THƯ VIỆN HOA SEN
Search English   Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
.
ĐỘNG SƠN LỤC
Dịch Giả: Dương Đình Hỷ
1.- Động Sơn Lương Giới họ Du, người Hội Kê. Từ nhỏ theo thầy tụng Bát Nhã Tâm Kinh, tới câu “Chí vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý” liền lấy tay bẹo má hỏi :
-Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý con đều có cả, sao kinh lại dạy là không ?
Ông thầy lấy làm lạ bảo :
-Ta thật không đáng làm thầy ngươi.
Bèn chỉ đến Ngũ Tiết Sơn theo Mặc thiền sư thế phát. Năm 21 tuổi ở núi Tung Sơn thọ Cụ túc giới.

Chú Thích :

Hội Kê : nay thuộc huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang.
Ngũ Tiết Sơn : tên một ngọn núi ở tỉnh Chiết Giang.
Mặc thiền sư : chỉ Linh Mặc thiền sư (747-818) kế thừa Mã Tổ.
Tung Sơn : tên một ngọn núi ở tỉnh Hà Nam.
Phần lớn các tôn giáo ở thế gian, các tín đồ phải có lòng tin, không được nghi ngờ. Trái lại Đức Phật dạy chúng ta phải nghi. Nghi lớn ngộ lớn, nghi nhỏ ngộ nhỏ, không nghi không ngộ.      
                                                                    (Vương Trấn Canh)

2.- Sư du phương, trước tiên đến yết kiến Nam Tuyền, gập đúng ngày giỗ Mã Tổ. Nam Tuyền hỏi đại chúng :
-Ngày mai cúng trai Mã Tổ, không biết Mã Tổ có đến không ?
Đại chúng không ai đáp được, sư bước ra thưa :
-Đợi có bạn liền đến.
-Gã này tuy là hậu sanh, nhưng có thể mài dũa.
-Hòa thượng chớ ép dân lành thành giặc.

Chú Thích :

Du phương : đi vân du các nơi.
Nam Tuyền : Nam Tuyền Phổ Nguyện (748-835) . Tu hành ở núi Nam Tuyền (Trì Châu) 40 năm.
Có bạn : hàm ý có thân thể
Chớ ép dân lành thành giặc : ý nói hòa thượng đừng coi lầm con. Con là một viên ngọc hoàn chỉnh rồi không cần gì phải mài dũa nữa.

3.- Sau đó sư đến tham Quy Sơn, hỏi :
-Nghe Nam Dương Trung Quốc sư nói vô tình thuyết pháp, con chưa hiểu rõ.
-Xà lê còn nhớ chuyện đó không?
-Còn nhớ.
-Ông kể lại đi.
Sư bèn kể :
-Có một ông tăng hỏi Trung Quốc sư :
-Thế nào là tâm của cổ Phật ?
-Tường vách, ngói gạch.
-Tường vách, ngói gạch chẳng phải là vật vô tình sao ?
-Phải.
-Có thuyết pháp không?
-Thường thuyết chẳng ngưng.
-Sao con không nghe?
-Ông không nghe chẳng hề trở ngại người khác nghe.
-Không biết người nào nghe được ?
-Chư thánh nghe được.
-Hòa thượng có nghe không?
-Tôi không nghe.
-Hòa thượng không nghe làm sao biết vô tình thuyết pháp ?
-May là tôi không nghe, nếu tôi nghe thì tôi là thánh, Ông chẳng thể nghe tôi thuyết pháp.
-Như vậy là chúng sanh chẳng thể nghe vô tình thuyết pháp sao?
-Tôi thuyết pháp vì chúng sanh chẳng vì chư thánh.
-Chúng sanh nghe rồi thì sao ?
-Là phi chúng sanh.
-Vô tình thuyết pháp căn cứ vào sách vở nào ?
-Rõ ràng ông không thể nói chuyện này không ở trong kinh, há chẳng biết kinh Hoa Nghiêm nói sát thuyết, chúng sanh thuyết, tâm thế nhất thiết thuyết.
Quy Sơn nghe Động Sơn thuật lại rồi liền bảo :
-Nơi đây tôi cũng có vô tình thuyết pháp. Chỉ cần có căn cơ là có thể khế hợp.
-Con chưa được rõ, thỉnh hòa thượng chỉ dạy.
Quy Sơn giơ phất tử lên hỏi :
-Hiểu không ?
-Không hiểu, thỉnh hòa thượng nói cho.
-Miệng tôi do cha mẹ sinh ra không phải để nói cho ông nghe.
-Hòa thượng còn bạn đồng môn nào nữa không ?
-Ông hãy đi Du Huyện ở Lỗ Lăng, nơi các thạch thất liên tiếp, trong đó có một vị là Vân Nham đạo nhân. Nếu ông có thể vẹt cỏ, ngó gió tìm được ông ấy, nhất định ổng sẽ không làm ông uổng công coi trọng.
-Không biết ông ta là người thế nào ?
-Ông ta từng nói với tôi : con muốn làm môn hạ lão sư, nhưng mà tôi bảo ông : Ông phải chặt đứt mọi phiền não mới được. Và ông ta hỏi : Như vậy là con phải thuận ứng theo ý lão sư sao ? Tôi bảo : Ông không được nói cho người ngoài biết là tôi ở đây ?

Chú Thích :

Nam Dương Trung Quốc sư ( ?-775) vốn tên Huệ Trung. Trú ở Bạch Nhai Sơn, ẩn cư 40 năm, được các vua Túc Tông, Đại Tông mời vào cung thuyết pháp.
Phất tử : cũng gọi là phất trần.
Huyện Du ở Lô Lăng : thuộc tỉnh Hồ Nam ngày nay.

