|
c
ĐỔNG
MÔNG CHỈ QUÁN
Trí Giả
Đại Sư Trước Tác
Hòa Thượng
Thích Đôn Hậu Dịch Và Tóm Tắt
Phật
Lịch 2546 - Chùa Linh Mụ Huế
LỜI CỦA
DỊCH GIẢ
Trong các
bản Chỉ Quán hiện lưu hành, tôi thấy có bốn bản:
1)Là "Viên
Đốn Chỉ Quán", 10 quyển, do Ngài Quán Đính Chương An (561-632)
đệ tử của Ngài Trí Khải ghi.
2)Là"Tiệm
Thứ Chỉ Quán", 30 quyển, do Ngài Pháp Thận đệ tử của
Ngài Hoài Tổ (624-697) ghi.
3)Là "Bất
Định Chỉ Quán", 1 quyển, còn có tên là "Lục Diệu pháp
môn", khuyết danh.
4)Là "Đồng
Mông Chỉ Quán", 1 quyển, còn có tên là "Tiểu Chỉ Quán hay
còn gọi là "Pháp yếu tọa thiền tu tập Chỉ Quán "do
Ngài Trí
Khải viết ra. Trong bốn bản Chỉ Quán nói trên, Đồng Mông
Chỉ Quán là một trước tác rất hàm xúc và có hệ thống.
Nội dung lại chú trọng hoàn toàn đến thực hành, người
đọc dễ dàng lãnh hội các phương pháp tu tập. Bởi lẽ,
Trí Giả Đại Sư viết ra sau khi Ngài đã ngộ được diệu
lý của Pháp Hoa Tam Muội.
Tuy gọi
là Đồng Mông, nhưng văn bản cũng khá dài. Vì thế, khi dịch
tôi thấy cần tóm tắt để tiện cho sự học hỏi. Nói là
tóm tắt, nhưng phần chính văn thì tôi rất tôn trọng, không
dám lược bỏ cao ý của nguyên tác.
Thiền
sư TRÍ KHẢI (538-597) người Kinh Châu, tỉnh Hồ Bắc, Trung
Hoa. Ngài sinh năm Đại Đồng thứ 4 (538) đời nhà Lương (502-588)
6 năm trước khi vua Lý Nam Đế (544-548) của Việt Nam lên ngôi.
Năm 18
tuổi, Ngài xuất gia theo học với Ngài Tuệ Tư (515-577) tu
ở núi Đại Tô, Quảng Châu, tỉnh Hà Nam. được một thời
gian, Ngài lại theo Thầy đến núi Nam Nhạc, tỉnh Hồ nam.
Do vậy nên người đương thời thường tôn xưng Ngài Tuệ
Tư là Nam Nhạc Đại Sư. Ngài tham học pháp Pháp Hoa Tam Muội
và rất chuyên tâm tu tập nên Ngài đã ngộ triệt để diệu
lý Pháp Hoa Tam Muội[1]
Sau Ngài
về trú trì chùa Ngõa Quan ở Kim Lăng, tỉnh Giang Tô. Ở đây.
Ngài luôn thăng tòa thuyết pháp Kinh Pháp Hoa. Ngài giảng kinh
Pháp Hoa hay đến mức siêu tuyệt, các bậc danh Tăng đương
thời đều tỏ lời thán phục. Ngài ở chùa Ngõa Quan được
tám năm rồi về núi Thiên Thai, tỉnh Triết Giang, lập ra Thiên
Thai Tông, cho nên người đương thời thường tôn xưng Ngài
là Thiên Thai Đại Sư. Ở núi Thiên Thai gần 10 năm, Ngài vừa
nghiên cứu vừa thuyết pháp Kinh Pháp Hoa.Đến năm Quý Tî
(583) nhận lời mời của vua nhà Trần[2] Ngài lại trở về
Kim Lăng trú trì chùa Quang Trạch. Ở đây suốt tám năm Ngài
vẫn thường xuyên thuyết pháp Kinh Pháp Hoa.
Năm Khai
Hoàng thứ 11 (591) đời vua Văn Đế nhà Tuỳ (581-618) Thái
Tử Tấn Vương Quảng (sau lên ngôi niên hiệu là Dạng Đế)
cung thỉnh Ngài vào cung để truyền Bồ Tát Giới cho Thái
Tử. Trong dịp này, Thái Tử tôn tặng Ngài danh hiệu là Trí
Giả Đại Sư.
Từ sau
đó, Ngài trở về cố hương ở Kinh Châu, kiến tạo chùa
Ngọc Tuyền và thường xuyên thuyết pháp Kinh Pháp Hoa Yếu
Nghĩa, cùng bộ ma Ha Chỉ Quán, (tức Đại bộ Chỉ Quán, 20
quyển của Ngài). Tới niên hiệu Khai Hoàng thứ 17 (597) Ngài
lại trở về núi Thiên Thai, rồi tịch trong năm này. Ngài
thọ 60 tuổi.
