Dưới
đây là những tài liệu lịch sử cuộc "vận động đòi Bình
đẳng và Tự do Tôn giáo" do Phật giáo Việt Nam phát động:
chống chính quyền nhà Ngô ra lệnh "cấm treo cờ Phật giáo"
trong mùa đại lễ Phật đản PL năm 2507, ngày trăng tròn rằm
tháng tư năm Quí Mão (8-5-1963).
Cuộc
vận động kéo dài 6 tháng, từ 8-5-1963 đến ngày 1 tháng 11
năm 1963, thì Hội đồng Quân nhân Cách Mạng làm cuộc đảo
chính, lật đổ chính thể độc tài gia đình trị nhà ngô;
giải phóng cho toàn dân sau 9 năm phải (nép mình) sống quằn
quại khổ đau dưới một chế độ hà chính, lạc hậu, lỗi
thời. Đạo Dụ số 10 có tính cách kỳ thị tôn giáo, bất
công vốn là sản phẩc dân cáo chung.
Bấy
giờ xin mời bạn cùng chúng tôi tìm hiểu Những diễn biến
của cuộc vận động do Phật giáo Việt Nam chủ động, được
ghi lại từ những tài liệu chính xác của văn phòng Uûy ban
Liên phái Bảo vệ Phật giáo:
a)
Những diễn biến của cuộc vận động
b)
Các Văn bản chính
c)
Dư luận quốc tế và báo chí
Vào
mùa Phật đản PL năm 2507m ngày trăng tròn rằm tháng 4 năm
Quí Mão (8-5-1963); trước đó hai ngày, tổng thống ngô Đình
Diệm ra thông điện số 9195, ngày 6 tháng 5dl 1963, "cấm treo
cờ Phật giáo". Thì chiều ngày 14 tháng 4 âl (7-5-1963), lực
lượng cảnh sát thành phố Huế, theo lệnh khẩn từ Sàigòn
điện ra, đã tỏa đi các chùa các tư gia Phật tử có treo
cờ Pah65t giáo, bắt phải hạ xuống… trong lúc đồng bào
Phật tử cả nước đang hân hoan sửa soạn dựng cổng chào,
chăng đèn, kết hoa để cúng dường ngày Đức Phật Đàn
Sinh.
Lệnh
cấm treo cờ của chính phủ rõ ràng có tính cách miệt thị,
một sự xúc phạm trắng trợn đối với một tôn giáo lớn
của dân tộc đã có chiều sâu và bề dày hai nghìn năm lịch
sử, mà đại đa số người Việt, nếu không muốn nói là
80% dân số toàn quốc đều có mang trong người họ dòng máu
truyền thống tín ngưỡng Đạo Phật từ nhiều đời nay.
Lệnh cấm treo cờ, tuy có một số ít người (vì nhát gan)
phải tuân theo, nhưng đại đa số cương quyết bất phục
tòng.
Qua
sáng ngày hôm sau, tức ngày rằm tháng tư âl (8-5-1963), khoảng
6 giờ 30, một cuộc rước Phật vĩ đại của hàng trăm ngàn
ngươì diễn hành từ chùa Diệu Đế đi qua các ngả đường
cố đô Huế kéo về chùa Từ Đàm, với các biểu ngữ mang
những dòng chữ:
KÍNH
MỪNG PHẬT ĐẢN
CỜ
PHẬT GIÁO QUỐC TẾ KHÔNG THỂ BỊ TRIỆT HẠ
PHẬT
GIÁO ĐỒ NHẤT TRÍ BẢO VỆ CHÍNH PHÁP DÙ PHẢI HY SINH
YÊU
CẦU CHÍNH PHỦ THI HÀNH CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO BÌNH ĐẲNG
CHÚNG
TÔI KHÔNG TỪ CHỐI MỘT HY SINH NÀO
PHẢN
ĐỐI CHÍNH SÁCH BẤT CÔNG GIAN ÁC
ĐÃ
ĐẾN LÚC CHÚNG TÔI BẮT BUỘC TRANH ĐẤU CHO CHỦ TRƯƠNG TÔN
GIÁO BÌNH ĐẲNG.
Tại
chùa Từ Đàm, trụ sở của Hội Phật giáo Trung phần –
Thừa thiên, một lễ đài nguy nga, được dựng lên trước
sân chùa. Chư vị tăng, ni và quần chúng tụ tập trước Lễ
đài để đón mừng đoàn người rước Phật. Cả rừng người
im lặng. Cuộc lễ chính thức được cử hành, dưới sự
chủ lễ của nhị vị tôn đức: Hòa thượng Tịnh Khiết,
hòa thượng Giác Nhiên, cùng chư vị thượng tọa, đại đức
tăng, ni đồng bào Phật tử các giới… Những tiếng tụng
kinh vút cao xen với tiếng chuông trống bát nhã và bầu trời
trong sáng tạo cho buổi lễ thêm bội phần trang nghiêm long
trọng.
Nhưng…
buổi tối hôm đó, đoàn người hiền lành từ các nơi lũ
lượt kéo tới đài phát thanh, yêu cầu đài này cho truyền
thanh cuộn band của Tổng Trị Sự TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT
NAM –theo lệ hàng năm đều có buổi truyền thanh – nhân
đại lễ Phật đản và cũng là ngày kỷ niệm 13 năm thành
lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Nhưng (năm nay) đài này
không những không cho phát thanh (cuộn band đã ghi âm) và…
khoảng 21 giờ cùng ngày, chính quyền sở tại do thiếu tá
ĐẶNG SĨ, phó tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên, chỉ huy một
lực lượng quân đội cảnh sát, mở cuộc đàn áp dã man
làm tám (8) người chết, trong đó có các em đoàn viên Gia
Đình Phật Tử và nhiều người bị cảnh sát quân đội đánh
đập mang trọng thương… những tiếng la khóc, chửi ruả
lũ quỉ mang lốt người – bởi "chúng" đã đánh mất hết
nhân tính?!… Chỉ trong khoảnh khắc (mà) một thảm cảnh
hỗn loạn đã diễn ra trước mắt hàng vạn người, kể cả
những người ngoại quốc từng theo dõi sự vụ.
Bàng
hoàng xúc động trước cảnh thản sát tàn bạo, phi nhân,
một nho sĩ đất thần kinh ngậm ngùi viết trong bài văn tế
"Anh linh các Phật tử đã bỏ mình vì chính pháp".
"…Nào
xe tăng, nào thiết giáp, nào xe cứu hỏa chạy tuôn tràn cán
nát sinh linh;
Nào
súng trường, nào lựu đạn, nào nước vòi rồng bắn tung
bừa đoàn người đạo hạnh.
"Bao
thể phách chia lìa trăm mãnh vỡ, đầu bay mất, cánh tay rơi,
lá cờ Phật vẫn cầm, một lòng son sắt…;
Những
anh hồn hội tụ một vầng sao, ngực vỡ toang, thân ngã gục,
lòng hướng về Đức Phật, lấy máu đền ơn!"
