THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Phật Học Cơ Bản
Phật Học Phổ Thông
Phật Học
Tâm Lý Học Phật Giáo
Triết Học Tánh Không

 
.
ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG
Nhất Hạnh
Lá Bối xuất bản
Mục Lục
01
02
03
04
 05
21. Góp nhặt hoa lá 
22. Tiếp xúc và Tiếp trợ 
23. Lịch hành hóa năm 2002 của Sư Ông Nhất Hạnh
24. Khóa tu cho người Việt

Góp nhặt hoa lá
Sư cô Chân Không ghi

Những nét đặc biệt Việt Nam, cháu đã làm rơi rớt trên đường tị nạn 

Trúc mới mười tám mà đã vào năm thứ hai đại học. Cháu rời Việt Nam lúc ba tuổi, nói tiếng Anh như con gái Hoa Kỳ, thanh tao và quý phái. Cháu không có thao thức trở về Việt Nam như bố mẹ. Cháu nghĩ phải quên hẳn mình là người Việt Nam. Tại sao phải là người Việt? Những người Hoa Kỳ cháu giao du đều thanh nhã, không nói xấu nhau như người Việt. Tới chùa mà cũng toàn nói chuyện thị phi, cháu chẳng muốn nghe tí nào. 

Năm nay Bố mẹ rủ cháu đi Âu châu, đi thăm các núi tuyết Thụy Sĩ, đi thăm các quạt gió Hòa Lan, xứ có đất thấp hơn mặt biển. Sau đó đi xem kinh đô La Mã cổ kính. Cháu thích quá. Nhưng bố mẹ giao hẹn là phải đồng ý để cả gia đình ghé qua Làng Mai một tuần. Mình sẽ đi thăm Âu châu hai tuần còn lại. Trúc đồng ý. Xe đón gia đình Trúc về đến Làng Mai lúc 5 giờ chiều. Phòng ốc gì mà tồi quá. Mỗi giường ngủ là một tấm ván đặt lên trên bốn phiến gạch đỏ cao độ năm mươi phân, trên đặt một tấm nệm bọc khăn trải (drap) và một chiếc túi ngủ, thế thôi. Ban đêm đi vệ sinh phải ra ngoài đi một khoảng xa mới tới. Mai mốt về Việt Nam với bố mẹ, chắc nhà cửa cũng tồi như thế. Nói là Làng Mai nhưng cũng lại là chùa. Mẹ thì khi nào cũng thế. Hồi còn bé, mỗi lần rủ Trúc đi chùa mẹ hứa cho năm đô la Trúc mới chịu đi. Nhưng lâu lắm rồi vì không cần năm đô la nữa nên Trúc không chịu đi chùa. Về đây cảnh quê sao buồn quá, có gì đâu mà ba mẹ đòi về cho được. Trúc đi lang thang ra vườn mận. Trái còn xanh. Chợt phía đầu kia có một thiếu phụ người Tây phương tóc vàng rất sang trọng đang đi ngược lại con đường mòn. Cô ấy chắp tay chào Trúc. Ơ này, người Tây phương mà cũng biết chắp tay xá chào ư? Trúc lúng túng chắp tay chào lại. ‘‘Hello? Chào cô!’’ A, cô ta cũng nói tiếng Hoa Kỳ. ‘‘Cô từ đâu tới thế?’’ ‘‘Từ Hawai. Còn em?’’ ‘‘Từ Cali.’’ 

Hàn huyên một hồi Trúc biết được cô ta là bác sĩ, giáo sư chuyên về bệnh ung thư, dạy trường Y Khoa Viện Đại Học Hawai. Cô sang đây với chồng là giáo sư Nhân Chủng học cũng ở Đại Học này. Chồng cô đang đưa hai con đi họp với quý thầy về việc sinh hoạt thiếu nhi. Trúc rất ngạc nhiên. Tại sao người trí thức bậc thầy của Trúc mà cũng lặn lội từ xa đến đây để làm gì? Tò mò Trúc hỏi: 

- Tại sao gia đình bà lại tới đây? Tại sao lại tới chỗ núi non hiu quạnh này? Và bà còn nói là sẽ ở đây luôn suốt tháng! Để làm gì vậy hả bà? 

- Để làm gì à? Thế thì em đến đây để làm gì? Cái ông thầy Việt Nam này, em biết không, nếu không được ông mở mắt cho thì tôi và nhà tôi đã bỏ nhau từ khi cháu Marion mới còn ba tháng. Năm nay nó bảy tuổi. 

Một anh chàng người Đức, đến tự bao giờ, nghe hai người nói chuyện, cũng chen vào: 

- Còn tôi nữa nè. Nếu không có cái ông thầy tu này thì chắc tới khi mẹ tôi chết đi, tôi cũng không nhìn mặt bà. Nhờ tu với thầy mà tôi hiểu được mẹ tôi và đã về làm hòa với mẹ tôi sau hai mươi lăm năm không nhìn mặt nhau. Hôm nay tôi đưa mẹ tôi sang Làng, trước là để hai mẹ con có dịp cám ơn thầy, sau nữa là để tu tập một tuần cho mẹ tôi có dịp làm quen với nếp sống chánh niệm. 

Sáng nay trong bài pháp thoại Sư Ông có nói một câu khiến Trúc quá xúc động. Sư Ông nói: ‘‘Nếu ta hỏi một cái bông sen: ‘Sen ơi, sen hãy nói cho tôi nghe về những cái đẹp và cái hay của loài sen để tôi có thể giới thiệu với người chưa biết sen’, thì bông sen sẽ cười lên và nói. ‘Cái bác này thật ngớ ngẩn. Bác chỉ cần nhìn tôi thật kỹ thì tất cả tính ‘sen’ của tôi sẽ hiển lộ.’ Cũng như thế, khi ta nhìn vào một cô gái Việt Nam, nhìn thật chăm chú mà không thấy biểu lộ được cái gì diễn tả được cái đẹp của nền văn hóa Việt Nam thì cô gái ấy đã làm rơi rớt tất cả những cái đẹp Việt Nam trên con đường tị nạn. Cướp biển có thể cướp hết vòng vàng kim cương của ông bà, nhưng cướp biển không cướp được những nét văn hóa đặc thù mà tổ tiên Việt Nam đã truyền lại từ mấy nghìn năm. Nhìn một chú bé hay một cô bé Việt, biết đi thưa về trình, biết chắp tay chào khách đến nhà: ‘‘Chào bác đến chơi ạ, bác cho phép cháu đi vào phòng học làm bài ạ’’ thì mình biết đó đích thực là một cô bé hay một chú bé Việt Nam. Cách hành xử không giống cách hành xử một cô gái hay một cậu trai Tây phương. Con sẽ giàu có gấp hai một bạn Tây phương nếu con có hai nền văn hóa. Đến trong không khí Việt Nam thì con người có hai nền văn hóa sẽ hành xử đẹp đẽ đầy phong cách của một thanh niên Việt mà lại có được thêm nét lịch sự và tự nhiên của người Tây phương. Đi vào môi trường Tây phương thì cô ấy cũng sẽ hành xử như một người Tây phương thật quý phái theo lối Tây mà lại có thêm những cái đẹp tế nhị và dịu dàng của văn hóa Việt Nam nữa.’’ 

Ngày hôm sau, Trúc hỏi thăm mượn mẹ chiếc áo dài Việt Nam để mặc vào mà đi nghe pháp thoại của Sư Ông. Trúc xin mẹ mua cho mấy chiếc áo bà ba bán trong quán của Làng. Trúc chạy vào thư viện hỏi thăm sư cô những cuốn sách về lịch sử và địa dư Việt Nam. Trúc còn xin sư cô cho Trúc mượn cuốn sách về các câu ca dao và tục ngữ Việt Nam. Ngày Mẹ chuẩn bị rời làng đi Thụy Sĩ, Trúc nhất quyết đòi ở lại nhưng bố không chịu. Trúc phải đi theo nhưng Trúc hứa với các bạn là sang năm Trúc sẽ đi làm kiếm tiền tự túc đi sang Làng Mai tu học, không phải nhờ tiền bố mẹ nữa. Gia đình Trúc đi Thụy Sĩ được ba hôm thì đến ngày thú tư, sư cô chợt bắt gặp Trúc ngồi thiền sáng trong thiền đường Nến Hồng. Trúc nhoẻn miệng cười báo tin: ‘‘Con đã để bố mẹ đi chơi một mình. Con trở lại làng tu học. Con về đến Làng khuya hôm qua nên chưa kịp chào sư cô.’’ 

