KINH
(1) DUY MA CẬT (2) SỞ THUYẾT
CŨNG GỌI
Kinh “BẤT
KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT” (3)
Đời Diêu
Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vưng chiếu dịch
ra chữ Trung Hoa
I. PHẨM
PHẬT QUỐC (4)
Chính tôi
được nghe, một thuở kia, đức Phật Thích Ca ở thành Tỳ
Da Ly (5) nơi vườn cây Am La (6) cùng tám nghìn chúng Ðại Tỳ
Kheo, hai vạn hai nghìn Bồ Tát, là những vị có tiếng tăm,
đều đã thành tựu trí hạnh đại thừa, do nhờ oai thần
của chư Phật lập nên. Các Ngài làm bức thành hộ pháp,
giữ gìn chánh pháp, diễn nói pháp âm rất oai hùng, tự tại
vô úy như sư tử rống (7) danh đồn xa khắp mười phương.
Người đời không cầu thỉnh mà các Ngài sẵn sàng làm bạn
giúp cho an vui. Các Ngài xương minh Tam bảo không dể dứt mất,
hàng phục tất cả ma oán, ngăn dẹp các ngoại đạo ; sáu
căn (8) ba nghiệp (9) đều đã thanh tịnh ; trọn lìa năm món
che ngăn (10) và mười điều ràng buộc (11). Tâm thường an
trụ nơi lý vô ngại giải thoát ; niệm định tổng trì (12)
bình đẳng, biện tài thông suốt như suối tuôn không dứt.
Các hạnh Bồ thí, trì giớí, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định, trí tuệ và sức phương tiện lợi mình lợì người
thảy đều đầy đủ. Ðã được đến bực vô sở đắc
(13) mà không khởi pháp nhẫn (vô sinh pháp nhẫn)(14), hay tùy
thuận dìễn nói pháp luân bất thối (15), khéo hiểu rõ chân
tướng các pháp, thấu biết căn cơ chúng sanh, oai đức bao
trùm đại chúng(16), không còn sợ sệt chi cả.
Các Ngài
dùng công đức trí tuệ trau sửa lòng mình, lấy tướng tốt
trang nghiêm thân hình, sắc tượng dung nhan bực nhứt, bỏ
hẳn tất cả trang sức tốt đẹp trong đời, danh tiếng cao
xa vượt hẳn núi Tu di (17), lòng tin bền chắc như kim cương,
đem Pháp bảo soi khắp, mưa nước cam lố, phát ra tiếng tăm
đều là vi diệu bực nhứt.
Các Ngài
đã thâm nhập lý duyên khởi (18), dứt hết các tập khí kiến
chấp sai lầm bên có bên không, diễn nói các pháp không sợ
sệt như sư tử rống, những lời giảng nói như sấm nổ,
không có hạn lượng và đã quá hạn lượng.
Các Ngài
tự mình nhóm góp rất nhiều Pháp bảo như Hải đạo sư (19),
rõ nghĩa lý sâu mầu của các pháp, biết rành hiện trạng
qua lại trong các cảnh thú và hành vi tốt xấu trong tâm niệm
chúng sanh. Gần kề bực Phật tối tôn là đấng đầy đủ
trí tuệ, tự tại, thập lực (20), vô úy (21), thập bát bất
cộng(22). Ngăn đóng tất cả cửa nẻo ác thú, hiện thân
trong năm đường(23) hóa độ chúng sanh. Làm vị Ðại Y Vương
(24) khéo trị lành các bịnh, đúng theo bịnh cho thuốc đều
được công hiệu. Ðã thành tựu vô lượng công đức, trang
nghiêm thanh tịnh vô lượng cõi Phật. Người nào được nghe
danh thấy hình đều được lợi ích. Những hành động của
các Ngài đều không uổng phí, các công đức như thế, đã
hoàn toàn viên mãn.
Danh hiệu
các Ngài là Ðẳng Quán Bồ Tát, Bất Ðẳng Quán Bồ Tát,
Ðẳng Bất Ðẳng Quán Bồ Tát, Ðịnh Tự Tại Vương Bồ
Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tướng Bồ Tát, Quang
Tướng Bồ Tát, Quang Nghiêm Bồ Tát, Ðại Nghiêm Bồ Tát,
Bảo Tích Bồ Tát, Biện Tích Bồ Tát, Bảo Thu Bồ Tát, Bảo
Ấn Bồ Tát, Thường Cử Thủ Bồ Tát, Thường Hạ Thủ Bồ
Tát, Thường Thảm Bồ Tát, Hỷ Căn Bồ Tát, Hỷ Vương Bồ
Tát, Biện âm Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Chấp Bảo Cự
Bồ Tát, Bảo Dõng Bồ Tát, Bảo Kiến Bồ Tát, Ðế Võng Bồ
Tát, Minh Võng Bồ Tát, Vô Duyên Quán Bồ Tát, Huệ Tích Bồ
Tát, Bảo Thắng Bồ Tát, Thiên Vương Bồ Tát, Hoại Ma Bồ
Tát, Ðiễn Ðức Bồ Tát, Tự Tại Vương Bồ Tát, Công Ðức
Tướng Nghiêm Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Lôi âm Bồ Tát,
Sơn Tướng Kích Âm Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bạch Hương
Tượng Bồ Tát, Thuờng Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ
Tát, Diệu Sanh Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ
Tát, Ðắc Ðại Thế Bồ Tát, Phạm Võng Bồ Tát, Bảo Trượng
Bồ Tát, Vô Thắng Bồ Tát, Nghiêm Ðộ Bồ Tát, Kim Kế Bồ
Tát, Châu Kế Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp
Vương Tử Bồ Tát, cả thay như thế ba vạn hai nghìn Ngài.