Ngày
9 tháng 5-1963, tòa hành chính tỉnh Thừa Thiên ra thông cáo
số 3168. Nguyên văn:
THÔNG
CÁO CỦA TÒA HÀNH CHÁNH TỈNH THỪA THIÊN
"Theo
chương trình lễ Phật đản tại Huế, tối ngày 8-5-63 lúc
20 giờ có một cuộc múa bông tại chùa Từ Đàm, nên đồng
bào đến đợi xem rất đông. Nhưng đến phút chót, không
có cuộc múa bông như đã định và một số phỏng chừng
3.000 người đã từ chùa Từ Đàm kéo đến Đài Phát thanh
Huế yêu cầu Đài cho phát thanh ngay một phóng sự truyền
thanh về buổi lễ Phật đản cử hành hồi sáng. Lời yêu
cầu đột ngột này lẽ cố nhiên không được thỏa mãn vì
ra ngoài chương trình phát thanh do Ban Tổ chức Lễ Phật đản
đã ấn định.
"Trong
lúc Đại diện Chính quyền và vị Thượng Tọa Hội trưởng
Hội Phật Giáo Trung Phần đang thảo luận để tìm cách thỏa
mãn lời yêu cầu của tín đồ Phật Giáo thì đối phương
đã len lỏi trong đám đông xâm nhập Đài Phát Thanh, đập
phá các cửa, ném đá và chất nổ vào Đài Phát thanh làm
sập trần, vỡ nhiều cửa kính gây thiệt mạng cho 7 đồng
bào và gây thương tích cho 1 đồng bào với 5 binh sĩ có nhiệm
vụ giữ trật tự tại Đài Phát Thanh.
"Trước
hành động dã man của đối phương, cơ quan công lực buộc
lòng phải dùng lựu đạn cay mắt và vòi phun nước để giải
tán kịp thời, ngõ hầu bảo vệ sinh mạng của đồng bào.
Sau đó đồng bào đã lần lượt giải tán và trật tự đã
được tái lập vào lúc 24 giờ.
"Tòa
Hành chánh tỉnh Thừa Thiên rất đau đớn trước sự việc
đáng tiếc trên và xin ân cần kêu gọi đồng bào hãy bình
tĩnh sáng suốt, vạch mặt chỉ tên bọn Việt cộng phá hoại
và triệt để tuân theo kỷ luật quốc gia nhất là trong giai
đoạn khẩn trương hiện tại.
"Để
bảo vệ sinh mạng cũng như quyền lợi của đồng bào, Tòa
Hành chánh tỉnh Thừa Thiên nghiêm cấm mọi cuộc tụ họp,
bắt đầu từ ọ giờ sáng ngày 09-5-63 cho đến khi có lệnh
mới.
Huế,
ngày 9 tháng 5 năm 1963
Tỉnh
trưởng tỉnh Thừa thiên, Thị trưởng thành phố Huế
Ký"
NGUYỄN VĂN ĐẲNG
Chiều
ngày 9 tháng 5-1963, văn phòng Tổng Trị Sự GIÁO HỘI TĂNG
GIÀ VIỆT NAM nhận được một văn bản 5 trang chữ đánh máy
trên loại giấy pelure mỏng và một cuộn band ghi âm việc
xảy ra tại đài phát thanh Huế đêm 8-5-63, do Phật giáo Trung
phần nhờ một sĩ quan không quân chuyển tới [4]
Tổng
trị sự giáo hội trung ương liền triệu tập cuộc họp khẩn
vào lúc 19 giờ cùng ngày (9-5), đã quyết định 3 việc:
1.
Gửi kháng thư cho tổng thống ngô Đình Diệm phản đối việc
cấm treo cờ Phật giáo và việc chính quyền mở cuộc đàn
áp Phật giáo đêm 8-5-1963.
2.
Giáo hội ấn định "tuần nhị thất" ngày 21-5-1963 sẽ tổ
chức lễ cầu siêu cho 8 Phật tử đã hy sinh vỉ đạo trong
một cuộc biểu tình tài đài phát thanh Huế.
3.Đồng
thời quyết định: sau buổi lễ cầu siêu là cuộc rước
bài vị cácanh linh tử vì đạo của chư tăng, ni giáo hội
từ chùa Aán Quang tới chùa Xá Lợi
Va,
ngày 10-5-1963, một cuộc Meeting lớn cửa chư vị tang, ni và
toàn thể đồng bào Phật tử Thừa Thiên (Huế) diễn ra tại
chùa Từ Đàm. Bản Tuyên Ngôn mở đầu cuộc vận động đòi
quyến "BÌNH ĐẲNG và TỰ DO TÔN GIÁO" của năm cấp Trị sự
Phật giáo Toàn Quốc – Trung phần và Thừa Thiên được công
bố.
(Nguyên
văn bản Tuyên ngôn):
"Đã
từ nhiều ngàn năm tăng và tín đồ Phật giáo trên thế giới
cũng như trong nước vẫn trung thành với tôn chỉ: Từ bi,
Vị Tha và Như Thật của Đức từ phụ Thích Ca Mâu Ni.
Phật
giáo đến đâu đều đem lại một không khí an lành ở đó.
Điều ấy lịch sử đã chứng minh.
Và,
đã từ nhiều năm nay Phật giáo đồ bị khủng bố, đàn
áp khắp nơi, chúng tôi vẫn nhẫn nhục, đương nhiên không
phải hèn yếu mà vì ý thức c những nỗi đau khổ, tang tóc
của hoàn cảnh dân tộc hiện tâi. Nhưng đau đớn thay, một
số người đã lợi dụng quyền hành gây ra không biết bao
nhiêu tang tóc đối với tăng và tín đồ Phật giáo khắp
torng nước, đối xử một cách bất công với một Tôn giáo
có hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc. Từ hành động
này đến hành động khác, thậm chỉ đã chà đạp lên quyền
lợi thiêng liêng nhất của Phật giáo đồ: Cờ Phật giáo
quốc tế bị triệt hạ. Quyết định này đã trái hiến pháp
và ngang nhiên vi phạm quyền tự do tín ngưỡng. Trước những
hành động bất công đó, bắt buộc tăng và tín đồ khắp
torng nước chúng tôi phải đứng dậy tranh đấu cho lý tưởng
của mình.
Sự
kiện xảy ra 3 ngày nay chính phản ánh tinh thần đó. Máu đã
chảy, nhân mạng đã bị hy sinh, một lần nữa, chúng tôi
cương quyết đề đạt những nguyện vọng dưới đây lên
chính phủ, yêu cầu thực thi 5 điểm:
1.
YÊU CẦU CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA THU HỒI VĨNH VIỄN CÔNG
ĐIỆN TRIỆT GIÁO KỲ CỦA PHẬT GIÁO.
2.
YÊU CẦU PHẬT GIÁO PHẢI ĐƯỢC HƯỞNG MỘT CHẾ ĐỘ ĐẶC
BIỆT NHƯ CÁC HỘI TRUYỀN GIÁO THIÊN CHÚA ĐÃ ĐƯỢC GHI TRONG
ĐẠO DỤ SỐ 10.
3.
YÊU CẦU CHÍNH PHỦ CHẤM DỨT TÌNH TRẠNG BẮT BỚ, KHŨNG BỐ
TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO.
4.
YÊU CẦU CHO TĂNG, TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO ĐƯỢC TỰ DO TRUYỀN
ĐẠO VÀ HÀNH ĐẠO.
5.
YÊU CẦU CHÍNH PHỦ ĐỀN BỒI MỘT CÁCH XỨNG ĐÁNG CHO NHỮNG
KẺ BỊ CHẾT OAN VÔ TỘI VÀ KẺ CHỦ MƯU GIẾT HẠI PHẢI
ĐỀN BỒI ĐÚNG MỨC.
