IV
PHẨM
BỒ TÁT (1)
BỒ TÁT DI
LẶC (2)
Lúc bấy
giờ Phật bảo Bồ Tát Di Lặc :
– Ông đi
đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Di Lặc bạch
Phật :
– Bạch
Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao ?
- Nhớ lại lúc trước con nói hạnh “bất thối chuyển”
(3), cho vị Thiên Vương ở cõi trời Ðâu Suất và quyến thuộc
của người, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng
: “Ngài Di Lặc ! Thế Tôn thọ ký (4) cho Ngài một đời sẽ
được quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, đó là đời
nào mà Ngài được thọ ký ? Ðời quá khứ chăng ? Ðời vị
lai chăng ? Ðời hiện tại chăng ? Nếu là đời quá khứ thời
quá khứ đã qua. Nếu là đời vị lai thời vị lai chưa đến.
Nếu là đời hiện tại thời hiện tại không dừng (trụ)
. Như lời Phật nói : “Này Tỳ Kheo! Như ông ngay bây giờ
cũng sanh, cũng già, cũng chết !”. Nếu dùng vô sanh (5) mà
được thọ ký, thì vô sanh tức là chánh vị (6), ở trong
chánh vị cũng không thọ ký, cũng không được quả Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác. Thế nào Di Lặc được thọ ký một
đời ư ? Là từ “Như” sanh mà được thọ ký, hay là từ
“Như” diệt mà được thọ ký ? Nếu từ Như sanh mà được
thọ ký, mà Như không có sanh. Nếu từ Như diệt được thọ
ký, mà Như không có diệt. Tất cả chúng sanh đều Như, tất
cả Pháp cũng Như, các Thánh Hiền cũng Như, cho đến Di Lặc
cũng Như. Nếu Di Lặc được thọ ký, tất cả chúng sanh cũng
phải được thọ ký - Vì sao ? Vì Như không hai không khác.
Nếu Di Lặc được quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác,
tất cả chúng sanh cũng đều được. Vì sao ? - Tất cả chúng
sanh chính là tướng Bồ Ðề(7). Nếu Di Lặc được diệt
độ, tất cả chúng sanh cũng phải diệt độ. Vì sao ? - Chư
Phật biết tất cả chúng sanh rốt ráo vắng lặng, chính là
tướng Niết bàn, chẳng còn diệt nữa. Cho nên Di Lặc, chớ
dùng Pháp đó dạy bảo các Thiên tử, thật không có chi phát
tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, cũng không có chi thối
lui. Ngài Di Lặc ! Phải làm cho các vị Thiên tử này bỏ chỗ
kiến chấp phân biệt Bồ Ðề. Vì sao ? Bồ Ðề không thể
dùng thân được, không thể dùng tâm được. Tịch diệt là
Bồ Ðề, vì diệt các tướng; chẳng nhận xét là Bồ Ðề,
vì ly các duyên ; chẳng hiện hạnh là Bồ Ðề, vì không ghi
nhớ; đoạn là Bồ Ðề, bỏ các kiến chấp ; ly là Bồ Ðề,
lìa các vọng tưởng ; chướng là Bồ Ðề, ngăn các nguyện
(8) ; bất nhập là Bồ Ðề, không tham đắm ; thuận là Bồ
Ðề, thuận chơn như ; trụ là Bồ Ðề, trụ pháp tánh ; đến
là Bồ Ðề, đến thật tế ; bất nhị (9) là Bồ Ðề, ly
ý pháp; bình đẳng là Bồ Ðề, đồng hư không ; vô vi là
Bồ Ðề, không sanh, trụ, diệt ; tri là Bồ Ðề, rõ tâm hạnh
chúng sanh ; không hội là Bồ Ðề, các nhập không nhóm(10)
; không hiệp là Bồ Ðề, rời tập khí phiền não; không xứ
sở là Bồ Ðề, không hình sắc ; giả danh là Bồ Ðề, danh
tự vốn không; như huyễn hóa là Bồ Đề, không thủ xả
; không loạn là Bồ Ðề, thường tự vắng lặng ; thiện
tịch là Bồ Ðề, tánh thanh tịnh ; không thủ là Bồ Ðề,
rời phan duyên; không khác là Bồ Ðề, các Pháp đồng đẳng
; không sanh là Bồ Ðề, không thể ví dụ ; vi diệu là Bồ
Ðề, các Pháp khó biết.