Lại có một
vạn vị Thi Khi (25), Phạm Thiên Vương từ Tứ thiên hạ (26)
khác đến chỗ Phật nghe Pháp. Lại có một vạn hai nghìn
vị Thiên đế cũng từ Tứ thiên hạ khác đến trong pháp
hội. Các hàng chư Thiên có oai lực lớn, cùng Long thần, Dạ
xoa, Càn thát bà, A tu la, Khẩn na la, Ma hầu la đà (27) v.v.
. . đều đến trong pháp hội. Lại có các vị Tỳ kheo (28)
, Tỳ kheo ni, ưu bà tắc (29), ưu bà di (30) cũng đến trong
Pháp hội.
Bấy gỉờ
đức Phật nói Pháp cho vô lượng trăm nghìn đại chúng đông
đảo cung kính vây quanh đấy, ví như núi chúa Tu di hiển bày
nơi bể cả. Ngài ngồi yên trên tòa Sư tử (31) trang nghiêm
bằng các thứ báu, oai đức che trùm tất cả đại chúng.
Khi ấy trong thành Tỳ Da Ly có Trưỏng giả tử(32) tên là
Bảo Tích với 500 vị Trưởng giả tử đồng cầm lọng bảy
báu(33) đi đến chỗ Phật cung kính đảnh lễ đầu mặt tiếp
chơn, rối mỗi vị đều đem lọng báu của mình hợp nhau
cúng dường Phật. Do oai đức của Phật nên khiến các lọng
báu ấv hiệp thành một cây trùm khắp cõi Tam thiên đại
thiên thế thế giới (34), mà tướng rộng dài của thế giới
đều hiện đủ trong đó.
Lại
nữa, các núi Tu di, Mục chơn lân dà , Ðại mục chơn lân
đà, Tuyết sơn, Hương sơn, Bảo sơn, Kim sơn, Hắc sơn, Thiết
vi, Ðại thiết vi bể lớn, sông, rạch, dòng ngòi, nguốn suối,
cũng với mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, thiên cung, long
cung và cùng các vị tôn thần, nơi cõi Tam thiên đại thiên
thế giỡi này đều hiện trong lọng bảy báu, và chư Phật
trong 10 phương, chư Phật đang nói pháp, cũng hiện trong lọng
bảy báu ấy.
Khi đó tất
cả Ðại chúng thấy thần lực của Phật đều khen ngợi
chưa từng có, chấp tay làm lễ, ngắm nhìn dung nhan Phật mắt
không hề nháy. Trưởng giả tử Bảo Tích liền ở trước
Phật đọc bài kệ khen rằng :
Mắt trong,
dài rộng như sen xanh,
Tâm sạch
đã tột các thiền định,
Lâu chứa
tịnh nghiệp nói không cùng,
Dùng tịch
độ chúng (35) nên cúi lạy.
Ðã thấy
Ðại thánh dùng thần biến,
Khắp híện
mười phương không lường cõi,
Trong đấy
các Phật diễn nói pháp,
Nơi đây
tất cả đều thấy nghe.
Pháp lực
của Phật vượt quần sanh
Thường
dùng Pháp tài thí tất cả,
Hay khéo
phân biệt các Pháp tướng,
Ðối đệ
nhứt nghĩa (36) mà không động.
Ðã được
tự tại cùng các Pháp
Cho nên cúi
đầu lễ Pháp vương.
Nói Pháp
chẳng có cũng chẳng không
Vì do nhân
duyên các Pháp sanh,
Không ta,
không tạo, không thọ giả,
Những việc
lành dữ cũng chẳng mất.
Trước tiên
hàng ma nơi Phật thọ (37)
Ðặng Cam
lồ diệt (38) thành đạo giác,
Ðã không
tâm ý, không thọ hành (39)
Mà xô dẹp
hết các ngoại đạo.
Ba lần chuyển
Pháp (40) cõi đại thiên,
Pháp ấy
lâu nay thường thanh tịnh,
Trời người
đắc đạo đó là chứng,
Tam bảo
vì thế hiện trong đời.
Dùng Pháp
mầu này độ chúng sanh
Thọ rồi
không lui, thường vắng lặng,
Khỏi già
bịnh chết đấng Y Vương,
Lạy ngôi
Pháp hải (41) đức không lường.
Khen chê
chẳng động như Tu di
Ðồng bực
thương xót kẻ lành dữ,
Tâm hạnh
bình dầng như hư không,
Nghe đấng
Nhơn bảo (42) ai chẳng kính.
Nay dâng
Thế Tôn lọng mọn này
Cõi Tam thiên
tôi hiện trong đó,
Thiên cung,
Long thần kia nương ở,
Càn thát
cả thảy với Dạ xoa.
Mọi vật
trong đời đều thấy rõ,
Vì thương
Phật hiện tướng biến này,
Thấy việc
ít có chúng khen ngợi,
Nay con lạy
đấng Tam giới tôn (43)
Ðại thánh
chỗ nương của mọi loài,
Lòng sạch
trong đó thảy vui vẻ,
Ðều thấy
Thế Tôn ở trước mình,
Ðó là thần
lực Pháp bất cộng. (44)
Phật dùng
một tiếng diễn nói Pháp,
Chúng sanh
tùy loại thảy đặng hiểu,
Ðều cho
rằng Phật đồng tiếng mình,
Ðó là thần
lực Pháp bất cộng.
Phật dùng
một tiếng diễn nói Pháp,
Chúng sanh
chỗ hiểu tùy mỗi hạng,
Khắp được
thọ hành đều lợi ích,
Ðó là thần
lực Pháp bất cộng.