Đạo nghiệp
trước tác của Ngài còn lưu lại đến ngày nay gồm có Tam
Đại bộ (60 quyển) và Ngũ Tiểu bộ (9 quyển) cùng nhiều
trước tác lừng danh khác như Bộ Đồng Mông Chỉ Quán mà
tôi đã chọn để dịch và tóm tắt.Và như trước tôi đã
trình bày, Đồng Mông Chỉ Quán là một trước tác rất hàm
xúc và có hệ thống, nếu hành giả cố gắng thực hành theo
"Pháp yếu tọa Thiền tu tập Chỉ Quán" này chắc chắn sẽ
đạt được kết quả lớn lao.
Mong rằng
chư vị hành giả cố gắng học hỏi và tinh tiến thực hành.
Vì Đồng Mông Chỉ Quán không chỉ là một trước thuật đã
dẫn dắt nhiều thế hệ vào con đường giải thoát, mà còn
là một tác phẩm đã trải qua hơn 1400 năm mà vẫn còn giữ
nguyên giá trị thực tiễn siêu việt trong kho tàng kinh điển
đồ sộ của Phật giáo.
Thật đáng
lấy làm quý trọng cho tất cả mọi TăngNi, Phật tử chúng
ta.
Phật lịch
2521
Linh Mụ,
mùa An cư
Năm Đinh
Tî 1977
Hòa thượng
THÍCH ĐÔN HẬU
PHẦN MỘT
TỰA
Đồng Mông
Chỉ Quán mở đầu bằng câu kệ:
Chư ác
mạc tác,
Chúng
thiện phụng hành.
Tự tịnh
kỳ ý,
Thị chư
Phật Giáo.
Nghĩa là:
Các điều
ác quyết định chớ làm,
Các điều
thiện kính cẩn vâng làm.
Tự làm
cho ý niệm thanh tịnh,
Đó là
lời dạy của chư Phật.
Toàn bộ
pháp Chỉ Quán cũng như tất cả các phương tiện tu hành của
đạo Phật, tóm lại không ra ngoài câu kệ này. Ác và thiện
chia ra có hữu lậu và vô lậu. Hữu lậu ác: là những việc
làm, lời nói, hoặc ý nghĩ có tổn hại cho các loài hữu
tình. Hữu lậu thiện: là những điều có lợi ích cho tất
cả các loài hữu tình. Lợi ích và tổn hại này chẳng những
nói về hiện tại mà cón cả về tương lai nữa. Vô lậu
ác: là những điều tổn thương hoặc ngăn cản đường tu
tập giải thóat. Ngược lại, vô lậu thiện: là những điều
thuận lợi và giúp ích cho đường tu tập giải thóat. Vì
ý nghĩa Thiện và Aùc rộng rãi như thế nên phải bỏ ác
làm thiện, bao gồm hết các phương pháp tu tập của thế
gian và xuất thế gian. Lại, ý thức rất tự tại, không theo
nghiệp nên tội cũng nhiều mà công cũng lớn. Ý thức theo
tham, sân, si, phiền não thì gây nhiều ác nghiệp. Ngược lại,
ý thức ý thức theo tín, giải, hành chân chính thì chứng
được quả vị giải thoát.
Yù nghĩa
câu: "Tự làm cho ý niệm thanh tịnh", cốt chỉ rõ người
tu hành cần làm cho ý thức luôn luôn phát sinh những ý niệm
thanh tịnh để huân tập ở đệ bát thức, phá trừ vô minh,
phiền não. Do đó ý thức càng ngày càng thanh tịnh hơn trước,
đi đến phát khởi trí tuệ, chứng vào pháp tính và thể
nhập tự tánh thanh tịnh tâm, bản lai không có ô nhiễm.
Phương pháp
tu tập thì nhiều, nhưng cốt yếu không ra ngoài Chỉ quán.
Có Chỉ mới uốn dẹp được mê lầm, phiền não, có Quán
mới nhận rõ pháp tánh chân như. Chỉ là "tịch", Quán là
"chiếu", hai pháp đó hổ tương cho nhau, không bao giờ xa lìa
nhau. Chỉ là nguyên nhân phát sinh thiền định. Quán là nguyên
nhân phát sinh trí tuệ. Hai phép Chỉ và Quán như hai cánh của
một con chim. Nếu thực hành riêng một phép thì dễ sa vào
tà kiến. Trong Kinh có câu: "Hàng Thinh Văn định nhiều huệ
ít nên không thấy Phật tánh, Thập Trụ Bồ Tát huệ nhiều
định ít, nên tuy thấy Phật tánh mà không tỏ rõ; chỉ có
Chư Phật Như Lai định huệ cân bằng mới thấy được Phật
tánh rõ ràng. "Vì thế tất cả những người tu hành đê?u
nên phát tâm thực hành Chỉ Quán.
