VIỆC ĐOẠN
TRỪ ÁI DỤC
ĐỐI VỚI
NGƯỜI CƯ SĨ TẠI GIA
Hoàng
Liên Tâm
Trong
kinh Pháp Cú, Đức Phật dành nguyên một chương để nói về
ái dục vì ái dục là nguồn gốc của khổ đau. Ngài
dạy: “ái dục như dòng nước chảy xiết, xoáy sâu vào mặt
đất. Dòng nước đào đất thành hố, cuốn phăng mầu
mỡ, biến đất thành biển cả và hoàn toàn mất sinh lực
của đất (đất là vùng năng lực của tâm). Những ai
còn vướng bận ái dục, tình cảm, tài sản, sắc thân và
sự nghiệp thế gian một cách say đắm, kẻ ấy bị dòng nước
luân hồi cuốn về nơi vô định và sầu khổ triền miên.
Người nào biết hàng phục tham ái và dục lạc thì sầu khổ
tự khắc chấm dứt như giọt sương mai đầu ngọn cỏ tan
biến ngay, khi ánh mặt trời xuất hiện. Đoạn trừ ái
dục mà không đoạn trừ tận gốc rễ thì cũng như người
nhổ cỏ mây (birina) chỉ cắt trên đầu ngọn, càng cắt trên
ngọn thì gốc rễ cỏ càng sung sức và mọc lớn mạnh.
Muốn giải thoát khổ não, muốn thành đạt trạng thái tịch
tĩnh, không dục vọng, phải xa lìa ái dục..”[1]
Không
chỉ trong kinh Pháp Cú, ngay bài thuyết pháp đầu tiên của
Đức Phật, Ngài đã tuyên thuyết: “Hỡi các Tỳ kheo, đây
là chân lý cao cả về nguyên nhân của khổ: ái dục đưa
đến tái sinh này rồi lại đưa đến tái sinh khác, kèm theo
lạc thú và tham dục, nó luôn luôn tìm khoái lạc mới, hết
chỗ này lại đến chỗ kia, đó là: thèm khát những lạc
thú của cảm giác, thèm khát hiện hữu và thèm khát không
hiện hữu.”
Và
trong một kinh khác: Kinh Chánh Tri Kiến [2],
Ngài Xá Lợi Phất giảng về Tứ Diệu Đế, về Thiện và
bất thiện và về cái thấy chân chính. Ngài dạy chúng
ta cái khổ, cái nguyên nhân của khổ và làm thế nào đoạn
diệt khổ. Ngài nói: “Chính ái đưa đến tái sanh
và đoạn diệt khổ là sự đoạn diệt ly tham. ”
Chữ
Tham là Tham Ái hay Ái Dục, (Tanha) có nghĩa là luyến ái, thèm
khát, vướng mắc, không bao giờ thoả mãn. Có ba loại
ái dục: (1) ái dục đeo níu theo nhục dục ngũ trần, (2) ái
dục đeo níu theo những khoái lạc vật chất có liên quan đến
chủ trương đoạn kiến hay tuyệt diệt, (3) ái dục đeo níu
theo khoái lạc vật chất có liên quan đến chủ trương thường
kiến. Tổng cộng có tất cả 108 ái dục (sáu ái
dục liên quan đến sáu căn và sáu ái dục liên quan đến
sáu trần trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai nhân
với ba loại ái dục trên).