Những
điều trên đây là những nguyện vọng tối thiểu và thiết
tha nhất của toàn thể tăng và tín đồ Phật giáo trong cả
nước. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh cho đến khi nào những nguyện
vọng hợp lý được thực hiện.
Làm
tại Huế, Phật lịch 2.507, ngày 10-5dl-1963.
Hội
Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt nam
Hòa
thượng TỊNH KHIẾT (ký tên)
Hội
Trưởng Tổng trị Sự thượng tọa T. TRÍ QUANG (ký tên)
Hội
trưởng ban Trị sự, Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên
Thượng
tọa T. THIỆN SIÊU (ký tên)
Trị
Sự trưởng Tổng trị sự Giáo hội Tăng già trung Phần
Thượng
tọa T. MẬT NGUYỆN (ký tên)
Trị
sự trưởng ban Trị sự giáo hội Tăng già Thừa Thiên
Thượng
tọa T. MẬT HIỂN (ký tên)
BẢN
PHỤ ĐÍNH “BẢN TUYÊN NGÔN" của Phật Giáo Việt Nam
đã đọc trong cuộc hội họp của Phật tử tại Chùa Từ-Đàm
– Huế (ngày 10-5-1963)
Trước
khi trình bàt nguyện vọng của Phật giáo đồ Việt Nam qua
bản Tuyên ngôn, chúng tôi thấy cần giải thích quan điểm
của chúng tôi một cách rõ ràng:
I.
QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM.
1)
Đối Với Chính Phủ: Chúng tôi không chủ trương lật
đổ, chúng tôi chỉ có cái nguyện vọng "cải thiện chính
sách". Chúng tôi không nói vấn đề người. Người nào đứng
ra phụ trách chính phủ mà chính sách không cải thiện thì
nguyện vọng của chúng tôi không thỏa mãn. Vì lẽ đó, quan
niệm chúng tôi là ước mong chính quyền có thiện chí và
khả năng cải thiện chính sách mà nguyện vọng Phật giáo
Việt Nam công khai bày tỏ. Chúng tôi cũng tuyên ngôn minh bạch
rằng chúng tôi không nhắm mục đích tranh thủ quyền hành.
Nói thế, có nghĩa chúng tôi đã và mãi mãi giữ cho Phật
giáo thuần túy, nhưng không phải vì vậy mà Phật giáo đồ
không quan tâm đóng góp vào ích lợi quốc gia theo nghĩa vụ
công dân của mình; trái lại, Phật giáo đồ đã và phải
tích cực đóng góp theo nghĩa vụ công dân vào lợi ích quốc
gia để –về phương diện tín ngưỡng – làm cho Phật giáo
của mình phát triển và phát triển một cách thuần túy.
2)
Không coi Ai Là Kẻ Thù: Dĩ nhiên sự động cập khó mà tránh
khỏi, nhưng chúng tôi tuyên bố không coi ai là kẻ thù, nah61t
là đối với đạo Thiên chúa. Lẽ thứ nhất, dẫu cho từ
ngày đạo Dụ số 10 ra đời đến bây giờ, sự thiên vị
đạo Thiên chúa đã công khai, nhưng chúng tôi tranh đấu là
tranh đấu cho lý tưởng công bình (và vì thế mà động cập
đến đạo Thiên chuá) chứ không phải tranh đấu với tư
cách một Tông giáo chống với một Tôn giáo. lẽ thứ hia
về mặt tín ngưỡng, tuy chúng tôi không thừa nah65n Tôn giáo
khác, nhưng vế quan niệm –nhất là quan niệm của con người
sống gần hậu diệp thế kỷ 20= chúng tôi cho ràng bất cứ
ai, kể cả chúng tôi, nếu cho Tôn giáo của mình có giá trị
tuyệt đối và chỉ có Tôn giáo của mình mới đáng tồn
tại thì đây là quan niệm sai lầm nhất.
3)
Chỉ Tranh Đấu Cho Lý Tưởng "Tôn Giáo Bình Đẳng". Thế nào
gọi là "Tôn giáo bình đẳng" theo quan niệm của chúng tôi?
a)
Các Tôn giáo phải được xác định lại, quốc gia phải qui
định thế nào là một Tôn giáo xứng đáng được hưởng
những chế độ đặc biệt. Như thế có nghĩa chúng tôi không
thể chấp thuận đồng bóng, phù thủy v…v.., là Tôn giáo
được quốc gia thừa nhận (cũng như danh từ "công giáo" không
thể dùng để gọi đạo Thiên chúa).
b)
Các tôn giáo được xác định, sẽ cùng hưởng một chế
độ "bình đẳng" có nghĩa cùng được quan niệm là có tư
cách Tôn giáo như nhau. Nhưng bình đẳng là "bình đẳng trong
bình đẳng", vì đó, giá trị các Tôn giáo vẫn khác nhau.
c)
Tôn giáo bình đẳng là một điểm nổi nhất, thiêng liêng
nhất, trong lý tưởng công bình xã hội. Với quan niệm Tôn
giáo bình đẳng như vậy, đối chiếu với tình trạng hiện
hữu, chúng tôi bất mãn sự thiên vị của đạo Dụ số 10,
cùng cản thấy "ngày trước những người Công Sản lợi dụng
danh nghĩa chống ngoại xâm để tiêu diệt các phái quốc gia
thì ngày nay cũng có cái vẻ người Thiên chúa lũng đoạn
công việc chống cộng sản để lấn áp các Tôn giáo khác,
nhất là Phật giáo chúng tôi". Đó là nguy cơ cho qyốc gia
và làm chia rẽ Tôn giáo. Vì lẽ đó Phật giáo đồ chúng
tôi ph3I công khai, bày tỏ rõ rệt nguyện vọng của mình.
và như thế, không những lý do mà phạm vi chúng tôi tranh đấu
đó đã được ấn định rõ ràng: Với danh nghĩa Phật giáo,
chúng tôi đã làm một việc tranh đấu cho lý tưởng "Tôn
giaó bình đẳng trong khuôn khổ của lý tưởng công bình xã
hội".
4)
Phương Pháp Tranh Đấu Mà Chúng Tôi Aùp Dụng.-
Phương
pháp ấy là "bất bạo động". Chúng tôi ý thức chúng tôi
đang ở trong hoàn cảnh mà chính trị và quân sự cực kỳ
phức tạp. Chúng tôi, hơn thế nữa, phải thể hiện tư tưởng
của Phật giáo ngay trong công cuộc tranh đấu của chúng tôi.
Vì những lý do đó, chúng tôi chấp nah65n một sự hy sinh đến
cùng độ và lấy sự hy sinh ấy làm sức mạnh – để rung
chuyển tận lòng người chứ không phải chỉ rung chuyển
chính sách mà thôi. Ngay từ bây giờ, chúng tôi có thể tuyên
bố minh bạch rằng những người tăng sĩ của Phật giáo là
những người sẵn sàng noi gương Gandhi – vị Thánh của sức
mạnh "bất bạo động" và như vậy, chính phủ chỉ nên nghĩ
đến điều ấy hơn là nhọc lòng nghĩ đến Phật giáo đồ
được huy động.
Chúng
tôi lại xác định thêm: chúng tôi với phương pháp "bất
động" sẽ tranh đấu trong phạm vi hợp pháp được ngần
nào tốt ngần đó. Nhưng tinh thần và phương pháp "bất bạo
động" không phải chỉ có thế, nên chúng tôi sẵn sàng hy
sinh đến cùng theo phương pháp này.