Phật dùng
một tiếng diễn nói Pháp,
Có người
kinh sợ hoặc vui mừng,
Có kẻ dứt
nghi hoặc nhàm chán,
Ðó là thần
lực Pháp bất cộng.
Lạy đấng
Thập lực đại tinh tấn,
Lạy đấng
đã đặng không chỗ sợ,
Lạy đấng
trụ nơi Pháp bất cộng,
Lạy đấng
Ðạo sư (45) của muôn loài.
Lạy đấng
hay dứt mọi kiết phược(46)
Lạy đấng
đã đến nơi bờ kia,
Lạy đấng
hay vượt các thế gian,
Lạy đấng
trọn lìa đường sanh tử.
Biết hết
chúng sanh tướng đến lui
Khéo nói
các Pháp được giải thoát,
Như hoa sen
trong đời chẩng nhiễm,
Thường
khéo vào nơi hạnh không tịch.(47)
Lúc đó Trưởng
giả tử Bảo Tích đọc bài kệ tán thán xong, bạch Phật
rằng : “'Bạch Thế Tôn ! Năm trăm vị Trưởng giả tử nầy
đều đã phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác nguyện
nghe cõi Phật thanh tịnh, cúi mong Thế Tôn dạy cho những hạnh
của Bồ Tát được Tịnh độ (quốc độ thanh tịnh).”
Phật bảo
: “Hay thay Bảo Tích ! Ông lại vì các vị Bồ Tát mà hỏi
Như Lai những hạnh được Tịnh độ, vậy hãy lắng nghe chín
chắn, suy nghĩ kỹ nhớ lấy, ta sẽ nói cho ông rõ”.
Lúc ấy Bảo
Tích cũng 500 vị Trưởng giả tử vâng lời Phật dạy, cung
kính lóng nghe.
Phật dạy
rằng : “Này Bảo Tich ! Tất cả chúng sanh là cõi Phật của
Bồ Tát. Vì sao ? – Bồ Tát tùy chỗ giáo hóa chúng sanh mà
lãnh lấy cõi Phật (Tịnh độ); tùy chỗ điều phục chúng
sanh mà lãnh lấy cõi Phật ; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ
nào vào trí tuệ của Phật mà lãnh lấy cõi Phật ; tùy chúng
sanh ưng theo quốc độ nào phát khởi căn tánh Bồ Tát mà
lãnh lấy cõi Phật. Vì sao thế ? – Vì Bồ Tãt lãnh lấy
cõi Phật thanh tịnh đều vì muốn lợi ích chúng sanh. Ví
như : Có người muốn xây dựng cung nhà nơi khoảng đất trống,
tùy ý được thành công, nếu xây dựng giữa hư khỏng quyết
không thành tựu được ; Bồ Tát cũng thế, vì thành tựu
chúng sanh nên nguyện lãnh lấy cõi Phật – Nguyện lãnh lấy
cõi Phật chẳng phải ở nơi rỗng không vậy.
Bảo Tích,
ông nên biết ! - Trực tâm (49) là Tịnh dộ của Bồ Tát;
khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh không dua vạy, sanh sang nước
dó. Thâm tâm (50) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành
Phật, chúng sanh đầy đủ công đức sanh sang nước đó. Bồ
Ðề tâm (51) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành
Phật, chúng sanh có tâm đại thừa sanh sang nước đó. Bố
thí là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng
sanh hay thí xả tất cả mọi vật sanh sang nước đó. Trì
giớí là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật,
chúng sanh tu mười điều lành (52), hạnh nguyện đầy đủ,
sanh sang nước đó. Nhẫn nhục là Tịnh độ của Bồ Tát;
khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh đủ 32 tướng tốt (53) trang
nghiêm sanh sang nước đó. Tinh tiến là Tịnh độ của Bồ
Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh siêng tu mọi công đức
sanh sang nước đó. Thiền định là Tịnh độ của Bồ Tát
; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh biết thu nhiếp tâm chẳng
loạn sanh sang nước đó. Trí tuệ là Tịnh độ của Bồ Tát
; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được chánh định sanh
sang nước đó. Tứ vô lượng tâm(54) là Tịnh độ của Bồ
Tát ; Khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh thành tựu từ, bi,
hỷ, xả sanh sang nước đó. Tứ nhiếp Pháp (55) là Tịnh độ
của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được giải
thoát sanh sang nước đó. Phương tiện là Tịnh độ của Bồ
Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh khéo dùng đặng phương
tiện không bị ngăn ngại ở các pháp, sanh sang nước dó.
Ba mươi bảy phẩm trợ đạo (56) là Tịnh độ của Bồ Tát
; khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh đầy đủ niệm xứ, chánh
cần, thần túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh
đạo, sanh sang nước đó. Hồi hướng tâm (57) là Tịnh độ
của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, được cõi nước đầy
đủ tất cả công đức. Nói Pháp trừ tám nạn là Tịnh độ
của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước không có
ba đường ác (58) và tám nạn (59) . Tự mình giữ giới hạnh
không chê chỗ kém khuyết của người khác là Tịnh độ của
Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, cõi nưỡc không có tên phạm
giới cấm. Mười điều lành là Tịnh độ của Bồ Tát; khi
Bồ Tát thành Phật, chúng sanh sống lâu, giàu to, phạm hạnh
(60), lời nói chắc thật, thường dùng lời dịu dàng, quyến
thuộc không chia rẻ, khéo giải hòa việc đua tranh kiện cáo,
lời nói có lợi ich, không ghét không giận, thấy biết chân
chánh sanh sang nước đó.