Má gạt con 

Sau khi đọc xong thời khóa biểu mùa Hè của Làng Mai dán trên tường, Linh 13 tuổi - thảng thốt kêu: ‘‘Má ơi, má nói đưa chúng con đi chơi mà sao tới đây con thấy chỗ này giống như một cái nhà tù vậy má? Má gạt tụi con rồi!’’ - Linh phụng phịu: ‘‘Con nghỉ chơi má. Con không chịu, con không chịu!’’ Má Linh năn nỉ: ‘‘Con thương, con chiều má chút đi, má thích tới đây tu học vài ngày, sau đó má con mình mới đi ra biển. Con nhé, chiều má vài ngày nhé. Con tham dự được sinh hoạt nào thì tham dự, còn không thì thôi, không ai bắt buộc con đâu.’’ 

Linh tức lắm nhưng vì thương má nên im lặng chịu đựng. Em đi ra khỏi phòng, dạo chơi trong xóm. Có đám con trai cũng cùng lứa tuổi mình đang chơi banh rộn ràng. A, cũng vui, Linh nhào vô. Ngộ quá, có cả con gái nữa. Con gái mà cũng thảy banh và đá banh như mình. Đang chơi bỗng có tiếng chuông, các bạn dừng lại. Đang ngơ ngác, Linh được một cậu bé bên cạnh thì thào vào tai ‘‘Thở đi, đừng suy nghĩ gì hết, sau ba hơi thở sẽ chơi lại.’’ Linh làm thử và thấy cũng được. Tiếng chuông cũng không phiền gì mình lắm. Đang chơi ngon trớn bỗng lại nghe chuông đổ, ‘‘Tới giờ ngồi thiền rồi’’, Linh tưởng đó là chuyện của má và các má ba khác. Ai dè mấy đứa nhỏ đứa nào cũng buông banh. Chúng rủ Linh: ‘‘Vô ngồi thiền, ngồi chơi thôi, vui lắm.’’ Dù cuộc chơi bị ngưng nhưng ngồi yên hai mươi phút cũng không tới nỗi nào. Thấy nét mặt má rạng rỡ vì vui mừng, Linh cũng thương. Thôi thì đi ngồi thiền cũng vui. Một sư chú tới giải thích cho Linh, ngồi thiền là để cái đầu mình lặng yên và cái bình tĩnh của mình lớn thêm, để cho mình thấy rõ mọi việc. Việc gì cần phải giải quyết sẽ được giải quyết hay hơn. Nghe cũng có lý. Ngày qua ngày, Linh được chơi, được đi ngồi thiền với các bạn nhỏ và các sư chú, được ăn cơm rất ngon (cơm không có thịt cá mà tại sao ngon quá chừng, lạ quá!), được đi nghe Sư Ông thuyết pháp. Linh rất thích đeo ống nghe lên để nghe Anh ngữ khi Sư Ông nói tiếng Pháp. Má Linh thì hình như đã nhẹ nhàng ra, bà đã biết lắng nghe mấy anh em của Linh, mỗi khi Linh có ý kiến. Không khí dễ chịu quá. Linh lại làm quen được nhiều bạn. Tụi đó ở đây sao không giống mấy đứa trong trường. Đứa nào cũng dễ chịu hơn tụi bạn trong trường. Lạ là đứa nào cũng giống Linh, cũng không ưa đi chùa. Ba hay má đi chùa hoài bắt mình đi theo và bắt mình đọc những bài kinh mà mình chẳng hiểu gì hết. Còn ở đây mình tuy không ưa ngồi thiền lắm nhưng khi đọc kinh thì mình nghe rõ và hiểu hết. Mình sẽ thưa với má là sau nầy có đi chùa, má phải đem cuốn kinh nầy theo thì mình mới chịu đi tụng kinh. Sư chú nói cả nhà nên thỉnh một cuốn Nhật Tụng Thiền Môn toàn bằng quốc văn nầy về, rồi tối tối cả gia đình ngồi tụng một bài ngắn trước khi đi ngủ, hoặc là cùng tụng chung một thời kinh chiều thứ bảy hay sáng sớm chủ nhật để bắt đầu ngày cuối tuần cho đầm ấm và vui vẻ trong gia đình. Mất thì giờ chút đỉnh nhưng cả nhà được nhắc nhở về không khí nhẹ nhàng dễ chịu của Làng Mai. Linh thấy có lý, bởi vì không khí gia đình Linh cũng không vui gì lắm. Má cứ cằn nhằn ba hoài, ba thì im lặng nhưng không nghe lời má, rồi khi má nói dai quá thì ba hét lên. Hai người to tiếng thường xuyên, nghe thật nhức đầu. Cuối tuần Linh phải xin đi đó đi đây để khỏi nghe cha mẹ trách móc và rầy rà nhau.

- Linh, Lan và Thủy! Ngày mai tụi con chuẩn bị áo quần sắp xếp cho gọn. Ngày mốt mình đi biển. Má tuyên bố sáng nay như vậy.

- Lan la lên ‘‘Oh! no, no. Má ơi, con hổng đi đâu hết, con không thích đi biển đâu’’ 

Linh thấy em mình có lý, tại sao phải đi biển? Ở đây có nhiều thứ vui hơn nhiều. Các sư chú các sư cô người nào cũng rất dễ thương, các bạn đứa nào cũng chơi được. Mấy bài giảng của Sư Ông Not bad at all, I even loved them a lot tại vì sư ông nói đúng những điều mình nghĩ, những điều mà ở nhà má và ba không đồng ý nhưng về đây thì má lại đồng ý. Kỳ tới mình phải ráng rủ ba đi theo mới được. Với lại mình cũng thích Tuấn, mình cũng thích Minh nữa. Tánh tụi nó giống mình nhiều thứ lắm. Tuấn ở Paris, Minh ở Thụy Sĩ còn mình ở tận Portland Hoa Kỳ, làm sao có dịp gặp lại? Cả ba đứa con đều nhất định không đi đâu hết. Má đành điện thoại hủy bỏ chuyến đi nghỉ mát ngoài biển. Thế là bốn mẹ con sẽ ở tới cuối khóa tu của Làng. Căn phòng mà gia đình Linh đang ở vốn đã dành cho một gia đình khác vào tuần tới, nhưng sư chú hứa sẽ can thiệp để có chỗ cho bốn mẹ con ở thêm ba tuần. Một căn phòng xấu hơn và chật hơn chút xíu, nhưng có sao đâu? 

Rượu Bordeaux đâu hả mẹ? 

- ‘‘Rượu Bordeaux đâu hả mẹ? Tại sao mẹ gạt hai anh em con? Long sắp ra kỹ sư điện toán, sắp lấy vợ được rồi. Con thì cũng gần ra Y Khoa, tụi con đâu phải con nít mà mẹ gạt anh em con như thế?’’ Khải giận dữ hỏi mẹ. Mẹ hai em đã nói với hai em rằng đi chơi chỗ này với mẹ, gần Bordeaux. Rượu Bordeaux nổi tiếng thế giới, lại được tắm biển. Bây giờ về đây giống như ở trong một cái trại lính. Mới sáu giờ sáng, mùa này là mùa nghỉ hè, mà đã có tiếng chuông và mọi người bị dựng dậy đi ngồi thiền. ‘‘Tụi con đâu có thèm đi. Má bắt đền cho tụi con đi. Đi về, đi về liền... tụi con không ở đây giờ nào nữa hết. Không ăn sáng, cũng không đi nghe thuyết pháp.’’ 

Bà Xuân níu áo sư cô cầu cứu. Mấy mẹ con mới vừa từ Anh quốc tới. Hèn chi chiều hôm qua, khi ba mẹ con tới Làng, bà Xuân cứ bắt các cháu: Chào sư cô đi con. Thưa sư cô, hai đứa con trai của con đây, cháu nầy tên Khải, cháu nầy tên Long. Sư cô đâu có biết má gạt hai con; đưa con về Làng Mai mà cứ nói đi tắm biển và thử rượu Bordeaux! Nếu biết thì sư cô đã chuẩn bị tinh thần cho hai cậu trước. Đằng nầy vì tưởng họ thích tu nên sư cô đã gửi hai cháu về Xóm Trung giữa những người Việt Nam trẻ. 

