|
c
ĐỔNG
MÔNG CHỈ QUÁN
Trí Giả
Đại Sư Trước Tác
Hòa Thượng
Thích Đôn Hậu Dịch Và Tóm Tắt
Phật
Lịch 2546 - Chùa Linh Mụ Huế
PHẦN SÁU
THỰC
HÀNH CHỈ QUÁN
Thực hành
Chỉ Quán có hai cách:
Trong lúc
tọa thiền
Theo duyên
đối cảnh.
1. Thực hành
Chỉ Quán trong lúc tọa thiền:
Mặc dầu
trong bốn oai nghi đều có thể thực hành Chỉ Quán được,
nhưng trong lúc tọa thiền là thuận lợi hơn cả. Cho nên ở
đây chỉ nói riêng cách thực hành trong lúc tọa thiền.
Cách này,
tóm tắt có Năm phương pháp:
Phương pháp
thứ Nhất:
Thực hành
Chỉ Quán để đối trị những thô phù loạn động trong lúc
ban?â?u. Ng???i thực hành khi mới tọa thiền, thấy tâm thô
loạn thì cần phải thực hành Chỉ để phá trừ, nếu phép
Chỉ không pha? được thì nên thực hành phép Quán.
Thực hành
phép Chỉ có ba thứ:
a)Buộc tâm
vào một cảnh, như chuyên chú tâm vào đầu đỉnh mũi hay
vào phía trong rốn. để cho tâm không tán loạn, như trong Kinh
dạy: "Buộc tâm không phóng dật như dùng xiềng buộc khỉ".
b)A?p dụng
Chỉ để chế phục tâm, nghĩa là khi tâm khởi lên thì liền
chế phục, không cho buông lung tán loạn, như torng kinh dạy:
"Tâm làm chủ năm Căn, vì thế cần phải chế phục Tâm".
Hai thứ trước đây đều là sự tướng dễ hiểu, không cần
phân tích.
c)Thực hành
phép Thế chân chỉ, nghĩa là theo tâm nghĩ cái gì, đều biết
các pháp do nhân duyên sanh, không có tự tánh, nên tâm không
chấp trước. Tâm không chấp trước thì vọng niệm dừng
nghi?, nên gọi là Chỉ. Hành giả trong lúc mới bắt đầu
tọa thiền thường theo tâm nghĩ đến tất cả các pháp, niệm
nệm không an trụ, tuy dùng phép Thế chân chỉ trên kia mà
vọng niệm không dừng nghi? thì nên trở lại quán tâm: Tâm
quá khứ đã diệt, tâm hiện tại không dừng, tâm vị lai
chưa đến, xét cùng trong ba đời, rõ ràng không nắm được
cái gì là tâm. Không nắm được cái gì là tâm thì tất cả
các pháp đều không tồn tại. Người tu hành tuy quán cái
tâm khơng an trụ, thật không có gì, nhưng lại không phải
từng sát na, từng sát na không nhận biết có niệm khởi lên.
Hành giả
lại quán tâm niệm đó, do trong có sáu căn, ngoài có sáu trần,
đối đãi v??i nhau nên có sáu thức sanh ra. Căn trần chưa
đối đãi thì thức vốn không sanh. Quán sự khởi sanh như
thế, quán sự hoại diệt như thế, thì biết sinh diệt chỉ
là danh từ, chỉ là giả lập. Khi tâm sinh diệt đã diệt,
bản tính tịch diệt hiện tiền rốt ráo không có gì, thì
khế hợp với đạo lý không tịch, và cái tâm tự dừng nghỉ.
Luận Khởi tín nói rằng: "Nếu tâm buông lung tán loạn thì
phải nhiếp thu lại, làm cho an trụ nơi chánh niệm". Chánh
niệm đó, tức là biết chỉ có tâm, không có cảnh giới
bên ngoài và chính cái tâm đó cũng không tự tướng, niệm
niệm dời đổi, không thể nắm được. Song người bắt đầu
tu học, chưa dễ an trụ liền nơi chính niệm, nếu đè nén
quá phần, bắt tâm an trụ thì dễ phát điên, do đó phải
theo đúng chánh pháp tu tập lâu ngày thì mới an trụ đựơc,
cũng như người học bắn, tập luyện lâu ngày bắn mới trúng
đích.
Thực hành
pháp Quán có hai thứ:
a)Quán để
đối trị, như thực hành bất tịnh quán để đối trị lòng
tham dục, thực hành quán từ tâm để đối trị lòng sân
chành quán giới phân biệt để đối trị ngã chấp, thực
hành quán sổ tức để đối trị tâm tán loạn.
b)Chánh quán,
quán các pháp đều do nhân duyên giả dối sinh ra. Các pháp
duyên sanh như huyễn, không có tự tánh, đó là thật
tướng. Rõ
được nơi cảnh sở quán tất cả đều rỗng không, thì tâm
năng quán không khởi lên, như trong Kinh có bài Kệ:
Các pháp
không bền chắc,
Thường chỉ
ở trong niệm;
Đã nhận
hiểu chính không,
Thì không
còn tưởng niệm.
Phương pháp
thứ nhì:
Thực hành
Chỉ Quán để đối trị bệnh trầm và phù của tâm. Hành
giả trong lúc tọa thiền, tâm lại mờ tối, bế tắc không
tỏ, hoặc muốn thiếp ngủ thì lúc bấy giờ nên áp dụng
pháp quán để soi tỏ. Nếu trong lúc tọa thiền, tâm lại
thô phù lay động không yên, thì nên áp dụng phép Chỉ để
ngăn chận lại. Cốt yếu là hành giả cần phải biết bệnh
và dùng thuốc đối trị cho dúng không nên dùng càng, trái
với bệnh thì có hại.
Phương pháp
thứ ba:
Theo phương
tiện để thực hành Chỉ Quán. Hành giả trong lúc tọa thiền,
tuy đã áp dụng quán đối trị bệnh trầm, nhưng tâm vẫn
không yên lặng, sáng suốt và không có kết quả, thì nên
thử áp dụng phép Chi?, nê?u th??c hành phép Chỉ mà thân tâm
được yên lặng thì biết là cần phép Chỉ để đối trị
bệnh. Nếu trong lúc tọa thiền, tuy đã áp dụng phép Chỉ
đối trị bệnh phù động, nhưng tâm vẫn không an trụ và
không có kết quả, thì nên thử thực hành phép Quán, nếu
dùng phép Quán mà tâm được yên ổn thì biết là cần phép
Quán, do đó phải dùng phép Quán để trị bệnh. Đó là lược
nói tùy theo hoàn cảnh mà áp dụng pháp môn Chỉ-Quán. Cốt
yếu nên xét rõ cần pháp nào mà thân tâm được yên ổn
thì theo đó mà áp dụng.
