Nếu
tôn giáo tính là một năng lực của con người, cũng giống
như cảm tính, lý tính hay bất cứ một thuộc tính tinh thần
nào khác, thì việc tìm kiếm nó phải là sự kết hợp cả
phương pháp sinh lý học và tâm lý học. Sinh lý học sẽ khám
phá ra cơ năng nào đảm bảo sự tồn tại và hoạt động
của tôn giáo tính, theo phần xác.
Tâm
lý học sẽ khám phá nội dung và cách thức hoạt động của
tôn giáo tính, theo phần hồn. Cả hai hợp lại có thể cho
ta thấy các kinh nghiệm tôn giáo, nhất là các xúc cảm và
thăng hoa do niềm tin tôn giáo đã xảy ra như thế nào và ảnh
hưởng đến các hoạt động khác của con người ra sao. Rồi
từ đó, ta có thể đo được độ đậm nhạt của tôn giáo
tính ở những trường hợp cụ thể.
Ngày
nay, chẳng còn ai tin ở một phương pháp luận duy vật máy
móc rằng “óc tiết ra tư tưởng như gan tiết ra mật”.
Hơn thế nữa, ngay cả những nỗ lực khám phá hoạt động
của ý thức bằng “những phản xạ có điều kiện” theo
sinh lý học Pavlop, cũng không cho thấy một khả năng nào đi
xa hơn là những tập tính sinh học rất đơn giản của cơ
thể loài vật, chứ chưa nói gì đến loài người.
Dù
sao thì con người vẫn không thoát khỏi sự tò mò trước
cái bí mật của phần hồn ở đâu đó trong phần xác. Từ
khi có những tiến bộ về sinh lý học não bộ, sự tò mò
ấy lại gia tăng. Người ta cũng biết được một số chức
năng về cảm giác, tri giác, ký ức, vận động... nằm ở
một số vùng trên vỏ não. Kỹ thuật điện não đã giúp
phát hiện, thậm chí kích thích được sự phản ứng của
tế bào não ở các vùng đó.
Vậy
có một hứa hẹn nào để tìm ra cái nơi phát sinh Tôn giáo
tính của con người? Có thể có một “sinh học về Chúa”
theo cách đó không? Thậm chí có thể tìm ra những tế bào
não làm chức năng Tôn giáo tính không? Đã xuất hiện một
từ ngữ “Neuro-Apotres” (Những vị tông đồ-Tế bào não)
để chỉ những người trong nhiều ngành khoa học như sinh
học, y học, sinh lý thần kinh học, tâm thần học, cả nhân
học nữa... đang đi theo hướng tìm ra những dấu hiệu về
các kinh nghiệm có tính tôn giáo hoặc gần hoặc xa, do các
tế bào não gây ra và dẫn chúng ta đến chỗ tin rằng có
Chúa theo một nghĩa dù mơ hồ nào đó.
Đã
xuất hiện một từ ngữ “Neuro-Apotres” (Những vị tông
đồ-Tế bào não) để chỉ những người trong nhiều ngành
khoa học như sinh học, y học, sinh lý thần kinh học, tâm thần
học, cả nhân học nữa... đang đi theo hướng tìm ra những
dấu hiệu về các kinh nghiệm có tính tôn giáo hoặc gần
hoặc xa, do các tế bào não gây ra và dẫn chúng ta đến chỗ
tin rằng có Chúa theo một nghĩa dù mơ hồ nào đó.
Nhưng
tiếc thay, kết quả lại không có gì là khả quan lắm. Trong
khi một số người quả quyết rằng có những vùng gây các
xúc cảm liên quan đến các lễ nghi tôn giáo, thì những người
khác lại cho rằng, đây là những ảo ảnh do hoạt động
bất thường của não mà ra. Chẳng hạn, tiếng nói mà các
nhà tiên tri nghe thấy chỉ là những ảo giác của thính giác,
do sự hoạt động bất thường của thùy thái dương bên trái.
Cảm giác về Niết bàn chỉ là hệ quả của sự ngắt mạch
ở một số vùng bán cầu vách phải, thường có thể tạo
ra những hình ảnh giả tạo trong suy nghĩ của người ta, tức
là những lệch lạc tâm lý có nguồn gốc thần kinh học.
Nhưng,
như vậy là chẳng có gì cả sao? Ngay cả khi cho rằng đấy
chỉ là những lệch lạc tâm lý thì trạng thái tâm lý này
chẳng đã tạo ra một ý thức ít nhiều về cái Thiêng, là
một cầu nối cần thiết cho sự tồn tại của con người?
Từ xa xưa, nhờ cái cầu nối ấy mà đời sống phàm tục
không hoàn toàn bị cắt lìa với những tín ngưỡng về cái
Thiêng, về một cái gì “bên kia” cuộc sống. Điều ấy
chẳng phải là cũng có ích lợi cho cuộc sống hay sao?