4.- Sư từ biệt Quy Sơn đến Vân Nham, thuật lại chuyện trên rồi hỏi :
-Vô tình thuyết pháp, ai nghe được ?
-Vô tình nghe được.
-Hòa thượng nghe không ?
-Nếu tôi nghe thì ông không nghe được tôi thuyết pháp.
-Vì sao con không nghe được ?
Vân Nham đưa phất tử lên :
-Nghe không ?
-Không nghe.
-Tôi thuyết pháp ông còn không nghe huống hồ là vô tình thuyết pháp !
-Vô tình thuyết pháp dẫn từ kinh nào ?
-Ông há không xem kinh A Di Đà nói nước, chim, cây rừng đều niệm Phật,niệm Pháp ?
Sư có chỗ tỉnh, bèn nói bài kệ :
Thật cũng lạ thay, thật cũng lạ
Vô tình nói pháp, nghĩ không ra
Dùng đến tai nghe càng chẳng rõ
Lấy mắt mà nghe mới hiểu a !

Chú Thích :

Tai thì nghe được thanh trần, mắt thì nhìn được sắc trần. Ở đây mắt nghe được thanh này thì thanh này không phải là thanh trần, mà là tự tánh. Mắt này không phải là mắt thịt mà là mắt đạo.
Tự tánh ở khắp mọi nơi, có mắt đạo thì có thể nghe thanh của tự tánh. Người khác vật ở chỗ có ngôn ngữ để diễn đạt tư tưởng. Vật vô tình không có ngôn ngữ dĩ nhiên không có tư tưởng làm sao có thể thuyết pháp ? Nhân vì hữu tình và vô tình đều có cùng một thể tự tánh. Chỉ cần nhìn thấu suốt tự tánh của sự vật là có thể xúc động linh cơ mà khai ngộ. Tô Đông Pha có thơ rằng :
Tiếng suối reo là tướng lưỡi rộng dài,
Mầu sắc núi chẳng phải là không thân thanh tịnh.
Do đó, vô tình thuyết pháp không phải là vọng ngữ vậy.
          (Tiêu Vũ Đồng)

5.- Sư thưa với Vân Nham :
-Phàm trần tục niệm của con còn chưa chặt hết, phải làm sao cho tốt ?
-Ông từng làm gì ?
-Thánh đế cũng chẳng làm.
-Còn vui vẻ không ?
-Nếu nói không vui là nói bậy, giống như tìm được hạt ngọc trong đống phẩn.

Chú Thích :

Còn vui vẻ không : vui vẻ là dịch từ pramudita, một quả vị Bồ tát nhưng tập khí vẫn còn.

6.- Sư thưa :
-Khi muốn gập thầy con phải làm sao ?
-Đi hỏi thông sự xá nhân.
-Hiện đang hỏi.
-Hắn nói gì với ông ?

Chú Thích :

Đoạn trên ý là muốn thấy Pháp thân Phật thì phải thông qua Báo thân và Hóa thân.

7.- Một lần khi Vân Nham đang bện dép cỏ, sư lại gần thưa :
-Xin thầy cho con mắt !
-Mắt của ông đã cho ai rồi ?
-Con vốn không có mắt.
-Giả như ông có, ông để ở đâu ?
Động Sơn không đáp. Vân Nham lại hỏi :
-Có phải là mắt muốn mắt không ?
-Không phải là mắt.
Vân Nham nổi giận hét lớn :
-Đi ra.

Chú Thích :

Nhà Thiền nhận rằng tâm tự do là Pháp Nhãn không bị thành kiến, dục vọng che lấp. Thiền không những dạy buông bỏ tham lam, thành kiến, biên kiến, ngã tướng, mà ngay cả những tri thức đã học được cũng phải bỏ.                               
(Trịnh Thạch Nham)

8.- Sư cáo từ Vân Nham, Vân Nham hỏi :
-Ông định đi đâu ?
-Tuy con lìa thầy, nhưng chưa định đi đâu.
-Ông không đi Hồ Nam sao ?
-Không.
-Không về quê sao ?
-Không.
-Bao giờ trở lại ?
-Khi thầy có chỗ ở sẽ trở lại.
-Khi ông đi rồi, gập nhau cũng khó.
-Khó được chẳng gập nhau.

9.- Lúc sắp đi sư lại hỏi :
-Trăm năm sau, bỗng có người hỏi con còn miêu tả được chân dung thầy không thì con phải trả lời sao ?
Im lặng một lúc, Vân Nham đáp :
-Chỉ là cái đó.
Sư trầm ngâm, Vân Nham lại tiếp :
-Giới xà lê, nhận trọng trách này ông phải thận trọng.
Sư hãy còn do dự. Sau nhân qua sông, nhìn bóng mình dưới nước, bỗng ngộ lời dạy trước bèn làm bài kệ :
Rất kỵ tìm nơi khác
Xa xôi bỏ lãng ta.
Ta nay riêng tự đến
Chỗ chỗ đều gập va
Va nay chính là ta
Ta nay chẳng phải va
Phải nên như thể hội
Mới mong hợp như như.
                                                          (Thích Thanh Từ dịch)

Chú Thích :

Như như chỉ tự tánh, là cái mà Đạo Đức kinh gọi là thường hằng. Đại ý của bài kệ này là tự tánh ở chính nơi mình không cần phải hướng ngoại tìm cầu, càng tìm càng xa lìa, khi phản hồi tự thân thì nơi nơi tự tánh đều hiển lộ. Đến câu “Va nay chính là ta. Ta nay chẳng phải va” , sao trước sau mâu thuẫn vậy ? Nói một cách đơn giản, Động Sơn nhìn thấy bóng mình ở dưới sông (vì bóng đó cũng là ngã) do đó nhìn thấy bản lai diện mục của mình mà đại ngộ. Nhưng mà cái bóng này không thường trụ cho nên phải xả bỏ. Nếu ta cứ khư khư giữ lấy thì mắc vào ngã chấp cho nên mới nói : “Va nay chính là ta, ta nay nay chẳng phải va”. Bài kệ này ở trong Phật học đã khác lạ, mà ở trong thế giới Văn học cũng đáng coi là báu vật. Nó mở mắt chúng ta, cho chúng ta một kinh nghiệm sống thâm ảo giống như câu thơ của Đỗ Phủ :”Nước thu trong không đáy”.                                            
 (Tiêu Vũ Đồng)
 

10.- Một ngày nọ, nhân làm giỗ Vân Nham., một ông tăng hỏi :
-Tiên sư Vân Nham có từng nói qua “chỉ là cái đó không ?”
-Có nói qua.
-Thầy có rõ ý tưởng của người không ?
-Lúc đó suýt chút nữa ta đã hiểu sai.
-Không biết tiên sư có tự mình biết có “cái đó “ không ?
-Giả sử người không biết “có” làm sao người lại nói như vậy ? Giả sử người biết có làm sao người lại khẳng định như vậy ?