– Bạch
Thế Tôn ? Khi ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy, hai trăm vị Thiên
tử chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Vì thế, nên con không
kham lãnh đến thăm bịnh ông.
ÐỒNG TỬ
QUẢNG NGHIÊM (11–12)
Phật bảo
Ðồng tử Quang Nghiêm :
– Ông đi
đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Quang Nghiêm
bạch Phật :
- Bạch Thế
Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao ? - Nhớ
lại ngày trước con ở trong thành lớn Tỳ Da Ly vừa ra, lúc
đó ông Duy Ma Cật mới vào thành, con liền chào và hỏi rằng
: “Cư sĩ, từ đâu đến đây ?”.
Ông đáp
: “Tôi từ Ðạo tràng (13) đến”.
Con hỏi :
“Ðạo tràng là gì ?”.
Ông đáp
Trực tâm là Ðạo tràng, vì không hư dối ; phát hạnh là
đạo tràng, làm xong các việc ; thâm tâm là đạo tràng, thêm
nhiều công đức ; Bồ Ðề tâm là đạo tràng, vì không sai
lầm; bố thí là đạo tràng, không mong phước báu; trì giới
là đạo tràng, được nguyện đầy đủ ; nhẫn nhục là đạo
tràng, đối chúng sanh tâm không chướng ngại ; tinh tấn là
đạo tràng, không biếng trễ ; thiền định là đạo tràng,
tâm điều nhu (14) ; trí tuệ là đạo tràng, thấy rõ các Pháp
; từ là đạo tràng, đồng với chúng sanh ; bi là đạo tràng,
nhẫn chịu sự khổ nhọc ; hỉ là đạo tràng, ưa vui Chánh
Pháp ; xả là đạo tràng, trừ lòng thương ghét; thần thông
là đạo tràng, thành tựu Pháp lục thông; giải thoát là đạo
tràng, hay trái bỏ; phuơng tiện là đạo tràng, giáo hóa chúng
sanh; tứ nhiếp là đạo tràng, nhiếp độ chúng sanh ; đa văn(15)
là đạo tràng, đúng theo chỗ nghe mà thật hành ; phục tâm
là đạo tràng, chánh quán (16) các Pháp ; ba mươi bảy phẩm
trợ đạo là đạo tràng, bỏ Pháp hữu vi; tứ đế là đạo
tràng, chẳng dối lầm thế gian; duyên khởi là đạo tràng,
từ vô minh cho đến lão, tử đều không hết ; các phiền
não là đạo tràng, biết là vô ngã; tất cả Pháp là đạo
tràng, biết các Pháp trống không; hàng ma là đạo tràng, không
lay động; tam giới là đạo tràng, không chỗ đến ; sư tử
rống là đạo tràng, không sợ sệt; thập lực, vô úy, bất
cộng pháp là đạo tràng, không các lỗi ; tam minh là đạo
tràng, không còn ngại ; một niệm biết tất cả Pháp là đạo
tràng, thành tựu nhứt thiết chủng trí (17). Như vậy Thiện
nam tử ! Nếu Bồ Tát đúng theo các Pháp ba la mật mà giáo
hóa chúng sanh, thời bao nhiêu việc làm, hoặc nhứt cử nhứt
động, phải biết đều là từ nơi đạo tràng mà ra, ở nơi
Phật Pháp vậy”.
Khi ông Duy
Ma Cật nói Pháp ấy, năm trăm vị Thiên nhơn đều phát tâm
Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì thế, nên con không kham
lãnh đến thăm bịnh ông.