Phương pháp
thứ tư:
Thực hành
Chỉ Quán để đối trị những tâm niệm vi tế trong định.
Hành giả trước đã dùng Chỉ Quán đối trị, phá trừ những
thô loạn, thô loạn đã dừng nghỉ thì được nhập định,
do định tâm vi tế nên cảm giác thân thể không tịch, chịu
sự khoái lạc. Lúc đó, hoặc tâm quá mãnh lợi, có thể dùng
tâm vi tế chấp những lý thiên lệch tà ngoại, nếu không
biết ngăn đón tâm ấy, trừ diệt hư vọng thì sinh lòng tham
trước, mà đã tham trước thì chấp đó là thật. Ngược
lại, nếu biết là hư giả không thật, thì những phiền não,
ái kiến không sinh, ?o? la? th??c hành phép Chỉ. Nếu đã áp
dụng phép Chỉ nhưng tâm vẫn còn vướng mắc những ái kiến
không thôi, thì nên thực hành phép Quán, quán cái tâm vi tế
trong định, nếu không thấy cái gì là tâm vi tế trong định
thì không chấp trước những kiến chấp trong định. Không
chấp trước những kiến chấp torng định đó thì ái kiến
dứt sạch, đó là thực hành phép Quán.
Phương pháp
tu tập Chỉ Quán trong lúc này cũng như trước kia, chỉ có
khác là tâm vi tế vướng mắc những kiến chấp trong định
mà thôi.
Phương pháp
thứ năm:
Thực hành
Chỉ Quán để cân bằng Định, Tuệ.
Hành giả
trong lúc tọa thiền, hoặc nhân thực hiện phép Chỉ, hoặc
nhân thực hiện phép Quán mà vào thiền định, tuy được
vào thiền định mà không có quán tuệ thì chỉ là si định,
không đoạn trừ kiết sử. Lúc bấy giờ cần áp dụng pháp
quán để cho định tuệ cân bằng thì mới đoạn được kiết
sử, chứng các pháp môn. Hành giả trong lúc tọa thiê?n, nhân
th??c hiện pháp quán mà tâm được khai ngộ trí tuệ rõ ràng;
do đó không thể cắt ly sinh tử. Lúc bấy giờ nên áp dụng
phép Chỉ, do thực hành phép Chỉ thì sẽ được định tâm,
như ngọn đèn trong phòng kín phá trừ được bóng tối, soi
tỏ được các vật. Đó là pháp môn Chỉ Quán làm cho Định
Tuệ cân bằng.
Hành giả
trong lúc toạ thiền, khéo dùng Năm phương pháp Chỉ Quán trên
đây. Lúc áp dụng Chỉ, lúc áp dụng Quán, hợp với hòan
cảnh, nên biết rằng người đó đã khéo tu Phật Pháp, mà
đã khéo tu Phật Pháp thì quyết không bỏ luống một đời.
2. Theo duyên
đối cảnh mà thực hành chỉ quán:
Theo duyên
là theo cái duyên của sáu việc: đi, đứng, nằm, ngồi, làm
việc và nói năng. Đối cảnh là đối với sáu cảnh trần:
sắc, thinh,hương, vị, xúc và pháp. Trong mười hai việc đó,
hành giả đều có thể theo duyên, đối cảnh mà thực hành
Chỉ Quán.
Theo duyên
gồm có sáu việc:
a) Đi - trong
lúc đi, hành giả nên nghĩ rằng: ta nay vì việc gì mà muốn
đi? Nếu vì bị phiền não sai khiến hoặc vì những việc
bất thiện và vô ký thì không nên đi. Ngược lại, nếu vì
việc thiện, có lợi ích cho người như các pháp sự thì nên
đi. Nếu trong lúc đi, hành giả nhận biết nhân có đi mà
có tất cả các pháp trong lúc đi đều không thể nắm giữ
được, thì vọng niệm dừng nghĩ, đó là hành pháp Chỉ.
Nếu trong lúc đi khởi niệm rằng, do tâm làm tho thân thể
cử động nên có bước tới, gọi đó là đi, nhân cái đi
ấy mà có tất cả các pháp thiện ác, rồi trở lại quán
cái tâm đi, không thấy có tướng mạo gì, quán người đi,
các việc đi và tất cả các pháp rốt ráo đều không tịch,
đó là thực hành pháp Quán.
c)Đứng -
trong lúc đứng, nên khởi niệm rằng: ta nay vì việc gì màmuốn
đứng? Nếu vì bị các phiền não sai khiến, hoặc vì các
việc bất thiện, vô ký thì không nên đứng. Nếu vì những
việc thiện có lợi ích thì nên đứng. Nếu trong lúc đứng,
biết được nhân có đứng mà có tất cả các pháp thiê?n
a?c, ro? biê?t ca?i tâm ???ng, va? tâ?t ca? ca?c pha?p trong lúc đứng
đều không thể nắm giữ được, thì vọng niệm dừng nghỉ,
đó là hành pháp Chỉ. Còn pháp Quán thì nên khởi niệm rằng:
do tâm dừng cái thân lại nên gọi là đứng, nhân có đứng
mà có tất cả các pháp thiện ác, rồi trở lại quán cái
tâm đứng, không thấy tướng mạo, cho đến người đứng,
việc đứng tất cả các pháp đều rốt ráo không tịch, đó
là thực hành pháp Quán.
c) Nằm -
trong lúc nằm, thì nên nghĩ rằng: ta nay vì việc gì mà muốn
nằm? Nếu vì những việc bất thiện như phóng dật.. thì
không nên nằm, nếu vì điều hòa thân tứ đại thì nên nằm
như Sư tử vương. Nếu trong lúc nằm, nhận biết nhân có
nằm nên có tất cả các pháp thiện ác và sự thật tất
cả các pháp đều không có tự tánh, không thể nắm giữ
được, thì vọng niệm không sanh khởi, đó là thực hành
pháp Chỉ. Còn pháp Quán thì nên nghĩ rằng, do sự mệt mỏi
nên hóa tối tăm, buông lung sáu tình, do đó mà có tất cả
các pháp thiện ác, rồi trở lại quán cái tâm nằm, không
thấy chướng ngại, cho đến tất cả các pháp thảy đều
rỗng không, vắng lặng, đó là thực hành pháp Quán.