5)
Không Chấp Nhận Mọi Sự Lợi Dụng.- Như đã trình bày hết
sức rõ ràng: mục đích tranh đấu của Phật giáo đồ chỉ
nhắm vào lý tưởng Tôn giáo bình đẳng trong khuôn khổ lý
tưởng công bình xã hội; vì lẽ đó, chúng tôi từ chối
mọi sự lợi dụng không phù hợp với Tôn chỉ chúng tôi
nhất là những người cộng sản và những kẻ mưu toan chức
vị chính quyền.
II.
NGUYỆN VỌNG CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM QUA BẢN TUYÊN NGÔN.
Nguyện
vọng thứ 1.- "Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thu hồi
vĩnh viễn công điện triệt giáo kỳ của Phật giáo"-
Chúng tôi phải nói tiên quyết rằng nguyện vọng này không
chứa đựng sự phủ nhận quốc kỳ, chúng tôi tuyên bố thừa
nhận và tôn trọng quốc kỳ. Nhưng chúng tôi chỉ phản đối
sự hạn chế của Bộ Nội Vụ vừa qua và sự triệt hạ
thực sự của văn phòng tổng thống vừa rồi đối với giáo
kỳ của các Tôn giáo mà Phật giáo phải chịu đầu tiên
nhân ngày Phật Đản. Nguyện vọng của chúng tôi, dựa trên
quan niệm quốc c trọng đại, các cơ quan Tôn giáo và mọi
tư gia đều phải và chỉ treo lên trong những ngày đại lễ
của quốc gia, còn giáo kỳ dầu sao cũng chỉ là của một
Tôn giáo nên chỉ được treo lên tại cơ quan Tôn giáo và
tư gia tín đồ thuộc trong những ngày đại lễ của Tôn giáo
ấy. Dĩ nhiên, cái chỗ treo lên nói trên đây là cửa chính
của các cơ quan Tôn giáo và tư gia. Cùng một quan niệm đó
chúng tôi thiết nghỉ trong đoàn kiệu rước của Tôn giáo,
chỉ được mang giáo kỳ, cũng như xe nhân vật quan trọng
trong các Tông giáo khi cần thượng cờ lên theo sự quan trọng
mà các Tôn giáo tự ấn định thì cũng chỉ được mana giáo
kỳ.
Nguyện
Vọng thứ 1.- "Yêu cầu của Phật giáo phải được hưởng
một chế độ đặc biệt như các giáo hội truyền giáo Thiên
chúa đã được ghi trong đạo Dụ số 10" .- Điều này chúng
tôi phải trình bày bằng 3 tiểu mục như sau: Trước hết
chúng tôi nói chi tiết kế có nói đại thể, sau hết là nguyện
vọng sử đổi của chúng tôi.
a)
Nói về chi tiết, đạo Dụ số 10 có những nét chính mà hcúng
tôi phản đối, như sau:
-Qua
điều thứ 1, đạo Dụ đó liệt các Tôn giáo (trừ Thiên
chúa và Gia tô) như hết thảy hiệp hội thường của tất
cả tầng lớp nah6n dân: Tôn giáo được xem như (và có thể
thua bởi điều 14 và vì tính chất gọi là "lợi ích chung:
của Dụ ấy), những hội tiêu khiển, thể thao, bất kể đến
tính cách thiêng liêng của Tôn giáo, bất kể đến nếp sống
khác biệt cách nào của Tôn giáo!
-Qua
điều thứ 7, giấy phép của các hiệp hội Tôn giáo, "có
quyền bác khước đi không cho phép lập hội mà không phải
nói lý do, phép cho rồi có thể bãi đi vì trái điều lệ
thay vì lẽ trị an". "Lẽ trị an" là từ ngữ không có giới
hạn nào rõ rệt và đã bị lợi dụng quá đáng từ ngay người
Pháp trở lại Việt Nam đến bây giờ! Ấy là chưa nói rằng,
nếu thế gian này có cái gì được gọi là vĩnh viễn thì
cái đó là Tôn giáo, vậy mà Tôn giáo lại bị ghép vào hiệp
hội với giấy phép cho và bãi một cách cực kỳ đơn giản
như trên!..
-Qua
các điều 10, nhất là điều 12, Tôn giáo bị kiểm soát một
cách cự kỳ nghiêm khắc và bởi bất cứ nhân viên nào của
Hành chính và Tư pháp. Cũng may mà sự kiện này, các Tôn giáo
đã không bị thi hành một cách quá đáng, nếu bị thì còn
gì là tư cách Tôn giáo và thể thống quốc gia!
-Qua
các đoạn sau của điều 14 và điều 28, tài sản Tôn giáo
từ tính chất cố hữu của nó là "lạc cúng" để thực hiện
việc truyền đạo linh thiêng và vô cùng, thì đã trái lại,
chỉ được có số tiền đóng góp phải định trong điều
lệ và chỉ có quyền có những bất động sản "thật cần
thiết"! mà "thật cần thiết" là xét theo công tố viện! Rồi
xét không "thật cần thiết" thì phải đem bán đấu gía!
Gần
đây thậm chí quyền tạo mãi bất động sản và nhận sự
lạc cúng bất động sản dầu bé nhỏ đến đâu cũng phải
được sự cho phép của tổng thống do công văn số 166-TTP/TTK/I
ngày 23.9.60 của Tòa Thư ký Tổng Thống Phủ.
-Qua
các điều 18, 19 nhất là 25, 26 và 27, đạo Dụ số 10 trái
ngược với tính chất căn bản của Tôn giáo. Căn bản của
Tôn giáo dựa trên đức tin thuần chính và sự tiến bộ về
đời sống tâm linh theo Tôn giáo. Không phải và không thể
do bầu cử mà người được bầu cử thành một tín đồ
hay thành một tu sĩ. Nhưng đạo Dụ số 10 đặt các Tôn giáo
váo cái căn bản hiệp hội là đại hội đồng bầu cửa
và quyết định mọi việc.
Với
tính chất đặt các Tôn giáo vào phạm vi hiệp hội, đạo
Dụ số 10 triệt hạ hết thảy giá trị Tôn giáo "may mắn"
còn điều 44 ghi "chế độ đặc biệt cho các hội truyền
giáo Thiên chúa và Gia tô". Nhưng cái "may mắn" ấy đã chứng
tỏ sự thiên vị cực kỳ vô lý kể cả mọi phương diện,
nhất là về cái gọi là "giặc chia rẽ" mà chính phủ hiện
tại đã và đang quyết liệt đả kích!
b)
Bây giờ chúng tôi nói đến cái vô lý đại thể của đạo
Dụ số 10:
-Trước
tiên đạo Dụ số 10 có từ 1950, dưới chế độ quốc trưởng.
Nếu chế độ này chỉ được thay người mà không phải thay
đổi bằng chế độ tổng thống thì đạo Dụ sốù 10 được
áp dụng là điều chúng tôi không ngạc nhiên. Hoặc gia nó
được công nhận còn hữu hiệu mà áp dụng thì còn ít ngạc
nhiên! đằng này, một chế độ đã bị lật đổ, một đạo
luật của chế độ chỉ áp dụng cho tất cả Tôn giáo: đó
là căn bản pháp lý mà chúng tôi thấy cực kỳ mâu thuẫn.
-Theo
điều 44 của đạo Dụ số 10. "Chế độ đặc biệt cho các
hội truyền giáo Thiên chúa và Gia tô", nhưng từ 1950 đến
bây giờ chế độ đó vẫn chưa thấy quy định và ban hành.