PHẦN HAI
ĐẦY
ĐỦ CÁC DUYÊN
Khi muốn
phát tâm thực hành Chỉ Quán, hành giả nên có đủ năm duyên
sau đây:
1). Giữ giới
thanh tịnh:
Giơí luật
của Phật cốt để ngăn ngừa những điều xấu ác, nếu
không giữ giới mà làm các điều xấu ác thì căn bản thân
tâm đã trái với Phật Pháp, dầu có tu tập cũng không đem
lại kết quả. Nên hành giả côùt phải giữ trọn vẹn các
tịnh giới: sát, đạo, dâm, vọng. Cương quyết không giết
hại, nhất là người, không trộm cắp, không dâm ô (nếu
cư sĩ thì không tà dâm) và không đại vọng ngữ - chưa ngộ
đã nói ngộ- chưa chứng đã nói chứng. Trong lúc chưa phát
tâm tu tập, nếu có hủy phạm điều nào thì cần phải chí
tâm sám hối, thề trước Tam Bảo quyết không tái phạm.
2) Ăn mặc
vừa đủ:
Chúng ta hiện
ở trong đời mạt pháp, không có khả năng hoàn toàn theo đúng
nghi thức ăn mặc trước kia, nhưng cốt nhất cần phải biết
đủ, an chỉ cần no, mặc chỉ cần ấm, không tham cầu những
miếng ngon vật lạ và cũng không tích trử của cải quá nhiều,
làm cho tâm thêm loạn động. Nói thế nghĩa là: người tu
hành chỉ cần có Ba y đủ dùng là được. Vấn đề ăn uống
thì hoặc nhờ đàn việt đưa cơm đến cho, hoặc nhờ Tăng
chúng cho ăn theo lối tịnh thực trong chùa. Việc ăn mặc tuy
nhỏ, nhưng cũng cần phải bố trí trước đầy đủ mới
có thể an tâm tu tập.
3. Ở chỗ
vắng lặng:
Thực hành
Chỉ Quán thì nên ở chỗ vắng lặng, không nghe nhiều tiếng
động để tâm khỏi phân tán. Nếu là cư sĩ, hoàn cảnh không
cho phép thì cũng nên ở một phòng riêng, không có người
qua lại.
4. Nghỉ các
công việc:
Muốn chuyên
tâm tu tập Chỉ Quán, hành giả nên nghỉ hết các công việc
khác, chẳng những nghỉ hết các việc làm ăn, các việc vãng
lai, thù tạc, mà cũng nghỉ cả các việc viết chép, hội
họa.. Cho đến các việc học hỏi, đọc tụng. Nghỉ tất
cả công việc như thế là để cho việc hành đạo được
chuyên cần, tránh khỏi tán loạn.
5. Gần gũi
thiện tri thức:
Thiện tri
thức có ba hạng:
Những vị
thiện tri thức ngoại hộ, chăm lo cúng dường phục vụ người
tu hành mà không làm cho loạn tâm.
Các vị
thiện tri thức đồng tu, khích lệ nhau tu hành, không quấy
rối nhau.
Các vị
thiện tri thức chỉ dạy, với kinh nghiệm dùng các phương
tiện tu hành, chỉ dạy cho khỏi các điều lầm lạc.
PHẦN BA
ĐỐI
TRỊ NGŨ DỤC
Ngũ dục
nhiều nơi giải thích là: tài, sắc, danh, thực, thụy. Nghĩa
là ham muốn của cải, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon và ngủ
nghỉ. Trong bản Tiểu Chỉ Quán này được giải thích là
ham muốn năm điều: sắc, thanh, hương, vị và xúc của thế
gian. Những sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon và những
cản giác êm dịu thường phỉnh gạt tất cả phàm phu, khiến
lòng say đắm và đưa đến phạm nhiều tội lỗi, nên người
tu hành quyết không gần gũi các điều đó. Thế gọi là đối
trị ngũ dục. Trong luận Ma-ha-diễn có nói: "chúng sanh thường
bị ngũ dục quấy phá mà vẫn tham cầu không chán, khi cầu
đã được điều này, lại muốn điều khác, như lửa thêm
củi ngày càng bốc cháy." Người tu hành nên quán sát ngũ
dục không có gì vui, như cho? gặm xương khô, ngũ dục thêm
sự tranh giành như quạ giành thịt thúi, ngũ dục đốt người
như lửa, hại người như rắùn độc, ngũ dục không thật,
như cảnh chiêm bao, ngũ dục không lâu, như tia sáng đá lửa.