d) Ngồi -
trong lúc ngồi, nên khởi niệm rằng: ta nay vì việc gì mà
muốn ngồi? Nếu vì các phiền não, các việc bất thiện,
vô ký thì không nên ngồi, nếu vì việc thiện có lợi ích
thì nên ngồi. Trong lúc ngồi, nếu nhận biết nhân có ngồi
mà có tất cả các pháp thiện ác, rồi rõ biết cả các pháp
đều giả dối, không thật, thì vọng niệm không sanh, đó
là áp dụng pháp Chỉ. Còn pháp Quán thì nên nghĩ rằng, do
tâm mới có ngồi, mới có tất cả các pháp thiện ác, rồi
trở lại quán cái tâm ngồi, không thấy tướng mạo, cho đến
quán tất cả các pháp đều rốt ráo vắng lặng, đó là thực
hành Quán.
e) Làm việc
- trong lúc làm việc cũng nên nghĩ rằng: ta nay vì việc gì
mà muốn làm việc? Nếu vì những việc bất thiện, vô lý
thì không nên làm, nếu vì những việc thiện, có lợi ích
thì nên làm. Trong lúc làm mà nhận biết được nhân có làm
nên có tất cả các pháp thiện ác, sự thật không nắm giữ
được một pháp nào thì vọng niệm không sanh, đó là thực
hành pháp Chỉ. Còn pháp quán thì nên nghĩ rằng, do tâm vận
động cái thân làm ra các việc, do đó có tất cả các pháp
thiện ác, rồi trở lại quán cái tâm làm việc, không thấy
tướng mạo, cho đến các pháp đều rốt ráo rỗng không,
vắng lặng, đó là thực hành Quán.
g) Nói - trong
lúc nói thì nên nghĩ rằng: ta nay vì việc gì mà muốn nói?
Nếu vì phiền não sai khiến hay để bàn luận những việc
bất thiện, vô ký thì không nên nói. Nếu vì những việc
lành, có lợi ích thì nên nói. Nếu trong lúc nói nhận biết
nhân có nói nên có tất cả các pháp thiện ác, rõ biết tâm
nói và tất cả các pháp thiện ác, phiền não trong lúc nói,
đều là hư huyễn không thể nắm giữ được thì vọng niệm
dừng nghỉ, đó là thực hành pháp Chỉ. Còn phép quán thì
khởi niệm rằng: do tâm cổ động hơi thở, chạm đến yết
hầu, môi, lưỡi, răng, hàm. nên phát ra tiếng nói và nhân
có tiếng nói, nên có tất cả các pháp thiện ác, rồi trở
lại quán cái tâm nói, không thấy tướng mạo, cho đến người
nói và tất cả các pháp trong lúc nói đều rốt ráo, vắng
lặng, ?o? la? th??c hành pháp Quán.
Sáu phép
Chỉ Quán nầy đều theo Duyên mà dùng, mỗi mỗi đều có
năm ý tu tập như khi tọa thiền thực hành Chỉ Quán.
Còn sáu phép
sau đây là đối với Lục trần mà áp dụng Chỉ Quán, gọi
là Đối cảnh.
Đối cảnh
gồm có sáu trần:
a) Sắc -
lúc con mắt thấy sắc, tùy thấy sắc gì xem đó như bóng
trăng dưới nước, không chắc thật. Nếu thấy những sắc
vừa lòng, không sinh tham ái, thấy những sắc trái ý không
khởi tức giận, thấy các sắc bình thường không khởi vô
minh, vọng tưởng thì gọi là Chỉ. Khi nghĩ rằng tất cả
các tướng thấy được đều rỗng không, vắng lặng, bởi
lẽ trong các thức, căn, trần, hư không, ánh sáng kia không
có cái gì có thể thấy và có thể phân biệt, chỉ do nhân
duyên hòa hợp sinh ra nhãn thức cho đến ý thức nên mới
phân biệt các thứ sắc trần, do đó mà có các pháp thiện
ác. Rồi trở lại quán tâm biết sắc, không thấy tướng,
cho đến các pháp đều rỗng không, vắng lặng, thế gọi
là Quán.
b) Thinh -
trong lúc tai nghe tiếng, nếu nghe tiếng gì nhận biết cũng
như tiếng vang, hư giả không thật, nghe tiếng vừa lòng không
khởi lòng tham, nghe tiếng trái ý không sinh lòng giận, nghe
tiếng bình thường không đem tâm phân biệt, thì gọi là Chỉ.
Nếu phát khởi niệm rằng, tất cả các tiếng đều rỗng
không, chẳng có gì, chỉ do căn trần hòa hợp sinh ra nhĩ thức
cho đến ý thức, mới có phân biệt, nhân đó nên có các
pháp thiện ác.. Đoạn trở lại quán cái tâm nghe tiếng, không
thấy tướng mạo, và quán tất cả các pháp rốt ráo không
tịch, thế gọi là Quán.
c). Hương
- trong lúc mũi ngửi mùi, nếu biết gì và nhận thấy là giả
dối không thật, mùi vừa lòng không sanh chấp trước, mùi
trái ý không khởi giận hờn, mùi bình thường không sinh tâm
phân biệt, thì gọi là Chỉ. Nếu phát khởi niệm rằng, mũi
ta ngửi đây là hư giả, không có chân thật, chỉ do căn trần
hòa hợp sinh ra tỉ thức cho đến ý thức, nên giả dối phân
biệt có các mùi, do đó mà có tất cả các pháp thiện ác,
phiền não. Rồi trở lại quán cái tâm ngửi mùi, không thấy
tướng và biết được việc ngửi mùi cũng như tất cả các
pháp rốt ráo không tịch, thế là Quán.
d)Vị - trong
lúc lưỡi nếm vị, nhậnbiết các vị cũng như những vị
trong chiêm bao, nếm vị ngon không tham trước, vị dở không
chê bai, vị bình thường không khởi vọng tưởng phân biệt,
thế gọi là Chỉ. Khi lưỡi nếm vị, phát khởi niệm rằng:
cái vị ta nếm đây, sự thật vốn không có gì, vì sao vậy?
Vì các vị tự nó không có phân biệt, và ý thức giả dối
phân biệt mới thành có vị, nhân đó mà có tất cả các
pháp thiện ác, phiền não, rồi trở lại quán cái thức phân
biệt các vị, không thấy tướng mạo, cho đến người biết
vị và tất cả các pháp đều rốt ráo không tịch, thế gọi
là Quán.
e) Xúc - trong
lúc thân xúc với trần, nhận biết sự cảm xúc như huyễn,
như hóa, không có chân thật, gặp cảm xúc vừa lòng, không
khởi tham trước, cảm xúc trái ý không sanh sân hận, cảm
xúc bình thường không khởi vọng tưởng phân biệt, thì gọi
là Chỉ. Còn nếu khởi niệm rằng: những pháp nhẹ, nặng,
lạnh, nóng, rít, trơn... thì gọi là xúc, ngoài đầu, mình,
tứ chi thì gọi là thân. Xúc vốn hư giả, thân cũng không
thật, chỉ do nhân duyên hòa hợp sinh ra thân thức, rồi ý
thức, nên có nhớ tưởng phân biệt các thứ xúc trần, gọi
là lãnh thọ xúc trần. Rồi trở lại quán cái tâm biết xúc,
không thấy có tướng mạo, cho đến tất cả các pháp đều
rỗng không vắng lặng, thì gọi là Quán.
g) Pháp -
trong lúc ý thức phân biệt pháp trần, thì phép Chỉ Quán
được áp dụng như trong lúc toạ thiền đã nói ở trước,
không có gì khác.