Như thế,
Bảo Tích ! Bồ Tát tùy chỗ trực tâm mà hay phát hạnh, tùy
chỗ phát hạnh mà được thâm tâm, tùy chỗ thâm tâm mà ý
được điều phục, tùy chỗ ý được điều phục mà làm
được như lời nói, tùy chỗ làm được như lời nói mà
hay hồi hướng, tùy chỗ hồi hướng mà có phương tiện,
tùy chỗ có phương tiện mà thành tựu chúng sanh, tùy chỗ
thành tựu chúng sanh mà cõi Phật được thanh tịnh, tùy chỗ
cõi Phật thanh tịnh mà nói Pháp được thanh tịnh, tùy chỗ
nói Pháp thanh tịnh mà trí tuệ được thanh tịnh, tùy chỗ
trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh tịnh, tùy chỗ tâm thanh tịnh
mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Cho nên, Bảo Tích
này !
Bồ Tát
nếu muốn được cõi Phật thanh tịnh, nên làm cho tâm thanh
tịnh; tùy chỗ Tâm thanh tịnh mà cõi Phật được thanh tịnh.
Lúc ấy,
ông Xá Lợi Phất nương oai thần của Phật mà nghĩ rằng
: “Nếu tâm Bồ Tát thanh tịnh chắc cõi Phật phải được
thanh tịnh, vậy Thế Tôn ta khi trước làm Bồ Tát tâm ý lẽ
nào không thanh tịnh, sao cõi Phật này không thanh tịnh như
thế ?”.
Phật biết
ông suy nghĩ vậy liền bảo rằng :
– Ý ông
nghĩ sao ? Mặt trời, mặt trăng há không thanh tịnh sáng suốt
ư, sao người mù không thấy ?
– Bạch
Thế Tôn ! Chẳng phải thế. Ðó là tại người mù, không
phảỉ lỗi ở mặt trời và mặt trăng.
– Xá Lợí
Phất ! Cũng thế, bởi chúng sanh do tội chướng nên không
thấy được cõi nước của Như Lai thanh tịnh trang nghiêm,
chớ không phải lỗi ở Như Lai – Này Xá Lợi Phất ! Cõi
nước của ta đây vẫn thanh tịnh mà tại ông không thấy
đó thôi.
Bấy giờ
ông Loa Kế Phạm Vương thưa với ông Xá Lợi Phất rằng :
– Ngài
chớ nghĩ như thế, mà cho cõi Phật đây là không thanh tịnh.
Vì sao ? – Vì tôi thấy cõi nước của Phật Thích Ca Mâu
Ni thanh tịnh, ví như cung trời Tự Tại (61).
Ông Xá Lợí
Phất nói :
– Sao tôi
thấy cõi này toàn gò nỗng, hám hố, chông gai, sỏi sạn,
đất đá, núi non, nhơ nhớp dẫy đầy như thế ?
Ông Loa Kế
Phạm Vương thưa rằng :
– Ðấy
là do tâm của Ngài có cao thấp không nương theo trí tuệ của
Phật nên thấy cõi này không thanh tịnh đó thôi – Thưa Ngài
Xá Lợi Phất ! Bồ Tát đối với tất cả chúng sanh thảy
đều bình đẳng, thâm tâm thanh tịnh y theo trí tuệ của Phật
thì mới thấy được cõi Phật này thanh tịnh.
Khi ấy Phật
lấy ngón chơn nhấn xuống đất, tức thì cõi Tam thiên đại
thiên thế giới liền hiện ra bao nhiêu trăm nghìn thứ trân
bảo trang nghiêm rực rỡ, như cõi Vô Lượng Công Ðức Bảo
Trang Nghiêm của Phật Bảo Trang Nghiêm. Tất cả Ðại chúng
ngợi khen chưa từng có và đều thấy mình ngồi trên tòa
sen báu.
Phật bảo
Xá Lợi Phất :
– Ông hãy
xem cõi Phật, đây trang nghiêm thanh tịnh.
Ông Xá Lợi
Phất thưa :
– Dạ,
bạch Thế Tôn ! Từ trước dến giờ con chưa từng thấy,
chưa từng nghe. Nay cõi nước của Phật đều hiện rõ trang
nghiêm thanh tịnh.
Phật bảo
:
– Này Xá
Lợi Phất ! Cõi nước của ta thường thanh tịnh như thế
! Nhưng vì muốn độ những kẻ căn cơ hạ liệt nên thị
hiện ra cõi đầy nhơ nhớp xấu xa bất tịnh đó thôi. Ví
như Chư Thiên đồng dùng một thứ bát bằng ngọc báu để
ăn, nhưng tùy phước đức của mỗi vị mà sắc cơm có khác.
Như thế, Xá Lợi Phất ! Nếu tâm người thanh tịnh, sẽ thấy
cõi này công đức trang nghiêm.
Trong khi Phật
hiện ra cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, 500 vị Trưởng giả
tử do ông Bảo Tích dắt đến đều chứng được vô sanh
Pháp nhẫn, tám vạn bốn nghìn người phát tâm Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Bấy giờ
Phật thâu nhiếp thần túc (62) lại, cõi nước trở thành
như xưa. Ba vạn hai nghìn người và Trời cầu Thanh văn thừa
đều nhận rõ các Pháp hữu vi (63) là vô thường, xa lìa trần
cấu (64) đặng pháp nhãn thanh tịnh (65), tám nghìn vị Tỳ
kheo không còn chấp thọ các pháp, kiết lậu (66) đã hết,
tâm ý được giải thoát.
Chú thích
của phẩm I
1. Kinh: Nói
đủ là “Khế kinh”, nghĩa là “pháp thường” khế hiệp
chơn lý cùng khế hiệp căn cơ chúng sanh.
2. Duy Ma Cật:
Tên một vị Trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly, tàu dịch là
“Tịnh Danh”.