Người có trí suy xét thì thấy ngũ dục là giặc, là thù;
những kẻ ngu muội lại tham đắm ngũ dục đến chết không
thôi. Làm tôi tớ cho ngũ dục, về sau phải chịu khổ não
khôn lường. Xét như thế, người thực hành Chỉ Quán cương
quyết đối trị và xa rời ngũ dục.
PHẦN BỐN
TRỪ BỎ
NGŨ CÁI
Trước nói
ngũ dục là năm điều ham muốn do ngoại trần phát sinh, nay
nói ngũ cái là những ý niệm không tốt che lấp tâm thức,
không thấy được sáng suốt.
Ngũ cái là:
tham dục, sân nhuế, thụy miên, điệu hối và nghi.
1)Tham dục
cái:
Là sự che
lấp do lòng tham muốn.
Phàm phu chẳng
những tham muốn ngoại cảnh hiện tiền mà cả trong lúc ở
một mình, cho đến trong lúc tọa thiền, cũng nhớ lại những
cảnh ưa thích mà sinh lòng ham muốn.
Người tu
hành cần suy xét rằng: sống theo đạo Phật là cốt để
được giải thoát khỏi các sự ràng buộc thế gian, nếu
tâm còn ham muốn những điều ngũ dục trong thế gian thì quyết
không giải thóat được. Các điều ngũ dục, lúc chưa được
mà cầu cũng khổ, khi được rồi thì lo sợ nhiều điều
và đến khi mất thì buồn rầu tức bực, thật không có gì
đáng gọi là vui. Các người tu theo ngoại đạo, còn cố gắng
rời bỏ ngũ dục để được lên cõi trời sơ thiền, huống
nữa người tu đạo giải thoát muốn ra khỏi ba cõi mà lại
không trừ bỏ ngũ dục! Ba cõi như nhà lửa, ở trong nhà lửa
mà còn ham chơi bời thì thật là dại dột. Vì thế, người
tu hành cương quyết trừ bỏ ngũ dục, chỉ vui với thiền
định, với đạo giải thóat, chứ không vui với cái gì khác.
Người tu hành phải biết nếu buông lung lòng tham muốn thì
không rời khỏi Ba cõi được. Nếu ưa đắm sự dâm dục
thì không rời khỏi Dục giới. Nên cương quyết trừ bỏ
Tham dục cái.
2. Sân nhuế
cái:
Là sự che
lấp do lòng hờn giận.
Kẻ phàm
phu khi có người khác chọc tức mình, hoặc chọc tức người
thân yêu của mình, hoặc khi nghe người khác khen ngợi kẻ
thù của mình thì sanh lòng hờn giận. Hờn giận rồi sinh
oán thù, làm cho tâm bực tức, rối loạn, mất sự sáng suốt.
Đức Phật đã dạy: "Diệt lòng giận thì an vui, diệt lòng
giận thì không lo. Lòng giận là cội gốc của các tội ác,
lòng giận diệt trừ tất cả hạnh lành". Lòng giận có những
tác hại như thế, nên người tu hành cần tu pháp Từ Bi, Nhẫn
nhục để diệt trừ, làm cho tâm được thanh tịnh.
3. Thụy Miên
cái:
Là sự che
lấp do tâm sở thụy miên. Khi trong tâm mờ tối thì gọi là
thụy, khi giấc ngủ mê man thì gọi là Miên. Vậy thụy miên
tức là thiếp ngủ. Người thế gian sau khi làm việc mệt
mỏi, cần ngủ nghiû cho lại sức để về sau có thể tiếp
tục làm việc. Người tu hành khi vào thiền định thì tâm
thức được nghỉ ngơi hơn cả lúc thiếp ngủ, nên không
cần phải ngủ nghỉ nhiều quá. Nếu trong lúc tu thiền định
mà cứ muốn thiếp ngủ thì đường tu trễ nải, không do
đâu mà giác ngộ được. Mạng người vô thường, mỗi ngày
càng đi gần đến cái chết, lẽ đâu tham ngủ mà tự dìm
mình mãi trong bể khổ, biết bao giờ ra khỏi, trong lúc đã
may mắn học được đạo giải thoát của chư Phật.
4. Điệu
hối cái:
Là sự che
lấp do tâm sở điệu cử và tâm sở ố tác.
Điệu cử
là tâm sở kết đồng với khắp bảy thức trước, đó là
một đại tùy phiền não, làm cho móng tâm từ nơi này sang
nơi khác, không ở yên được một chỗ. Thân ưa múa men, đi
chạy, miệng ưa ngâm nga, cải cọ, ý ưa buông lung, nghĩ việc
này sang việc khác. Đó là tác dụng của Điệu cử. Điệu
cử phá người tu hành làm cho không nhiếp niệm được, do
đó không có thiền định và trí tuệ, nên cần phải trừ
bỏ.