BỒ TÁT TRÌ
THẾ (18)
Phật bảo
Bồ Tát Trì Thế :
- Ông đi
đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Bồ Tát Trì
Thế bạch Phật :
- Bạch Thế
Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao ? - Nhớ
lại lúc trước, con ở nơi tịnh thất, bấy giờ ma Ba Tuần
(19) đem một muôn hai nghìn Thiên nữ giống như trời Ðế
Thích, trổi nhạc đờn ca đi đến chỗ con ở, Ma cùng với
quyến thuộc cúi đầu làm lễ dưới chân con, chấp tay cung
kính đứng sang một bên. Trong ý con cho là trời Ðế Thích
nên bảo rằng : “Lành thay, mới đến Kiều Thi Ca (20) ? Dù
là có phước chớ nên buông lung. Ông nên quán ngũ dục là
vô thường để cầu cội lành, ở nơi thân mạng, tài sản
mà tu pháp bền chắc (21)”.
Ma vương
nói với con: “Thưa Chánh sĩ (22) ! Xin Ngài nhận một muôn
hai nghìn Thiên nữ này để dùng hầu hạ quét tước”. Con
nói rằng : “Này Kiều Thi Ca ! Ông đừng cho vật phi pháp
này, tôi là kẻ Sa môn Thích tử, việc ấy không phải việc
của tôi”. Nói chưa dứt lời, bỗng ông Duy Ma Cạt đến
nói với con : “Ðây chẳng phải là Ðế Thich, mà là Ma đến
khuấy nhiễu ông đấy !...” Ông lại bảo Ma rằng :
“Các vị Thiên nữ này nên đem cho ta, như ta đây mới nên
thọ”. Ma sợ hãi nghĩ rằng : “Có lẽ ông Duy Ma Cật đến
khuấy rối ta chăng ?”. Ma muốn ẩn hình mà không thể
ẩn, rán hết thần lực, cũng không đi được. Liền nghe giữa
hư không có tiếng rằng : “Này Ba Tuần! Hãy đem Thiên nữ
cho ông Duy Ma Cật thì mới đi được”. Ma vì sợ hãi, nên
miễn cưỡng cho.
Khi ấy ông
Duy Ma Cật bảo các Thiên nữ rằng:
- Ma đã
đem các ngươi cho ta rồi, nay các ngươi đều phải phát tâm
Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Rồi ông theo căn cơ của
Thiên nữ mà nói pháp để cho phát ý đạo, và bảo rằng
“Các ngươi đã phát ý đạo, có Pháp vui để tự vui chớ
nên vui theo ngũ dục (23) nữa”.
Thiên nữ
hỏi : “Thế nào là Pháp vui ?”.
Ðáp : “Vui
thuờng tin Phật; vui muốn nghe pháp; vui cúng dường tăng; vui
lìa ngũ dục; vui quán ngũ ấm như oán tặc; vui quán thân tứ
đại như rắn độc; vui quán nội nhập (sáu căn) như không;
vui giữ gìn đạo ý; vui lợi ích chúng sanh; vui cung kính cúng
dường bực sư trưởng; vui nhẫn nhục nhu hòa; vui siêng nhóm
căn lành, vui thiền định chẳng loạn; vui rời cấu nhiễm
đặng trí tuệ sáng suốt; vui mở rộng tâm Bồ Ðề; vui hàng
phục các Ma; vui đoạn phiền não; vui thanh tịnh cõi nuớc
Phật; vui thành tựu các tướng tốt mà tu các công đức;
vui trang nghiêm đạo tràng; vui nghe pháp thâm diệu mà không
sợ; vui ba môn giải thoát mà không vui phi thời (24); vui gần
bạn đồng học; vui ở chung với người không phải đồng
học mà lòng không chướng ngại, vui giúp đỡ ác tri thức;
vui gần thiện tri thức; vui tâm hoan hỷ thanh tịnh; vui tu vô
lượng Pháp đạo phẩm. Ðó là Pháp vui của Bồ Tát”.
Khi ấy ma
Ba Tuần bảo các Thiên nữ rằng : “Ta muốn cũng các ngươi
đồng trở về Thiên cung”.
