16.
Điều Phục Cơn Giận
17.
Hiện Pháp Lạc Trú
18.
Tưới Tẩm Hạt Giống Tốt
19.
Ngày em hai mươi tuổi
20.
Sen Làng Đã Mọc
ĐIỀU
PHỤC CƠN GIẬN
Cúi
đầu con kính lạy
Bậc
Điều Ngự Trượng Phu
Xin
duỗi cánh tay vàng
Đưa
con lên bờ bình an và vững chãi
Chúng
con vì mê muội lâu đời
Chưa
từng có cơ duyên học hỏi
Nên
đã thường vụng dại
Để
hạt giống giận hờn bạo động
Mỗi
ngày tưới tẩm mãi
Trong
chiều sâu tâm thức của con.
Những
hạt giống buồn phiền tức tối
Mỗi
khi phát khởi hiện hành
Thường
gây ra đau thương và hờn tủi
Cho
bao nhiêu kẻ khác
Và
cho chính bản thân con.
Theo
lời dạy đức Từ Bi
Bắt
đầu từ hôm nay
Con
xin dâng lời thề nguyện
Mỗi
khi tâm giận hờn phát hiện
Con
sẽ nhớ trở về
Nương
vào hơi thở
Vào
bước chân chánh niệm
Để
chăm sóc và ôm ấp
Để
hộ trì và nhận diện
Những
tâm hành đau khổ trong con.
Con
sẽ nhớ thực tập nhìn sâu
Để
thấy được bản chất và cội nguồn
Của
tâm hành sân hận
Vâng
lời đức Thế Tôn căn dặn
Con
sẽ biết hộ trì tâm ý
Nguyện
sẽ không nói năng
Và
cũng không hành động
Một
khi trong tâm con
Cơn
giận hờn vẫn còn chưa điều phục
Xin
thực tập quán chiếu
Để
thấy được cội nguồn đích thực
Của
niềm đau nỗi khổ trong con.
Sở
dĩ con khổ đau
Vì
hạt giống si mê
Và
hạt giống giận hờn
Trong
con còn quá lớn
Và
người làm con giận
Là
người đang có nhiều đau khổ
Người
ấy cũng chưa từng
Biết
quay về tự bảo hộ
Chưa
từng biết chuyển hóa
Những
tập khí sâu dày trong tự tâm.
Quán
chiếu được như thế
Con
sẽ làm phát sinh
Hiểu
biết và chấp nhận
Và
con sẽ có thể
Giúp
được cho người kia
Tu
tập để chuyển hóa
Những
khổ đau trong lòng.
Đức
Thế Tôn thường dạy
Điều
phục được giận hờn
Là
đạt tới chiến thắng
Một
lần cho cả hai phía.
Con
nguyền hết lòng thực tập
Mong
báo đáp được hồng ân
Cầu
lượng Từ Tam Bảo
Nhiếp
thọ và hộ niệm cho con
Để
chúng con chóng vượt sang
Bến
bờ an lành và tịnh lạc.
HIỆN
PHÁP LẠC TRÚ
Đức
Thế Tôn từng dạy:
‘‘Quá
khứ đã đi qua
Và
tương lai chưa tới
Con
đừng để tâm chìm đắm
Trong
tiếc thương quá khứ
Trong
lo lắng tương lai’’
Bụt
bảo: ‘‘Con có thể
Sống
an lạc thảnh thơi
Trong
giây phút hiện tại’’
Nay
con nghe lời đức Bổn Sư
Buông
bỏ ưu sầu lo lắng
Trở
về an trú nơi hiện pháp
Học
nhận diện
Những
điều kiện hạnh phúc
Đã
có mặt trong con
Và
có mặt quanh con.
Con
được nghe tiếng chim hót
Và
tiếng thông reo
Con
nhìn thấy núi xanh
Thấy
mây bạc trăng vàng
Tịnh
độ đang có mặt
Trong
giây phút hiện tiền
Con
có thể thích ý rong chơi
Hàng
ngày trong cõi Bụt
Mỗi
hơi thở mỗi bước chân chánh niệm
Đưa
con về Tịnh Độ
Và
làm biểu hiện
Những
mầu nhiệm Pháp thân.
Con
nguyền buông bỏ
Nếp
sống hối hả,
Đua
đòi, bận rộn, bon chen
Quyết
tâm không chạy theo
Danh
vọng, quyền hành
Giàu
sang và sắc dục
Bởi
vì con đã biết
Những
thức ấy không đưa về chân hạnh phúc
Mà
sẽ chỉ đem lại cho con
Bao
điêu đứng khổ đau.
Nếp
sống tri túc
Nếp
sống thiểu dục
Con
xin nguyện học theo
Để
có thì giờ sống sâu sắc
Cuộc
sống hàng ngày
Trong
từng giây từng phút
Để
thân tâm có cơ duyên trị liệu
Và
để hộ trì chăm sóc
Cho
những người con đã nguyện thương yêu.
Con
nguyền nuôi lớn
Tâm
hiểu biết và lòng xót thương
Để
có khả năng cứu độ
Chúng
sanh mười phương
Đang
chìm đắm ngoài kia
Trong
biển đời tham dục.
Con
cúi xin mười phương chư Bụt
Bảo
hộ soi sáng
Và
nâng đỡ con
Trên
bước đường thực tập
Để
con có thể hàng ngày
Sống
thảnh thơi an lạc
Mà
hoàn thành ước nguyện
Của
một người đệ tử
Tin
cậy và yêu quý
Của
đức Như Lai.