Ố tác là
ăn năn những việc xấu ác đã làm. Người tu hành, nếu trước
có phạm tội lỗi thì cần phải sám hối, và dầu tội nặng,
nhưng khi đã thật tâm sám hối thì không nên lo nghĩ gì nữa
để cho tâm được an vui, có khả năng tu hành theo chánh pháp.
Nếu ôm lòng ăn năn mãi thì lại thành một sự trở ngại
cho việc tu tập. Lại có người tu hành mà thắc mắc Điệu
cử mà hóa ra ăn năn rồi không muốn tu tập nữa. Tâm sở
ố tác này cũng là một trở ngại trên đường tu tập, nên
phải diệt trừ.
5. Nghi cái:
Là sự che
lấp do lòng nghi ngờ khiến cho tín tâm không vững chắc đối
với Phật Pháp, ngăn trở sự tu tập; không có kết quả.
Nghi có ba
thứ:
a)nghi mình:
nghi mình căn cơ thấp kém, tội lỗi nặng nề, không thể
thực hànhchỉ Quán được. Muốn trừ lòng nghi đó, cần nêu
rõ tất cả chúng sanh đều có Phật tính và nên xét hiện
nay gặp được Phật Pháp không phải là ngẫu nhiên mà là
do nhân duyên thiện căn đời trước; thiện căn đó khó mà
lường hết được. Vì thế người tu hành không nên tự khinh,
nghi mình không thể tu tập Chỉ Quán được.
b)Nghi Thầy:
Thấy vị Thầy có một vài chỗ thiếu sót mà nghi rằng vị
đó không thể chỉ dạy Phật Pháp được. Lòng nghi nầy thường
thường kèm theo với ngã mạn, rất có hại cho sự tu tập
Chỉ Quán. Phật đã dạy:" Y pháp bất y nhân". Vị Thầy dẫu
thế nào cũng chỉ lặp lại những lời Phật dạy mà thôi.
Trong những lời Phật dạy, chỗ nào đã hiểu rõ ràng, nhận
là đúng đắn thì đó là pháp thích hợp với căn cơ của
mình, cần phải phát lòng tin chắc chắn, không nên vì vị
Thầy mà nghi hoặc.
c)Nghi Pháp:
Có người nghe được Phật Pháp, tự mình suy xét nhận là
đúng đắn, nhưng lại cứ chấp chặt những ý niệm sai lầm
của thế gian, đã tiến một bước lại lùi một bước, không
phát sinh được lòng chánh tín. Người đó nên biết tội
chướng sâu nặng của mình mà phát tâm sám hối, cố gắng
suy nghĩ học tập về Phật Pháp nhiều hơn nữa để phát
được lòng tin chắc chắn. Chỉ khi nào phát được lòng tin
chắc chắn thì trên con đường tu tập mới mong có kết quả.
Ngũ cái là
năm sự trở ngại lớn nhất trên con đường thực hành Chỉ
Quán. Mặc dầu trần lao phiền não còn nhiều, nhưng trừ được
ngũ cái thì tâm đã yên vui thanh tịnh và có khả năng thiết
thực để tu tập Chỉ Quán.
PHẦN NĂM
ĐIỀU
HÒA
A. LÚC
BẮT ĐẦU HỌC TỌA THIỀN, TU HÀNH CHÁNH PHÁP CỦA MƯỜI PHƯƠNG
CHƯ PHẬT:
Trước hết
phải phát Bồ Đề nguyện, nguyện độ tất cả chúng sanh,
nguyện thành vô thượng Phật đạo. Tâm phải vững vàng,
tinh tấn dũng mãnh, không tiếc thân mạng, thề nếu không
thành Phật đạo, quyết không thối chuyển.Sau đó, chính trong
mỗi một niệm thường suy nghĩ thật tướng của các pháp,
biết tất cả các pháp, nào là nội căn, ngoại trần, vọng
thức hoặc các pháp phiền não, các pháp nhân quả đều do
tâm mà có, chứ không phải thật có. Nếu tâm không phân biệt
thì các pháp vốn không có tự tánh, nếu tâm không nhiễm
trước thì thoát khỏi luân hồi sanh tử. Suy nghĩ như thế
thật kỹ càng không còn chỗ nghi hoặc nữa, mới có thể
theo thứ lớp mà tu tập Chỉ Quán.
Muốn tu tập
được kết quả tốt, hành giả cần phải chuẩn bị, cũng
như người thợ làm đồ gốm, muốn có những chén bát hay
ấm bình tốt thì trước hết phải nhồi đất cho nhuyễn,
sau đó mới bắt, nặn được các đồ dùng ấy tốt được.