Các Thiên
nữ đáp : “Ông đã đem chúng tôi cho cư sĩ, chúng tôi có
pháp vui, chúng tôi vui lắm, không còn muốn vui theo ngũ dục
nữa”.
Ma liền thưa
với ông Duy Ma Cật rằng : “Xin Ngài nên xả các Thiên nữ
này; người đem tất cả vật của mình để bố thí cho kẻ
khác, đó mới là Bồ Tát”.
Ông Duy Ma
Cật nói : “Ta đã xả rồi, ngươi hãy đem đi để cho tất
cả các người được pháp nguyện đầy đủ”.
Lúc ấy các
Thiên nữ hỏi ông Duy Ma Cật rằng:
- Chúng tôi
làm thế nào ở nơi cung ma?
Ông Duy Ma
Cật đáp : “Này các chị, có Pháp môn tên là “Vô tận
đăng”, các chị nên học. Vô tận đăng là ví như một ngọn
đèn mồi đốt trăm ngàn ngọn đèn, chỗ tối đều sáng,
sáng mãi không cùng tận. Như thế đó các chị ? Vả lại
một vị Bồ Tát mở mang dẫn dắt trăm nghìn chúng sanh phát
tâm Bồ Ðề, đạo tâm của mình cũng chẳng bị tiêu mất,
tùy nói Pháp gì đều thêm lợi ích cho các Pháp lành, đó
gọi là “Vô tận đăng”. Các chị dầu ở cung ma mà dùng
Pháp môn “Vô Tận Ðăng” này làm cho vô số Thiên nữ phát
tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng, Chánh Giác, đó là báo ơn Phật,
cũng là làm lợi ích cho tất cả chúng sanh”.
Bấy giờ
các Thiên nữ cúi đầu đảnh lễ dưới chân ông Duy Ma Cật
rồi theo ma Ba Tuần trở về Thiên cung, bỗng nhiên biến mất
không còn thấy nữa.
- Bạch Thế
Tôn ! Ông Duy Ma Cật có thần lực tự tại và trí tuệ biện
tài như thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
TRƯỞNG GIẢ
TỬ THIỆN ĐỨC
Phật bảo
Trưởng giả tử Thiện Ðức :
- Ông đi
đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Thiện Ðức
bạch Phật :
- Bạch Thế
Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ lại
thuở trước, con lập ra hội đại thí ở nhà cha con, hạn
trong bảy ngày để cúng dường cho tất cả vị Sa môn, Bà
la môn, cùng hàng ngoại đạo, kẻ nghèo khó, hèn hạ, cô độc
và kẻ ăn xin. Bấy giờ ông Duy Ma Cật đến trong hội nói
với con rằng : “Này Trưởng giả tử ! Vả chăng hội đại
thí không phải như hội của ông lập ra đâu, phải làm hội
Pháp thí(26) chớ lập ra hội đại thí này làm gì ?.
Con nói: “Thưa
Cư sĩ ! Sao gọi là hội Pháp thí”.
Ông đáp
: “Hội Pháp thí là đồng thời cúng dường tất cả chúng
sanh, không trước không sau đó là hội Pháp thí”.
Con hỏi :
“Thế là nghĩa gì ?”.