Tóm lại,
tu tập Chỉ Quán đối với sáu trần thì tùy ý mà sử dụng
các phương pháp, mỗi mỗi đều đầy đủ năm ý như đã
nói ở trước kia. Nếu hành giả biết áp dụng Chỉ Quán
trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi, thấy, nghe hay biết, thì nên
biết rằng người đó chân thật tu hành đạo lý Đại thừa.
Trong Kinh
Đại phâ?m, Phật bảo ông Tu Bồ Đề rằng: Nếu Bồ Tát
khi đi biết đi, khi ngồi biết ngồi, cho đến khi mặc áo
luôn luôn nhất tâm ra vào thiền định, thì nên biết người
đó tu pháp Đại thừa". Người biết tu hành như thế, thì
trong tất cả các nơi đều tu hành Đại thừa, thật là tối
thắng, tối thượng trong thế gian, không có gì so sánh được.
PHẦN BẢY
CÁC THIỆN
CĂN PHÁT SINH
Hành giả
khi thực hành Chỉ Quán như vậy, do quán "tùng giả nhập không,
thì trong lúc tọa thiền, thân tâm sáng suốt thanh tịnh, lúc
đó sẽ có các thứ thiện căn phát sinh, cần nên nhận biết.
Những thứ
thiện căn phát sinh có hai thứ:
1)Những thiện
căn ở ngoài như: bố thí, trì giới, hiếu thuận, cúng dường
Tam Bảo và học hỏi Phật Pháp... nếu không chân chánh tu
hành theo Phật pháp thì có thể lẫn lộn với Ma cảnh.
2)Những tướng
thiện căn phát sanh tự bên trong, nghĩa những thiện căn do
áp dụng các pháp môn thiền định.
Phân biệt
các tướng nầy chia làm ba phần:
a/ Chỉ rõ
các tướng thiện căn phát sinh:
Có năm thứ
khác nhau:
1- Tướng
thiện căn phát sanh trong lúc thực hành điều hòa hơi thở,
hành giả do khéo thực hành Chỉ Quán nên thân tâm điều hòa,
vọng niệm dừng nghỉ, nhân đó tự thấy tâm lân lân vào
định, phát sinh những định dục giới và định vị đáo
địa... định tâm yên ổn, thân tâm rỗng không vắng lặng,
không thấy có tướng mạo. Về sau, hoặc trải qua một vài
lần tọa thiền, cho đến một ngày hai ngày, một tháng hai
tháng, giữ vững định tâm, không lùi không mất, thì ở trong
định bỗng thấy thân tâm phát ra tám thứ cảm xúc, nghĩa
là thấy thân có các tướng: đau, ngứa, lạnh, nóng, nhẹ
nhàng, nặng nề, rít, trơn...Trong lúc tám cảm xúc phát ra,
thân tâm vẫn yên ổn trong định, nhẹ nhàng, vui khoẻ, khoan
khoái, thanh tịnh, không thể lấy gì ví dụ được. Được
như thế thì biết đó là tướng thiện căn thiền định căn
bản đương phát ra trong lúc điều hòa hơi thở. Hành giả
hoặc khi trong định dục giới và định vị đáo ?i?a, bỗng
nhiên nhận rõ hơi thở ra vào dài, ngắn, các lỗ chân lông
khắp thân thể đều rỗng thưa và dùng được tâm nhãn thấy
cả ba mươi sáu vật trong thân, cũng như mở kho thấy các
thứ thóc, đậu.tâm rất vui mừng, vắng lặng yên ổn. Đó
là tướng thiện căn đặc thắng phát sinh trong lúc điều
hòa
hơi thở.
2- Tướng
thiện căn phát sinh do phép quán bất tịnh. Người tu hành,
nếu trong lúc ở trong định dục giới và vị đáo địa,
thân tâm rỗng không vắng lặng, bỗng thấy thân người khác
chết, phình lên hư nát, tan ra nước, chảy đi, còn lại một
đống xương trắng, và tâm vừa thương vừa mừng, nhàm chán
những điều ưa thích trước kia, đó là tướng thiện căn
chính tưởng phát ra. Hoặc trong lúc nhâ?p định, bỗng thấy
những vật bất tịnh trong thân, cả mình phình trướng tan
nát, chỉ còn xương trắng từ đầu đến chân. Thấy như
thế rồi, định tâm an lành, giác ngộ vô thường, nhàm chán
ngũ dục, không chấp ngã nhân, đó là tướng thiện căn bội
xã phát ra. Hoặc ở trong định, thấy cả trong thân, ngoài
thân, tất cả loài cầm thú, cho đến áo mặc, đồ ăn, nhà
cửa, núi rừng.. đều bất tịnh, đó là tướng thiện căn
đại bất tịnh phát ra.
3- Tướng
thiện ăn do tự tâm phát sinh, Hành giả nhân thực hành Chỉ
Quán, được các định dục giới, hoặc định vị đáo địa,
bỗng nhiên phát tâm nghĩ thương chúng sanh, hoặc duyên với
việc người thân được vui phát sanh định tâm, trong tâm
vui vẽ, thanh tịnh, không thể lấy gì ví dụ được, hoặc
duyên với việc người trung gian, kẻ thù, cho đến thập phương
chúng sanh thuộc các loài khác, thấy họ được vui vẻ mà
phát định tâm. Đến lúc xuất định, tâm thường vui vẻ,
thấy bất cứ người nào, nhan sắc thường hòa nhã. Đó là
tướng thiện căn do từ tâm phát ra. Về bi, hỉ và xả cũng
có những tướng thiện căn phát sinh như từ tâm vậy.
4- Tướng
thiện căn do quán nhân duyên phát sanh. Hành giả nhân lúc thực
hành Chỉ Quán, khi được các định dục giới và định vị
đáo địa, bỗng được giác ngộ, xét tìm các nhân duyên
vô minh, hành...trong ba đời không thấy có nhân, có ngã, phá
được các kiến chấp, trí tuệ mở bày, tâm sinh pháp hỷ,
không còn nghĩ những việc thế gian, hoặc xét trong năm ấm,
mười hai xứ, mười tám giới, không thấy nhân ngã. Đó là
tướng thiện căn do quán nhân duyên phát sanh.