Sư cô nói: - Bây giờ là hai giờ trưa. Thường thì xe đưa người và đón người mỗi ngày một lần thôi. Nhưng đặc biệt với tụi con (vì bị má gạt) sư cô sẽ tìm người đưa các con ra ga xe lửa liền. Tuy nhiên các con lớn rồi, sư cô cần cho tụi con biết là ở các trường từ tiểu học tới đại học, các con học đủ thứ hết nhưng có ai dạy con hành xử như thế nào khi các con cô đơn, khi các con giận dữ hay khi các con tuyệt vọng vì mất người yêu không? Có ai dạy nên đối trị như thế nào với những cơn sợ hãi? Vì cái sợ tuy thầm thầm nhưng có ảnh hưởng rất tiêu cực đến cách hành xử của mình trong cuộc đời. Nói về cơn giận thì ai cũng biết là khi mình giận, mình làm bậy, nói bậy, đánh mất người yêu như chơi. Có thể mất vợ, mất sở làm là chuyện thường... Biết vậy mà khi ai chọc giận thì mình đổ quạu đổ lì ra, gây biết bao đổ vỡ. Sư cô mong hai con học được phương pháp đối trị cơn giận, trước khi xe đưa hai con ra nhà ga để trở về Anh quốc. Thôi để sư cô chia sẻ cấp tốc. Nhưng nghe chỉ là để biết lý thuyết thôi. Mình cần có giờ luyện tập để mình có thể kịp dừng lại khi bất ngờ nổi cơn. Ở Làng Mai đây mỗi khi nghe chuông, ai cũng phải dừng lại để thở. Mục đích tiếng chuông là giúp ta dừng lại bất thình lình để thở, để buông thư cho nhẹ và cũng để có thể dừng lại bất ngờ mỗi khi có xúc cảm mạnh. Đang nói ngon trớn mà bắt dừng lại thì lúc đầu cũng bực. Khi có một chuyện bất ưng ý, mình sắp nổi khùng thì hơi thở chánh niệm cũng có thể giúp mình ngưng lại như khi nghe tiếng chuông vậy. Nhớ khoan nói, khoan làm gì hết. Cần phải tập an cái tâm mình trước đã. Thiết lập lại sự bình tĩnh sáng suốt rồi mới nên nói năng hay hành động. An tâm bằng cách đi thiền hành là dễ nhất. Cứ tiếp tục công việc thường ngày của mình trong chánh niệm. Đi bộ chỉ nhớ để ý tới bước chân. Lái xe chỉ nhớ để tâm nhìn trước nhìn sau, nắm vững tay lái mà không suy tư gì khác. Khi giúp má dọn bàn ăn thì chỉ để tâm tới sự dọn bàn thôi. Ăn cơm cũng chỉ tập ăn cơm, đừng ăn cái giận. Khi cái giận trở về thì mình tự nói: Đã đành là tình trạng đáng giận thật, nhưng mình sẽ cố tâm giải quyết vấn đề này cho thật hay mà không làm tổn thương đến ai thì mới gọi là thành công. Tiếp tục nhận diện cơn giận của mình, chấp nhận nó mà không phán xét khen chê. Để nó đó mà đi lo làm việc khác cho đến khi nào để tâm nhớ tới chuyện bực mình đó mà mình thấy trái tim đã bớt hậm hực. Rồi từ từ mình sẽ tìm ra lý do tại sao mình giận, rồi hai rồi ba nguyên nhân của cơn giận.. Và khi thấy ra, hiểu ra thì lòng thương phát sinh và cơn giận dịu xuống. Ở đây ít ngày để luyện cho tâm mình đừng đi buông lung, luyện cách nhìn sâu trong giây phút hiện tại để trân quý những cái tích cực mà mình đang có và từ từ giải quyết những khó khăn với tất cả nghệ thuật sống. Ở Làng Mai, trong khi ăn cơm không ai nói chuyện. Đó là để tiếp xúc sâu sắc với thức ăn và những người ngồi quanh mình. Được mẹ cho ăn canh chua có ngò gai thơm phức, nhưng nếu khi ăn mình mải nghĩ về một dự tính nào đó hay nói chuyện lung tung thì mình sẽ quên để ý tới món canh! Ăn xong mới nhớ thì uổng biết bao... 

Có tiếng chuông báo hiệu giờ pháp đàm. Sư cô bảo hai cháu vào tạm ngồi chơi với nhóm những người bạn cùng lứa tuổi. Khải và Long miễn cưỡng vào ngồi. Sư cô đề nghị mọi người tự giới thiệu và cho biết ngọn gió nào đã đưa mình tới Làng. Đây là chàng Ân, Ân đang học Y khoa ở Đức: Mình về Làng lần này là lần thứ ba. Lần đầu là vì nghe người ta nói những điều không dễ thương về Làng, Ân muốn tới tận mắt xem nó xấu tới bực nào. Ai dè về thấy cảm động vô cùng. Mùa Hè năm sau thì thấy anh bạn thân quý của Ân đã ‘‘rụng tóc’’ để trở thành sư chú rồi. Năm nay về thì một cô bạn khác của Ân cũng đã ‘‘rụng tóc’’và trở thành sư cô. Ân thì chắc không đi tu nhưng Ân biết về đây Ân học được quá nhiều điều mà trong đời không ai dạy Ân hết. Kế bên Ân là Điệp, Điệp sau khi tốt nghiệp Trường Sư Phạm Cali đã trở nên cô giáo tiểu học tại đây. Điệp nói: Điệp ưa dạy trẻ em vì Điệp chán người lớn bởi người lớn rắc rối quá. Ban đầu Điệp nghĩ tuổi trẻ ngây thơ dễ chịu nhưng khi đi vào nghề thì thấy không phải thế. Còn nhỏ mà sao tụi học trò của Điệp bạo động dữ dằn quá. Hỏi ra thì chúng cũng đến từ những môi trường rất bạo động, cha mẹ đánh đập nhau chửi bới thô tháo... Vào lớp, không vừa ý nhau chúng cũng đập nhau. Có bữa Điệp ngồi khóc luôn. Chiều nào về đến nhà tâm trạng của Điệp cũng hết sức thảm thương. Về đây Điệp được Sư Ông dạy nhiều điều mà không có trường nào dạy hết...

Có tiếng xe ngừng. Sư cô Chân Không đến gần Khải, nói nhỏ:

- Xe tới. Khải và Long lên xe để ra ga.

- Thưa sư cô, chúng con cám ơn sư cô. Chúng con không về Anh nữa. Chúng con muốn ở luôn cho đến khi mẹ về thì mới cùng về. Rồi Khải quay về hướng mẹ, nháy mắt và gửi đến mẹ một nụ hôn bằng bằng tay ra dấu hiệu. 

Không buổi Pháp thoại nào của Sư Ông mà vắng bóng hai anh em. Khải và Long ra quán sách mua tất cả các cuốn sách viết bằng tiếng Anh của Sư Ông và lần này chắc các cháu sẽ đọc sách Sư Ông rất kỹ. Mẹ cháu nói: Em đã từng làm bộ bỏ quên sách trên bàn của chúng nó, mà chúng nó có chịu đọc đâu! Sư cô tha lỗi cho em vì tội em đã nói láo với tụi nhỏ. 