Như vậy, một mặt chứng tỏ tính chất dung túng và thiên
vị các hội truyền giáo này một cách vô lý, mặt khác, làm
cho Thiên chúa giáo và Gia tô giáo ở mãi trong tình trạng nếu
không phải là căn bản pháp lý không có thì phải gọi là
tồn tại trên căn bản pháp lý của thực dân Pháp!
c)
Do đó, nguyện vọng của chúng tôi như sau:
-Hãy
rút các Tôn giáo kể cả Thiên chúa và Gia tô ra khỏi phạm
vi ràng buộc hay thiên vị của đạo Dụ số 10.
-Hãy
ban hành một chế độ đặc biệt cho các Tôn giáo trong đó
có Phật giáo, Thiên chúa và Gia tô.
-Nếu
ghi một "chế độ đặc biệt" với ý thức trọng thị thì
phải ghi "chế độ đặc biệt cho các Tôn giáo trong đó có
Phật giáo, Thiên chúa và Gia tô".
Nguyện
Vọng thứ 3.- "Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt
bớ, khủng bố tín đồ Phật giáo" và
Nguyện
Vọng Thứ 4.- "Yêu cầu cho Tăng, tín đồ Phật giáo được
tự do truyền đạo và hành đạo".- Hai điều này, nếu nói
trên minh văn giấy tờ hay chủ trương công khai của chính
phủ thì dị nhiên không có sự khủng bo Phật giáo và trở
ngại sự truyền đạo của Phật giáo, nhưng tình trạng sau
đây thì thực nặng nề; ấy là sự thi hành lêch lạc chính
sách của chính phủ! Tình trạng ấy tuy cục bộ nhưng đã
xảy ra nhiều nơi có nhiều lúc đã tạo thành một sự thực
hiển nhiên là ngày nay ai cũng cảm thấy chứ không những
chỉ nhận thấy mà thôi, rằng"Phật giáo bị kỳ thị thật
sự".
Vì
vậy, nguyện vọng của chúng tôi là yêu cầu tổng thống
chỉ thị bằng minh lệnh cho tất cả các cấp chính quyền
hãy thi hành nghiêm chỉnh chính sách tự do tín ngưỡng và
chính sách đoan kết Tôn giáo mà chính phủ chủ trương, nhất
là tổng thống đặc biệt lưu tâm kiểm tra sự chấp hành
minh lệnh của tổng thống, trừng trị xứng đáng những kẻ
lợi dụng quyền hành để thỏa mãn kỳ thị, lấn áp kẻ
khác, chấm dứt tình trạng tự động ở các địa phương
núp sau chiêu bài chống cộng để gây tang tóc cho quần ch1ung.
Nếu không, sự lệch lạc chính sách vẫn được dung túng
thì cái tình trạng lợi dụng danh nghĩa chống cộng sản để
phát triển Thiên chúa giáo và lấn áp Phậât giáo, tạo ra
một tình trạng chia rẽ ngày càng trầm trọng thì ngay bây
giờ và mai hậu, chỉ người cộng sản có lợi mà htôi!
Ơû
điểm này Phật giáo yêu cầu tổng thống lập một hệ thống
thanh tra chính xác vô tư, để thả ra những Phật tử đã
bị bắt bớ chỉ vì lý do tín ngưỡng (điển hình như vụ
Phú Yên, Quảng Ngãi, Bình Định v.v.., mà hồ sơ liên hệ
chúng tôi đã gửi đến tổng thống và quốc hội đề ngày
20-2-1962) và chấm dứt tình trạng trả thù bắt cóc, thủ
tiêu và trong trường hợp tội trạng nếu có thì phải được
xử theo luật lệ minh bạch của quốc gia.
Nguyện
Vọng Thứ 5.- "Yêu cầu chính phủ bồi thường một cách xứng
đáng cho những kẻ bị giết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết
hại phải đền tội đúng múc".- Điều này là chúng tôi nói
đến những người thiệt mạng tại đài phát thanh Huế. Họ
chết trong lòng cuộc tranh đấu công khai của Phật giáo nên
họ đã được Phật giáo gọi là "Thánh tử vì đạo" của
mình. Nhưng như thế chưa đủ. Họ phải được đền bồi
xứng đáng về phương diện vật chất và kẻ chủ mưu giết
hại phải được truy tố (dầu cho chúng tôi đứng mặt nguyên
cáo sẽ xin chính phủ tha tội cho họ), bởi vì chúng tôi quan
niệm mọi việc xảy ra bất cứ ở đâu và dưới hình thức
nào trong lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, trách nhiệm vẫn ở
chính phủ: Trách nhiệm giữ gìn an ninh cho quốc gia và đồng
bào.
Nói
tổng quát, nguyện vọng của Phật giáo Việ Nam, như đã nói
là "cải thiện chính sách", như sau:
-Đối
với nguyện vọng 1 và 2 thì yêu cầu cải thiện bằng cách
ra minh lệnh và lập hệ thống thanh tra để kiểm soát chặt
chẽ sự thi hành minh lệnh ấy: minh lệnh cho các cấp chính
quyền hạ tầng phải chấp hành nghiêm chỉnh chính sách tự
do tín ngưỡng và chính sách đoàn kết Tôn giáo của chính
phủ.
-Đối
với nguyện vọng thứ 5 thì truy tố thủ phạm gây ra chết
chóc tại đài phát thanh Huế và làm thỏa mãn gia quyến các
nạn nhân của vụ đó.
III.
NHỮNG NGUYỆN VỌNG CẤP BÁCH CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM.
1)
Yêu cầu tổng thống và chính phủ cứu xét bản TUYÊN NGÔN
và bản PHỤ ĐÍNH của chúng tôi, và torng một thời gian càng
sớm càng tốt, thỏa mãn nguyện vọng chính đáng của Phật
giáo Việt Nam. Sự thỏa mãn ấy là chính phủ có minh văn
và công bố trên những cơ quan chính thức.
2)
Yêu cầu tổng thống ra lệnh không bắt bớ, trả thù quần
chúng Phật giáo trong vụ công khai tranh đấu này bởi vì họ
chỉ làm một việc đạo đạt nguyện vọng của họ, theo
phương thức tranh đấu thường lệ.
3)
Những nguyện vọng ghi trong bản Tuyên Ngôn và hai nguyện vọng
cấp bách trên đây được thỏa mãn – từ lý thuyết, văn
kiện cho đến thực thi – thì chính quần chúng Phật giáo
Việt nam sẽ công khai hoan hô tổng thống và chính phủ như
đã công khai tranh đấu cho nguyện vọng của họ vậy.
Chúng
tôi quan niệm và tin tưởng tổng thống và chức vụ "do dân
vì dân và cho dân", cho nên chúng tôi không có ý nhgĩ đạo
đạt nguyện vọng của mình ra là yêu sách, đối lại, chúng
tôi quan niệm tổng thống và chính phủ thỏa mãn nguyện vọng
chúng tôi là 'vì dân và cho dân" chứ không phải nhượng bộ.
Với
tất cả ý niệm hợp lý và chân thành này chúng tôi ước
mong tổng thống giải quyết thích đáng nguyện vọng của
Phật giáo gồm có quảng đại quần chúng Việt Nam.
Huế,
ngày 23 tháng 5dl. 1963
HỘI
CHỦ TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Hòa
Thượng TỊNH KHIẾT (ký tên)
Trị
Sự Trưởng Tổng Trị Sự Giáo Hội Tăng Gìa Trung Phần.
