dạy vô thường
vô ngã, thấy rõ sự thật thì sẽ hết khổ, được an vui
giải thoát.
Thân này
như bóng của hình do nghiệp duyên hiện, thân này như vang
của tiếng do nhân duyên thành: ý kinh đây muốn diễn tả
luật nhân quả nghiệp báo duyên khởi, xác thân sở dĩ có
là do nhiều nguyên nhân từ trước, cái này có là do cái kia
có, cái này không là do cái kia không, quả theo nhân như bóng
theo hình, như vang theo tiếng. Kinh Pháp Cú có câu: Ðau khổ
đi theo tội lỗí như bánh xe đi theo vết chân con bò kéo xe.
Thân như
mây nổi, như điện chớp, sanh diệt mau lẹ, niệm niệm không
dừng: đây là luật vô thường biến dịch, thân ta thay đổi
từng giây phút, người có trí phải biết rõ và tinh tấn
tu hành. Ðoạn kinh này nhắc đến bài kệ quan trọng của
Kinh Kim Cang: Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào
ảnh, như lộ diệc như điển, ưng tác như thị quán, nghĩa
là tất cả pháp hữu vi, mọi sự mọi vật đều như mộng,
như giấc chiêm bao, như bọt nước, như hình bóng, như giọt
sương, như ánh chớp, cần phải quán sát như vậy.
Trong đoạn
sau, từ câu: thân này không chủ... cho đến câu thân này như
rắn độc, như giặc cướp, như chốn không tụ vì do ấm,
giới, nhập họp thành, là ý kinh muốn nói xác thân là vô
ngã, không có tự thể, không tự chủ, do Bốn Ðại (Ðất,
Nước, Gió, Lửa), Năm ấm (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức),
12 Nhập (sáu căn nhập với sáu trần), 18 Giới (sáu căn, sáu
trần, sáu thức) họp thành. Vì do nhân duyên hòa hợp mới
có nên xác thân chỉ là giả có, giả hợp, không bền chắc,
không đáng ưa, chớ ham tiếc, phải nhàm chán nó. Nhưng nhàm
chán xác thân thì phải ưa cái gì quý hơn, đó là thân Phật,
vì thân Phật là Pháp Thân.
Ðức Phật
có ba thân:
1) Pháp Thân,
dịch chữ Phạn Dharmakaya, bất sinh bất diệt, thường trụ,
rộng lớn vô cùng tận, lấy pháp làm thân, mà pháp thì ở
đâu cũng có. đồng nghĩa với những danh từ Chân Như, Pháp
Giới Tánh, Như Lai Tạng... Pháp Thân là chỗ sở y chứa nhóm
tất cả công đức trong Pháp Giới. Phật lấy Pháp Tánh Chân
Như làm thân nên gọi là Pháp Thân. Phật có xuất thế hay
không, Pháp Thân cũng y như vậy, Pháp Thân ở khắp nơi, là
bản thể của muôn loài chúng sinh, Phật và chúng sinh đều
có như nhau, nhưng ở Phật thì nó sáng suốt chiếu soi rực
rỡ, ở chúng sinh thì nó bị vô minh che mờ. Pháp Thân chính
là nơi chúng sinh trở về sau khi diệt hết phiền não vô minh,
phát huy trí huệ sẵn có, vậy nó chính là nguồn gốc của
vạn vật, là Bản Thể của muôn loài, là Bản Lai Diện Mục,
là Phật Tánh vậy.
2) Báo Thân,
có hai thứ:
a) do chữ
Phạn Sambhogakaya, là cái thân tốt đẹp do công phu tu hành
nhiều đời nhiều kiếp mà có, người phàm không trông thấy
mà chỉ có chư Phật thấy được mà thôi. Báo Thân do Lý
và Trí kết hợp mà thành, là ngôi vị quan trọng nhất mà
chúng sinh có thể nương vào, đó là cõi Cực Lạc mà người
tu theo pháp môn Tịnh Ðộ niệm Phật A Di Ðà đến chỗ nhất
tâm bất loạn được vãng sinh về đó, gá trong búp sen.
b) do chữ
Phạn Karmakaya, là thân do nghiệp duyên dẫn dắt và do cha mẹ
sinh ra để trả quả báo. Báo thân của chúng sinh là Karmakaya,
bị luật nhân quả nghiệp báo chi phối. Còn Báo Thân của
Phật, Bồ Tát là Sambhogakaya, vì lòng từ bi mà xuất hiện
nơi đời, các Ngài tự nguyện bước vào cuộc đời để
hóa độ chúng sinh chứ không phài bị luật nhân quả nghiệp
báo chi phối.