Cư sĩ đáp
: “Nghĩa là vì đạo Bồ Ðề, khởi từ tâm; vì cứu chúng
sanh, khởi tâm đại bi ; vì muốn giữ gìn chánh pháp, khởi
tâm hoan hỉ ; vì nhiếp trí tuệ, làm theo tâm xả ; vì nhiếp
tâm tham lẫn, khởi bố thi ba la mật, vì độ kẻ phạm giới
khởi trì giới ba la mật, vì không ngã (27) pháp (28), khởi
nhẫn nhục ba la mật ; vì rời tướng thân tâm, khởi tinh
tấn ba la mật; vì tướng Bồ Ðề, khởi thiền định ba la
mật; vì nhứt thiết trí, khởi trí tuệ ba la mật; vì giáo
hóa chúng sanh mà khởi ra “Không” ; chẳng bỏ Pháp hữu
vi mà khởi “Vô tướng”; thị hiện thọ sanh mà khởi “vô
tác”; hộ trì Chánh Pháp, khởi sức phương tiện; vì độ
chúng sanh, khởi pháp tứ nhiếp; vì kính thờ tất cả, khởi
pháp trừ khinh mạn; đối thân, mạng và tài sản, khởi ba
pháp bền chắc; trong pháp lục niệm(29) khởi ra pháp nhớ
tưởng; ở sáu pháp hòa kính (30) , khởi tâm chất trực; chơn
chánh thật hành thiện pháp, khởi sự sống trong sạch; vì
tâm thanh tịnh hoan hỷ, khởi gần bậc Thánh hiền ; vì chẳng
ghét người dữ, khởi tâm điều phục; vì pháp xuất gia,
khởi thâm tâm; vì đúng theo chỗ nói mà làm khởi đa văn;
vì Pháp vô tránh, khởi ở chỗ yên lặng; vì đi tới Phật
huệ, khởi ra ngồi yên lặng (tọa thiền); vì mở ràng buộc
cho chúng sanh, khởi tâm tu hành; vì đầy đủ tướng tốt
và thanh tịnh cõi Phật, khởi sự nghiệp phước đức; vì
muốn biết tâm niệm tất cả chúng sanh đúng chỗ nên nói
pháp, khởi ra nghiệp trí; vì biết tất cả pháp không lấy
không bỏ, vào môn nhứt tướng(31), khởi ra nghiệp huệ; vì
đoạn tất cả phiền não, tất cả chướng ngại, tất cả
bất thiện, khởi làm tất cả pháp trợ Phật đạo. Như vậy
Thiện nam tử ? Ðó là hội pháp thí. Nếu Bồ Tát trụ nơi
hội pháp thí đó, là vị đại thí chủ, cũng là phước điền
cho tất cả thế gian”.
- Bạch Thế
Tôn ? Khi ông Duy Ma Cật nói pháp ấy, trong chúng Bà la môn
hai trăm người đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh
Giác.
Lúc đó tâm
con đặng thanh tinh, ngợi khen chưa từng có, cúi đầu đảnh
lễ dưới chơn ông Duy Ma Cật. Con liền mở chuỗi Anh lạc
giá đáng trăm nghìn lượng vàng dâng lên, ông không chịu
lấy. Con nói : “Thưa Cư sĩ ! Xin Ngài hãy nạp thọ, tùy ý
Ngài cho”. ông Duy Ma Cật liền lấy chuỗi Anh lạc chia làm
hai phần, một phần đem cho người ăn xin hèn hạ nhứt trong
hội, còn một phần đem dâng cho đức Nan Thắng Như Lai. Tất
cả chúng trong hội đều thấy cõi nước Quang Minh và đức
Nan Thắng Như Laỉ, lại thấy chuỗi Anh lạc ở trên đức
Phật kia biến thành bốn trụ đài quí báu, bốn mặt đều
trang nghiêm rực rỡ không ngăn che nhau.
Khi ấy, ông
Duy Ma Cật hiện thần biến xong, lại nói rằng: “Nếu người
thí chủ dùng tâm bình đẳng thí cho một người ăn xin rất
hèn hạ xem cũng như tướng phước điền của Như Lai, không
phân biệt, lòng đại bi bình đẳng, không cầu quả báo, đó
gọi là đầy đủ pháp thí vậy”.
Trong thành
những người ăn xin hèn hạ bực nhất thấy thần lực như
vậy và nghe lời nói kia, đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh
ông Duy Ma Cật.
Như thế,
các Bồ Tát dều tuần tự đến trước Phật trình bày chỗ
bổn duyên của mình, vị nào cũng khen ngợi, thuật lại những
lời ông Duy Ma Cật và đều nói “Không kham lãnh đến thăm
bịnh ông”.