Mục
đích của đạo Phật là giải thoát con người khỏi khổ
đau luân hồi và những ai thực sự muốn làm điều
đó, phải đoạn diệt ái dục. Một cư sĩ tu tại gia
nếu thật sự muốn tu giải thoát cũng cần phải thực
hành việc đoạn diệt ái dục, không nhất thiết phải là
tu sĩ xuất gia mới phải thực hiện điều này và đức Phật
dạy trong các kinh đã đề cập như Kinh Pháp Cú là dạy
chung cho tất cả các hàng Phật tử, cho những ai thật
tâm muốn đi theo con đường giải thoát giác ngộ mà Ngài
đã kinh qua. Ái dục là một mãnh lực khủng khiếp, không
những nó có thể khích động cả một đời mà còn khích
động nhiều đời. Khi thân thể chúng ta tan rã, nó vẫn còn
tiếp tục thể hiện trong một hình thức khác và gây ra cái
mà người ta gọi là luân hồi. Đức Như Lai đã tìm
kiếm và thấy rằng ái chính là nguyên nhân của khổ, là
rễ cái của khổ, mặc dầu ái do vô minh, mà vô minh có là
vì những chuỗi nhân duyên khác. Và cũng chính Ngài đề
ra phương pháp giải thoát. Đó là đoạn trừ ái dục,
mà cái ái dục này bắt nguồn từ tâm ý nên phải “tự
tịnh kỳ ý”.
Nếu
cho rằng việc cắt ái hay việc đoạn trừ ái dục chỉ áp
dụng cho hàng tu sĩ xuất gia là hiểu sai ý của Phật, là
chỉ y theo kinh mà giải nghĩa. Chính Tổ Hám Sơn nói trong
bài khai thị về những điểm thiết yếu khi niệm Phật là:
“Nghiệp bất trọng bất sanh Ta Bà. Ái bất đoạn bất
sanh Tịnh Độ”. Thế nên, biết rõ ái dục là cội
gốc của sanh tử. Khiến tất cả chúng sanh thọ khổ trong
sanh tử đều do ái dục. Cội gốc ái dục này không phải
chỉ hiện hữu trong một, hoặc hai, ba, bốn đời, mà nó đã
tự có sẵn từ đời vô thủy cho đến ngày naỵ. Sanh
sanh thế thế, xả thân thọ thân, đều do lưu chuyển theo
ái dục” [3]
Trong
lịch sử Phật giáo trung Hoa và Việt Nam cũng có nhiều vị
cư sĩ tu tại gia kiến tánh giác ngộ. Như hai vị cư
sĩ lừng danh mà ai cũng biết là cư sĩ Bàng Long Uẩn bên TrungHoa
và Tuệ Trung Thượng Sĩ của Việt Nam. Đó là chưa kể
đến Lục Tổ Huệ Năng.
Đối
với người cư sĩ tại gia việc đoạn trừ ái dục không
có nghĩa là phải sống cách ly với chồng vợ, con cái, cha
mẹ, mà là từ bỏ những dính mắc, những tham đắm trong
tâm, biết sống tri túc, tức là bằng lòng với tình trạng
vừa đủ để có niềm an lạc cho thân tâm. Việc đoạn
trừ ái dục phải được thực hiện tiềm ẩn trong tâm ý,
không phải bằng lời nói mà bằng thực hành. Tuy vẫn
phải làm tròn bổn phận với gia đình và ngoài xã hội, nhưng
trong tâm phải luôn luôn quán chiếu tài sản, cha mẹ, chồng
vợ, và con cái của mình đời này có thể không phải là
tài sản, là cha mẹ, chồng vợ, con cái của mình trong kiếp
tới hay trong những đời khác. Tất cả đều là vô thường,
vô ngã và khổ đau. Vì vậy đừng vì họ mà luyến ái
và vì do luyến ái mà tạo ra những nghiệp bất thiện.