Phật
Giáo Nam Tông chủ trương rằng Thái Tử Tất Ðạt Ða là Báo
Thân Karmakaya cuối cùng của Ðức Phật, giáng trần làm người
tu hành tinh tấn diệt trừ nốt vi tế vô minh, phải trả nốt
vài quả báo nhỏ như bị Ðề Bà Ðạt Ða làm hại, chân
chảy máu, bị vu oan... và cuối cùng xả bỏ Báo Thân ở vườn
Sa La để được Pháp Thân.
Còn Phật
Giáo Bắc Tông thì cho rằng Ðức Phật Thích Ca đã thành Phật
từ vô lượng kiếp, và Thái Tử Tất Ðạt Ða là ứng Thân
thị hiện ở cõi Ta Bà, làm gương sáng cho mọi người noi
theo.
Báo Thân
Sambhogakaya của chư Phật Bồ Tát tốt đẹp rực rỡ, có 32
tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Còn Báo Thân Karmakaya của chúng
sinh đẹp hay xấu, sướng hay khổ, sống lâu hay chết yểu
đều do nghiệp báo chi phối quyết định theo luật nhân duyên
nghiêm minh không hề sai chạy.
3) Ứng Thân,
do chữ Phạn Nirmanakaya, còn được gọi là hóa thân hoặc
ứng hóa thân, có hình tướng, có sinh diệt, chúng sinh thấy
được. Có hai loại Ứng Thân:
a) Chư Phật
và Bồ Tát thị hiện như người thường, có cha mẹ sinh ra,
lớn lên tu hành thanh tịnh, làm nhiều công đức, hóa độ
chúng sinh. Ðây chính là trường hợp Ðức Phật ứng thân
thị hiện làm Thái Tử Tất Ðạt Ða, theo lối giải thích
của Bắc Tông.
b) Chư Phật
và Bồ Tát tùy ý biến biện ra nhiều hình tướng, tùy duyên
hiện thân: nam nữ, già trẻ, cầm thú, núi sông, Trời Rồng...
để cứu độ chúng sinh trong một khoảng thời gian và không
gian nào đó, rồi biến mất. Ðức Quán Thế Âm, Ðức Di Lặc
dùng nhiều Ứng Thân thị hiện ở cõi Ta Bà để làm lợi
ích cho muôn loài.
Xin tạm lấy
một thí dụ cho dễ hiểu: Pháp Thân ví như mặt trăng (nguyệt
thể), Báo Thân ví như ánh sáng mặt trăng (nguyệt quang), còn
Ứng Thân ví như bóng mặt trăng in đáy nước (nguyệt ảnh).
Nói một cách khác, Pháp Thân là Thể, Báo Thân là Tướng,
Ứng Thân là Dụng, tuy ba mà một, tuy một mà ba. Trong quyển
sự tích Phật Bà Quan âm có câu:
Cơ thân ngồi
núi PhổÐà,
Thân lên
cõi Phật, thân qua dưới đời.
Cơ thân thường
trụ bất biến thì lúc nào cũng ở núi Phổ Ðà, đó là Pháp
Thân. Thân lên cõi Phật là Báo Thân, còn thân qua dưới đời
là Ứng Thân.
Muốn được
Pháp Thân tức là thân Phật, đoạn tất cả bệnh chúng sinh
thì phải phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác. Phát
tâm là tư tưởng đầu tiên muốn tu hành, muốn cất bước
chân đầu tiên trên đường hướng về giác ngộ. Phát tâm
là Văn, Tư, Tu, là Tín, Nguyện, Hạnh, là Tri Hành hợp nhất
Trước hết phải nghe lời Phật dạy qua các kinh sách, nghe
lời chư Tổ, quý Thầy, các thiện tri thức, rồi suy ngẫm,
thấy đúng thấy phải thì thực hành, tu tâm dưỡng tánh.
Phải có lòng tin, tin Phật là đấng giác ngộ chỉ dạy phương
pháp tu hành chân chánh, tin Pháp là món thuốc chữa được
bệnh khổ, tin Tăng là các vị xuất gia tu hành thanh tịnh,
tin mình có đủ khả năng tu hành đến chỗ giải thoát. Ðã
có lòng tin rồi thì phải phát nguyện thề quyết chí tiến
bước tới mục đích là thành Phật để cứu độ muôn loài.
Sau đó phải thực hành các pháp môn hợp với căn cơ (niệm
Phật, tu thiền...) để phát sinh Ðịnh và Huệ, được sáng
suốt giác ngộ.