Khổ trăm lần hơn Thúy Kiều 

Betty hai mươi bảy tuổi, người Âu, da trắng, mắt nâu, tóc nâu hớt cao, thanh nhã, dáng ngưòi mảnh mai, nhưng đôi mắt rất lạ lùng. Đôi mắt như của một con người đang sống ở thế giới khác. Dáng điệu sợ hãi, bồn chồn, nhìn ai cũng không dám nhìn thẳng. Người cô bơ phờ, chân đi thất thểu như một bóng ma. Thầy căn dặn sư cô Chân Không thay Thầy đi gặp cô ta, vì hôm nay Thầy được thư của cô bảo rằng cô ngồi thiền không được, rằng cứ mỗi khi ngồi yên thì cô lại thấy bóng của ‘‘hắn’’ hiện ra sừng sững và trừng mắt nhìn cô. Hắn là một trong ba người mà cô đã buộc lòng phải giết vì nếu không thì cô sẽ bị hắn giết trong vụ buôn lậu thuốc phiện. Bàn tay cô đã đẫm máu của ba người rồi. Cô xin Thầy cho cô được sám hối theo nghi thức với một tăng thân mà cô có thể tin cậy. Hôm đó Thầy, sư cô Chân Không, một thầy và một sư cô khác nữa của Làng đã được mời ngồi xuống để làm chứng cho Betty xưng tội. Em có cha nhưng đã mất mẹ. Cha em là chủ một đường dây bán dâm rất lớn ở Âu châu. Mới năm tuổi em đã bị cha em hãm hại rồi gửi vào đoàn quay phim khiêu dâm. Anh của em tên là Nick, con trai, cũng đã bị đi bán dâm như thế. Mỗi lần bị đưa đi làm chuyện kinh khiếp đó, về đến nhà hai anh em ói mửa suốt ngày và cứ đem những cục xà bông ra mà ăn. Đó là thú vui duy nhất của hai anh em cho tới khi Nick bị giết chết vì anh từ chối làm việc cho cha trong những chương trình kế tiếp. Betty có thai lúc mười ba tuổi khi thân hình em đã nảy nở như một thiếu nữ. Dù ghê tởm các hành động loạn luân của cha, em vẫn muốn giữ cái thai vì em nghĩ đó là cách duy nhất để em có một mầm sống mà thương sau khi anh của em đã chết. Nhưng vì những công tác bán dâm mà cha em bắt làm, nên bào thai đã chết. Em đau khổ vô cùng nhưng vẫn không chống lại được cơn thác lũ của guồng máy dâm dục nơi cha em. Ngày qua ngày, cơn thác lũ tiếp tục kéo em đi. Họ gửi em qua Hoa Kỳ để bán thuốc phiện và đi vào nhà chứa, làm nhiều chuyện phi pháp khác. Cuối cùng những người bán thuốc khác giựt số thuốc của em và định thủ tiêu em nhưng vì kịp biết tin nên em đã ra tay trước. Từ năm sáu tuổi tới năm hai mươi lăm tuổi, em hoàn toàn sống trong dòng nước lũ tối tăm nhơ nhớp đó. Sau khi giết đến người thứ ba, em định ra trước pháp luật thú tội, thì bỗng vớ được quyển sách Peace is every step (An Lạc Từng Bước Chân) của Thầy. Đọc xong sách và hỏi phăng ra được Làng Mai, Betty lần mò tới xin tu tập. Em nơm nớp ngày đêm lo sợ dòng thác đen ngòm cũ sẽ tìm lại được em nhưng sau sáu tháng tu tập miên mật ở Làng em không còn sợ hãi nữa. Nụ cười đầu tiên đã nở. Betty từ một con ma thất thểu sợ hãi đã biến thành một thiếu nữ xinh đẹp. Betty trở về nước và quyết chí giúp những thiếu nữ cùng cảnh ngộ như em. Sau ba tháng vào đời, em lại trở về Làng, kiệt quệ vì thiếu sức chịu đựng. Em trở lại làng tu học thêm ba tháng nữa. Sau đó em thực tế hơn. Vì biết nội lực của mình còn đang mong manh nên em chưa dám lăn mình vào địa ngục để cứu người. Em tạm thời hài lòng với nghề học châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, tìm cách để tự túc. Năm nào vào dịp cuối năm Betty cũng không bao giờ vắng mặt ở Làng. Con ma đói ngày xưa ngày nay rất xinh đẹp. Cô đã có gốc rễ ở gia đinh tâm linh của cô: Làng Mai. Ngày mà cô tha thứ được cho người cha đã gửi cô vào địa ngục, cô đã làm một bài thơ. Nhưng cô không gửi cho cha cô mà chỉ gửi cho Thầy như một phẩm vật cúng dường, người đã đưa cánh tay từ bi kéo cô ra khỏi dòng thác nhơ nhớp. ‘‘Thầy ơi, con đã biết thương rồi, đây là bài thơ con viết tặng cha con sau một buổi ngồi thiền và sau khi đã khóc thật lâu. Xin Thầy nhận bài thơ này của con như một món quà hiếu thảo dâng cho người đã dạy con biết thương yêu và tha thứ.’’ 

Cái thấy từ trên trực thăng cao với cây súng máy và sự thật trước một rừng xác người 

Tom sinh ra trong một gia đình Hoa Kỳ say sưa và nghiện ngập. Ngay từ bé, bố mẹ Tom không ngày nào là không đánh đập và chửi bới nhau. Bố bỏ nhà đi, mẹ vẫn tiếp tục say. Một hôm bé Tom, lúc ấy chỉ mới lên năm, bị mẹ xô từ lầu cao, lăn bốn mươi hai nấc thang xuống đất, cùng với chiếc xe đạp của em. Mẹ hét: Để cho mày đi chơi cho đã, chứ sáng giờ cứ càu nhàu xin đi chơi hoài!’’ Bé chảy máu đầu, chảy máu miệng nhưng mẹ vẫn say. Không ai biết để lo băng bó cho Tom hết. Mắt Tom phồng to như một quả chanh. Trưa hôm đó vào lớp, cô giáo hỏi tại sao. Tom nói sự thật. Cô giáo gọi điện về nhà trách mẹ sao không đưa bé đi bệnh viện, mẹ Tom nói: Nó nói láo, nó tự đi chơi, té xe đạp lỗ đầu vậy mà còn dám vu oan cho tôi. ‘‘Vậy mà nhà trường đã tin đó Thầy ơi!’’ Đã bốn mươi tuổi, Tom vẫn còn mếu máo như một đứa bé khi kể đến đây. Tom lớn trong không khí bạo động vì bà mẹ say sưa nghiện ngập. Mới bắt đầu lớn là cậu đã bị chính mẹ ruột của mình hãm hiếp trong những cơn say. Cậu xin về ở với bà ngoại, với hy vọng thoát khỏi những cơn dâm kinh khiếp đó. Nhưng bà ngoại cũng là người say và nghiện như mẹ nên trong một cơn say, bà cũng bắt đầu sờ mó làm Tom hoảng hốt. Giữa khuya, Tom ôm áo quần từ miền Trung Nam Hoa Kỳ lên xe buýt đi lên tận Canada để tìm cha, xin tá túc. Xe vừa đỗ bến giữa cơn tuyết phủ ngút đầu, thì Tom điện thoại gọi cha đến đón. Cha đến nửa giờ sau, chỉ để mua một vé xe buýt cho Tom trở về lại Wyoming. ‘‘Bố không thể nuôi con. Bà bạn sau này của bố dữ lắm. Bà ấy sẽ giết con mất. Bố đã có ba con với bà ấy, làm sao mà bà chấp nhận con được.’’ Tom không về nhà nữa, đi lang thang xin ăn, và làm đủ nghề. Năm mười bảy tuổi, quân đội Hoa Kỳ cần người đi Việt Nam, trả lương rất hậu. Mới mười bảy tuổi, Tom cần sự bảo lãnh của bố mới được tòng quân. ‘‘Điều đó thì dễ rồi, bố có thể bảo lãnh cho con được.’’ Và bố của Tom đã làm đủ thủ tục để Tom được tòng quân đi Việt Nam. Ngày Tom sắp rời Hoa Kỳ bố Tom đã vỗ vai con trai mười bảy tuổi: Quân đội sẽ làm con trưởng thành một cách vinh quang. Tom vốn là một tay thiện xạ, bắn trăm phát trăm trúng. Anh được cử làm người bắn súng máy từ trên trực thăng. Hành quân lần nào anh cũng được thưởng huân chương vì tài bắn giỏi. Trận cuối cùng xảy ra ở Vùng 3 chiến thuật. Người ta bảo Việt Cọng đã về chiếm hết năm sáu làng vùng này. Chúng đông lắm, quân quốc gia không thế nào thắng nổi. Tom được phái đi hỗ trợ bằng trực thăng cho đoàn biệt động quân. Máy bay trực thăng của Tom sà xuống rất thấp và dưới họng súng của Tom thân người ngã quỵ từng loạt. Thỉnh thoảng Tom cũng có thấy được đàn bà, cụ già và trẻ con. Nhưng ở trường võ bị, Tom đã được huấn luyện rằng đàn bà còn giết Mỹ giỏi hơn cả đàn ông nữa và trẻ con cũng là du kích, còn thầy tu, nhất là thầy tu Phật giáo (đầu trọc) cũng là Việt Cọng. Tom bị thương sau ba ngày sà phi cơ trực thăng xuống bắn ngã không biết bao nhiêu người già và người trẻ. Bởi vì Tom là tay thiện xạ gan dạ nhất nên sau khi được băng bó nơi đùi, Tom đã đồng ý nhận lời mời trở ra chiến trường để tiếp tục bắn phá. Jack lái máy bay thật tài. Tom và Jim, một người bạn lính chiến khác, rất hạp với người phi công nầy. Ba anh em không ngủ. Họ ăn mỗi ngày sơ sài vài cái săng uých, uống hằng chục lon bia. Hai anh tiếp tục bắn dưới ánh sáng mặt trời ban ngày và với ánh sáng hỏa châu ban đêm. 