Chú Thích :

Cái đó là chỉ Chân Ngã, “có “ là chỉ thực hữu. Chân ngã và Thực hữu không thể dùng ngôn ngữ mà diễn tả. Người không biết “có” làm sao người lại nói  như vậy ? là dùng quan điểm tục đế mà xét Vân Nham. Người biết “có” làm sao người lại khẳng định như vậy là dùng quan điểm Chân Đế mà xét Vân Nham. Vì một khi người đã thể ngộ được Chân Ngã và Thực Hữu thì sẽ hiểu rằng không thể dùng ngôn ngữ mà diễn tả được.            
(Tiêu Vũ Đồng)
 

11.- Một hôm nhân ngày giỗ Vân Nham, một ông tăng hỏi :
-Hòa thượng ở chỗ Vân Nham được chỉ thị gì ?
-Tuy ở đó nhưng chẳng được chỉ thị gì.
-Nếu đã không được chỉ thị, thì cúng giỗ làm gì ?
-Tôi đâu dám trái tiên sư.
-Hòa thượng gập Nam Tuyền trước, cớ sao lại làm giỗ Vân Nham ?
-Tôi chẳng trọng đạo đức và giáo pháp của tiên sư, chỉ trọng người không vì tôi mà nói Pháp.
-Hòa thượng vì tiên sư làm giỗ, không biết có thừa nhận tiên sư 
-Nửa thừa nhận, nửa không.
-Tại sao không thừa nhận toàn bộ ?
-Nếu tôi thừa nhận toàn bộ là đã phụ ý chỉ của người rồi.

Chú Thích :

Có lúc không nói lại là cách chỉ dạy hữu hiệu.      
 (Minh Kính)
 

12.- Vân Nham bảo đại chúng :
-Nhà kia có một đứa con, bất cứ ai hỏi gì cũng đáp được.
Sư bước ra hỏi :
-Chắc là nhà có nhiều sách lắm ?
-Một chữ cũng không.
-Vậy sao biết nhiều thế ?
-Ngày đêm chẳng hề ngủ.
-Có thể hỏi một câu không ?
-Có thể trả lời nhưng hắn không nói.

Chú Thích :

Hắn trong đoạn này chỉ Pháp thân.
 

13.- Viện chủ đi thăm Thạch Thất về, Vân Nham hỏi :
-Ông đã vào thạch thất rồi không lẽ trở về tay không ?
Viện chủ không trả lời. Sư trả lời thay :
-Thạch thất đã có người ở rồi.
Vân Nham hỏi sư :
-Nếu ông đi thì ông làm gì ?
-Không thể vì cắt phàm trần tục niệm mà không đi.

Chú Thích :

Chữ Thạch thất ở đây là một song quan ngữ (có 2 nghĩa). Một là chỉ thiền sư Thạch Thất, một là chỉ động đá. Ở Du huyện, Đàm Châu (tỉnh Hồ Nam ngày nay) có vô số thạch động. Những người sống trong các thạch động đều là các vị tu hành lánh xa trần thế, sống tự do. Ý của Động Sơn là chấp vào lánh xa trần thế cũng là mất tự do rồi.
 

14.- Vân Nham hỏi một ni cô :
-Cha cô còn không ?
-Còn.
-Bao nhiêu tuổi ?
-80
-Cô có cha không phải 80, cô biết không ?
-Chẳng phải là người vừa đến đó sao ?
-Người đó còn chưa tới, bất quá tương đương với cháu chắt.
Sư nói :
-Người chưa tới như thế chỉ bất quá là cháu chắt.
 

15.- Sư đến tham Lỗ Tổ, chào hỏi xong đứng hầu một bên. Không lâu đi ra, rồi lại đi vào. Lỗ Tổ bảo :
-Như vậy ! Như vậy ! Ông đến như vậy.
-Có nhiều người không đồng ý.
-Sao ông quan tâm đến khẩu hiệu ?
Sư lạy rồi, ở lại thị phụng vài tháng.

Chú Thích :

Như vậy, như vậy : Ông như vậy, tôi cũng như vậy.
 

16.- Có ông tăng hỏi Lỗ Tổ :
- Thế nào là nói mà không dùng lời ?
-Miệng ông ở đâu ?
-Không miệng.
-Vậy lấy gì ăn cơm ?
Ông tăng không trả lời được. Sư trả lời thay :
-Hắn không đói thì ăn cơm cái gì !

Chú Thích :

Ông tăng hỏi ý Lão Tử khi nói “Bất ngôn chi giáo”. Lỗ Tổ hỏi ngược lại “Miệng ông ở đâu ?” là hỏi nói hay không nói. Câu của Động Sơn có nghĩa là hắn đã thông suốt Phật pháp rồi, không còn nghi vấn gì nữa.                                               
 (Bồ Đề Học Xã)

17.- Sư đến tham Nam Nguyên, khi vào pháp đường, Nam Nguyên nói :
-Đã từng gập qua.
Sư bỏ đi, hôm sau lại tới hỏi :
-Hôm qua mông ơn hòa thượng từ bi chỉ thị, nhưng không biết hòa thượng và con gập nhau ở đâu ?
-Tâm tâm không gián đoạn, đều chẩy vào bể tánh.
-Con cơ hồ lỡ cơ hội tốt này !