5- Tướng
thiện căn do niệm Phật phát sanh. Hành giả khi đắc định,
trong tâm vắng lặng, bỗng nhớ nghĩ đến công đức tướng
hảo của chư Phật, không thể nghĩ bàn. Cho đến những tướng
thập lực, vô úy, bất cộng, tam muội, giải thoát thần thông
biến hóa, phổ độ chúng sanh, và vô lượng vô biên công
đức của chư Phật đều không thể nghĩ bàn. Phát khởi ý
niệm như thế, thì sanh tâm kính yêu, thân tâm vui vẻ, thanh
tịnh yên ổn, không có các ác tướng. Khi xuất định rồi,
thân thể nhẹ nhàng, công đức tự giác rất lớn. Đó là
thiện căn do niệm Phật phát sanh.
Lại nữa,
hành giả nhân lúc tu Chỉ Quán, thân tâm vắng lặng trong sạch,
hoặc phát ra những tướng vô thường, khổ, không, vô ngã,
những tướng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới,
niệm xả, niệm thiện, cho đến những tướng không, vô tướng,
vô tác và được các Bồ-?ề đạo phẩm, các Ba-la-mật, các
thần thông biến hóa.. Đó đều là những tướng thiện căn
do các pháp môn phát sanh. Vì thế trong kinh có dạy: "Kiềm
chế tâm lại một nơi thì không việc gì không làm xong."
b/Phân biệt
chân, ngụy:
Đoạn nầy
chia làm hai phần:
1- Nhận rõ
những tướng phát sanh do thiền định tà ngụy. Hành giả
khi phát ra những thiền định như trên, hoặc nhân những pháp
phát ra trong thiền định, mà thân tâm lay động, hoặc thân
nặng như có vật đè lên, hoặc thân nhẹ như muốn bay lên
trên không, hoặc thân hình như xoay tròn, hoặc thân mệt mỏi
khó chịu, hoặc nghe lạnh buốt, hoặc nghe nóng bừng, hoặc
thấy những cảnh giới ky? lạ, hoặc tâm mờ tối, hoặc khởi
các ác niệm, hoặc tâm bị tán loạn, nghĩ các việc phức
tạp, hoặc vui mừng nhảy nhót, lo rầu đau thương, hoặc có
những cảm xúc làm cho mình ghê rợn, hoặc vui quá say mê.
Khi phát sanh những tà pháp như thế, thì đó là những tướng
thiền định tà ngụy. Nếu người ưa đắm những tà ngụy
đó thì phần nhiều bỏ mất sơ tâm, hóa ra điên cuồng, lạc
vào các thứ ngoại đạo, có khi các quỷ thần . biết hành
giả chấp trước tà pháp, lại giúp thêm sức, phát huy các
tà định, làm cho hành gia có biện tài, thần thông, lừa gạt
thế gian, làm cho nhiều người tín phục, mà trong tâm thì
vẫn điên đảo, chuyên làm những việc quỷ thần, mê hoặc
người đời. Người tu hành như thế, quyết không gặp được
Phật và phải đọa trong ác đạo quỷ thần. Nếu lại làm
nhiều việc ác thì phải đoạ địa ngục.
Vì thế ha?nh
giả thực hành Chỉ Quán, nếu nhận được ác tướng thiền
định tà ngụy, liền khước từ ngay. Khước từ bằng cách
nào? Nếu biết là giả dối thì dùng chánh tâm không nhận,
không trước, các tướng đó sẽ tiêu diệt, hoặc dùng chánh
quán mà phá trừ, các tướng ấy sẽ diệt vong.
2 - Nhận
rõ các tướng của thiền định chân chánh. Hành giả nếu
trong lúc tọa thiền không có những tướng tà ngụy như trên,
khi mỗi tiếng thiền định phát ra, liền biết nó kết hợp
với định tâm, trong tâm rỗng sáng thanh tịnh, vui đẹp yên
lặng, không có các điều che lấp, thiện căn phát sanh thì
lòng tin kính càng tăng trưởng, trí tuệ rõ ràng, thân tâm
như hòa, rỗng không vắng lặng, thoát ly thế gian, vô vi, vô
dục, xuất định nhập định tự tại, tự do. Đó là tướng
thiền định chân chính phát ra. Ví như thân cận người ác
thì thường bị va chạm chọc tức. Ngược lại, thân cận
người lành thì càng lâu, quan hệ càng tốt đẹp. Hành giả
cần phân biệt tà chánh rõ ràng để khỏi bị lầm lạc.
c/Dùng chỉ
quán để tăng trưởng các thiện căn:
Nếu trong
lúc toạ thiền, các thiện căn phát ra, thì nên dùng hai pháp
Chỉ Quán tu tập khiến cho tăng trưởng. Lúc nào nên dùng
phép Chỉ, thì dùng phép Chỉ, lúc nào nên dùng phép Quán,
thì dùng phép Quán, tùy nghi mà tu hành như trước đã nói.
PHẦN TÁM
NHẬN
BIẾT CÁC MA SỰ
Ma theo tiếng
Phạn là Ma-la (Mara), tức là loài hung dữ, cướp công đức
và giết huệ mạng của người tu hành. Ma thường phá hoại
thiện căn của chúng sanh, khiến cho trôi lăn trong đường
sinh tử.
Ma có bốn
thứ là:
Phiền não
ma.
Âm nhập
giới ma,
Tử ma
Quỷ thần
ma.
Ba thứ ma
trên là thường sự thế gian, theo tự tâm mà sinh tử nên
giữ chánh niệm thì trừ bỏ được. Duy chỉ có loại quỷ
thần ma là đáng chú tâm hơn cả.
Quỷ thần
ma có ba thứ:
1. Tinh mî
- là những thú vật biến hóa ra nhiều hình sắc, hoặc hóa
ra người thiếu nữ, hoặc hóa ra vị tôn túc, cho đến hóa
ra những thân rất đáng kinh sợ. để khuấy phá những người
tu hành. Khi biết được nó là loài tinh mî thú vật, thì chỉ
tên quở trách là tự nó tiêu diệt.