3. Bất khả
tư nghị giải thoát: Là pháp môn giải thoát tự tại vô ngại
không thể nghĩ bàn. Hai chữ “Giải thoát” đây là xa lìa
tất cả phiền não nghiệp chướng khổ lụy, cứu cánh viên
mãn tự tại vô ngại, không phải như hàng Nhị thừa giải
thoát sanh tử mà còn chướng ngại với cảnh pháp... Xem phẩm
Bất khả tư nghị sau thời rõ.
4. Phật quốc:
Cõi nước của Phật. Như Tây phương Tịnh độ là cõi nước
của Phật A Di Ðà, Ta bà là cõi nước của Phật Thích Ca.
5. Tỳ Da
Ly: Tàu dịch là Quảng Nghiêm, nghĩa là thành này châu vi rộng
lớn rất trang nghiêm, tốt đẹp, ở về Trung Ấn Ðộ.
6. Am La :
Tàu dịch là “nan phân biệt” nghĩa là thứ trái cây này
từ khi còn sống đến khi chín chỉ có một màu xanh nên khó
phân biệt được trái nào sống trái nào chín.
7. Sư tử
rống: dụ Phật, Bồ Tát thuyết pháp tự tại không sợ sệt,
lại làm cho tất cả phiền não mê tánh của chúng sanh đều
tiêu trừ, ví như sư tử rống lên một tiếng thì tất cả
các thú đều khiếp sợ chạy trốn .
8. Sáu căn
: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
9. Ba nghiệp:
1)Thân nghiệp, 2) Khẩu nghiệp, 3) Ý nghiệp.
10. Năm món
che ngăn:
1) Tham
dục ;
2) Sân
nhuế ;
3) Thùy miên:
Tâm hôn trầm không làm chi được;
4) Trạo
hối: Trong tâm có sự ăn năn xao động ;
5) Nghi pháp
: Ðối với việc gì cũng mờ ám dụ dự không quyết đoán.
Năm món
này hay che đậy chơn tánh và làm cho các pháp lành không phát
khởi hiển lộ được.
11. Mười
điều ràng buộc:
1) Vô tàm
: có tội lỗi mà không biết hổ :
2) Vô quý
: có tội lỗi người khác biết được mà không thẹn.
3) Tật :
thấy người hiền đức giàu sang sanh lòng ghen ghét;
4) Xan : bỏn
sẻn không Bố thí;
5) Hối:
ăn năn những tội lỗi đã làm;
6) Thùy miên:
hôn mê không tỉnh sát được thâm tâm;
7) Ðiệu
cử : Tâm niệm xao động;
8) Hôn trầm
: thần thức hôn mê không rõ biết chi cả;
9) Sân hận
: đối trước nghịch cảnh sanh tâm giận dũi;
10) Phú : che dấu tội ác.
12. Niệm
định tổng trì: Niệm tức là Tuệ; Tổng Trì: gồm nhiếp
tất cả các pháp. Trong định gồm có tuệ, trong tuệ gồm
có định gọi là niệm định tổng trì.
13. Vô sở
đắc: Là đối với hữu sở đắc mà nối. Nghĩa là không
còn trụ trước một pháp nào cả, dầu trí chứng và cảnh
chứng cũng không thấy có.
14. Vô sanh
pháp nhẫn: Vô sanh tức là không sanh không diệt. Nhẫn có
nghĩa là tin nhận giữ gìn; là nói dùng trí vô lậu an trú
trong thể chơn lý bất sanh bất diệt, tâm không lay động.
Trong “Ðại Trí Ðộ luận”, quyển 50 nói : “Ðối thật
tướng vô sanh diệt của các pháp, tin nhận thông suốt, không
ngăn ngại, không thối lui, gọi là Vô sanh nhẫn”.
15. Pháp luân
bất thối : Phật Bồ Tát thuyết pháp gọi là chuyển pháp
luân. Các bậc Bồ Tát nghe pháp Phật dạy, đạo niệm càng
thêm tăng tấn gọi là bất thối (không lui). Lại các bậc
Bồ Tát đã chứng được “bất thối” rồi, đem pháp ấy
dạy cho chúng sanh để cho được bất thối, nên gọi là chuyển
pháp luân bất thối .
16. Ðại
chúng: là một nhóm người đông. Trong những thời thuyết
pháp của Phật, trừ Phật ra còn bao nhiêu bậc Hiền Thánh
đều gọi là đại chúng. Chúng Tăng theo Phật tu học cũng
gọi là Ðại chúng.
17. Tu Di:
Tàu dịch là Diệu Cao, núi này thuần bằng bốn chất báu:
vàng: bạc, lưu ly, pha lê rất xinh đẹp nên gọi là Diệu,
Cao hơn tất cả núi khác nên gọi rằng Cao.
18. Lý Duyên
khởi: Tất cả các pháp đều từ nơi các duyên nhóm họp
mà sanh khởi. Vì tỏ ngộ lý duyên khởi, nhận rõ các pháp
không thật có, như huyễn hóa nên chẳng chấp có, nhưng các
pháp là do duyên sanh, không phải hẳn là không, nên chẳng
chấp không. Có không đều lìa, mới là thâm nhập lý duyên
khởi.
19. Hải đạo
sư: Là nguời rất rành giỏi đường biển, làm thầy hướng
đạo dắt dẫn các kẻ thương nhân vào biển để tìm ngọc
báu không sợ lạc đàng. Dụ cho Phật và Bồ Tát là bực
dắt dẫn chúng sanh đi vào chánh đạo không sai lạc.
20. Thập
lực: Mười trí lực của Phật. Trí lực của Phật
1) Biết
rõ những điều hợp lý và trái lý.