Chú thích
của phẩm IV
1.Bồ tát:
Nói đủ là Bồ Ðề Tát Đỏa [Bodhisatra] Tàu dịch là Giác
hữu tình, nghĩa là tự mình đã giác ngộ, lại hay giác ngộ
cho chúng sanh.
Bồ Tát có
3 bực :
A) Những
người mới phát tâm tu hành cầu pháp Ðại thừa, tu hạnh
Bồ Tát, là Bồ Tát mới phát tâm.
B) Những
người học đạo Ðại thừa đã lâu đời, chứng đặng bực
Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hướng cho đến Thập Ðịa là
bực Bồ Tát tu lâu.
C) Bồ Tát
chứng bực Ðẳng giác (kề Phật gọi là Bổ xứ Bồ Tát).
2. Di Lặc
: (Maitreya) Tàu dịch là Từ Thị, là họ, tên là A Dật Đa.
Ngài tu hạnh từ tâm không ai sánh bằng, sau sẽ ra đời nối
Đức Phật Thích Ca mà thuyết pháp độ sanh gọi là Bổ xứ
Bồ Tát.
3. Bất thối
chuyển : Theo Ðại thừa pháp tướng có 3 bực :
1) Vị bất
thối : Từ khi phát tâm tin chắc lý Ðại thừa, trải muôn
kiếp tu nhơn vào bực Thập trụ rồi không còn thối đọa
trong đường sanh tử nữa.
2) Hạnh
bất thối : Ðã vào bực Sơ Ðịa, nơi hạnh lợi tha không
còn lui sụt.
3) Niệm
bất thối : từ bực Bát địa nhẫn lên đặng Diệu trí vô
công dụng, mỗi niệm mỗi niệm thẳng vào biển quả chơn
như, không còn một niệm nào thối chuyển.
4. Thọ ký
: Ðức Phật đối với chúng sanh phát tâm Ðại thừa trao
cho lời ký về sau ở nơi kiếp nào, sẽ thành Phật hiệu
là gì, cõi nước tên chi và trụ thế bao lâu, độ sanh bao
nhiêu.
5. Vô sanh
: Chơn lý Niết bàn không sanh không diệt.
6. Chánh vị
: Tức thật tướng thường trú Niết bàn của Tiểu thừa
cũng gọi là chánh vị; chính là quả vị để tu chứng.
7. Bồ đề
tướng : Cái tướng không tướng là tướng Bồ Đề
8. Chướng
nguyện : Chơn như đạo lý không có sự mong muốn nên ngăn
tất cả sự nguyện cầu.
9. Bất nhị
:Không hai; Ý và Pháp là hai mà Bồ đề là vô tâm ý thì còn
có pháp gì nữa, nên nói là không hai.
10. Các nhập
không nhóm : 6 nhập trong và ngoài, tức 6 căn và 6 trần xung
nhập nhau. Tự tánh nó vốn không, nên nói là không nhóm.
11. Quang nghiêm
: Là dùng trí tuệ quang minh và phước đức quang minh trang
nghiêm Pháp thân thanh tịnh, gọi là Quang nghiêm.
12. Đồng
tử : Chẳng luận là tuổi trẻ mới gọi là Ðồng tử, mà
những vị tu hành từ nhỏ tới già trọn không phạm dâm dục,
không mất hạnh thanh tịnh đều được gọi là Ðồng tử.
13. Ðạo
tràng : Là chỗ của đức Phật thành đạo như : tòa Kim Cang;
hoặc chỗ cúng dường đức Phật, chỗ tu tập ngồi thiền,
nơi chùa chiền cho đến những hạnh Pháp tu hành đắc đạo
như trực tâm, thâm tâm v.v... cũng gọi là Ðạo tràng.
14. Ðiều
nhu : Ðối trị phiến não làm cho mềm đi.
15. Ða văn
: Rộng nghe Phật pháp, y theo chỗ nghe mà thật hành gọi là
Ða văn.
16. Chánh
quán : Quán hiệp đúng như lời kinh Phật dạy là chánh quán,
nếu quán khác là tà quán.
17. Nhứt
thiết chủng trí : Trí của Phật biết rõ tất cả đúng như
thật.