Thượng
tọa THÍCH MẬT NGUYỆN (ký tên)
Hội
Trưởng Tổng Trị Sự Hội Phật Giáo VN tại Trung Phần.
Thượng
tọa THÍCH TRÍ QUANG (ký tên)
Trị
Sự trưởng Ban Trị Sự Giáo Hội Tăng Gìa Thừa Thiên,
Thượng
tọa THÍCH MẬT HIỂN (Ký tên)
Hội
trưởng ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Thừa Thiên,
Thượng
tọa THÍCH THIỆN SIÊU (Ký tên)
Phụ
trương "bản PHỤ ĐÍNH về bản TUYÊN NGÔN" của Phật giáo
Việt Nam.
Phụ
trương này, trước hết, nói thêm về (1) sự đóng góp của
Phật giáo đồ Việt Nam vào ích lợi quốc gia và (2) lý tưởng
tranh đấu của Phật giáo đồ liên hệ đến lợi ích quốc
gia như thế nào.
(1)
Đất
nước Việt Nam ta, kể từ thời đại lập quốc tự chủ
đến cuối thế kỷ 18, Phật giáo là kẻ đóng góp duy nhất
và nhiều nhất –theo nghĩa vụ Tôn giáo –vào ích lợi quốc
gia kể cả mọi phương diện văn hóa, học thuật, chính trị,
quân sự, kiến thiết, quốc sách và dân sinh. Những vị danh
tăng và cư sĩ ghi tên tuổi vào lịch sử của dân tộc là
những tên tuổi nổi bật nhất và xứng đáng nhất. Những
nét tư tưởng thuần túy và cao cả của dân tộc biểu lộ
qua tâm hồn, sinh hoạt và nhất là phong dao tục ngữ, những
văn hóa "Thiền khuynh" chiếm đến hơn một phần ba chương
trình văn học và văn học sử Đại học Việt Nam, sau hết,
những ngôi chùa làng đầy dẫy, những ngôi quốc tự đồ
sộ, nhất là những kiến trúc danh tiếng và liên hệ đến
công cuộc kháng chiến quốc của quốc gia suốt thời kỳ
độc lập hùng cường, còn sờ sờ cả đấy, một mặt chứng
tỏ lòng sùng mộ của dân tộc, một mặt chú7ng tỏ địa
vị của Phật giáo, nhưng một mặt nữa ng tỏ sự đóng góp
sâu rộng của Phật giáo đồ vào ích lợi quốc gia không
phải chỉ mới một sớm một chiều như kẻ khác.
Gần
đây có những kẻ cho rằng Phật giáo tiêu cực, thiếu đóng
góp – Họ nói thế vì họ không thấy bóng dáng tăng sĩ Phật
giáo trong cơ quan nhà nước. Nhưng họ có biết đâu nếu đóng
góp cách đó chỉ là khuynh loát và lợi dụng mà thôi! Chúng
tôi quan niệm Tôn giáo có nghĩa vụ của Tôn giáo: Tôn giáo
phải đem tư tưởng của mình thấm nhuần cho con người, rồi
con người thấm nhuần tư tưởng Tôn giáo đó sẽ thực thi
ra nơi hành động của họ, nơi đời sống tư và đời sống
chung của họ; họ sẽ đóng góp vào ích lợi quốc gia một
cách tích cực và chân chính thiện chí, công tâm, nói tóm,
thể hiện tư tưởng Tôn giáo mà họ thấm nhuần. Như thế
mới gọi là đóng góp và đóng góp của Tôn giáo. Còn trái
lại, lấy của quốc gia làm của mình, lấy công dân chúng
làm công của mình, rồi chỉ cái công của ấy gọi là của
Tôn giáo mình, thì đó lại chính là nguyên nhân sâu xa nhất
mà nhân dân Việt Nam bất phục và không ích lợi gì cho dân
tộc cũng như chính quyền cả.
Chúng
tôi cũng cần nói rõ rằng, qua lịch sử, tăng sĩ của Phật
giáo Việt Nam đã từng làm tăng thống, đã kinh luân mọi
việc quân quốc trọng sự, vậy mà chẳng để lại một dấu
vết óan than nào vì họ chẳng lợi dụng và khuynh loát chính
quyền để tự phát triển Tôn giáo mình và lấn áp ai. Chúng
tôi quan niệm đó là truyền thống tốt đẹp, đáng mến,
xứng đáng phong độ Tôn giáo chân chính –chúng tôi bất
mãn và thấy rõ quần chúng oán ghét thật sự cái lối giáo
quyền khuynh loát chính quyền – Cho nên Tăng già của Phật
giáo Việt Nam chỉ và đã đóng góp với quốc gia đúng nghĩa
vụ tu sĩ, chỉ và đã hướng dẫn Phật giáo đồ đóng góp
gần như vô điều kiện cho ích lợi quốc gia.
Không
nói đâu xa, hãy nói tình trạng quốc gia trong mấy mươi năm
gần đây. Ai là người đã chết nhiều nhất cho chính nghĩa?
Ai đã góp sức, góp công, góp xương máu nhiều nah61t cho công
cuộc chống ngoại xâm và cách mạng dân tộc? Ai đã chết
ngoài mặt trận nhiều hơn là có quyền hành tại bàn giấy
và trong thành phố? Ai đã và đang làm sự đóng góp này nhiều
nhất nhưng trái lại, chẳng hề muốn biết đến ngoại viện,
chẳng mưu toan gì chính quyền, lại bị lấn áp ra mặt về
tín ngưỡng? Ai, nếu không phải Phật giáo đồ Việt Nam?
Nếu không phải anh em quân nhân Phật tử Việt Nam? Tuy nhiên,
Phật giáo Việt Nam chẳng hề ấm ức và ganh tỵ về ngoại
viện và quyền vị. Phật giáo Việt Nam chỉ cần "tự lực
hành đạo" và "đóng góp theo tư tưởng Tôn giáo chân chính".
Nhưng sự đời đã chẳng để cho như ý nguyện! Càng phải
chăng càng bị lấn áp, càng đóng góp càng bị lợi dụng,
trong khi đó tín ngưỡng linh thiêng của Phật giáo đồ Việt
Nam bị khinh thị ra mặt, thậm chí đã bị cưỡng bức bỏ
Phật giáo, đã không dám đàng hoàng tự xưng là Phật tử!
Đó
là tình trạng nếu không được chính Phật giáo đồ đứng
lên công khai tranh đấu để cải thiện thì nhân tâm ly tán,
quốc gia sụp đổ!
(2)
Do
đo lý tưởng tranh đấu của Phật giáo Việt Nam đã ghi minh
bạch là "Tôn giáo bình đẳng trong khuôn khổ của lý tưởng
công bình xã hội". Nói như vậy là chúng tôi đã liên hệ
lý tưởng của mình đến lý tưởng của dân tộc, đến ích
lợi chính của quốc gia.
Một
xã hội có thể sống được phải là một xã hội có những
công bình tối thiểu, ít nhất là phải có sự tín ngưỡng
bình đẳng. Công bình xã hội, cố nhiên là phải kể đủ
thứ bình đẳng: bình đẳng văn hóa, chính trị, kinh tế,
vân vân và vân vân. Thế nhưng nói thế thì đã quá xa phạm
vi tín ngưỡng và nah61t là chẳng phải một giới quần chúng
tranh đấu thực hiện dẫu cho giới đó chiếm đến "tám mươi
phần trăm dân chúng" như đã được ông khai xác nhận. Thế
nên "nhân dnah Phật giáo bây giờ, chúng tôi chỉ mới nói
đến cái lý tưởng công bình xã hội".