2) Biết rõ
nhơn quả nghiệp báo của chúng sanh trongng ba đời.
3) Biết rõ
các pháp thiền định giải thoát tam muội.
4) Biết rõ
tùng bực cao thấp các căn tánh của chúng sanh.
5) Biết rõ
những ưa muốn sai khác của chúng sanh.
6) Biết rõ
tất cả những cảnh giới sai khác của chúng sanh trong thế
gian.
7) Biết rõ
chỗ đi đến của tất cả phàm phu, Hiền Thánh thế gian và
xuất thế gian.
8) Biết rõ
tánh danh khổ, vui, thọ, yễu của tất cả chúng sanh.
9) Biết rõ
sự sống chết qua lại các kiếp trước của tất cả chúng
sanh, và vô lậu Niết bàn của các Hiền Thánh.
10) Tự biết
mình đã dứt hết nghiệp hoặc tập khí, không còn sanh tử
triền phược nữa.
21. Vô úy:
Bốn món vô úy :
1) Nhứt
thế trí: hiểu biết tất cả pháp thế gian và xuất thế
gian;
2) Lậu tận:
hoặc nghiệp sanh tử đều biết hết;
3) Thuyết
chướng đạo: nói pháp ma ngoại là chướng thánh đạo;
4) Thuyết
tận khổ đạo: nói những đạo pháp có thế diệt hết các
khổ.
Bốn điều
này Phật đối giữa Ðại chúng các hàng Thiên ma, Phạm thiên,
Sa môn, Bà la môn, nói một cách tự tại không sợ ai, không
ai nói đuợc nên gọi là “Vô úy”.
22. Thập
bát bất cọng: Mười tám (18) Pháp bất cọng này chỉ có
Phật chứng đặng mà chẳng chung đồng với hàng Nhị thừa
và Bồ Tát.
1) Thân không
lỗi.
2) Miệng
không lỗi.
3) Niệm
không lỗi.
4) Không
có tâm tuởng khác.
5) Không
có tâm bất định.
6) Không
có tâm không biết.
7) Sự muốn
không giảm.
8) Tinh tấn
không giảm.
9) Niệm
không giảm.
10) Huệ
không giảm.
11) Giải
thoát không giảm.
12) Giải
thoát tri kiến không giảm.
13) Tất
cả thân nghiệp theo trí tuệ mà hành động.
14) Tất
cả khẩu nghiệp theo trí tuệ mà hành động.
15) Tất
cả ý nghiệp theo trí tuệ mà hành động.
16) Trí tuệ
biết đời vị lai không ngại.
17) Trí tuệ
biết đời quá khứ không ngại.
18) Trí tuệ
biết đời hiện tại không ngại.
23. Năm đường
: Trời, người, ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục.
24. Ðại
y vương: Thầy thuốc trị bịnh giỏi hơn các Thầy thuốc
khác. Ðức Phật hay tùy thuận căn cơ chúng sanh, khéo hóa
độ, khiến xa lìa tất cả khổ não, như ông Thầy thuốc
hay khéo tịi lành các bịnh nhơn nên gọi Phật là “Ðại
y vương”.
25. Thi khí
: Tên vị vua cõi trời Ðại Phạm Thiên, ở từng trời thứ
ba cõi sơ thiên của Sắc giới.
26. Tứ thiên
hạ: Bốn châu thiên hạ.
1) Ðông
thắng thần châu;
2) Nam thiệm
bộ châu;
3) Tây ngưu
hóa châu;
4) Bắc cu
lô châu.
27. Thiên,
long thẩn v.v... : Tục gọi là Thiên, Long Bát bộ.
1) Thiên
: chư Thiên ;
2) Long :
là rồng ;
3) Dạ xoa
: loài quỉ bay đi rất mau ;
4) Càn thát
bà : thần âm nhạc ;
5) A tu la
: thần chiến đấu. Tàu dịch là Phi thiên ; có phước như
Trời mà đức kém hơn Trời ;
6) Ca lâu
na : chim đại bàng ;
7) Khẩn
na la : thần pháp nhạc;.
8) Ma hầu
la dà : thần mãng xà.
28. Tỳ kheo
: Tiếng Phạn “Bhiksu”, các thầy xuất gia thọ giới cụ
túc (thọ 250 giới của Phật). Ðàn ông gọi là Tỳ kheo, còn
đàn bà gọi là Tỳ kheo ni (Thọ 350 giới).
29. Ưu bà
tắc : Tàu dịch là cận sự nam. Cận sự : nghĩa là thường
thân cận cúng dường ủng hộ các bực xuất gia tu hành, tức
là chỉ những người tại gia cư sĩ bên nam giới.
30. Ưu bà
di : Tàu dịch là cận sự nữ tức là nữ cư sĩ.
31. Tòa sư
tử : Pháp tòa của Phật ; Phật ngồi chỗ nào thuyết pháp,
thời chỗ ấy gọi là “tòa sư tử”; vì Phật tự tại
vô úy hàng phục được tất cả các ngoại đạo nên lấy
sư tử làm ví dụ .
32. Trưởng
giả tử : con ông Trưởng giả. Trưởng giả là người vừa
có của cải, vừa có đức hạnh đầy đủ. Kinh Pháp Hoa Huyền
Tán quyển 10 nói : “Tâm tánh ngay thẳng, lời lẽ chơn thật,
hành vi thuần cẩn, tuổi tác già cả, của cải giàu có gọi
là Trưởng giả.”
33. Bảy báu
: Vàng, Bạc, Lưu ly, Pha lê, Xa cừ, Xích châu, Mã não.