Chú Thích :

Câu của Nam Nguyên có nghĩa là tâm ông và chân tâm không khác.                                                              
(Bồ Đề Học Xã)
 

18.- Sư đến cáo biệt, Nam Nguyên nói :
-Học nhiều Phật pháp, quảng thí ân trạch.
-Con không hỏi học nhiều Phật pháp, chỉ hỏi thế nào là “quảng thí ân trạch “?
-Không bỏ một ai.

Chú Thích :

Quảng thí : lão già vô dụng.
Ý của Nam Nguyên là khi có người học đặt câu hỏi phải hết sức trả lời.                                                               
(Bồ Đề Học Xã)
 

19.- Sư đến Kinh Triệu tham Hưng Bình. Hưng Bình bảo :
-Đừng lạy lão hủ !
-Lạy phi lão hủ.
-Phi lão hủ không nhận lạy.
-Phi lão hủ cũng không ngăn lạy.

Chú Thích :

Hưng Bình theo Truyền Đăng lục là học trò Mã Tổ.
Phi lão hủ chỉ tự tánh.
 

20.- Sư hỏi Hưng Bình :
-Thế nào là tâm của cổ Phật ?
-Là tâm ông, không là gì khác.
-Mặc dầu vậy con còn nghi vấn.
-Nếu là vậy, ông hãy đi hỏi người gỗ.
-Con có một câu không mượn lời Chư Thánh.
-Sao ông không nói thử coi 
-Không phải là việc của con.

Chú Thích :

Khi Hưng Bình nói là tâm ông, Động Sơn mới đầu còn nói con còn nghi vấn, sau lại nói không phải là việc của con là phủ định ngã mà trở thành tâm của cổ Phật.                
 (Bồ Đề Học Xã)
 

21.- Sư từ biệt, Hưng Bình hỏi :
-Ông đi đâu ?
-Lưu ly không định.
-Là Pháp thân lưu ly hay Báo thân lưu ly ?
-Đều không phải .
Hưng Bình đột nhiên vỗ tay. Về sau Bảo Phúc nói thêm :
-Động Sơn tự là một nhà (thiền tông có 5 nhà, 7 phái)
Lại có kẻ khác phê bình :
-Những người như vậy, có được mấy người !
Chú Thích :

Lưu ly không định : tùy tâm muốn đi đâu thì đi.
Bảo Phúc : (867-928) là học trò Tuyết Phong.
 

22.- Sư cùng Mật sư bá đến tham Bách Nham. Bách Nham hỏi 
-Từ đâu tới ?
-Hồ Nam.
-Quán sát sứ họ gì ?
-Không biết họ.
-Tên gì ?
-Không biết tên.
-Còn tại chức không ?
-Còn.
-Còn đi tuần tra không ?
-Không.
-Tại sao không ?
Sư phất tay áo đi ra. Hôm sau Bách Nham thượng đường kêu hai người lại :
-Hôm qua đối xà lê ngữ chẳng đầu cơ, cả đêm không an. Giờ thỉnh xà lê hạ một chuyển ngữ, nếu hợp ý thì lão tăng xin mời các vị dùng cháo và cùng qua hạ.
-Thỉnh hòa thượng hỏi.
-Sao không tuần tra ?
-Vì quá cao quý.
Bách Nham bèn mời hai người dùng cháo và cùng kết hạ.

Chú Thích :

Bách Nham : là học trò Dược Sơn.
Quán sát sứ : là một viên quan do Trung Ương ủy quyền đi tuần tra các các địa phương, ở đây chỉ sự xuất nhập của pháp thân.
(Bồ Đề Học Xã)

23.- Sư cùng Mật sư bá đến tham vấn  Long Sơn. Long Sơn hỏi 
-Không có đường vào núi sâu, ông làm sao tới ?
-Chuyện không có đường vào và làm sao đệ tử vào được hãy tạm gác lại, giờ xin hỏi Hòa thượng làm sao vào ?
-Tôi không phải từ mây trời tới, cũng không phải do dòng sông đưa lại.
-Xin hỏi thầy trú ở núi này bao năm rồi ?
-Ngày tháng xoay vần với tôi vô can.
-Vậy xin hỏi hòa thượng ở đây trước hay núi này ở đây trước ?
-Không biết.
-Vì sao ?
-Tôi không phải là người phàm, cũng không phải là tiên trời, làm sao biết ?
-Đã không phải là người phàm, cũng không phải là tiên trời, chẳng lẽ đã thành Phật ?
-Không phải là Phật.
-Vậy là gì ?
-Nói giống một vật là không đúng.
-Thầy vì duyên cớ gì mà vào núi này ?
-Vì lúc trước tôi thấy 2 con trâu bùn vừa đánh nhau vừa cùng tiến vào biển lớn cho đến bây giờ vẫn chưa thấy tung tích.
Động Sơn nghe lời này cung kính lạy tạ.

Chú Thích :

Núi sâu ở đây chỉ ngũ uẩn. Chúng ta làm sao vào tòa núi này? Đương nhiên là không thể do một đường đi nào mà vào, cũng không thể từ trời rơi xuống mà phải do nghiệp duyên mà vào. Do thân ngũ uẩn mà tu là mượn giả tu thật, do đó mà Động Sơn cung kính lạy tạ.                                                                     
 (Tinh Vân)

Núi này chỉ Phật tánh. Phật tánh không có phương pháp nào để vào, vì vậy gọi là cửa không cửa (vô môn quan). Thiên hạ không có một kỹ xảo nào bảo đảm học nhân nhất định thấy Phật tánh, chỉ nương vào tu hành vị tất sẽ chứng ngộ. Càng nỗ lực tu hành cầu khai ngộ thì khai ngộ lại càng xa. Động Sơn hỏi hòa thượng làm sao vào ? Long Sơn đáp ngay “Đi tôi còn không biết thì làm gì còn vấn đề vào hay không vào”. Hòa thượng hay núi ở đây trước là hỏi Phật tánh và vô minh cái nào có trước. Long Sơn đáp không biết là phủ quyết vấn đề trong không sinh hữu. Thời gian là quan niệm của người phàm chúng ta. Đối với Phật tánh, thời gian không tồn tại. Cũ mới thường biến đổi . . . đều là những khái niệm tương đối. Lấy khái niệm tương đối để mô tả tuyệt đối là chuyện hoang đường.                                                                
(Liệu Duyệt Bằng)
 

24.- Lúc đi hành cước, sư gập một viên quan bảo sư :
-Đệ tử định viết một bản chú giải Tín Tâm Minh của Tam Tổ Tăng Xán.
-Ông giải thích câu “Phải trái vướng mắc là đánh mất tâm “ thế nào ?
Pháp Nhãn đáp thay :
-Nếu nói như vậy thì hắn không cần chú giải nữa. 
 