Và cũng như người gảy đàn, trước hết phải so dây cho
đúng, khi gảy mới có được những âm ba vi diệu. Cũng thế,
hành giả cần phải điều hòa năm việc sau đây mới tránh
được những khó khăn, trở ngại về sau:
1)Điều hòa
ăn uống:
Ăn uống
cốt để nuôi thân cho khỏe mạnh, để có khả năng tu tập
chánh pháp. Nếu ăn quá no thì tức bụng, hơi thở không đều,
huyết mạch không thông, không thể ngồi lâu mà thực tập
được. Nếu ăn quá ít thì thân thể suy nhược, ý niệm không
vững, khó bề tọa thiền. Nếu ăn những thứ tanh nồng thì
tâm trí hôn mê, nếu ăn những vật không thích hợp thì dễ
sanh bệnh hoạn. Vì thế trong lúc tu định cần phải thận
trọng điều hòa sự ăn uống.
2. Điều
hòa sự thiếp ngủ:
Thiếp ngủ
quá nhiều thì hoang phế sự tu hành, nó còn làm cho tâm trí
hôn ám, thiện căn sút kém. Nếu ngủ quá ít thì trở ngại
cho sức khỏe. Cần nên giác ngộ sự vô thường, điều hòa
sự thiếp ngủ để cho ý niệm rõ ràng, tâm thức sáng suốt,
chứng được Tam-muội. Sinh mạng vô thường, mỗi ngày càng
đến gần chỗ chết, không nên vì nhân duyên thiếp ngủ mà
luôn bỏ việc tu hành.
3. Điều
hòa thân thể:
Điều hòa
thân thể, điều hòa hơi thở, điều hòa tâm niệm cần phải
làm chung một lần. Lẽ ra không nên nói riêng, nhưng đây nói
riêng về điều hòa thân thể chỉ cốt để cho dễ hiểu
mà thôi. Người tu thiền, trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi
đều cần phải điều hòa thân thể, cho thân thể được
khoan khoái, thì hơi thở mới được nhẹ nhàng. Cần ngồi
trên giường êm, như giường có mặt bằng dây đan, hoặc
có nệm lót để khỏi bị tê. Nên ngồi bán già, nếu không
kiết già được, nên mặc áo quần rộng rãi, và nới lỏng
thắt lưng, nhưng lại cần đeo dây hoặc cài kim để hạ y
khỏi tụt xuống. Sau đó để bàn tay trái lên trên bàn tay
phải rồi kéo về gần thân, và đặt trên chân cho thật cân
đối. Ngồi xuống như thế rồi uốn mình bảy tám lần, nhưng
vẫn để tay chân nguyên như cũ, cốt làm cho các khớp xương
giãn ra. Nếu trường hợp bị tê bại, thì nên ngồi ghế
nệm mềm, hai chân thỏng xuống, hạ hai đầu gối sát nhau,
và hai tay để trên hai bắp vế, rồi cũng uốn mình bảy tám
lần như thế. Phép ngồi sau này không bằng phép trước, nhưng
đối với những người tê bại thì lại có thể tác dụng
ngồi được lâu hơn. Uốn mình xong thì ngồi thẳng thắn,
xương sống không uốn cong và cũng không thẳng quá, đầu
cổ ngay ngắn, không ngữa, mặt ngó thẳng ra trước.
Thứ nữa,
nên thở ra những trược khí. Nghĩa là thở vào cho sâu, rồi
mở miệng phóng hơi ra, phóng từ từ nhẹ nhàng, không nên
thơ?i ra thành gió. Phóng trược khí như thế ba lần, và trong
lúc ấy tưởng tất cả hơi uế trược trong thân và chỗ
nào không thông suốt đều nhờ phóng trược khí đó mà được
thông suốt. Xong rồi thì ngậm miệng, môi răng vừa dính với
nhau, không bậm chặt, lưỡi thì dính lên vòm hàm trên, mắt
nhắm vừa không thấy ánh sáng mà thôi. Nên ngồi nghiêm chỉnh
như thế, thân, đầu và tứ chi tuyệt đối không lay động.
Đó là phương pháp điều hòa thân thể, cốt yếu làm cho
thân không buông lơi, không co rút. Lại cũng có thể tập Chỉ
Quán trong lúc đi, lúc đứng, lúc nằm. Đi thì chậm rãi, khoan
thai, để hơi thở được nhẹ nhàng. Đứng thì ngay thẳng,
hai tay duỗi xuống, phía sau nên dựa vào tường hoặc dựa
vào một cái gì khác để tránh lay động. Nằm thì theo phương
thức cát tường của chư Phật, cốt yếu là phải tỉnh táo,
không được thiếp ngủ.
4 Điều hòa
hơi thở:
Hơi thở
có bốn tướng: gió, suyển, khí, tức. Khi hơi thở trong mũi
ra vào có tiếng, đó là tướng gió, khi hơi thở tuy không
có tiếng, lúc ra vào còn bực tức không thông, đó là tướng
suyển. Khi hơi thở tuy không có tiếng, không bực tức, nhưng
ra vào không được nhẹ nhàng, đó là tướng khí. Khi hơi
thở không có tiếng, không ngưng kết, không thô phù, ra vào
nhẹ nhàng như không có, giúp cho ý niệm an lành vui vẻ, thì
đó mới làtướng tức.