34. Tam thiên
Ðại thiên thế giới : Một thái dương hệ tương đương
với một tiểu thế giới; một ngàn tiểu thế giớì, là
một tiểu thiên thế giới; một ngàn tiểu thiên thế giới
là một trung thiên thế giới; một ngàn trung thiên thế giới
là một đại thiên thế giới. Vậy đại thiên thế glới
là một thế giới trải qua ba lần nhơn cho số ngàn, nên gọi
là “Tam thiên Ðại thiên thế giới”.
35. Dùng tích
độ chúng : Tức dùng đạo lý Niết bàn tịch diệt dứt trừ
tất cả nghiệp chướng khổ lụy để độ chúng sanh.
36. Ðệ nhứt
nghĩa : Tượng trưng chơn lý cứu cánh, thật tánh các pháp;
trên hết tất cả là “đệ nhứt”, có lý do như thật gọi
là “nghĩa”. Cảnh giới của bậc tự giác thánh trí chứng
đặng. Chẳng phải hạng dùng ngôn thuyết vọng tưởng so
lường biết được. Trong kinh Pháp Hoa nghĩa sớ quyển 4 nói
: “Cái đạo nhứt thật, lý cùng tột không chi hơn là “đệ
nhứt””. Có nguyên do như thật gọi là “Nghĩa”.
37. Phật
thọ : Tức là cội bồ đề; chỗ Phật thành đạo ở dưới
cội cây này gọi là Phật thọ, Ðạo thọ hay là Bồ đề
thọ.
38. Cam lồ
diệt : Cam lồ dụ cho Niết bàn; chứng đặng Niết bàn, dứt
dòng sanh tử, gọi là “Cam lồ diệt”.
39. Không
tâm ý, không thọ hành: Là không còn tâm niệm vọng tưởng
phân biệt và tâm cảm giác xúc thọ, thi vi động tác.
40. Ba lần
chuyển pháp : Tức tam chuyển pháp luân. Khi đức Phật Thích
Ca mới thành đạo, nói pháp tứ đế cho 5 thấy Tỳ Kheo ở
vườn Lộc Uyển, ba phen nói thành mười hai hành... Pháp của
Phật dạy hay dẹp trừ phiền não của chúng sanh, như bánh
xe hay cán dẹp cỏ rác, cát, sạn, nên gọi là Pháp luân. Người
nói giáo pháp để chuyển tâm ô nhiểm của chúng sanh thành
tâm thanh tịnh gọi là “Chuyển pháp luân”. Lại có nghĩa
là chuyển ba món : hoặc, nghiệp, khổ trở thành ba đức:
Bát nhã, Giải thoát, Pháp thân gọi là ba lần chuyển pháp.
41. Pháp hải:
Biển pháp. Phật pháp rộng lớn khó lường ví như bể cả.
42. Nhơn bảo
: Phật là đấng báu quí hơn hết trong cõi trời và cõi người
.
43. Tam giới
tôn : Ðức Phật là đấng cao cả đầy đủ phước đức
hơn hết trong 3 cõi, tất cả nhơn thiên đều cung kính tôn
trọng nên gọi là “Tam giới tôn”.
44. Pháp bát
cộng : cũng như thập bát bất cộng, có giải ở số 22.
45. Ðạo
sư : Bậc dắt dẫn chúng sanh đi vào chánh đạo; tên chung
của Phật và Bồ Tát.
46. Kiết
phược : Các phiền não ràng buộc thân tâm làm cho không được
tự tại giải thoát, nên phiền não cũng gọi là “kiết phược”.
47. Không
tịch: Không các tướng là “Không”. Không khởi diệt là
“tịch”. Rổng rang xa lìa tất cả tướng, không tâm niệm
khởi diệt gọi là hạnh “không tịch”.
48. Pháp tướng
: Tướng trạng sai khác của các pháp trong vũ trụ. Sách Ðại
Thừa nghĩa chương quyển 2 nói : “Tất cả pháp hữu vi, vô
vi trong thế gian đều gọi là pháp tướng”.
49. Trực
tâm : Tâm chơn thật, không dua dối tà vạy; tâm chánh niệm
chơn như.
50. Thâm tâm
: Tâm mong cầu Phật quả cao thâm; tâm ưa muốn nhóm góp gieo
trồng tất cả công đức cao dày, bền chắc, không thể dứt
mất.
51. Bồ đề
tâm : Tâm cầu đạo lý chơn chánh, tâm mong đạo quả chánh
giác.
52. Mười
điều lành : Thuận lý khởi tâm đối với cảnh không phạm
10 điều dữ :
1) Sát sanh;
2) Trộm cắp; 3) Tà dâm; 4) Nói dối; 5) Nói lời thêu dệt;
6) Nói hai
lưỡi; 7) Nói lờỉ độc ác; 8) Tham; 9) Sân; 10) Si
mà thật
hành những điều: phóng sanh, Bố thí, phạm hạnh, nói chắc
thật, nói lời chơn chánh, nói lời hòa hiệp, nói lời dịu
dàng, chẳng ghét, chẳng giận, chẳng tà kiến.