25.- Sư lúc mới hành cước gập một bà lão gánh nước trên đường. Ông xin nước uống, bà lão bảo :
-Tôi sẽ cho ông nước uống, nhưng trước hết hãy trả lời câu hỏi của tôi : Nước có bao nhiêu bụi ?
-Vốn không có bụi.
-Đi, đi đừng làm bẩn nước của tôi.

Chú Thích :

Hành cước : đi bộ, các thiền sinh đi tham phỏng không có phương tiện nào khác ngoài sự đi bộ.
Nước có bao nhiêu bụi ? là bà lão nêu lên vấn đề đương thời quan niệm thân người nữ có ngũ chướng không thể thành Phật được. Động Sơn trả lời “vốn không có bụi” là ông viện dẫn quan điểm của Huệ Năng trong Pháp Bảo Đàn Kinh :Tự tánh vốn trong sạch thì làm gì có bụi. Câu nói của bà lão là chấp nhận quan điểm này.                                                                         
 (Bồ Đề Học Xã)
 

26.- Sư tới Phần Đàm gập Sơ thủ tọa đang nói :
-Thật lạ kỳ ! Thật lạ kỳ !
Phật giới, Đạo giới không thể nghĩ bàn.
Sư bèn hỏi :
-Tôi không hỏi Phật giới Đạo giới tôi chỉ hỏi người vừa nói Phật giới, Đạo giới là gì ?
Sơ thủ tọa im lặng hồi lâu không đáp. Sư hỏi :
-Sao không nói mau ?
-Tranh cãi chẳng được gì .
-Ông còn chưa trả lời câu hỏi, sao nói tranh cãi chẳng được gì ?
Sơ thủ tọa không đáp.
-Phật và Đạo chỉ là danh từ sao không dẫn giáo nghĩa ?
-Làm sao nói ?
-Được ý quên lời.
-Còn chấp giáo là tâm bệnh.
-Ông nói Phật giới, Đạo giới là bệnh nặng hay nhẹ ?
Sơ thủ tọa không trả lời, ngày hôm sau bỗng qua đời. Người đương thời gọi sư là người hỏi chết thủ tọa.

Chú Thích :

Phần Đàm : huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây ngày nay.
Động Sơn đáp rất hay nhưng đoạn đối thoại không hợp Thiền cơ, Sơ thủ tọa 2 lần im lặng không nói. Động Sơn cũng không hề tiếp dẫn, có thể cơ duyên hoàn cảnh chưa được chín mùi.
Sơ thủ tọa : không rõ lai lịch.
 

27.- Sư cùng Thần Sơn Mật sư bá qua sông. Sư hỏi :
-Làm sao qua sông ?
-Không làm ướt chân.
-Lão lớn đầu mà còn nói vậy ?
-Còn ông thì nói sao ?
-Chân không ướt.
Có thoại khác như sau :
Sư cùng Mật sư bá qua sông, sư nói :
-Đừng bước sai !
-Bước sai thì không qua được.
-Nếu không bước sai thì sao ?
-Cùng trưởng lão qua sông.
 

28.- Một hôm, sư cùng Mật sư bá làm việc ở vườn trà, sư ném cuốc xuống bảo :
-Hôm nay tôi một chút hơi sức cũng không có.
-Nếu không có sức sao ông còn nói được thế ?
-Ông nhận mình là người có hơi sức sao ?

Chú Thích :

Ở hiện tượng giới (vườn trà) cần có hơi sức nhưng ở  bản thể giới thì không.                                                         
 (Bồ Đề Học Xã)
 

29.- Một lần sư cùng Thần Sơn hành cước bỗng thấy một con thỏ trắng chạy qua. Thần Sơn bảo :
-Thật là đẹp !
-Đẹp thế nào ?
-Giống như bạch y bái tướng.
-Lão già đầu còn nói thế ?
-Còn ông thì sao ?
-Nhiều đời quan quyền, tạm thời sút kém.

Chú Thích :

Bạch y bái tướng : một người dân giã bỗng được triều đình bổ làm tể tướng.
 

30.- Chính lúc Thần Sơn dùng kim vá áo, sư hỏi :
-Ông làm gì ? 
-Vá áo.
-Vá thế nào ?
-Mũi mũi giống nhau.
-Chúng ta cùng hành cước 20 năm, ông còn nói như vậy, chẳng lẽ có chuyện như thế ?
-Còn ông thì vá làm sao ?
-Giống như cả đại địa đều bốc lửa.

Chú Thích :

Mũi mũi giống nhau : mũi trước, mũi sau chỉ là một mũi.
Chẳng lẽ có chuyện như thế : Ông còn giữ ý này ?
Đại địa đều bốc lửa : khi đại địa cháy thì chẳng còn kim, chẳng còn vá tất cả đều không.
 

31.- Thần Sơn lão sư :
-Bất cứ ở đâu, chỉ cần có bạn là không có đường nào là không đi được, thỉnh sư nói một lời !
-Sư bá có lý tưởng như vậy sao thành công được ?
Ngay câu nói đó Thần Sơn bỗng ngộ, từ đó lời nói khác lạ. Về sau khi cùng đi ngang độc mộc kiều, sư qua trước, nhấc mộc kiều lên bảo :
-Qua đi ! 
-Giới xà lê ! 
Sư bèn hạ xuống.

Chú Thích :

Độc mộc kiều : cái cầu chỉ làm bằng một cây gỗ.
Dù là bạn, cũng không thể nhờ, phải trông cậy vào chính mình. Động Sơn nhấc mộc kiều lên là hỏi không có mộc kiều làm sao qua ?
 