Cho đến ngày thứ tư. Tiếng súng bên dưới hoàn toàn im bặt. Tiểu đoàn biệt động quân báo tin đã rút hoàn toàn về Hội An. Bên dưới không có bóng nguời cựa quậy. Mặt trời lên cao, rừng cây và nhà cửa im phăng phắc dưới ánh sáng ban mai. Nhìn qua ống nhòm xuống từng góc rừng, từng bụi chuối... Tom thấy tất cả đều im lặng. Jack sà trực thăng xuống và đậu ở ven rừng trong thế phòng thủ. Nhảy xuống từ trực thăng, Tom, Jim và Jack nhố mắt, ngơ ngác và hốt hoảng. Mắt họ ngây dại khi họ nhìn thấy toàn là thây người chồng chất lên nhau từng nhóm, từng nhóm. Năm bảy chục ở khu nhà này, một trăm, năm sáu chục ở góc rừng kia. Tom đã tàn sát suốt mấy mươi cây số trọn năm thôn làng. Ôi thây người nằm sát đất, cái lủng ngực, cái lủng bụng và cái lòi óc sao mà rất khác với trí tưởng tượng của Tom trên trực thăng. Cái gương mặt cậu bé mười bốn tuổi này như còn đang há miệng kinh ngạc. Bà lão kia ngằm khoèo như đang say ngủ. Cô bé bốn tuổi đang ngả mình trên bụng mẹ. Em bé vài tháng đang gục đầu vào ngực mẹ mà chết - dưới họng súng của Tom - Tom rùng mình và bỗng hoảng hốt. Từ đó Tom sống 24 năm trong sợ hãi. Cho tới ngày gặp được Sư Ông trong khóa tu tổ chức cho những người cựu chiến binh Hoa Kỳ ở Omega Institute. Trong khóa tu, Tom không dám đi thiền hành vì đi chầm chậm theo lối Sư Ông dạy thì cũng mang máng như kiểu đi hành quân trong rừng, tay ôm súng sẵn sàng chực nổ khi có bóng người cựa quậy. 

Giọt nước Cam Lộ 

Cuối khóa tu sáu ngày, Tom cùng tất cả hơn một trăm người cựu chiến binh đều xin quy y. Họ được Sư Ông tẩy tịnh bằng nước Cam Lộ của bồ tát Quán Âm. Tom và một trăm mười lăm cựu chiến binh đã thực tập thiền ôm với quý thầy ở Làng Mai cùng đi phụ tá với Sư Ông. Ai cũng khóc sướt mướt như trẻ con. Sau đó Tom và Jim được sư cô Chân Không mời sang Làng Mai tu tập trong khóa tu mùa Hè năm đó. Tom không có tiền. Sư cô phải cho tiền mua vé khiến Tom lại bắt đầu hoảng sợ khi ngồi trên phi cơ sang Pháp. ‘Chắc sư cô sẽ đưa mình ra Tòa Án Tội Ác Chiến Tranh.’ Tại sao mình lại khổ như thế này? Mình muốn chữa lành những thương tích trong lòng nhưng trên đất nước này mình đã bao năm sống vất vơ vất vưởng không có một ai thương. Tại sao mấy ông thầy tu đạo Bụt này lại thương mình dữ vậy. Mình đã từng được dạy rằng ở Việt Nam, ông thầy tu đạo Bụt nào, dù bề ngoài có vẻ khả kính cách mấy thì cũng có thể là cọng sản. Thôi đúng rồi, có thể họ đang đưa mình đến tận sào huyệt của họ để xử trảm. 

Vừa xuống phi trường Paris, Tom được anh Cao Thái đón ở sân bay Charles De Gaulle. Anh còn đưa Tom đi xem tháp Eiffel, đi viếng nhà thờ Sacré Coeur trước khi đưa Tom lên xe lửa. ‘Sao họ tử tế vậy hà? Chắc vì họ sắp xử tử mình nên họ cho mình chút ân huệ.’ Tom tự nhủ. Tại Sainte Foy, anh Phạm Thanh Giao ra đón Tom tận nhà ga và đưa Tom tới Làng. Tom rất ngạc vì sự đón tiếp chu đáo nồng hậu. Tom tự hỏi: Một là họ (Làng Mai) thật tốt, trên đời nầy chắc không có người tốt như thế đâu, hai là họ đang âm mưu để đưa mình ra Tòa Án Tội Ác Chiến Tranh và sẽ hành hình mình. Từ tấm bé Tom đã từng bị bố từ chối không cho về nhà giữa mùa Đông tuyết phủ quá đầu, đã từng bị mẹ hãm hiếp, đã từng bị bà ruồng bỏ, đã từng bị cô giáo không tin tưởng khi nói sự thật về hành vi bạo động của mẹ... Làm sao mà Tom tin được rằng có những người tốt trên cõi đời này? Anh Giao đưa Tom về Xóm Hạ, nơi đó anh được các sư cô chào đón niềm nở. Các sư cô đã chọn cho Tom một chiếc giường trong nhà ấm nhưng chiều hôm đó không ai thấy Tom vào ngủ, các bạn báo cáo như thế. Sáng ra, khi được hỏi, thì Tom cho biết là vì ưa ngủ ngoài rừng nên anh đã xin phép được cắm lều ngoài rừng. Suốt tháng đầu ở Làng Mai, Tom cứ trốn hết nhóm pháp đàm này đến nhóm họp bạn khác. Thỉnh thoảng Tom hốt hoảng tới cầu cứu với sư cô Chân Không. Sư cô ơi, chú bé Việt Nam này đúng là chú bé mà em đã bắn và đã thấy nó nằm khoèo há miệng đó. Bữa khác Tom lại hoảng hốt cầu cứu: ‘Đúng cô bé này là cô bé đang nắm tay mẹ khi bị em bắn chết đó. Nó nháy mắt nhìn em hoài.’ Sư cô cứ phải giải thích: ‘Không phải đâu, cậu con trai này tuy mặt Việt nhưng cháu đã được sinh đẻ bên Anh. Cô bé này rõ ràng là được sinh ra bên Đức mà.’ 

Sau ba tháng tu tập và có niềm tin nơi các Thầy và nơi các sư cô Tom mới thú thật là khi mới về Làng, Tom chắc mẻm là mình sắp bị đem xử án nên đã không dám ngủ trong phòng. Cắm lều ngoài rừng Tom còn giăng rất nhiều bẫy (boby traps) để nếu giữa khuya có ai bất chợt đến đánh úp thì Tom có thì giờ tự vệ và xoay trở mà trốn kịp! Tháng thứ năm Tom mới xin xưng tội với Sư Ông và một số quý thầy, quý sư cô. Nhờ thế sư cô mới biết được câu chuyện chú bé năm tuổi bị mẹ thảy từ bốn mươi hai nấc thang cao xuống đất, mới biết những chuyện kinh khiếp trong gia đình Tom. Sư cô đã nói với Tom: ‘Tom ơi, sư cô nghĩ rằng chỉ có cách phát nguyện thọ trì năm giới mới tránh gây những khổ đau như những cái khổ của gia đình Tom. Nếu ba mẹ và bà ngoại của Tom đã giữ giới không uống rượu, không vướng mắc xì ke thì chắc những chuyện bạo dâm với trẻ con đã không thể xảy ra. Mẹ nào cũng thương con, mẹ chỉ làm bậy khi mẹ say. Bà cũng thế.’ Tom đồng ý. Tom đã quỳ xuống tiếp nhận năm giới với nhiều thiền sinh khác. Giờ đây, đi đâu Tom cũng thuyết về năm giới. Đã từ nhiều năm nay, Tom phát nguyện đi từ thành phố này đến thành phố khác nói chuyện tu tập và dạy thở cho các bạn cựu chiến binh Hoa Kỳ đỡ khổ. 