Điều
cơ bản mà người Phật tử tu tập tại gia, nằm trong phạm
vi gia đình chưa vượt khỏi hạn chế bổn phận và trách
nhiệm đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái như đức Phật
dạy trong Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt [4],
. Thế nên, người Phật tử phải biết phận sự của
mình ở địa vị nào hầu làm tròn bổn phận và trách nhiệm
ở địa vị ấy. Đồng thời để tránh tình trạng có
người vừa quy y Tam Bảo, hay vừa thọ giới Bồ Tát tại
gia hiểu chút ít giáo lý đạo Phật về nhà lại tỏ ra lãnh
đạm thờ ơ với công việc gia đình, chẳng muốn quan hệ
với ai, nhắm mắt làm ngơ, không thấy, không nghe những chuyện
đời. Thậm chí đến việc giáo dục con cái cũng "không bận
tâm" luôn. Sống chết tốt xấu mặc kệ, ai có nghiệp nấy,
ta cứ thản nhiên lim dim ngồi thiền hay tụng kinh niệm Phật
cầu sinh Tây phương Cực lạc. Hành động ấy vô tình gây
thêm sự xáo trộn, bất hòa giữa cha mẹ, chồng vợ và con
cái, làm sai lạc tinh thần giáo lý Phật dạy.
Đối
với những người tại gia thọ Bồ Tát Giới phạm vi rộng
rãi và bổn phận nhiều hơn nhưng gia đình và xã hội vẫn
là môi trường hoạt động chủ yếu. Trong Kinh Úc Già
Trưởng Giả [5],
Đức Phật dạy cho những người tu Bồ Tát tại gia phải
có bổn phận, mục đích và cách thực tập tu hành như thế
nào trong khi vẫn sống đời sống gia đình. Trong gia đình
Ngài dạy phải biết cung phụng mẹ cha và yểm trợ gia đình
mình, được phép xây dựng sản nghiệp trong khuôn khổ luật
pháp, không dùng những phương tiện mua bán không hợp pháp,
không bất chính làm giàu. Không những không được áp bức
người khác mà còn phải giúp đỡ người khác khi họ cần
đến, phải dành một phần lợi tức kiếm được để bố
thí cho những chúng sinh nghèo khổ, kém may mắn hơn mình.
Đối với việc dục lạc phải luôn luôn cảnh giác chúng
là vô thường và chính sinh mạng của mình cũng vô thường
như một giọt sương và tài sản của mình như một đám mây.
Ngoài
bổn phận và trách nhiệm đối với gia đình và xã hội,
người Bồ Tát tại gia phải dành thì giờ lẫn tâm lực để
hộ trì Chánh Pháp được trường tồn, điều phục và giáo
hoá chúng sinh. Trong kinh Úc Già Trưởng Giả, Đức Phật
dạy năm điều như sau cho những người thọ Bồ Tát giới
tại gia:
1.Bồ
Tát tại gia không tiếc bất cứ một tài vật sở hữu nào
và tương ưng với tâm nhất thiết trí, không mong cầu quả
báo.
2.
Bồ Tát tại gia thực hành phạm hạnh thanh tịnh, ý tưởng
dâm dục còn không có, huống là có sự dâm dục.
3.
Bồ Tát tại gia biết thực hành thiền quán ở những nơi
vắng vẻ và dùng những phương tiện của mình để cứu độ
người mà không (vào) Niết bàn một mình.
4.
Bồ Tát tại gia phải tinh tấn hành trì Sáu Ba La Mật và đem
lòng từ bi đối xử với tất cả các loài để hoá độ
cho mọi chúng sinh.
5.
Bồ Tát tại gia gìn giữ chánh pháp và luôn luôn tìm cách
giáo hoá và khuyên bảo mọi người
Chúng
tôi đính kèm hai bản văn kinh căn bản áp dụng cho người
Phật tử tu tại gia là Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt và Kinh
Úc Già Trưởng Giả dành cho người đã thọ Bồ Tát Giới
tại gia để tham cứu . Một điều, tưởng cũng cần
nhấn mạnh ở đây, theo lời Phật dạy trong Kinh Úc Già Trưởng
Giả thì ngoài bổn phận như nói ở trên, mục đích của
người cư sĩ Bồ Tát tại gia là phải điều phục và giáo
hoá chúng sinh trong đó bao gồm chồng vợ, con cái và thân
bằng quyến thuộc. Nếu người cư sĩ Bồ tát tại gia
không nhiếp phục được cho những người gần mình nhất,
mà lại còn tạo cho họ niềm bực tức sân hận thì vị đó
chưa phải là một vị cư sĩ Bồ Tát tại gia. Việc thọ
giới Bồ Tát tại gia là do hành động tự nguyện của những
ai muốn phát tâm Vô thượng Bồ đề, đã hiểu, đã tin vào
Đại thừa và muốn thực hành giải thoát cho mình và cho các
loài chúng sinh. Thọ bao nhiêu giới và những giới gì
thì những ai thọ đều biết, chúng tôi chỉ muốn nhấn
mạnh ở đây, giữ giới Bồ Tát là chẳng những không làm
những điều ác, mà còn phải làm những điều lành, và trong
tâm luôn luôn mang ý nguyện thực hiện những điều có an
lạc, có hạnh phúc cho tất cả các loài hữu tình chúng sinh.