2. Đôi dịch
quỷ - là loài làm nhiều việc quấy rối ngươì tu hành, hoặc
hóa ra nhiều con sâu, con bò cạp đậu trên đầu, trên mặt,
chích đốt liên tiếp, hoặc gõ và cù trong hai nách, hoặc
bỗn nhiên làm những tình trạng các thú vật để khuấy rối
người tu hành. Khi nhận biết được thì nên nhất tâm nhắm
mắt, thầm quở trách nó: "chúng mày là giống tà ma, thích
việc phá giới, nay ta trì giới quyết không sợ mày." Rồi
tụng các giới bổn, như người tại gia trì tụng tam quy,
ngũ giới . thì quỷ sẽ khúm núm rút lui. Nếu tụng giới
mà quỷ chưa chịu rút lui, thì nên nhất tâm niệm Phật, niệm
danh hiệu đức Quán Thế Âm, hoặc niệm các vị Kim Cương
Tạng Vương Bồ Tát, thì ma cảnh tự tiêu diệt.
3. Ma não
- Giống ma này phần nhiều hóa ra ba thứ cảnh giới ngũ trần
để làm rối loạn người tu hành. Bọn ma này cũng gọi là
Ngũ tiển - nghĩa là năm cái tên bắn vào ngũ tình vật. Ma
hóa ra ba cảnh giới đó là:
a)Ma hoá ra
những việc trái ý, những ngũ trần đáng sợ như cọp, sư
tử, la sát, khiến cho người tu hành phải khiếp sợ
b)Ma hóa ra
những việc vừa lòng, những ngũ trần đáng ưa, khiến cho
tâm sinh ái trước, như hóa ra cha mẹ anh em, hình tượng chư
Phật, hoặc những người con trai, con gái xinh đẹp.
c)Ma hóa ra
những cảnh bình thường, cốt để làm cho tâm loạn động,
mất hết thiền định.
Ngoài ra,
ma có thể hóa ra tiếng hay, tiếng dở, mùi thơm, mùi thối,
vị ngon, vị dở, những cảm xúc khó chịu.. Để làm cho hành
giả rối loạn, để phá hoại Phật Pháp bình đẳng, khiến
lòng sinh ra ham muốn, lo sầu, giận ghét, thiếp ngủ.
Hành giả
muốn trừ bỏ những ma sự đó, thì phải thực hành Chỉ
Quán. Thực hành Chỉ Quán thì nhận biết tất cả ma cảnh
đều là hư huyễn. Không lo, không sợ, không trước, không
xả khi tâm phân biệt dừng nghỉ, thì các ma cảnh tự tiêu
diệt. Nếu thực hành pháp Chỉ mà chưa diệt được thì dùng
phép Quán, quán các thứ ma cảnh đều do phân biệt hiển hiện,
trở lại quán cái tâm phân biệt, không thấy tướng mạo
thì còn ai bị khuấy phá nữa. Nếu các ma cảnh không chịu
tiêu trừ thì nên giữ vững chánh niệm, không sinh sợ hãi,
không tiếc thân mạng, biết tánh chân như của ma cảnh cũng
tức là tánh chân như của Phật giới, một Như chứ không
có hai Như. Biết được như thế thì không sinh lòng thủ,
xả, Phật Pháp tự nhiên hiện bày, ma cảnh tự nhiên tiêu
diệt.
Lại thấy
ma cảnh không diệt, cũng không cần lo sợ, nếu thấy ma cảnh
diệt trừ cũng không có gì vui mừng. Vì sao vậy? Vì chưa
hề thấy người tọa thiền bị những giống cọp do ma hóa
ra ăn thịt, cũng chưa từng thấy những người con trai, con
gái, do ma hóa ra lại có thể thành chồng thành vợ. Đó chỉ
là những cảnh huyễn hóa, chỉ vì hành giả không rõ nên
mới sinh lòng lo sợ, tham trước mà thôi. Sinh tham trước,
kinh sợ thì tâm loạn động, đến nôĩ mất cả thiền định,
trở nên điên dại. Đó là người tu hành không có trí, tự
gây tai họa cho mình, chứ không phải do ma gây ra tai họa.
Hành giả
giữ vững chánh niệm, không tiếc thân mạng, thường niệm
Tam Bảo, thường tụng các Kinh Đại thừa thì ma cảnh quyết
định sẽ tiêu diệt.
Ma cảnh rất
nhiều, không thể nói hết được. Nó có thể khiến hành
giả tâm thần điên loạn, hoặc mừng, hoặc lo, nhân đó mà
sinh bệnh đến chết. Hoặc cho có những tà định, tà trí,
tà thần thông, thuyết pháp dạy người, làm họ tín phục,
nhưng về sau thì phá hoại chánh pháp, phá hoại các thiện
sự xuất thế gian. Vì thế hành giả nên thân cận thiện
trí thức để kịp thời nhận biết các ma sự. Nếu người
tu hành diệt trừ vọng tưởng, không nhận các cảnh giới
hư huyễn là thật, nếu quán được thật tướng của các
pháp, khéo thực hành Chỉ Quán thì không có ma sự nào khuấy
phá được. Thích Luận có nói: "Ngoài thật tướng các pháp
tất cả đều là ma sự", hoặc như trong câu kệ:
"Nếu nhớ
tưởng phân biệt,
Thì sa vào
lưới ma;
Không động,
không phân biệt,
Thì đó
là Pháp ấn".
Với Pháp
ấn vô phân biệt, không còn có ma sự nào cả.
PHẦN CHÍN
TRỊ BỆNH
Hành giả
an tâm tu tập Chỉ Quán, có khi sinh ra bệnh hoạn, hoặc vì
trước đã có bệnh, do tinh tấn tu hành mà kích thích bệnh
cũ phát sinh, hoặc vì không khéo điều hòa thân, tâm và tức,
có chỗ sai trái. Sự thật thì nê?u khéo dụng tâm trong lúc
tọa thiền, tất cả các bệnh đều trừ khỏi cả.
Nhưng, nếu
dụng tâm không đúng, các bệnh có thể nhân tọa thiền mà
phát sinh.Vì thế, hành giả nên biết rõ gốc bệnh, và biết
cách trị bệnh trong lúc tọa thiền, nếu để bệnh phát nặng,
chẳng những trở ngại cho việc hành đạo, mà còn có thể
nguy hại cho tính mạng nữa.
Phương pháp
trị bệnh gồm có hai phần:
A) Nêu rõ
các tướng phát sinh bệnh:
Nguyên nhân
phát sinh bệnh tuy nhiều, nhưng không ngoài hai thứ:
1) Những
bệnh do tứ đại thêm hay bớt:
Địa đại
tăng thì thân thể hóa thủng, hóa kết và nặng nề, khô khan;
Thủy đại tăng thì kéo đờn, trướng bụng, ăn uống không
tiêu, đau, đi lî... Hỏa đại tăng thì lạnh nhiều hoặc nóng
dữ, mọi phần đau nhức, hơi thở và đại tiểu tiện không
thông.Phong đại tăng thì thân thể khó chịu, run rẩy, đau
nhức, hơi thở gấp rút, no hơi, ọe mửa.. Phàm tứ đại
không điều hòa thì nhiều bệnh phát sinh, càng nhiều đại
không điều hòa thì càng nhiều bệnh. Vậy, nên quán sát bệnh
tướng trong lúc tọa thiền để nhâ?n biết xác thực.