Một
số nhà tâm thần học như Jeffrey Save hay Jonh Rabin thì cho rằng
khôn ngoan nhất là có một cách nhìn dung hòa, bằng lòng với
việc xác định được đường viền trên vùng não ở vùng
thái dương nơi đã tạo ra những ảo ảnh như vậy mà gác
lại giả thuyết về sự tồn tại của thần thánh. Tóm lại,
số đông các nhà nghiên cứu về thần kinh học và tâm thần
học đều tránh trả lời thẳng vào các câu hỏi về sự
tồn tại của Chúa. Họ chỉ nhấn mạnh rằng những nghiên
cứu và hiểu biết của họ đang nhắm vào cơ năng của bộ
não có liên quan đến niềm tin của con người.
Erich
Fromm, người đã sử dụng chữ "linh hồn" để chỉ một trạng
thái tâm lý ngoài lý trí
Nói
đúng ra, đó là thái độ kiên trì quan điểm nhị nguyên về
bản chất con người, quan điểm mà Decarte đã đề xướng
rằng, có một linh hồn phi vật chất cùng tồn tại với cơ
thể. Nhà y học giải Nobel là John Ecelos bảo vệ quan điểm
này. Dù vậy, vẫn có một số đồng nghiệp trong y khoa của
ông khó chia sẻ được một quan điểm về linh hồn như vậy,
nhất là qua thực tế trị liệu. Vì rằng, nó gây ra những
mơ hồ, đáng lẽ phải xác định chỉ có bộ não là cơ quan
suy nghĩ nằm trong sọ chúng ta, thì lại nói đến một thứ
tinh thần /não bộ. Tuy nhiên, sự mơ hồ này cũng không dễ
gì khắc phục được trước một sự thật rằng ngay cả
những quan điểm duy vật nhất nguyên, cho đến nay cũng bị
đặt thành vấn đề, một khi người ta nhận ra rằng, thế
giới không chỉ là vật chất mà còn là năng lượng và là
thông tin nữa. Cần phải thận trọng về một chủ nghĩa duy
vật thô thiển có thể dẫn thẳng đến chủ nghĩa thần bí.
Chẳng hạn một chủ nghĩa duy vật sẽ nói gì về cấu tạo
AND của từng con người? Đây là một lĩnh vực rất phức
tạp mà ta không đủ điều kiện bàn đến ở mục này. Hãy
trở lại với lĩnh vực tâm lý học.
Ngoài
việc tìm kiếm các cơ sở sinh lý học của tâm lý, tâm lý
học tôn giáo còn phải đi xa hơn nữa vào cái phần đặc
trưng của nó như một đối tượng bắt buộc nó phải đề
cập đó là linh hồn. Ở đây, ta đứng trước một cách đặt
vấn đề khác hẳn với tâm lý học truyền thống, một tiếp
cận mới của Erich Fromm. Ông viết: "Khoa tâm lý học hàn lâm,
cố bắt chước các khoa học tự nhiên và các phương pháp
của phòng thí nghiệm như cân và đếm, đề cập đến mọi
vấn đề, chỉ trừ linh hồn. Nó cố tìm hiểu những phương
diện của con người có thể khám nghiệm trong phòng thí nghiệm
và tuyên bố rằng lương tâm, những phê phán về giá trị,
sự hiểu biết về ThiệnÁc là những khái niệm siêu hình,
ở ngoài những vấn đề không đáng lưu ý, thích hợp cho
một phương pháp mới để nghiên cứu những vấn đề có
ý nghĩa về con người. Tâm lý học, như vậy đã trở thành
một khoa học thiếu hẳn cái đề tài chính yếu của nó là
linh hồn. Nó chú trọng đến cơ năng, sự tạo thành phản
ứng, bản năng, nhưng không chú trọng đến những hiện tượng
nhân văn đặc biệt nhất như: tình yêu, lý trí, lương tâm,
giá trị... Bởi vì danh từ “linh hồn” bao hàm những năng
lực cao cấp hơn của con người, nên tôi dùng nó ở đây
hơn là dùng những danh từ tâm lý hay tâm thức”.
Phép
Thiền (Zen hay Meditation) tuy xuất phát từ Phật giáo Châu Á
nhưng lại được người Phương Tây "mượn" để giải tỏa
căng thẳng đời thường và tập trung tinh thần.
Tất
nhiên, cần hiểu chữ linh hồn của Fromom không phải là một
cái hồn sẽ thoát ra khỏi cái xác vào lúc nào đó. Với danh
từ này, ông chỉ nhấn mạnh đến những trạng thái tâm lý
ngoài lý trí. Cũng như Freud, ông muốn ngăn lại khúc khải
hoàn của lý trí độc tôn. Một môn tâm lý học đích thực
phải đặt lý trí trong sự tương tác với các trạng thái
tâm lý khác, ở đây lý trí cũng bị các dục vọng, đam mê
làm cho méo mó và chỉ có tìm hiểu những đam mê của con
người mới có thể giải thoát lý trí và làm cho nó điều
hành một cách thích đáng.