Nói
tóm lại, người cư sĩ tu tại gia phải làm tròn bổn phận
với gia đình và ngoài xã hội, không phải là quay lưng lại
với đời, tách biệt mọi quan hệ với mọi người chung
quanh. Đạo không tách rời khỏi cuộc sống hiện thực
của chúng ta. Người cư sĩ Phật tử cần thể hiện
qua cách ứng xử hàng ngày trong cuộc sống những điều đã
được học hỏi qua kinh sách hay qua các lời giảng dạy của
các bậc trưởng tử Như Lai để những người xung quanh cảm
nhận được những điều lợi lạc của đạo giải thoát.
Đạo Phật là đạo giải thoát ngay trong lòng người và ngay
trong cuộc sống hàng ngày, nên Lục Tổ nói trong bài tụng
Vô Tướng rằng: “Phật Pháp ở thế gian. Chẳng lìa
thế gian giác. Lìa thế kiếm Bồ Đề. Giống như
tìm sừng thỏ.”. Riêng vấn đề giáo dục con cái trong
gia đình người cư sĩ phải có trách nhiệm cao hơn nữa. Khi
chưa hiểu đạo thì ta hướng dẫn con cái theo chiều hướng
thế gian. Nay hiểu đạo phải có bổn phận hướng dẫn con
trẻ sống theo tinh thần Phật dạy. Thế nên, tu không
phải mặc nhiên ai làm gì thì làm, tốt xấu mặc kệ, mình
chỉ biết lo phận mình là đủ. Đó là cá nhân chủ
nghĩa. Người hiểu đạo phải tích cực cải thiện bản
thân và khuyến hóa người khác tránh ác làm lành và tự thanh
tịnh tâm.
Hoàng
Liên Tâm
Sách
Dẫn Chiếu:
[1]
Hoà Thượng Thích Thiện Siêu, Kinh Pháp Cú, Phẩm Ái Dục,
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam 1993, Tr. 70-73
Hoà
Thượng Thích Minh Châu, Kinh Pháp Cú, Phẩm Tham Ái (Tanhàvagga).
Thiền Viện Vạn Hạnh 1996, Tr 183-207 http://www.thuvienhoasen.org/tb12-pc0.htm
[2]
Hoà Thượng Thích Minh Châu, Kinh Chánh Tri Kiến, Trung Bộ Kinh
9, http://www.thuvienhoasen.org/u-trung09.htm
[3]
Thích Hằng Đạt và Nguyên Phong, Những Lời Khai Thị của
Đại Sư Hám Sơn, Đường Mây Trong Cõi Mộng, http://www.thuvienhoasen.org/hamson-04.htm
[4]
Hòa thượng Thích Minh Châu, Kinh Trường Bộ 31, Kinh Giáo thọ
Thi-Ca-La-Việt Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam http://www.thuvienhoasen.org/u-truong31.htm
[5]
Kinh Đại Bảo Tích, Pháp Hội Úc Già Trưởng Giả Thứ 19
Hán dịch: Pháp Sư Khương Tăng Khải, Việt dịch: Tỳ Kheo
Thích Trí Tịnh http://www.thuvienhoasen.org/kinhdaibaotich-05-19.htm
xk