32.- Một lần, sư cùng Thần Sơn hành cước. Sư chỉ miếu bên đường bảo :
-Trong đó có người nói tâm, nói tánh.
-Là ai ?
-Bị sư bá hỏi tôi tức chết được.
-Nói đến cùng người nói tâm, nói tánh là ai ?
-Chết đi sống lại.

Chú Thích :

Nói tâm, nói tánh : mọi chúng sanh đều có Phật tánh.
Chết đi, sống lại : Động Sơn đồng ý với Thần Sơn, nếu quả ta biết người nói tâm, nói tánh là ai, thì ta đã chết đi, sống lại.
 
 

33.- Sư hỏi Tuyết Phong :
-Từ đâu tới ?
-Từ Thiên Đài tới .
-Gập trí giả không ?
-Nghĩa Tồn có phần ăn gậy sắt.

Chú Thích :

Tuyết Phong : Tuyết Phong Nghĩa Tồn (822-908)
Thiên Đài : tên ngọn núi ở tỉnh Chiết Giang.

34.- Tuyết Phong đến thăm hỏi. Sư nói :
-Khi vào cửa phải nói một lời, nếu không ông không thể nói “tôi đã vào rồi”.
-Con không có mồm.
-Ông nói ông không có mồm, vậy hãy mang mắt ra trả ta.
Tuyết Phong nghe rồi, không lời đáp lại.
Đối với câu đáp của Tuyết Phong “Con không có mồm”, về sau Vân Cư Đạo Ưng đáp thay :
-Đợi con có mồm rồi sẽ đáp.
Trường Khánh thì đáp :
-Nếu là thế, thì con về vậy !

Chú Thích :

Khi vào cửa  . . . rồi : dẫn câu nói của Lâm Tế :”Khi chủ và khách gặp nhau, khách sẽ đưa ra một câu nói để thử chủ.

35.- Một lần, Tuyết Phong vác một bó củi đến trước mặt Động Sơn ném xuống.
Động Sơn hỏi :
-Nặng chừng nào ?
-Toàn thế giới không có ai nhắc lên được.
-Vậy sao ông lại vác được đến đây ?
Tuyết Phong im lặng không trả lời.

Chú Thích :

Bó củi ở đây ám chỉ tự tánh.
 

36.- Sư viết chữ Phật 佛 lên quạt. Vân Nham trông thấy bèn viết thêm chữ bất 不. Sư bèn sửa lại thành chữ phi 非. Tuyết Phong thấy vậy bèn thu lấy quạt. Hưng Hóa đáp thay cho Động Sơn :
-Tôi không như ông.

Chú Thích :

Ý của Vân Nham là không viết, không tưởng tới Phật. Động Sơn chữa thành chữ phi,  ý là không viết, không tưởng tới chữ bất. Câu của Hưng Hóa có nghĩa là Động Sơn khen ngợi hành động của Tuyết Phong.                                                         
(Bồ Đề Học Xã) 
 

37.- Khi Tuyết Phong làm phạn đầu, đang sàng gạo. Sư hỏi :
-Ông đãi gạo bỏ cát hay đãi cát bỏ gạo ?
-Gạo, cát đều bỏ.
-Vậy chư tăng ăn gì ?
Tuyết Phong bèn lật đổ thùng gạo.
-Nếu như vậy, cơ duyên của ông ở nơi Đức Sơn.
 

38.- Một hôm sư hỏi Tuyết Phong :
-Ông đang làm gì ?
-Bổ củi.
-Phải bổ bao nhiêu nhát mới xong ?
-Một nhát là xong.
-Đó là chuyện bên này, còn bên kia thì sao ?
-Không dùng tay.
-Vẫn còn là chuyện bên này, chuyện bên kia thì sao ?
Tuyết Phong bèn thôi.
 

39.- Khi Tuyết Phong từ biệt, sư nói :
-Ông đi đâu ?
-Trở về đỉnh núi.
-Khi đó ông đi đường nào ?
-Đường phi viên lãnh.
-Bây giờ trở lại, ông đi đường nào ?
-Đường phi viên lãnh.
-Có một người không đi đường “phi viên lãnh”, ông có biết không ?
-Không biết.
-Tại sao không biết ?
-Hắn không có mặt.
-Ông đã nói không biết, sao ông lại biết hắn không mặt ?
Phong không trả lời.

Chú Thích :

Phi viên lãnh : tên ngọn núi ở giữa hai tỉnh Giang Tây và Phúc Kiến.
 

40.- Đạo Ưng ở chỗ Thúy Vi đến tham sư. Sư hỏi :
-Thúy Vi có câu nào chăng ?
-Thúy Vi cúng dường La Hán, con hỏi : “Cúng dường La Hán, La Hán có đến không ?” Thúy Vi đáp : “Mỗi ngày ông ăn gì ?”
-Thực có lời đó sao ?
-Có.
-Chẳng uổng công đến thăm tác gia.

Chú Thích :

Thúy Vi cùng dường La Hán : chỉ là có ý kính trọng chứ không phải là chấp hình tượng. Giả như có một vị La Hán cần ăn uống, thì có khác gì Đạo Ưng đâu ?                                
(Bồ Đề Học Xã)
 

41.- Sư hỏi Vân Cư :
-Ông tên chi ?
-Đạo Ưng.
-Nói lên trên.
-Nếu nói lên trên thì con không có tên Đạo Ưng.
-Câu đáp của ông giống câu đáp của tôi với Đạo Ngô.

Chú Thích :

Nói lên trên : lúc trước khi tu hành.
Có tên là có phân biệt. Chúng ta sống ở trong thế giới nhị nguyên đối đãi, ở thế giới danh tướng. Chúng ta nên biết rằng còn có thế giới không danh tướng. Danh tướng chỉ là tương đối, luôn thay đổi và không thật. Chân lý không có tên, không chỗ, không vật. Khi chúng ta ở trong một phòng sáng chúng ta không cần mở đèn. 
                                                                              (Barragato)
 

42.- Vân Cư hỏi sư :
-Thế nào là ý tổ sư từ Tây sang ?
-Sau này xà lê có mái tranh che đầu, bỗng có người hỏi như vậy thì trả lời sao ?
-Con thực sai rồi ?