53. Ba mươi
hai tướng tốt :
1) Trên đỉnh
đầu thịt nổi cao lên;
2) Lông trắng
chặn giữa hai chơn mày (bạch hào);
3) Tròng
mắt đen trắng phân minh;
4) Lông nheo
dài đẹp như của Long vưong;
5) Gương
mặt tròn trịa như mặt trăng rằm;
6) Răng đủ
40 cái;
7) Răng nhỏ
đều khít khao;
8) Răng trắng
trong tinh sạch;
9) Luỡi
rộng dài khi le ra đến chơn tóc;
10) Tiếng
nói thanh tao nghe rất xa;
11) Trong
cổ hầu thường có chất nước cam lồ rịn ra;
12) Thân
mình nở nang tròn suông;
13) Nam căn
ẩn kín;
14) Hai bên
hông đầy đặn;
15) Hal tay
dài quá gối;
16) Cánh
tay và bàn tay da thịt mềm dịu như bông;
17) Ngón
tay dài và vót;
18) Vế như
vế của Lộc vương;
19) Lưng
hai bàn chân no tròn;
20) Lòng
bàn chân bằng phẳng;
21) Gót chân
tròn trịa;
22) Lòng
bàn chân có chỉ xoáy tròn rõ ràng như bánh xe nghìn cọng;
23) Kẻ ngón tay và ngón chân có da mỏng mịn như giăng lưới;
24) Bảy
chỗ trong thân đều đầy đặn: (hai lòng bàn tay, hai lưng
bàn chân, hai vai và yết hầu);
25) Tất
cả lỗ chơn lông đều có lông đẹp;
26) Lông
và tóc đều xoáỵ tròn về phía hữu;
27) Da mịn
màng trơn láng;
28) Màu da
như màu vàng ròng tử kim;
29) Thân
hình cao lớn hơn mọi người;
30) Hình
tướng đoan nghiêm;
31) Thân
hinh ngay thẳng vững vàng;
32) Thường
có ánh sáng sắc vàng ròng chiếu ra một tầm.
54. Tứ vô
lương tâm : Cũng gọi là tứ đẳng tâm.
1) Từ :
lòng ban vui cho chúng sanh ;
2) Bi : lòng
cứu khổ chúng sanh ;
3) Hỷ :
lòng vui mừng khi thấy người khỏi khổ được vui ;
4) Xả :
lòng không chấp trước chỗ thật hành của ba tâm trên.
Từ nơi
cảnh sở duyên (chúng sanh) nói là vô lượng; từ nơi tâm
năng duyên (Bồ Tát) mà khởi bình đẳng nên gọl là đẳng.
55. Tứ nhiếp
pháp :
1) Bố thí
nhiếp : Bồ Tát dùng tài pháp bố thí nhiếp dẫn chúng sanh
trụ nơi chơn lý;
2) Ái ngữ
nhiếp : Bồ tát hay tùy thuận căn tánh của chúng sanh và dùng
lời nói hay ho ủy dụ họ trụ nơi chơn lý ;
3) Lợi hành
nhiếp : Bồ Tát khởi hạnh từ thiện nơl thân, khẩu, ý làm
lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhơn đó họ được trụ nơi
chơn lý.
4) Ðồng
sự nhiếp : Bồ Tát dùng pháp nhãn thấy rõ căn tánh của
chúng sanh, tùy theo chỗ ưa muốn của họ mà phân hình thị
hiện, khiến họ được thắm nhuần lợi ích, nhơn đó họ
được an trụ nơi chơn lý.
56. 37 phẩm
trợ đạo : 4 pháp niệm xứ ; 4 pháp chánh cần ; 4 pháp như
ý túc ; 5 căn ; 5 lục ; 7 pháp giác chi ; 8 pháp đạo phần
. 37 pháp này giúp cho người tu hành thành tựu được đạo
quả, nên gọi là trợ đạo, có giải rõ ở sau.
57. Hồi hướng
tâm: Hồi: Hồi chuyển; Hướng: thu hướng. Hồi hướng là
khởi lòng đại bi cứu độ chúng sanh, xoay chuyển công đức,
căn lành hướng về ba chỗ: 1) Chỗ sở chúng chơn như thật
tế; 2) Chỗ sở cấu vô thượng Bồ đề; 3) Chỗ sở độ
tất cả chúng sanh.
58. Ba đường
ác : 1) Ðịa ngục, 2) Ngạ quỉ, 3) Súc sanh.
59. Tám nạn
:
1) Ðịa
ngục ;
2) Ngạ quỉ
;
3) Súc sanh
;
4) Trường
thọ thiên ;
5) Bắc cu
lô châu ;
6) Ðui, điếc,
ngọng, liệu ;
7) Thế trí
biện thông,
8) Sanh trước
Phật hay sau Phật.
Sở dĩ gọi
là tám nạn là vì ở tám chỗ này dù cảm thọ quả khổ
vui có khác, nhưng đều không được thấy Phật, không được
nghe chánh pháp.
60. Phạm
hạnh : Giới hạnh thanh tịnh, hạnh đoạn dâm dục.
61. Cung trời
Tự tại : Cung điện của trời Tự Tại Thiên Vương ở trên
chót từng tứ thiền cõi sắc giới.
62. Thần
túc : Pháp thần thông biến hóa tự tại vô ngại của Phật
tu chứng.
63. Hữu vi
: các pháp có tạo tác, sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện
tượng biến thiên trong vũ trụ .
64. Trần
cấu : Nghĩa là bụi nhớp, tức là những sự mê lầm làm
cho tâm phải mờ tối. Xa lìa trần cấu tức dứt hết 88 phẩm
kiến hoặc trong ba cõi.
65. Pháp nhãn
thanh tịnb : Thấy rõ được lý chơn thật của các pháp ;
tiểu thừa chứng đưọc sơ quả, do đã xa lìa trần cấu
kiến hoặc, thấy rõ thật lý pháp tứ đế. Ðại thừa chứng
được Vô sanh pháp nhẫn vào bậc Sơ địa.
66. Kiết
lậu : Các phiền não kết dệt trong tự tâm, nên phiền năo
cũng gọi là “kiết lậư”. Kiết lậu đã hết, vì dứt
trừ lòng ái nhiễm mê đắm không còn chấp thọ các pháp
nên tâm ý được giải thoát, chứng đến bực vô học (A
la hán).