Tôn
giáo bình đẵng là một lý tửng càng kinh thiêng bao nhiêu
lại càng chẳng mất mát của ai một chút quyền lợi, sứt
mẻ của ai một chút chức vị. Vậy mà lý tưởng ấy không
được thực hiện thích đáng thì xã hội này, danh từ công
bình và tiến bộ chỉ nên vĩnh viễn cất vào trong từ điển
mà thôi. Cho nên tranh đấu cho lý tưởng Tôn giáo bình đẳng
chính là khởi điểm cho lý tưởng công bình xã hội. Và do
đó, người ta phải thấy trước cuộc tranh đấu này rất
quan trọng và đáng quan tâm.
Cũng
chính vì ý thức ấy, nah61t là ý thức đến ích lợi quốc
gia, lý tưởng Tôn giáo bình đẳng rất liên hệ đến lý
tưởng công bình xã hội nên Phật giáo Việt Nam cực kỳ
thận trọng công việc của mình, Phật giáo Việt Nam ý thức
mình đang ở trong tình trạng chính trị và quân sự cực kỳ
phức tạp, bao kẻ lợi dụng, xuyên tạc và thủ lợi không
phải không có và có không ít. Phương pháp "bất bạo động",
được Phật giáo Việt Nam chấp nhận là xuất từ ý thức
này. Nhưng phương pháp "bất bạo động" chẳng phải chỉ
một chiều, nên Phật giáo đồ Việt Nam – nhất là tăng
sĩ phật giáo – sẵn sàng hy sinh bản thân để thực hiện
nguyện vọng của Phật giáo, nhất là khi ý thức nguyện vọng
ấy đã liên hệ sâu xa với nguyện vọng của dân tộc.
Để
minh định lập trường của cuộc vận động "đòi chính quyền
thực thi chính sách bình đẳng và tự do Tôn giáo" do Phật
giáo Việt Nam phát động; và, để ngăn ngừa những sự vụ
có tính cách xuyên tạc, không mấy tốt đẹp từ nhiều nguồn
tin có dụng ý đưa ra, nhằm ngăn cản cuộc tranh đấu chính
nghĩa của Phật giáo Việt Nam. Mà TÀI LIỆU GIẢI THÍCH của
Văn phòng 5 Cấp Trị Sự Phật giáo Toàn Quốc – Trung Phần
và Thừa Thiên (Huế) về những sự việc xảy ra trong ngày
lễ Phật Đản năm 2507.
Nhân
các sự việc đã xảy ra trong ngày Phật Đản tại Huế, một
số đồng bào đã hoang mang trước sự xuyên tạc, vu khống
của một số người thiếu thiện chí. Chúng tôi nhận thấy
cần phân tích rõ ràng, để tránh sự xuyên tạc có hại.
I.
Động Cơ Của Sự Việc.
Như
mọi Phật tử đều rõ, từ nhiều năm nay, Phật giáo đồ
nằm trong tình trạng bị đàn áp, bị đối xử bất công
và bị ngược đãi. Sự thật trăm phần trăm ấy, dầu có
che dấu đến đâu, ai cũng hiểu! Nào cảnh đàn áp các Phật
tử ở Dinh điền Cao Nguyên; nào những vụ khủng bố, bắt
bớ quy mô ở Phú Yên; nào sự bạo hành ở Quảng Ngãi, Bình
Định v.v..
II.
Sự Việc Xảy Ra.
Trước
sự kiện như vậy, Phật giáo đã bị đặt trong tình trạng
bắt buộc phải tranh đấu cho lý tưởng tín ngưỡng của
mình – đã được minh định trong hiến pháp –bằng một
cách ôn hòa, kỷ luật, trong sự tranh đấu hợp lý, hợp tình
đó, chưa được giải quyết, thì máu đã chảy, nhân mạng
đã bị hy sinh: 8 người đã bỏ mình vì Chính pháp, và nhiều
người bị thương… trong khi đi nghe một buổi truyền thanh
Phật giáo tại đài phát thanh Huế. Ai đã giết những người
vô tội đó? Quá rõ ràng. Dầu có quanh co bưng bít đến đâu,
cũng không thể che dấu được sự thật của hàng vạn cang
kiến một cách đau lòng cảnh tượng dã man ấy! Và chính
vì thái độ bưng bít không quân tử chút nào đó, là nguyên
nhân của mọi sự xấu xa khác: những kế hoạch vu khống,
những hành động dã man, vô lỷ luật có tổ chức được
tung ra, những đoàn thanh niên đi khắp thành phố đánh đập
tàn nhẫn kẻ đi đường, bất kể già trẻ, trước cặp ma71t
thờ ơ vô trách nhiệm của các cơ quan công lực, gây thương
tích cho một số đồng bào! Hành động này là một tố cáo
rõ rệt nhất, dầu có quanh co chối cãi đến đâu! Trong khi
ấy, dầu phẫn uất đến cực độ, Phật giáo đồ đã tuân
thủ kỷ luật, giữ một thái độ ôn hòa, bất bạo động.
III.
Những Kế Hoạch Xuyên Tạc.
1.
Một thông cáo được tung ra sau vụ tàn sát ở đài phát thanh,
nhắm mục đích đánh lạc vấn đề, trốn tránh trách nhiệm:
nào đồng bào Phật giáo bạo động –Việt cộng lợi dụng
đặt chất nổ!
Nhưng
họ chối cãi sao được trước sự chứng kiến của hàng
chục ngàn người kể cả những người ngoại quốc theo dõi
công việc… Một giáo sư đại học Huế, bác sĩ ERIC WOLFF,
người Tây Đức đã than: "theo dõi công cuộc xảy ra ở đài
phát thanh, tôi có cảm tưởng như đang sống trong thời kỳ
Trung Cổ, một thời kỳ dã man nhất của những kỳ thị ở
Aâu Châu".
2.
những tài liệu học tập của phong trào Cách Mạng Quốc Gia,
liên tục vu khống cho Phật giáo, họ gây sự hoang mang cho
dân chúng Phật tử:
- Đổ
lỗi cho Phật tử bạo hành, đả kích chính phủ,
-Lợi
dụng Phật tử để biểu tình v.v.. và tiếp theo là những
giải pháp khủng bố dân chúng như:
a)
Tổ chưa đánh đập, hăm dọa, biểu tình v.v.. mục đích lái
dân chúng phản đối lại Phật tử.
b)
Đặt chúng ta trước một tình trạng bất hợp pháp, để
chính quyền ra tay trừng trị.
c)
Tạo cơ hội để phủ nhận những nguyện vọng chính đáng
và hợp lý nhất của Phật giáo đồ, đã được ghi nhận
trong bản TUYÊN NGÔN ngày 10-5-1963.
IV.
Thái Độ Của Chúng Ta.