2.Những bệnh
do ngũ tạng:
Như đau tim
thì thân thể nóng lạnh, đau đầu và miệng khô.... vì tim
có quan hệ đến miệng. Phế đau thì thân thể đầy, tứ
chi nhức mỏi và mũi nghetï thở vì phế có quan hệ đến
mũi. Gan đau thì lo rầu không vui, đau thương, nóng giận, đầu
nhức mắt lòa.. vì gan có quan hệ đến mắt. Tỳ đau thì
thân thể nhiều phong, khắp mình lở ngứa, đau nhức, ăn uống
không ngon... vì tỳ có quan hệ đến lưỡi. Thân đau thì yết
hâ?u bế tắt, bụng sình tai điếc..vì thân có quan hệ đến
tai.
Những bệnh
do ngũ tạng sinh ra, có nhiều tướng, trong lúc tọa thiền,
nếu quan sát kỷ thì có thể biết rõ.Các bệnh do tứ đại
và ngũ tạng sinh ra, không thể nói hết, cốt yếu hành giả
cần biết nguyên nhân phát bệnh:
Có hai nguyên
nhân phát bệnh:
a/ Nguyên
nhân ở ngoài như hàn, nhiệt, phong thấp, ăn uống không tiêu.
b/ Nguyên
nhân ở trong như do tứ đại, ngũ tạng không điều hòa mà
sinh bệnh, hoặc do ma cảnh mà sinh bệnh, hoặc do nghiệp báo
mà sinh bệnh.
Lắm khi do
trong lúc thực hành Chỉ Quán, dụng tâm sai lệch, hoặc khi
các định phát ra, nhận định không đúng, thành những nguyên
nhân bên trong, kết hợp với những nguyên nhân bên ngoài,
mà phát bệnh hoạn. Lúc mới phát, biết trị ngay thì dễ
khỏi, nếu để lâu ngày, thân thể yếu đuối, bệnh xâm
nhập sâu thì khó trị.
B) Nêu rõ
phương pháp trị bệnh:
Phương pháp
trị bệnh có nhiều, cốt yếu không ra ngoài hai phép Chỉ
Quán.
Áp dụng
phương pháp Chỉ để trị bệnh thì các vị Thiền sư, có
vị nói: Chỉ cần an tâm, dừng lại nơi chỗ đau thì trị
được bệnh. Có vị nói, an tâm dưới rốn một tấc, gọi
là đan điền, nếu giữ tâm ở đoạn đan điền không xao
động thì trị được các bệnh. Có vị nói, trong các lúc
đi, đứng, nằm, ngồi, thường dùng tâm ở dưới chân thì
có thể trị bệnh. Có vị nói, chỉ cần biết các pháp rỗng
không, vốn không có gì, không nhận tướng bệnh, an trụ nơi
vắng lặng thì trị được các bệnh.
Kinh Tịnh
Danh có dạy: "Gốc bệnh là do phan duyên, dứt được tâm phan
duyên thì không còn có bệnh phải trị".Áp dụng phương pháp
Quán để trị bệnh, thì các vị Thiền sư, có vị nói: "Chỉ
cần quán tâm tưởng, dùng sáu thứ hơi thở để trị bệnh.
Sáu thứ hơi thở là: xuy, hô, hy, ha, hư, hê. Có vị nói nếu
khéo dùng quán tưởng, dùng mười hai cách thở, có thể trị
các bệnh, thượng tức trị trầm trọng, hạ tức trị hư
huyễn, mãn tức trị khô gầy, tiêu tức đầy thũng, tăng
trưởng tức trị suy yếu, diệt hoại tức trị tăng thịnh,
xung tức trị bế tắc không thông, trì tức trị lay động
run rẩy, hòa tức trị tứ đại bất hòa, bố tức trị tứ
đại suy kém. Khéo dùng mười hai quán hơi thở nầy thì có
thể trị khắp các thứ bệnh. Có vị nói, khéo dùng quán
giả tưởng có thể trị các bệnh, như quán hòa khí trong
thân lên mạnh thì có thể trị được bệnh lạnh. Có vị
nói, chỉ dùng Chỉ Quán xem xét, chia chẻ trong thân tứ đại,
không thấy cái gì là bệnh, thì các bệnh đều tự khởi.
Về cách
dùng Chỉ Quán để trị bệnh, các vị dạy nhiều phương
pháp, hành giả tùy tiện mà dùng, pháp nào thấy có công hiệu
thì tiếp tục dùng cho đến khi khỏi hẳn.
Đối với
những người mơi bắt đầu thực tập Chỉ Quán thì chưa
đủ định lực để điều trị, vậy nên uống thuốc thích
hợp để chữa bệnh. Nếu bệnh do tứ đại, ngũ tạng không
điều hòa mà sinh ra. Nếu bệnh, do ma sự thì dùng những phương
pháp đã nói trên kia để trừ khử. Nếu bệnh do nghiệp báo
thì nên làm việc phúc thiện, sám hối tội lỗi để tiêu
diệt.Lại trong lúc tọa thiền để trị bệnh, cần đủ mười
pháp sau mới có được lợi ích:
1.-Tin- tin
phương pháp này có thể trị được bệnh.
2.- Dụng
- theo bệnh mà dụng tâm cho thích hợp.
3.- Siêng
- chuyên cần áp dụng phương pháp trị bệnh cho đến khi khỏi
hẳn.
4.- An trụ
- nghĩa là tế tâm, niệm niệm nương theo chánh pháp, không
duyên với cảnh gì khác.
5.- Phân
biệt - phân biệt nguyên nhân của bệnh, phải biết bệnh
do đâu khởi ra.
6.- Phương
tiện.- vận dụng tâm cho thích hợp với phương pháp mới
dễ thành tựu.
7.- Lâu ngày
- khi mới thực tập mà chưa thấy kết quả thì vẫn thực
hành mãi không thôi, đừng kể ngày tháng.
8.- Biết
thủ xả - điều gì có ích thì siêng tu, điều gì tổn hại
thì rời bỏ, xét thấy bệnh tình mà vững tâm điều trị.
9.- Giữ
gìn - khéo biết những nguyên nhân gây ra bệnh hoa?n , để
giữ gìn sức khoẻ.