Hơi thở
còn có tướng gió thì tâm tán loạn, hơi thở còn có tướng
suyển thì tâm ngưng trệ, hơi thở còn có tướng khí thì
tâm mệt nhọc, như thế chưa tu định được. Cần phải giữ
hơi thở luôn luôn có tướng tức thì mới đắc định. Trong
lúc tham thiền, nếu khởi sinh tướng gió, tướng suyển, tướng
khí thì biết là hơi thở chưa điều hòa; do đó không nên
quán tưởng, mà phải chú trọng điều hòa thân thể bằng
ba phương pháp:
a)Hướng
tâm ở dưới rốn.
b)Buông lơi
thân thể một ít.
c)Quán hơi
thở ra vào thông suốt cùng khắp thân thể, không có ngăn
ngại, đến khi hơi thở không rít, không trơn, tức là không
ngưng trệ, không thô phù, thì hơi thở được điều hòa và
tâm dễ vào định.
5. Điều
hòa tâm niệm:
Điều hòa
tâm niệm có ba giai đoạn:
Trong lúc
nhập định.
Trong lúc
trụ định.
Trong lúc
xuất định.
Trong lúc
nhập định:
Điều hòa
tâm niệm có hai phương pháp:
Điều phục
những loạn tướng, không có buông lung.
Điều khiển
tâm niệm yên lành, không chìm, không nổi, không lơi, không
gấp.
Nếu trong
lúc tọa thiền tâm trí mờ tối không ghi nhớ rõ, đầu muốn
cúi xuống, đó là tướng chìm, lúc bấy giờ nên chuyên tâm
an trụ nơi đỉnh mũi, khiến tâm chú ý trong duyên, không bị
phân tán, thì trị được tướng chìm. Nếu trong lúc tọa
thiền tâm hay lay động, thân cũng không yên, nghĩ đến việc
khác ở ngoại cảnh, đó là tướng nổi, lúc bấy giờ nên
an tâm hướng xuống dưới, để tâm an trụ nơi rốn, chế
phục các loạn niệm, như thế trị được tiếng nổi và
làm cho tâm được bình tĩnh, dễ yên lặng. Nếu trong lúc
tọa thiền tâm niệm tản mác, thân muốn nghiêng ngả, hoặc
trong miệng ra nước bọt, hoặc tâm niệm tối tăm, thì đó
là tướng lơi, lúc bấy giờ cần chỉnh đốn thân thể, quán
tưởng gấp nhặt thêm để tâm an trụ torng duyên, thân thể
bình tĩnh, đó là cách trị tướng lơi. Nếu trong lúc tọa
thiền, đương nhiếp tâm quán tưởng, nhân đó tâm hướng
lên trên quá trong ngực đau nhói, đó là tướng gấp, lúc
bấy giờ nên buông lơi tâm tưởng một ít, tâm nghĩ trở
xuống và hết đau ngực, đó là cách trị tướng gấp.
Tâm niệm
còn có thể có một số tướng khác, nhưng cốt yếu trong
lúc nhập định là phải điều hòa tâm niệm, không chìm xuống,
không nổi lên, không gấp rút, không buông lơi, cho đến không
rít qua, không trơn quá thì tâm niệm sẽ được điều hòa.
Và trong lúc nhập định, phải từ thô phù, đến tế nhị.
Thân là thô
phù, Tâm là tế nhị, Tức là ở chặng giữa. Phải điều
hòa từ thô phù đến tế nhị, khiến cho tâm được yên lặng,
đó là phương tiện ban đầu trong lúc nhập định.
Trong lúc
trụ định:
Cần điều
hòa ba việc: Thân, Tức và Tâm.
Người thực
hành trong một thời tọa thiền dài đến cả ngày, ngắn chỉ
một giờ, đương lúc nhiếp niệm quán tưởng, cần phải
khéo biết những tướng điều hòa hoặc không điều hòa của
Thân, Tức và Tâm. Nếu trước kia tuy đã điều hòa thân thể
xong, nhưng thân hoặc lơi, hoặc gấp, hoặc xiên, hoặc cong,
hoặc cúi hoặc ngửa, không được đoan chính, thì khi biết
nên sửa lại cho đúng đắn. Trong lúc tọa thiền tuy thân
được điều hòa, nhưng hơi thở lại không điều hòa, như
có tướng gió, tướng suyển, tướng khí. thì nên dùng phương
pháp trước kia để điều hòa hơi thở luôn luôn giữ được
tướng tức, nhẹ nhàng, lâng lâng, như có như không. Trong
lúc tọa thiền thân thể và hơi thở tuy đã được điều
hòa, mà tâm niệm thì lại có những tướng chìm, nổi, lơi,
gấp, khi phát hiện được phải theo những phép ở trên kia
mà điều hòa cho thích hợp.