Chú Thích :

Ý của Động Sơn là nếu sau này ông không là viện chủ một tự viện lớn, chỉ là am chủ ở một làng nhỏ, ông không hỏi người mà bị người hỏi, ông có nghĩ đến chuyện này không ? Bồ Đề Đạt Ma từ Tây phương xa xôi ngàn dậm đến trung thổ chỉ để thuyết giảng chân lý cho người, nhưng cái chân lý tuyệt đối này không thể dùng lời mà diễn tả ra, nên tôi nói không được.
 

43.- Một hôm, sư hỏi Vân Cư :
-Tôi nghe nói Tư Đại thác sanh làm vua Nhật Bản có đúng không ?
-Nếu là Tư Đại, thì ngay đến Phật cũng chẳng làm.
Sư đồng ý.

Chú Thích :

Tư Đại thác sanh làm vua Nhật : dẫn từ Quá Hải Đại Sư Đông Chinh Truyện. Thánh Đức thái tử của Nhật Bản phái Tiểu Dã Muội Tử sang Trung Quốc đến Nam Nhạc xin kinh Pháp Hoa, do đó mà có truyền thuyết này.
 

44.- Sư hỏi Vân Cư :
-Ông đã đi đâu ?
-Đi leo núi.
-Núi nào có thể ở được.
-Chẳng có núi nào ở được.
-Vậy là ông leo núi khắp trong nước sao ?
-Chẳng phải vậy.
-Thế thì ông phải tìm thấy lối vào ?
-Không lối vào.
-Nếu không có lối vào sao ông có thể gập mặt lão tăng ?
-Nếu có đường vào thì con và lão sư đã cách nhau một quả núi 
Sư tự nhủ :
-Gã tiểu hòa thượng này chỉ sợ về sau không ai nắm được hắn.

Chú Thích :

Núi nào có thể ở được : ông phải tự mình kiến lập một tự viện, không thể ở mãi với tôi.
 

45.- Một lần sư cùng Vân Cư qua sông. Sư hỏi :
-Sông sâu nhiều ít ?
-Không ướt chân.
-Gã thô tục vô lễ !
-Thỉnh thầy nói.
-Sông này chưa từng cạn.

Chú Thích :

Đoạn này kể kinh nghiệm của Động Sơn. Khúc sông này nông, có thể lội qua. Vân Cư mới qua lần đầu nên không biết.
 

46.- Một hôm, Vân Cư đang làm ruộng vô ý cuốc chết một con giun. Sư bảo :
-Ông phải cẩn thận.
-Con giun còn chưa chết.
-Việc Nhị Tổ về Nghiệp Thành ông nghĩ thế nào ?
Vân Cư không trả lời.

Chú Thích :

Nghiệp Thành : tỉnh Hà Nam ngày nay.
Con giun còn chưa chết : chỉ túc nghiệp của con giun. Theo truyền thuyết Nhị tổ trước khi về Nghiệp Thành có nói là về đó để trả nợ. Về tới nơi Nhị tổ bị quan lại bản địa bắt bỏ ngục và sát hại. Chuyện này ý nói bị hại là do trả quả tội nghiệp kiếp trước.           
(Bồ Đề Học Xã)

47.-  Sư hỏi Vân Cư :
-Đại diêm đề phạm tội ngũ nghịch làm sao hiếu dưỡng ?
-Vì như vậy lại càng nên nỗ lực hiếu dưỡng.

Chú Thích :

Đại diêm đề : người không có thiện căn.
Hiếu dưỡng : trở về căn nguyên lúc cha mẹ chưa sanh.
 

48.- Sư kể cho Vân Cư chuyện Nam Tuyền hỏi ông tăng nghiên cứu Kinh Di Lặc hạ sanh.
-Di Lặc bao giờ hạ sanh ?
-Hiện ở trời Đâu Xuất, sau này sẽ hạ sanh.
-Trên trời không có Di Lặc, dưới đất cũng không có Di Lặc.
Vân Cư theo đó hỏi :
-Nếu trên trời không Di Lặc, dưới đất không Di Lặc, không biết ai đặt tên Di Lặc.
Động Sơn bị hỏi khiến thiền sàng rúng động bảo :
-Ưng xà lê, khi tôi ở nơi Vân Nham từng hỏi lão sư khiến hỏa lò chấn động. Hôm nay bị ông hỏi cả mình tôi toát mồ hôi.

Chú Thích :

Di Lặc : chỉ tâm.
 

49.- Sau Vân Cư kết am ở Tam Phong, cả tuần không xuống thọ trai. Sư hỏi :
-Ông gần đây sao không xuống thọ trai ?
-Mỗi ngày đều có thiên thần mang đồ ăn tới.
-Ông còn kiến giải như vậy sao ? Chiều nay hãy tới đây.
Buổi chiều Vân Cư tới. Sư gọi :
-Ưng am chủ.
-Dạ !
-Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác là cái gì ?
Vân Cư Đạo Ưng trở về am, tịch nhiên an tọa, thiên thần tìm không thấy, ba ngày dứt tuyệt.

Chú Thích :

Đạo Ưng còn chấp có thiên thần, sau không nghĩ thiện, ác cái chấp hình tượng đều trở về không. Tâm không, cảnh không do đó thiên thần tuyệt tích.

50.- Sư hỏi Vân Cư :
-Ông làm gì đó ?
-Pha tương.
-Dùng bao nhiêu muối ?
-Liên tục cho vào từng chút.
-Vị thế nào ?
-Được lắm.

Chú Thích :

Ý của Vân Cư là tu hành thì phải chuyên cần, tinh tấn.
 