10.- Ngăn
ngừa chướng ngại - nghĩa là được lợi ích không khoe với
ai, bệnh chưa giảm không sanh nghi bán.
Đủ được
mười pháp như vậy thì trị bệnh chắc chắn có hiệu quả.
PHẦN MƯỜI
CHỨNG
QUẢ
Hành giả
khi thực tập Chỉ Quán như vậy, thì có thể rõ biết tất
cả các pháp đều do tâm sinh, nhân duyên hư giả không thật,
nên bản tánh là rỗng không. Biết được tánh rỗng không
của các pháp thì không thấy có tướng sanh tự các pháp.
Như thế là được thế-chân-chỉ. Lúc bấy giờ, trên, không
thấy quả vị Phật có thể cầu, dưới không thấy chúng
sanh có thể độ. Đó gọi là: tùng-giả-nhập-không-quán,
cũng gọi nhị-đế-quán, cũng gọi là tuệ nhãn, cũng gọi
là nhất-thiết-trí. Nếu mãi trú ở nơi quán này thì sa vào
hàng Thanh văn, Duyên giác, tâm không ưa muốn giáo hóa chúng
sanh, chưa làm cho cõi Phật thanh tịnh. Vì thế, những người
chỉ thấy tất cả các pháp đê?u rỗng không, vắng lặng,
đều vô sanh, vô diệt, vô vi, thì rốt cuộc không phát được
Bồ-?ề tâm. Đó là vì định nhiều tuệ ít, nên không thấy
Phật tánh.Những vị Bồ Tát, vì tất cả chúng sanh mà thành
tựu tất cả Phật Pháp, thì không nên chấp trước vô vi,
an trụ trong tịch diệt mà cần tu pháp Tùng-Không-Nhập-Giả_Quán.
Thực hành quán này là quán tưởng rằng tuy tâm tánh là rỗng
không, nhưng trong lúc duyên khởi đối đải cũng sanh ra tất
cả các pháp, nó như huyễn như hóa và cũng có những điều
thấy, nghe hay biết sai khác không đồng. Hành giả khi thực
hành phép quán này thì có thể trú trong không tịch, tu đủ
các hạnh, phân biệt được căn cơ chúng sanh mà thuyết pháp
vô lượng. Đến khi thành tựu được vô ngại biê?n tài,
có khả năng làm lợi ích cho Lục đạo chúng sanh thì được
phương tiện tùy duyên chỉ. Tùng Giả Nhập Không Quán cũng
gọi là Bình đẳng Quán, cũng gọi là
Pháp nhãn,
cũng gọi là Đạo chủng trí. Bồ Tát trú trong quán này, sức
tu tuệ thêm nhiều, nhưng tuy thấy Phật tánh mà chưa được
rõ ràng, vì hai pháp Tùng-Giả-Nhập-Không Quán và Tùng-Không-Nhập-Giả
Quán còn là pháp quán phương tiện, chứ chưa phải là chánh
quán vậy. Gọi là phép quán phương tiện, vì do hai phép quán
này có thể vào Trung đạo đệ nhất nghĩa quán.
Nếu Bồ
Tát muốn đầy đủ tất cả Phật Pháp trong một niệm thì
cần áp dụng pháp Tức nhị biện phân biệt chỉ, thực hành
Trung đạo chánh quán. Tu phép chánh quán này thì có thể biết
tâm tánh không phải chân, không phải giả, làm cho cái tâm
duyên chân giả dừng nghỉ, thế cũng gọi là Chánh đế quán.
Tâm tánh không phải không, không phải giả, mà không phá hoại
các pháp không, giả. Nhận rõ như thế thì thông suốt được
trung đạo, soi khắp được chân đế và tục đế nơi tự
tâm, thấy được hai đế trung đạo nơi tất cả các pháp,
lại cũng không chấp trước hai đế trung đạo, vì không có
tánh gì là tánh quyết định vậy. Đó gọi là Trung đạo
chánh quán.
Trung Luận
có câu kệ:
Các pháp
nhân duyên sanh,
Tôi bảo
là rỗng không
Cũng gọi
là giả danh
Cũng là
nghĩa trung đạo."
Đi sâu vào
ý nghĩa câu kệ đó, thì chẳng những nhận rõ đầy đủ
các tướng của trung đạo chánh quán mà cũng rõ thêm ý thú
của hai phép phương tiện quán. Nên biết Trung đạo chánh
quán tức là Phật nhãn, là Nhất thiết chủng trí. Nếu an
trụ nơi quán này, thì Định và Tuệ cân bằng, thấy rõ được
Phật tánh, an trụ nơi Đại thừa, đường tu bằng phẳng,
đi mau như gió, tự nhiên lần về bể Chánh đạo của Như
Lai, làm việc Như Lai, tự trang nghiêm bằng sự trang nghiêm
của Như Lai, được lục căn thanh tịnh, vào cảnh giới của
Phật. Đối với tất cả các pháp không còn nhiễm trước,
tất cả các pháp chư Phật, đều được hiện tiền, an trụ
nơi Định Thủ Lăng Nghiêm, thành tựu vô lượng Tam-muội,
vào khắp cõi Phật mười phương, giáo hóa chúng sanh góp phần
làm cho cõi Phật đều trang nghiêm thanh tịnh, cúng dường
Thập phương chư Phật, thọ trì tất cả Phật Pháp, đầy
đủ tất cả các hạnh, các Ba-la-mật, chứng địa vị Đại
Bồ-?ề ngang hàng với các đức Văn Thù, Phổ Hiền, và trong
thân, pháp tánh thường trụ, được chư Phật khen ngợi, thọ
ký, đi đến thị hiện tám tướng thành Phật.
Về những
tướng chứng quả trong Kim Cang tâm không thể nghĩ bàn được,
nhưng xét theo giáo lý vẫn không rời hai phép Chỉ - Quán.Điều
cốt yếu nhất là hành giả cần phát thệ nguyện trừ cho
được Ba chướng và Năm cái, vì nếu không trừ được thì
dầu siêng năng tu hành đến đâu cũng không ích gì.
[1] Pháp
Hoa Tam Muội là pháp Đại định trong kinh Pháp Hoa. Đức Phật
Ngài thuyết rất nhiều phápTam Muội trong kinh Pháp Hoa. Người
nào tu hành những phương pháp ấy mà đắc thần thông, được
thấy Phật hoặc các vị Bồ Tát tức là ngộ được pháp
Pháp Hoa Tam Muội.
[2] Nhà
Trần ở vào thời đại Nam Bắc Triều (420-588) của Trung Hoa,
tức là các nước Tống-Tề-Lương và Trần của Nam Triều.
Trở
Về Trang Ðầu
|