Khổ đau cũng trở thành một tập khí khó bỏ 

Lewis người Hoa Kỳ tuy cao lớn dềnh dàng nhưng gương mặt lúc nào cũng buồn rầu và đăm chiêu. Tóc anh búi lại một chụm ra sau bằng một sợi thun, coi không giống ai hết! Suốt cả khóa tu của những người cựu chiến binh Hoa Kỳ do Sư Ông và tăng đoàn Làng Mai hướng dẫn, anh im lặng ít nói. Trong giờ pháp thoại của Sư Ông có khi người ta bắt gặp anh đang khóc lặng lẽ. Nhưng cuối cùng trong buổi gặp mặt chót của khóa tu, sau khi nghe nhiều bạn cựu chiến binh khác chia sẻ những khổ đau dằn vặt của họ, Lewis mới chịu tiết lộ niềm đau rất lớn mà anh đã chôn chặt từ hai mưoi ba năm qua. Anh đưa cho các bạn cùng nhóm xem cái xách tay nhỏ mà lúc nào anh cũng đeo kè kè bên mình. Đó là cái võng làm bằng một loại vải cũ mèm. Anh nói: ‘Sau khi trực thăng chúng tôi bắn súng máy khá lâu xuống vùng đất của nhóm du kích và thấy không còn ai bắn trả lại nữa thì chúng tôi sà xuống. Các bạn tôi và tôi ôm súng nhào tới, xem có còn người nào sống sót để bắt làm tù binh. Chúng tôi chỉ thấy có một phụ nữ còn thoi thóp. Nhìn vết thương nơi đùi cô ta, chúng tôi nghĩ trung tâm quân y Hoa Kỳ gần đây có thể cứu được cô ta. Chúng tôi khiêng cô lên trực thăng và hướng về bệnh viện. Nhưng khi phi cơ đi được vài dậm thì cô ta ngồi dậy ôm cái bọc nầy và nhìn chúng tôi trừng trừng. Cái nhìn như vừa đau đớn vừa oán hận, rồi cô ta tắt thở. Mắt cô ta vẫn như tiếp tục nhìn chúng tôi. Đôi mắt đó đã tiếp tục nhìn tôi trong suốt hai mươi ba năm rồi. Làm sao tôi quên được. Tôi ôm cái võng này với đôi mắt kia đã hai mươi ba năm nay. Tôi không biết cô ấy đã tha thứ cho tôi và cho các bạn tôi chưa?’ Sư cô nói: Cô du kích và đôi mắt đó đã theo anh tới đây, đã cùng được nghe sư ông thuyết giảng và đã cùng hiểu thế nào là tri giác sai lầm. Tri giác sai lầm đã đưa tới những hành động sai lầm. Những chính sách phí phạm xương máu đã đưa người giết người nhân danh công lý, nhân danh tự do. Ta vẫn có thể đạt được tự do và công lý bằng những con đường khác. Sáng hôm nay, cô ấy cũng đã theo anh quy y. Cô đang cùng giữ năm giới với anh. Như vậy là cả anh và cô đều đã được giải thoát ra khỏi cái quá khứ đau buồn rồi. Trong vài giờ đồng hồ nữa khi mãn khóa tu, mình sẽ tụng kinh cầu siêu cho cô và cho tất cả những người đã chết dưới họng súng của cô và của anh. Chúng ta sẽ đi ra bờ hồ đốt hết những gì còn sót lại của quá khứ đau thương. Anh giựt mình: ‘Đâu được! Không, tôi không đốt cái võng này đâu!’ Sư cô: ‘Tại sao?’ Lewis: ‘Tại vì.. tại vì.. nếu không có cái võng này làm sao mà tôi sống nổi! Hu..hu..hu..’ Lewis khóc như một đứa trẻ con, hai tay ôm chặt chiếc võng của cô du kích. Sư cô và các bạn im lặng cúi đầu trước đau khổ của anh. Không ai lý luận nữa. Hình như những điều sư cô nói đã quá đủ. 

Chiều hôm đó, đoàn người đi thiền hành xuống bờ hồ. Một đống lửa đang cháy. Mỗi người bỏ vào lửa một trái tim bằng giấy trên đó họ đã viết tên những trận đánh trong đó họ đã tàn sát bao nhiêu mạng sống, hay là tên họ người bạn nào đã chết oan uổng mà họ mong được siêu thoát. Những trái tim bằng giấy nằm trên bàn thờ, từng được nghe quý thầy và quý sư cô tụng kinh cầu siêu, giờ đây được đem ra đưa vào lửa. Tới phiên Lewis, anh cứ đứng nhìn đám lửa trừng trừng. Sư cô nhẹ nhàng đến bên anh và thì thào: Please help her to be liberated like you, like we all are (Anh hãy giúp cô ấy được giải thoát như anh, như tất cả chúng ta). Nói xong sư cô nhẹ nhàng gỡ tay anh, lấy cái võng, tung ra và thảy vào đống lửa. Thầy Pháp Ứng đứng kế bên đến ôm anh. Anh khóc ngất trong tay Thầy. Rồi anh ta quay ra đống lửa, mỉm cười. Một nụ cười thật nhẹ nhàng. Từ đó anh chuyển hóa rất nhanh. Nhiều người trong khóa tu báo cáo là mỗi lần gặp anh, giờ đây, thì không bao giờ anh quên tặng cho họ một nụ cười. 
 
 

TIẾP XÚC
Tiếp xúc và tiếp trợ

Thư gửi từ Việt Nam

Cây chết, trẻ xanh xao... 

Chúng em mới đi các vùng kinh tế mới Lâm Đồng, Hàm Tân, Bình Thuận và Đồng Nai về. Chúng em chảy nước mắt khi thấy hàng ngàn rồi hàng vạn cây cà phê ủ rũ vì chết cháy. Không ai còn tiền và còn can đảm tưới cà phê nữa. Ngày xưa mỗi năm, tới mùa cà phê chín đỏ, không khí vui như ngày hội, nhộn nhịp bao nhiêu người hái. Cả nhà kéo ra vườn hái cà phê. Chủ vườn rang cà phê thơm phức, mời mọc... Nhưng năm nay cà phê xuống giá trầm trọng. Mới mấy tháng trước đây vào mùa cà phê chín đỏ, một gia đình ở Đam Bri, đáng lý bán tất cả số cà phê được 15 triệu đồng (như vậy thì thua giá năm trước là 24 triệu) đã gồng mình không bán, chờ cà phê lên giá. Nhưng mới có ba tháng qua, giá còn 4 triệu thôi! Các chủ vườn chết sững vì quá bất ngờ. Họ đau buồn chẳng những vì nợ ngân hàng đến kỳ hạn phải trả, mà nợ các chủ tiệm bán phân bón, bán thuốc trừ sâu, trừ bệnh cho cây cà phê, đang làm dữ. Họ vay mượn và đã hứa trả khi thu hoạch nhưng giờ đây chẳng ai mua cà phê. Chủ các cửa tiệm cũng rầu rĩ vì không lấy lại được nợ. Nghèo khó quá người ta lại chuyển ngành nghề khác như sửa xe, như may vá. Mà cũng không ai may áo, không ai sửa xe vì cơm còn không có may áo sửa xe làm gì? Nghèo khủng khiếp nhất là những người đi hái cà phê thuê. Dân đi hái thuê là dân cùng đinh. Họ là nạn nhân các cuộc bão lụt và đói kém trôi giạt từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và Quảng Ngãi vào... Họ chỉ có những túp lều xiêu vẹo trong rừng, dựng sơ sài gần nông trại cà phê mà họ là công nhân. Các cửa hàng ở các phố chợ huyện xã đều treo bảng ‘‘Không bán thiếu’’ để khỏi phải lập lại nhiều lần lời từ chối mua chịu của những người này. 