Tri và Hành
phải hợp nhất, tu và học phải đi đôi. Tri đứng một mình
thì lạc vào lý thuyết suông, Hành thiếu Tri thì dễ lầm
lạc. Tu mà không học là tu mù, học mà không tu là đẫy sách,
là đếm bò cho người, là đếm bạc cho ngân hàng, mình chẳng
có gì.
Vậy phát
tâm là bước đầu nhưng hết sức quan trọng cho người tu
hành, ai mong hết khổ được vui, muốn thành Phật thì phải
phát tâm cầu Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, dịch nghĩa
chữ Phạn Anudhara Samma Sambodhi, thường được phiên âm là
A Nậu Ða La Sam Miệu Sam Bồ Ðề. Vô Thượng là quả vị
Phật, không còn ai hơn, không gì cao hơn được nữa. Chánh
Ðẳng là cấp bậc chân chánh, cao nhất. Chánh Giác là giác
ngộ sáng suốt chân chánh, không còn mê lầm, sau khi đã hết
vô minh.
Trong Bát
Nhã Tâm Kinh có câu: Chư Phật ba đời nương vào Trí Huệ
mà được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy Trí Huệ
là điều kiện cần yếu để thành Phật, là bước cuối
cùng trên đường giải thoát.
Nhưng đừng
tưởng Bát Nhả Ba La Mật Ða và Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh
Giác là hai cái khác nhau. Theo Luận Ðại Trí Ðộ thì Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác tức là Bát Nhã, chỉ có khác danh từ
mà thôi. Thật vậy, muốn được giác ngộ sáng suốt hoàn
toàn không gì hơn phải là người có Tâm hoàn toàn thanh tịnh,
có trí huệ sáng suốt triệt để. Vậy đứng về phương
diện trí huệ sáng suốt thì gọi là Bát Nhã, còn đứng về
phương diện tỉnh thức giác ngộ chân chánh thì gọi là Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hai phương diện của một
Tâm hoàn toàn thanh tịnh.
Trưởng giả
Duy Ma Cật vì những người đến thăm bệnh mà nói pháp làm
cho vô số ngàn người đều phát tâm vô thượng chánh đẳng
chánh giác: đây là kết quả, là sự lợi ich của bài pháp
mà ông Duy Ma Cật đã phương tiện nói ra, vô số ngàn người
nghe lời chân thật đều thức tỉnh và khởi tâm cầu quả
vị Phật. Phát tâm mới là bước đầu, là khởi hành, bỏ
tà quay về chánh, bỏ mê hướng về ngộ. Có đi là có đến,
bước đầu tuy khó khă nhưng phát âm là nhân, chứng ngộ
là quả, chỉ cần tinh chuyên ròng rặc mà tu hành là bảo
đảm có kết quả tốt.
Bồ Tát dùng
mọi phương tiện để hóa độ chúng sinh, có khi Bồ Tát tiến
tới chúng sinh, có khi Bồ Tát làm cho chúng sinh tìm tới Bồ
Tát. Ở đây, ông Duy Ma Cật dùng phương tiện có bệnh để
mọi người tới thăm ngõ hầu có duyên gặp gỡ để tỏ
bày Chánh Pháp. Hiện thân có bệnh là phương tiện, rộng
nói Chánh Pháp là cứu cánh, phương tiện khéo thì dễ đạt
cứu cánh. Phẩm Phương Tiện dạy rằng: người tu hành đã
chứng được vô sinh pháp nhẫn không xa lánh cuộc đời mà
dùng phương tiện thị hiện ở đời, khéo lợi dụng mọi
hoàn cảnh (cờ bạc, nhà điếm, quán rượu, buôn bán, học
đường, chính trị...), mọi giai tầng xã hội để chỉ dạy
chúng sinh những phương pháp tu hành hoán cải tâm tánh, ví
như hoa sen mọc trong bùn, chuyển chất bùn hôi tanh thành mùi
thơm thanh khiết Bồ Tát lăn mình vào cuộc đời, quên mình
để cứu chúng sinh, hy sinh tất cả để hiến dâng cho mục
đích cao siêu là lợi ích chúng sinh, vì Bồ Tát đã thấy
Lý Bất Nhị, mình và chúng sinh chẳng phải hai, mình là chúng
sinh, chúng sinh là mình. Khi đã Quy Nhất rồi thì không còn
phân biệt ta với người mà chỉ cảm thấy một dòng sông
chan hòa chảy suốt qua mọi chúng sinh, mọi nơi, mọi thời
gian, đó là Tâm Ðại Bi, là Trí Vô phân Biệt.