18. Trì Thế
Bồ Tát : Là vị Bồ Tát giữ gìn Phật pháp, đem giáo hóa
chúng sanh trong đời.
19. Ba tuần
: Tàu dịch là : Ác giả, sát giả tên thứ Ác ma có ác ý,
làm các việc ác, thường muốn làm dứt mất huệ mạng của
người tu hành.
20. Kiều
Thi Ca : Là họ của trời Ðế Thích, tên là Thích Ðề Hoàn
Nhơn.
21. Tu pháp
bền chắc : Có 3 pháp bền chắc là ở nơi thân mạng và của
cải đều quên bỏ, mà tu hành theo chánh đạo, sẽ được
cái thân bất hoại, mạng vô cùng, của vô tận, dù cho trái
đất cháy tan, kiếp số có cùng tận, mà 3 món ấy đều không
tận, nên nói là bền chắc.
22. Chánh
sĩ : Tiếng Phạn là Bồ Tát, dịch là Chánh Sĩ, nghĩa là bực
cầu chánh đạo tu hạnh Ðại thừa.
23. Ngũ dục
: Năm món làm khởi tâm ham muốn của người: 1) Sắc, 2) Thinh,
3) Hương, 4) Vị, 5) Xúc. Lại có chỗ nói : 1) Của cải, 2)
Sắc đẹp, 3) Uống ăn, 4) Danh dự, 5)Ngủ nghỉ.
24. Vui ba
môn giải thoát, không vui phi thời : Ba môn 1)Không, 2)Vô tướng,
3)Vô tác. Ba thừa đều noi theo tu tập gọi là môn, cởi mở
sự ràng buộc gọi là giải thoát. Tu hành chưa đến chỗ
cùng tột, giữa chừng muốn thủ chứng như hàng Nhị thừa,
đó là Phi Thời. Hàng Bồ Tát không muốn như thế nên nói
là không vui phi thời.
25. Trưởng
giả tử Thiện Ðức : Là vị trưởng giả có căn lành đầy
đủ, cội đức trồng sâu nên xưng là Thiện Ðức.
26. Pháp thí
: Thí có 3 cách :
1) Tài thí
: là dùng của cải bố thí cho người;
2) Tâm thí
: dùng tâm từ, tâm bình đẳng ban sự vui cho người.
3) Pháp thí
: nói pháp độ người làm những việc lợi ích chúng sanh
hiện tại và vị lai.
27. Ngã :
Phần tác động chủ tể.
28. Pháp :
Phần thể chất, hình tượng, nghĩa lý, vũ trụ.
29. Lục niệm
:
1) Niệm
Phật : tuởng niệm đấng thực hiện sự thực;
2) Niệm
Pháp : tưởng niệm sự thực;
3) Niệm
Tăng : tưởng niệm người thực hành sự thực;
4) Niệm
Giới : tưởng niệm công đức giới pháp và sự giữ giới;
5) Niệm
thí : tưởng niệm sự bố thí;
6) Niệm
thiên: tưởng niệm sanh về cõi chư Thiên. Thiên có ba: 1) Tam
giới thiên : cõi Dục, Sắc và Vô Sắc; 2) Tịnh thiên : cảnh
giới của Nhị thừa sanh về. 3) Ðệ nhứt nghĩa thiên : cảnh
giới của Bồ Tát sanh về.
30. Sáu pháp
hòa kính:
1) Thân hòa
kính : Thân nghiệp đồng cung kính nhau.
2) Khẩu
hòa kính: Khẩu nghiệp đồng ngợi khen khuyên nhủ nhau.
3) Ý hòa
kính : Tâm ý đồng tín mến nhau.
4) Giới
hòa kính : Ðồng giữ một giới pháp.
5) Kiến
hòa kính : Chỗ hiểu biết đồng giải bày cho nhau.
6) Lợi hòa
kính : Ðồng chia các món cúng dường.
31. Nhứt
tướng : Thể tánh chơn thật bình đẳng, không có tướng
sai khác, nên gọi là Nhứt tướng.