Với
phân tâm học, có thể là người ta đã tiến được một
bước khá xa để giải phóng lý trí khỏi dục vọng. Nhưng
chính cách đặt vấn đề đó lại dẫn tới chỗ, cần phải
thoát ra cả lý trí và dục vọng thì mới giải phóng được
linh hồn. Và đây chính là một chủ đề mà hầu như mọi
tôn giáo, ngay cả một số tôn giáo ở dạng sơ khai, hình
như đã quan tâm đến từ lâu. Những kỹ thuật thôi miên
của phân tâm học mới chỉ được phát triển gần đây.
Còn các phép Thiền thì sao, nó đã có một lịch sử lâu dài
trong các tôn giáo lớn. Chữ Thiền được dùng ở đây theo
cả nghĩa chữ Zen và cả chữ Méditation (thiền định, định
tâm).
Đó
là sự tập trung tinh thần, có thể mang tính cách một sự
cầu nguyện nhưng không nhất thiết. Điều chủ yếu là tập
trung tinh thần, để dễ tập trung thì có thể tựa hoặc mượn
một chủ đề triết học hay tôn giáo nào mà định tâm, đi
tới một trạng thái tư tưởng sáng tỏ. Đó chính là hiệu
quả của sự tiến triển tâm linh.
Đối
với nhiều người phương Tây, nó hướng tới chân lý vĩnh
hằng của kinh thánh. Với Châu Á, nó là một cái nhìn thâu
suốt cuộc sống, hiểu được bản thân mình và giải thoát
tinh thần khỏi những ngẫu nhiên và những dục vọng.
Cõi
Thiêng, cái gì đó "bên kia" cuộc sống phải chăng cũng là
điều có lợi với cuộc sống?
Với
người Ấn Độ, thiền định (dhyana) là tập trung tâm linh
hướng tới sự giác ngộ. Trong Phật giáo, Thiền là một
môn tu luyện có mục đích tự thân, đi tới một linh nghiệm
siêu lý trí. Với các tín đồ Lạt ma theo Mật tông, thì đó
là sự chiêm nghiệm về qui luật của vũ trụ. Trong Ấn giáo,
đó là những kỹ thuật yoga về nhận thức. Trong Đạo giáo
Trung Hoa, thì đó là những kỹ thuật khí công. Những phép
thở để dẫn khí và tập trung tinh thần đã được nhà nhân
học người Pháp Henri Masper mô tả rất chi tiết, rất cụ
thể trong cuốn “Đạo giáo và các tôn giáo ở Trung Quốc”.
Ngay
lúc này, trên thế giới cũng đang nảy nở rất nhiều trường
phái Thiền ở các nước công nghiệp, như một giải pháp
tìm về tâm linh, mà không nhất thiết phải mang danh nghĩa
một tôn giáo nào. Ở nước ta, Thiền rất phổ biến trong
Phật giáo đã đành, cũng tạo thành những chi phái riêng trong
một số hội thánh Cao Đài. Thiền, Yoga, khí công cũng có
nhiều phương cách khác nhau ở nước ta hiện nay, tất nhiên,
không tránh khỏi có lúc như một phong trào hời hợt thay cho
thể dục cơ bắp.
Một
môn tâm lý học hướng về linh hồn hay nói khác đi, môn tâm
linh học đang hình thành. Nó mời gọi sự hợp tác của nhiều
lĩnh vực khoa học, tập hợp những hiểu biết tích lũy được
qua hàng ngàn năm của các tôn giáo, giúp con người tiến xa
hơn nữa, cao hơn nữa để tự biết về mình. Không phải
ngẫu nhiên khi nói đến Thiền định, người ta lại nhớ
đến câu nói nổi tiếng của triết gia Socrate: “Hãy hiểu
bản thân ngươi, rồi ngươi sẽ hiểu được vũ trụ và thần
thánh”.
Hơn
thế nữa, Thiền còn có nhiều hình thái rất cụ thể trong
đời sống mà không phải chỉ trong tâm linh. Người ta cũng
đang tạo ra một không gian Thiêng của Thiền trong và ngòai
các cơ sở thờ tự, tạo thành một nếp sống thường nhật
qua các việc làm thể hiện sự kiên nhẫn, cần cù, sự quan
tâm đến cái thuần khiết, giản dị. Người Nhật Bản đã
khéo léo áp dụng Thiền vào nhiều mặt của đời sống, vào
mỹ học, vào võ sĩ đạo, vào thuật làm vườn, thuật cắm
hoa...
Tóm
lại, phép thiền ở mọi tôn giáo thật ra là một cách tìm
kiếm tôn giáo tính dựa trên khả năng của mỗi người, vượt
qua cái ngưỡng của cả lý trí và dục vọng của mình để
đạt tới cái Thiêng.
Phạm
Bích Hợp
(Tạp
chí Tia Sáng)
Người
gửi: Diệu Tịnh
05/07/2006