51.- Sơ Sơn đến nhằm lúc sư đang giảng pháp buổi sáng, bước ra hỏi :
-Con có những lời chưa hề nói, xin thầy chỉ dạy.
-Tôi không đáp vì không ai đáp được.
-Câu ấy khó được lắm sao ?
-Như ông hiện khó được ?
-Tuy là khó được nhưng cũng không khiến người chán ghét.

Chú Thích :

Sơ Sơn (837-909) : lập một đạo tràng ở Vũ Châu.
Khó được : giá trị.
 

52.- Một hôm sư thượng đường, nói :
-Nếu các ông muốn biết chuyện này thì phải giống như cây khô nở hoa, lúc đó các ông sẽ phù hợp với nó.
-Ở mọi nơi không chống đối thì sao ?
-Xà lê, đó là thuộc lãnh vực thâu hoạch công đức, còn có lãnh vực không công đức sao ông không hỏi ?
-Đó chẳng phải là chuyện của người bên ấy sao ?
-Hỏi vậy chẳng khá tức cười sao ?
-Nếu vậy con nên cao chạy xa bay.
-Cao chạy xa bay cũng không cao chạy xa bay.
-Thế nào là cao chạy xa bay ?
-Không thể nói là người bên kia.
-Thế nào là không cao chạy xa bay ?
-Không xác định được !

Chú Thích :

Chuyện này : nguyên nhân Phật xuất thế là để chỉ cho chúng sanh Phật tri kiến.
 

53.- Sư hỏi Sơ Sơn :
-Ở không kiếp không có nhà con người ở, loại người nào ở?
-Không biết.
-Hắn có nghĩ ngợi không ?
-Sao thầy không hỏi hắn ?
-Tôi đang hỏi đây.
-Hắn nghĩ gì ?
Sư không trả lời.

Chú Thích :

Không kiếp : kiếp cuối trong thành, trụ, hoại, không.
 

54.- Thanh Lâm tới tham sư. Sư hỏi :
-Ông vừa từ đâu tới ?
-Võ Lăng.
-Pháp ở Võ Lăng so với ở đây thì thế nào ?
-Đất hồ, mùa đông măng mọc.
Sư bảo thị giả :
-Làm một bữa thịnh soạn đãi người này.
Thanh Lâm phất tay áo, đi ra.
-Gã này về sau giết chết người thiên hạ.

Chú Thích :
Võ Lăng : huyện Thường Đức tỉnh Hồ Nam ngày nay.
Giết chết người thiên hạ : chư tăng tranh nhau tụ tập dưới trướng.
 

55. Một hôm Thanh Lâm từ biệt sư. Sư hỏi :
-Ông đi đâu ?
-Kim luân chẳng ẩn, ở mọi nơi cắt đứt hồng trần.
-Ông hãy bảo trọng.
Thanh Lâm trân trọng đi ra, sư đưa tiễn ra cửa bảo :
-Hãy nói một câu về chuyến đi này.
-Bước bước đạp hồng trần không để toàn thân lưu lại hình bóng.
Sư im lặng hồi lâu. Thanh Lâm hỏi :
-Lão hòa thượng sao không sớm nói ?
-Ông gấp làm gì ?
-Con sai rồi !
Thanh Lâm lạy tạ rồi đi.

Chú Thích :

Kim Luân : chỉ mặt trời.
Toàn thân không lưu lại hình bóng : vì toàn thân là ánh sáng.

56.- Long Nha hỏi Đức Sơn :
-Nếu con cầm Mạc Tà kiếm, định lấy đầu thầy thì sao ?
Đức Sơn đưa đầu lại gần, kêu :
-Chém.
-Đầu thầy đã rơi.
-Ha ! Ha!
Về sau Long Nha đến tham sư, kể lại chuyện trên. Sư hỏi :
-Đức Sơn nói gì ?
-Đức Sơn không nói gì .
-Đừng nói Đức Sơn không nói gì, hãy trình đầu Đức Sơn cho lão tăng coi.
Long Nha chợt tỉnh, hướng sư sám hối, tạ tội.

Chú Thích :

Mạc Tà : tên cây kiếm. Có một cặp cây dương là Can Tương, cây âm là Mạc Tà. Xuất hiện ở sách Trang Tử thiên Đại Tông Sư. 
Long Nha mới đầu có ý chém đầu Đức Sơn, đó là từ Tự ngã xuất phát. Đức Sơn đề tỉnh Long Nha tự chém đầu mình đoạn trừ chấp ngã. Đó là nhà Thiền dùng “không” mọi sở hữu nhưng không phủ định sở hữu, dùng chủ khách đối đãi là một mà quán sát. Do đó đạt được Trung  Đạo.                   
 (Tinh Vân)
 

57.- Long Nha hỏi sư :
-Ý Tổ sư từ Tây sang là sao ?
-Đợi Động Thủy chẩy ngược, tôi sẽ nói cho ông biết.

Chú Thích :

Tự tánh không thể diễn tả bằng lời.
 

58.- Hoa Nghiêm Hữu Tĩnh đến bái phỏng sư, hỏi :
-Con không có lý lộ, bị vọng niệm lừa dối.
-Ông nghĩ có đường ấy sao ?
-Con thừa nhận chưa khai ngộ.
-Ông vọng tưởng ở đâu ?
-Đó là điều con muốn hỏi .
-Vậy ông hãy hướng nơi “Vạn dậm không tấc cỏ” mà đi.
-Con nên đến đó sao ?
-Bất luận đi đâu, ông đều nên đi.

Chú Thích :

Hoa Nghiêm Hữu Tĩnh : lai lịch không rõ.
Hoa Nghiêm hỏi Động Sơn làm sao trừ vọng niệm. Động Sơn bảo hãy trụ ở tự tánh (Vạn dậm không tấc cỏ).
 

59.- Một lần Hoa Nghiêm đang vác củi, sư giữ lại hỏi :
-Nếu chúng ta gập nhau trên đường hẹp, phải làm sao ?
-Ngoảnh đầu ! Ngoảnh đầu !
-Hãy nhớ lời tôi dặn : nếu trú ở phương Nam có 1.000 người, còn trú ở phương Bắc có 300 người.

Chú Thích :