Cánh tay từ bi 

Vì thương những cháu từ ba tới sáu tuổi, con cái của những gia đình cùng đinh sống trong các vùng kinh tế mới thuộc ba tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai và Bình Thuận mà bốn năm về trước tăng thân Làng Mai với sự cọng tác của các học trò cũ của Sư Ông, đứng lên mời cha mẹ các cháu cùng xây dựng nhà giữ trẻ và xây lớp mẫu giáo tại các địa phương xa xôi này cho con em họ có dịp đến trường. Ngoài việc học viết, học vẽ, học đọc, các cháu còn được học ‘‘là hoa tươi mát, là núi vững vàng’’. Cha mẹ các cháu đội ơn vô cùng, đã bỏ công ra phụ cất lớp học cho con cái họ khi nghe Sư Ông cho tiền mua cây, mua lá lợp trường và mua bàn ghế cho lớp học. Sư Ông cũng cho lương cho một cô giáo và một cô bảo mẫu lo nấu cơm trưa cho mỗi lớp hai mươi lăm cháu. Gia đình các cháu sẵn sàng đóng 1500 đồng và Làng Mai gửi tặng 1000 đồng. Thế là đủ cho các cháu có một ly sữa đậu nành và một bữa ăn trưa tươm tất. Từ tháng 10 năm 2001 đến nay, vì không ai thuê đi hái cà phê nữa nên mỗi sáng họ ôm con tới gửi nhà trường trước khi ra chợ tìm việc làm thuê. Vài người vét được 1000 đồng (thay vì 1500 đ) đóng phụ với cô bảo mẫu để lo phần ăn trưa cho con mình. Nhưng số đông phụ huynh chỉ đem được một củ khoai hay một vắt cơm nguội. Cô bảo mẫu thường nấu một nồi cháo, bỏ chung cơm nguội, khoai, rau với rất nhiều nước để chia đủ phần cho các cháu mà cha mẹ quá nghèo không đem tới được gì. Ba tháng qua, những dãy củ mì, những giồng khoai lang đã được từ từ nhổ lên, ăn thay cơm. Bây giờ ăn hết sạch. Trong khi chờ đợi tìm ra sở làm mới để nuôi miệng và nuôi con, có người chở luôn con trên xe đạp, đạp 15 cây số đi ra chợ, chờ được người ta mướn để có cơm ăn cho cả nhà. Để rồi nhiều gia đình, chiều lại chở con về vì chẳng có ai thuê, bụng mẹ con (hay cha con) đói meo. 

Thưa sư cô, nhìn các cháu ở các địa điểm mẫu giáo mình chăm lo ở kinh tế mới Bảo Lộc, Bảo Lâm và Di Linh, chúng em ứa nước mắt vì thấy các cháu quá xanh xao, cơm trưa không có. Xin sư cô gắng kêu gọi gấp chỉ riêng cho 23 địa điểm mẫu giáo vùng Kinh Tế Mới Bảo Lộc Bảo Lâm và Di Linh thôi, làm sao có một bữa cơm trưa cho 750 em đang xanh xao ốm yếu. Còn mấy trăm em bên Suối Phèn, Tân Lý, Hàm Tân hay bên Đồng Nai ta sẽ tính sau. Cần giúp gấp các vùng Tân Thượng, Lộc Đức, Sà Nùng và Đinh Trang Hòa gần núi, quá đói. Chúng em cần 78 đô la mỗi ngày, trọn tháng là 2150 đô, cho vùng đang thiếu ăn trầm trọng. Xin sư cô cố kêu gọi cô bác bên đó giúp cho tình thế đỡ ngặt, chừng một năm thôi,. Hy vọng có thể qua được cơn khủng hoảng kinh tế nầy. 

Xấp hồ sơ 155 trẻ em đói mà chúng em mới gửi hôm tháng 12 là từ Lâm Đồng, Bình Thuận và Đồng Nai nơi các vùng đói kém nhất của ba tỉnh đó. Các em nầy không thuộc diện mẫu giáo. Nếu có ai bảo trợ cho một em 5 Mỹ kim một tháng thì sư cô cho họ biết là họ đang cứu nguyên cả một gia đình 5 người. Họ sẽ mua được 20 ký gạo, cả nhà sẽ được 650g gạo mỗi ngày cho 5 người... Thì cũng đỡ ngặt. 

Làng Mai trả lương cho 62 cô giáo mẫu giáo và bảo mẫu trong các vùng kinh tế mới thuộc ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Thuận, gồm 39 trường trong số đó có 23 trường bán trú nằm trong vùng rất đói này.
 
 

Lịch hành hóa năm 2002
của Sư Ông Nhất Hạnh 

15 - 20.2.2002 : Khóa tu dành riêng cho người xuất gia tại Nội Viện Phương Khê, Pháp

21.2 : Lễ tự tứ kết thúc ba tháng an cư mùa Đông cho 250 người xuất gia và thiền sinh, Làng Mai

03.3 : Thuyết pháp bằng Anh ngữ tại Hydes Conventional Center, đề tài Fear and Compassion, Boston, Massassuchetts, Hoa Kỳ

09.3 : Thuyết pháp Anh ngữ ở Auditorium Harvard University, Boston, Hoa Kỳ

10.3 : Ngày quán niệm bằng Anh ngữ ở Welesley College, phụ cận Boston, Hoa Kỳ

17.3 : Ngày quán niệm ở tu viện Lộc Uyển, Sư Ông giảng kinh Đốt cháy những cành củi khô, Cali, Hoa Kỳ 

Làng Mai, Pháp 
30.3 - 07.4.2002: Khóa tu nói tiếng Pháp (có thông dịch ra Việt và Anh) về Tâm Lý Trị Liệu theo lời Bụt dạy 

27.4 - 04.5 : Khóa tu dành riêng cho người Việt ở Âu châu (có nhận trẻ em) 

01.6 - 21.6 : Khóa tu nói tiếng Anh, đề tài Cánh tay của Bụt (chỉ dành cho người lớn)

10.7 - 08.8 : Khóa tu Hè Việt-Pháp-Anh dành cho người lớn và trẻ em

03.12.2002 đến 28.02 .2003 : Khóa tu mùa Đông. Trong đó từ 20.02.03 đến 26.02.03 có khóa tu chỉ dành riêng cho người xuất gia. 

Hoa Kỳ 

12.8 -17.8 : Khóa tu Anh ngữ tại Miền Đông Hoa Kỳ, đề tài: Con đường Vô Úy và Từ Bi (muốn rõ chi tiết xin điện thoại Tu Viện Thanh Sơn (802) 436-1103 hay Fax (802) 436-1101)

17.8 : Thuyết pháp Anh ngữ tại vùng Boston, đề tài: Con đường Vô Úy và Từ Bi (muốn rõ chi tiết xin điện thoại Tu Viện Thanh Sơn (802) 436-1103 hay Fax (802) 436-1101)

20.8 : Thuyết pháp Anh ngữ tại Denver, Colorado, đề tài: Chữa lành niềm đau, tiếp xúc an lạc (muốn rõ chi tiết xin điện thoại Evan Norotsky (303) 494-3933 hay email: 

solidmountain@hotmail.com, 

Webpage: www.rmsc.shambhala.org)

21.8 - 23.8 : Khóa tu Anh ngữ tại Rocky Mountain Shambhala Center, Colorado, đề tài: Nuôi dưỡng từ bi, Chuyển hóa cơn giận và cơn sợ (muốn rõ chi tiết xin điện thoại (970) 881-2184 hay Fax (970) 881-2909 hay email: info@rmsc.shambala.org, Webpage: www.rmsc.shambhala.org)

24.8 : Ngày quán niệm tiếng Anh tại Boulder, CO, đề tài: Một ngày an lạc vững chãi và thảnh thơi (muốn rõ chi tiết xin điện thoại trường đại học Naropa (303) 245-4800 hay Fax (303) 245-4819 hay email: ce_info@naropa.edu)

26.8 - 31.8 : Khóa tu Anh ngữ tại Viện Đại Học San Diego, đề tài: Sợ hãi: Nuôi dưỡng vững chãi và an vui (muốn rõ chi tiết xin điện thoại tu viện Lộc Uyển (760) 291-1003 hay Fax (761) 291-1010 hay email: tnhtourw@plumvillage.org)

01.9 : Thuyết pháp tiếng Việt cho đồng bào ở Nam Cali (muốn rõ chi tiết xin điện thoại tu viện Lộc Uyển (760) 291-1028 hay Fax (760) 291-1172 hay email: khoatunv@plumvillage.org)

04.9 - 08.9 : Khóa tu người Việt tại tu viện Lộc Uyển (muốn rõ chi tiết xin điện thoại tu viện Lộc Uyển (760) 291-1028 hay Fax (760) 291-1172 hay email: khoatunv@plumvillage.org)

14.9 : Thuyết pháp Anh ngữ tại San Diego (muốn rõ chi tiết xin điện thoại tu viện Lộc Uyển (760) 291-1003 hay Fax (760) 291-1010 hay email: tnhtourw@plumvillage.org)

19.9 : Thuyết pháp Anh ngữ tại nhà hát lớn Berkeley, Cali, đề tài: Lắng nghe sâu: Cốt tủy của hành động từ bi (muốn rõ chi tiết xin điện thoại Northern CA Community of Mindful Living (510) 527-3751 hay xem trên web site: www.iamhome.org)