Như
mọi người đều hiểu là Phật tử chúng ta luôn luôn trung
thành với tôn chỉ Từ bi của đạo Phật, lấy sự tu thân
hành đạo làm nghĩa vụ chính yếu của mình – điều đó
không ai không rõ. Nhưng không phải vì vậy, mà Phật giáo
đồ chúng ta thản nhiên tạo cơ hội cho một số người lợi
dụng quyền hành để gây mãi tang tóc cho Phật tử, phá hoại
nền Đạo giáo nghìn xưa của ông bà, dân tộc ta. Từ nhiều
năm nay chúng ta đã liên tục chịu đựng không biết bao nhiêu
đau đớn, thiệt thòi (những tài liệu, bằng cớ về những
vụ bất công này đã được gửi đến quốc hội và chính
phủ từ trước). Mặc dầu vậy, chúng ta không được sự
trả lời nào và tình hình vẫn không được cãi thiện1 Trong
khi chúng ta vẫn ẩn nhẫn chờ đợi, thì một công điện
số 9195 ngày 6.5.63 của văn phòng tổng thống, bắt buộc đồng
bào Phật tử phải hạ Phật kỳ trong ngày cúng dường Phật
đản? Công điện ấy đã phản ảnh những gì? Chúng ta treo
cờ để kỷ niệm ngày Đản Sinh của đức Thế Tôn có lợi
cho Việt cộng chăng? Có phương hại đến uy tín quốc gia
chăng? Tại sao lại triệt hạ nhân ngày Phật đản? Hành động
này có lợi cho ai? Và do động cơ nào thúc đẩy? Tại sao
trong lúc quốc gia lâm vào cảnh huống khó khăn, tại sao trong
khi đề cao quốc sách đánh giặc chia rẽ lại hành động
mâu thuẫn? Tại sao quyền lợi tinh thần của hằng chục triệu
người lại đặt vào sự quyết định bằng công điện? Hằng
mấy chục vạn anh em binh sĩ Phật tử đã hy sinh cho quốc
gia để bảo vệ tín ngưỡng của mình, đã đi đến đâu?
Anh em thanh niên, sinh viên và công chức Phật tử, đã đóng
góp mồ hôi và xương máu, mà kể cả quyền lợi về tinh
thần lý tưởng cũng bị chà đạp một cách quá đáng như
vậy? Do những sự kiện trên, người Phật tử không phân
biệt tăng hay tín đồ, quân hay dân, bị bắt buộc đứng
lên đòi hỏi một chính sách chính đáng, mà trong đó, co công
bình tín ngưỡng và côn bình xã hội: Sự tranh đấu của
chúng ta hoàn toàn nằm trên địa vực lý tưởng Tôn giáo
và công bình xã hội, không nhắm đánh đổ hay chống đối
bất cứ một cá nhạn, tôn giáo hay tổ chức nào. Chúng ta
lại càng không thiết nghĩ đến vấn đề quyền lợi, một
nguyên nhân gây ra tranh giành tang tóc hiện nay!
V.
Những Nguyện Vọng Của Chúng Ta Đã Được Ghi Trong Bản tuyên
Ngôn Ngày 10-5.1963.
1)
Cờ Phật giáo phản ánh và tượng trưng cho tinh thần của
Đức Phật, cho lý tưởng cao cả của Phật giáo đồ nằm
hoàn toàn trong địa vực tín ngưỡng. Vì lẽ ấy, không thể
nói rằng tự do tín ngưỡng mà lại triệt hạ những điều
quan trọng của tín ngưỡng được. Treo cờ Phật giáo trong
những ngày lễ Phật, không thể cho đó là xâm phạm đến
uy tín của quốc gia. Một quốc gia mạnh mẽ là khi nào phản
ánh và trung thành với quyền lợi của dân tộc, mà trong đó
có quyền lợi của tín ngưỡng! Cờ Phật giáo đã được
treo khắp trong các nước có phật giáo, nhất là các nước
Á Đông. Vì lẽ đó nguyện vọng duy nhất và cương quyết
của Phật giáo đồ là cờ Phật giáo không thể bị triệt
hạ.
2)
Phật giáo, một nền tín ngưỡng cổ truyền có hàng ngàn
năm lịch sử, thế mà chúng ta phải hoạt động coi như một
hiệp hội, được quy định bởi đạo Dụ số 10 lập ngày
6-8-1950, đặt ngang hàng với các hiệp hội khác, như hiệp
hội thương mãi, thể thao v.v.. do đó, đã hạn chế, gò bó
một cách quá đáng đối với sự truyền bá Chính pháp của
chúng ta, trong khi đó thì điều 44 của đạo Dụ này lại
có chế độ đặc cách cho Thiên chúa giáo, Gia tô giáo. Do
đó, chúng ta đòi hỏi cho kỳ được vị trí của một Tôn
giáo xứng đáng của dân tộc, không thể bị ràng buộc bởi
những nguyên tắc pháp lý thời đại dành riêng cho một hiệp
hội!
Điều
thứ 3 và thứ 4 của bản Tuyên Ngôn nêu rõ nguyện vọng của
chúng ta đòi hỏi một sự đối xử công bình, chấm dứt
sự bất công, bắt bớ và cản trở sự truyền đạo của
chúng ta như từ trước đến nay. Nhà cầm quyền có thể viện
cớ rằng đó là hành động cục bộ, cá nhân! Song tại sao
hành động cục bộ và cá nhân ấy được tiếp diễn và
dung dưỡng nhiều năm? Tại sao nhà cầm quyền không trừng
trị những kẻ lợi dụng quyền hành đó, mặc dầu chúng
ta đã nhiều lần gởi lên sự khiếu nại? Ai chịu trách nhiệm
về an ninh, sinh mệnh và quyền tự do tín ngưỡng của dân,
nếu không phải chính phủ hiện đượng? Nhiều tài liệu
đã được học tập, hco rằng chính phủ không chủ trương
mà kẻ cán bộ thừa hành của chính phủ gây nên mà thôi,
thì thật là một điều khó hiểu! Người ta có thể xóa đi
một câu văn, bôi nhem một đoạn chữ, song người ta làm sao
chối cãi được những thực trạng phũ phàng tiếp diễn trong
nhiều năm, đã in quá đậm trong thâm tâm mọi người! Vì
lẽ đó, chúng ta cương quyết đòi nhà cầm quyền phải chấm
dứt ngay tình trạng bất công, tội lỗi đó.
3)
Và cuối cùng nguyện vọng của chúng ta, là chính quyền sở
tại phải đền bồi xứng đáng cho những người đã bị
giết oan, và kẻ đã giết và ra lệnh giết những người
vô tội phải thú nhận, nghiêng mình trước những anh hồn
đau khổ, chỉ chừng ấy thôi cũng đủ cứu vãn cho họ.
VI.-
TỔNG KẾT
Qua
những điều kiện trên chúng ta xác nhận lại lần nữa là
mục đích tranh đấu của Phật giáo đồ hoàn toàn được
quy định trong hiến pháp, nằm trong địa vực Tôn giáo với
những phương tiện ôn hòa, kỷ luật, bất bạo động. Một
sự tranh đấu hợp pháp, hợp lý và thích nghi với những
mục tiêu chính đáng đó chúng ta nguyện thực hiện cho kỳ
được dẫu cho cần phải hy sinh lao khổ.
Phật
giáo đồ chúng ta hãy xiết chặt nhất trí triệu người như
một để sẵn sàng cho quyền lợi của Chính pháp kể cả
quyền lợi của dân tộc. Sáng suốt đề phòng sự khiêu khích,
xuyên tạc và không nói gì, làm gì, nghĩ gì có phương hại
cho nền đạo đức dân tộc và làm sứt mẻ sự tranh đấu
hữu lý hiện nay của chúng ta.