Nói tóm lại,
trong một thời tọa thiền, Thân, Tức và Tâm luôn luôn phải
được điều hòa, xem xét đúng đắn và điều hòa thích đáng
thì tọa thiền mới được an lành, trừ được trở ngại
và dễ dàng nhập định.
Trong lúc
xuất định:
Cũng phải
điều hòa Thân, Tức và Tâm.
Người thực
hành tọa thiền xorg, muốn xuất định thì trước hết buông
tâm ra, duyên với việc khác, đoạn mở miệng phóng hơi ra
và quán tưởng hơi thở từ trong toàn thân theo ý mình mà
tản đi. Sau đó, lay động thân nhẹ nhàng, rồi động đến
vai, cánh tay, đầu cổ, tiếp đến hai chân, khiến toàn thân
mềm mại. Thứ nữa, lấy tay xoa khắp các lỗ chân lông, rồi
xoa tay cho ấm, háp vào hai mắt, sau đó mở mắt ra.
Người thực
hành đợi lúc thân thể bớt nóng, mới tùy ý ra vào thiền
định. Nếu không làm như vậy, khi ngồi, tâm có thể được
an trụ, đến khi xuất định mà quá gấp rút thì có thể
làm cho nhức đầu, đau xương, đau mình, như mắc bệnh phong.
Do đó sau này tọa thiền không được yên ổn. Vì thế, cần
phải điều hòa thân thể; hơi thở và tâm niệm trong lúc
xuất định, phải xuất dần dần, từ tế nhị đến thô
phù mà không quá gấp rút.
B. CÁC
PHÁP MÔN PHƯƠNG TIỆN:
Phàm thực
hành Chỉ Quán, cần phải có đầy đủ Năm pháp môn phương
tiện sau đây:
1. muốn:
Phật dạy:
"Tất cả thiện pháp lấy ý muốn làm cội nguồn". Người
tu hành phải muốn xa rời tất cả vọng tưởng, điên đảo
thế gian, muốn được tất cả thiền định, trí tuệ, đó
cũng gọi là chí, cũng gọi là nguyện, cũng gọi là ưa, cũng
gọi là thích, người có chí nguyện ưa thích tất cả những
pháp môn tu hành nên gọi là muốn.
2.Tinh tiến:
Tinh tiến
là siêng năng tu hành, giữ vững cấm giới, trừ bỏ ngũ cái,
đầu hôm và gần sáng chuyên tu không rời, cũng như người
dùi lửa, (người xưa lấy lửa bằng cách dùng hai vật cọ
xát vào nhau, sự ma sát tạo sức nóng cao độ thì có lửa),
chưa nóng thì quyết định không dừng nghĩ.
3. Niệm:
Niệm là
nghĩ đến thế gian giả dối không đáng kể, nghĩ đến thiền
định rất đáng quý trọng. Nếu được thiền định thì
đầy đủ tất cả, phát sanh vô lậu trí, có thần thông đạo
lực, thành bậc vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, độ khắp
chúng sinh nên rât đáng quý.
4. Trí tuệ
thiện xảo:
Người tu
hành trí tuê? thiện xảo là so sánh cái vui thế gian với cái
vui thiền định trí tuệ, hai bên được gì, mất gì, bên
nào khinh, bên nào trọng. So sánh như thế, người tu hành sẽ
thấy cái vui thế gian là vui ít khổ nhiều, giả dối, không
thật, dầu có mất đi cũng chẳng mất mát bao nhiêu. Còn cái
vui thiền định trí tuệ là vô lậu, vô vi, vắng lặng, rộng
lớn, xa rời sinh tử, dứt hẳn khổ não. Được cái vui như
thế thì trọng đại biết dường nào, do đó càng vững tâm
tu thiền định.
5. Nhất tâm:
Đã biết
niềm vui thế gian có nhiều tác hại, có nhiều khổ não, đã
biết công đức thiền định trí tuệ rất đáng tôn quý,
thì nên nhất tâm quyết định thực hành Chỉ Quán. Tâm ấy
như kim cương, dẫu cho thiên ma ngoại đạo ngăn cản phá hoại,
dẫu cho đường tu chưa đạt được gì cũng quyết khơngthay
đổi. Hành giả cần phải đầy đủ những phương tiệïn
như thế thì tâm mới quyết định, cũng như người đi đường
cần biết đường đi khó hay dễ thế nào thì mới quyết
tâm đi tới.Vì thế, trong Kinh đức Phật có dạy: "Không có
Trí thì không có Thiền, không có Thiền thì không có Trí".
Xem
Tiếp Trang 2
|