21.9 : Ngày quán niệm tiếng Anh tại Bay Area, đề tài: Quay về nương tựa : Một ngày vui để trị liệu và cùng sống bên nhau. (muốn rõ chi tiết xin điện thoại Northern CA Community of Mindful Living (510) 527-3751 hay xem trên web site: www.iamhome.org)

22.9 : Ngày quán niệm tiếng Việt với đồng bào tại tu viện Kim Sơn, Watsonville, CA (muốn rõ chi tiết xin điện thoại tu viện Lộc Uyển (760) 291-1028 hay Fax (761) 291-1172 hay email khoatunv@plumvillage.org)

23.9 - 27.9 : Khóa tu dành riêng cho người xuất gia tại tu viện Kim Sơn, Watsonville, CA (muốn rõ chi tiết xin điện thoại tu viện Lộc Uyển (760) 291-1028 hay Fax (761) 291-1172 hay email: khoatunv@plumvillage.org)

28.9 : Thiền hành với dân chúng thành phố Memphis, Tennessee do ba tổ chức Gandhi Institute, National Civil Rights Museum và Rhodes College bảo trợ. Cuối buổi thiền hành sẽ được vấn đáp Anh ngữ 30 phút với Sư Ông. 19giờ 30 cùng ngày có pháp thoại cho đồng bào (muốn rõ chi tiết xin điện thoại Anh Chị Nguyễn Duy-Việt Ly (901)309-1820)

29.9 : Thuyết pháp Anh ngữ tại thành phố Memphis (muốn rõ chi tiết xin điện thoạ Nguyễn Duy-Việt Ly (901)309-1820) 

Trung Quốc 
02.11 - 09.11 : Thuyết pháp và khóa tu bằng Anh ngữ tại Hương Cảng (có thông dịch ra tiếng Quảng Đông) muốn rõ chi tiết xin liên lạc Venerable Yin Jing Email: yinjing@hku.hk

10.11 - 16.11 : Tuần lễ kỷ niệm 1.500 tuổi chùa Nam Hoa của Lục Tổ Huệ Năng với nhiều ngàn người xuất gia từ khắp nơi về phó hội.

17.11 - 22.11 : Khóa tu Anh ngữ (có thông dịch ra tiếng Quan Thoại) dành riêng cho 400 tăng sinh tại chùa Vân Môn, tỉnh Quảng Đông.

23.11 - 29.11 : Khóa tu Anh ngữ (có thông dịch ra tiếng Quan Thoại) dành riêng cho 350 người xuất gia tại Viện Cao Đẳng Phật Học Tào Khê tại chùa Nam Hoa, tỉnh Quảng Đông.

Khóa Tu cho Người Việt

Bấy lâu nay người Việt ở Âu châu hơi buồn vì người Tây phương về Làng đông quá, khóa tu mùa Hè, Sư Ông cho một bài tiếng Anh và một bài tiếng Việt ngày đầu. Hôm sau lại cho tiếng Pháp và tiếng Anh, hôm sau nữa mới cho bài tiếng Pháp và tiếng Việt. Thành ra nghe bài giảng qua ống nghe thông dịch, không ‘đã’. Mỗi khi Sư Ông đi Đức, đi Anh hay đi Hòa Lan số người Anh và Đức tham đự đều đông bằng ba hay bằng năm số người Việt. Vì vậy chưa bao giờ có khóa tu bằng tiếng Việt ở Anh hay ở Hòa Lan hay Thụy Sĩ mà Sư Ông nói thuần tiếng Việt bảy ngày luôn như sẽ nói lúc 7 giờ sáng 28 tháng 4 đến 13 giờ ngày mồng 4 tháng Năm 2002 tới! Ai cũng biết khi Sư Ông nói tiếng Việt cho đồng bào thì thâm trầm và đi sâu vào tâm hồn, ai nghe cũng rung động. Nhân dịp kỷ niệm Làng Mai hai mươi tuổi, các anh chị thuộc các tăng thân Âu châu xin phép và được Sư Ông chấp thuận cho người Việt một khóa tu: Làm lớn mạnh dòng sông tâm linh và văn hóa Việt, nơi nào mình đặt chân tới (đề tài này bao gồm: Lý tưởng, gia đình, đất nước, hạnh phúc, con cái...). Tăng thân ở Đức thuộc năm sáu thành phố đã chuẩn bị xe buýt rồi, họ sẽ lên đường ngày thứ sáu 27.4 để có thể tới Làng chiều hôm đó. Tăng thân ở Anh quốc, Hòa Lan hay ở Thụy Sĩ cũng đang chuẩn bị. Bảy giờ sáng ngày 28.4 là pháp thoại đầu tại Làng. Nếu bạn là dân Paris xin điện thoại cho chị Minh Tri 01 64 09 93 40 hoặc tụ họp khoảng nửa giờ trước chuyến xe 15g25 ở ga Paris Montparnasse ngày thứ sáu, 27.4 hoặc trễ lắm là nửa giờ trước khi chuyến xe lửa chót khởi hành lúc 18g50 cùng ngày. Xe đi Bordeaux nhưng ta sẽ xuống Libourne ba giờ sau rồi tới Sainte Foy La Grande (Gironde) là ga gần Làng nhất lúc 22 giờ 45. Nghỉ khoẻ để hôm sau bắt đầu khóa tu lúc 7 giờ. Nếu đi chuyến 15 giờ 25 thì về Làng lúc 19 giờ có nhiều thoải mái hơn. Người đến từ Ý hoặc miền Nam nước Pháp cũng có thể đi về ga Marmande (Lot et Garonne). Ga nằm trên tuyến đường Nice, Marseille, Montpellier, Toulouse, Marmande Bordeaux. 

Các bạn biên thư giữ chỗ gấp tại Làng, biên thư về tên Khóa Tu Tiếng Việt tại Làng Mai, 13 Martineau, 33580 Dieulivol France, từ 27.4.02 đến 5.5.02, Fax (33)556 61 61 51. Xin gửi trước một ít tiền rau đậu để Làng biết chắc bạn sẽ về và không nhường chỗ của bạn cho người khác. Khóa tu này quý bạn chỉ phụ tiền điện nước rau đậu, giá cao thấp tùy theo chỗ ngủ (loại chỉ có hai người một phòng, hay 10 người môt phòng, có toilet trong phòng hay ngoài phòng). Cúng dường cho tăng đoàn và cho Sư Ông là tùy tâm. Người xung phong làm đầu bếp chính sẽ có chỗ ngủ mà không phải đóng tiền rau đậu, điện, nước. Làng cần 6 đầu bếp cho 3 Xóm. Tất cả thiền sinh đều được mời luyện tập chánh niệm trong khi làm việc như lo dọn dẹp thiền đường, rửa nồi, quét phòng, tưới nước hoặc phụ làm bếp...
 
 

Liên lạc với Làng Mai

Trang nhà và điện thư
Tiếng Anh  http://www.plumvillage.org
info@plumvillage.org
Tiếng Việt  http://www.langmai.org
info@langmai.org 

Chùa Pháp Vân, Xóm Thượng, Le Pey 24240 Thénac, France
Tel:                   +(33) 5.53.58.48.58
Fax:                  +(33) 5.53.57.34.43
E-mail:              UH-Office@plumvillage.org 

Chùa Từ Nghiêm, Xóm Mới, 13 Martineau, 33580 Dieulivol, France
Tel:                   +(33) 5.56.61.66.88
Fax:                  +(33) 5.56.61.61.51
E-mail:              NH-Office@plumvillage.org 

Chùa Cam Lộ, Xóm Hạ, Meyrac 47120 Loubès-Bernac, France
Tel:                   +(33) 5.53.94.75.40
Fax:                  +(33) 5.53.94.75.90
E-mail:             LH-Office@plumvillage.org 

Đạo Tràng Thanh Sơn, P.O. Box 182, Hartland-Four Corners, VT 05049, USA
Tel:                   (802) 436-1103/1102
Fax:                  (802) 436-1101
E-mail:              MF-Office@plumvillage.org

Tu Viện Rừng Phong, P.O. Box 354, South Woodstock, 
VT 05071, USA
Tel:                   (802) 457-2786 / 9442
Tel/Fax.:           (802) 457- 8170
E-mail:              stoneboy@vermontel.net 

Tu Viện Lộc Uyển, 2499 Melru Lane, Escondido, CA 92026, USA 
Tel:                   Xóm Vững Chãi (760) 291-1003
Xóm Trong Sáng (760) 291-1028
Fax:                  (760) 291-1172 
E-mail:              deerpark@plumvillage.org 
 

 
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap

Xx