TƯỚI
TẨM HẠT GIỐNG TỐT
Tưới
Tẩm Hạt Giống Tốt
Con
có cha, có mẹ
Cha
mẹ có trong con
Nhìn
mẹ cha, con thấy
Có
con trong cha mẹ.
Con
có Bụt, có Tổ
Bụt,
Tổ có trong con
Nhìn
Bụt Tổ, con thấy
Có
con trong Bụt, Tổ.
Con
là sự tiếp nối
Của
cha mẹ tổ tiên
Con
xin nguyền gìn giữ
Và
tiếp tục nuôi dưỡng
Những
hạt giống an lành
Tài
năng và hạnh phúc
Mà
con đã tiếp nhận
Từ
cha mẹ tổ tiên
Con
cũng xin nhận diện
Những
hạt giống tiêu cực
Sợ
hãi và khổ đau
Để
dần dần chuyển hóa.
Con
là sự tiếp nối
Của
Bụt và Tổ Sư
Những
hạt giống Từ Bi
Hiểu
Biết và Thảnh Thơi
Đã
trao truyền cho con
Con
xin nguyền gìn giữ
Tưới
tẩm và nuôi lớn.
Con
xin nguyền tiếp nối
Sự
nghiệp Bụt và Tổ
Và
cố công thực hiện
Những
gì Bụt và Tổ
Đang
trông đợi nơi con.
Trong
cuộc sống hàng ngày
Con
xin nguyền gieo rắc
Hạt
giống của từ bi
Trong
chính bản thân con
Và
trong lòng kẻ khác
Con
nguyện không tưới tẩm
Những
hạt giống thèm khát
Bạo
động và hận thù
Nơi
con và nơi người.
Con
biết nếu thực tập
Đúng
theo pháp môn này
Trong
vòng bảy hôm thôi
Là
con đã có thể
Thay
đổi được tình trạng
Tái
lập được truyền thông
Làm
nở được nụ cười
Chuyển
hóa được niềm đau
Làm
lớn lên hạnh phúc.
Con
xin đức Thế Tôn
Chứng
minh cho lòng con
Hợp
nhất cả thân tâm
Con
cúi đầu kính lạy.
NGÀY
EM HAI MƯƠI TUỔI
Kính
thưa đại chúng, hôm nay là ngày 13 tháng Chạp năm 2001. Chúng
ta đang ở tại Xóm Hạ, chùa Cam Lộ, trong khóa tu mùa Đông.
Hôm nay Ban Biên Tập của Tập Kỷ Yếu 20 năm Làng Mai yêu
cầu tôi nói một bài về Làng Mai để có thể đánh máy ra
và in vào. Có nhiều chuyện để kể thành ra tôi không biết
nên bắt đầu chỗ nào.
Sáu
cây tùng lọng
Ngày
28/9/1982 mình tìm ra được Xóm Hạ. Trước khi tìm ra Xóm Hạ
thì mình đã tìm ra Xóm Thượng nhưng ông chủ của Xóm Thượng
không chịu bán đất. Ông chủ Xóm Thượng có một đứa con
trai. Mẹ của người con trai đó muốn ông chồng bán đất
của Xóm Thượng để đưa cho người con trai làm vốn. Nhưng
ông Dezon, chủ đất của Xóm Thượng, không muốn bán vì ông
rất yêu quý miếng đất ấy. Ông không nỡ buông đất ra.
Điều này mình hiểu vì ông đã từng làm nông dân ở Xóm
Thượng lâu ngày rồi. Vì vậy cho nên ông thương quá và không
muốn buông ra. Khi đi thăm Xóm Thượng, tôi rất ưng ý vì
Xóm Thượng đẹp. Thấy con đường thiền hành ở Xóm Thượng
tôi ưng liền, "fall in love" liền ngay khi lúc đầu mới gặp.
Nhưng vì ông Dezon chưa chịu bán thành ra mình phải đi tìm
một chỗ khác và sau đó mấy ngày mình tìm ra được Xóm
Hạ. Nhưng tìm ra được Xóm Hạ rồi mình vẫn còn muốn Xóm
Thượng. Vì vậy mình tiếp tục theo đuổi Xóm Thượng. Năm
đó có nhiều mưa đá làm cho nho của ông Dezon bị hư hết
và ông nổi điên, tăng giá. Tăng giá thật ra không phải là
để cho ông có nhiều tiền. Ông tăng giá là để cho mình
khỏi mua, và để cho ông khỏi phải bán. Nhưng vì mình ưa
quá thành ra dù ông tăng giá mà mình vẫn mua như thường.
Vì vậy chúng ta có Xóm Hạ Làng Mai trước rồi sau đó mấy
tháng lại có Xóm Thượng Làng Mai.
Vào
đầu năm 1983 trên Xóm Thượng chúng ta bắt đầu trồng cây.
Những cây đầu tiên là tùng lọng, những cây tùng tỏa phía
trên ra như cái lọng, gọi là pin parasol (umbrella pine). Chúng
ta đã trồng được sáu cây tùng lọng ngày hôm đó với sự
cọng tác của một bác nông dân trong vùng với cái máy đào
đất. Đất Xóm Thượng đào tới đâu là có đá ở đó.
Phải có cái máy mới đào được. Ta đã trồng được 6 cây
lớn và có bỏ phân bò ở dưới. Ngày hôm ấy trời mưa và
mọi người đều ướt nhẹp hết. Sau khi trồng xong tùng lọng
thì tôi ngã bịnh và nằm luôn ba tuần lễ. Trong làng ai cũng
lo. May quá, sau đó thì tôi dậy được và bắt đầu ăn cháo.
Mình quyết định mở cửa làng ngay năm đó, tức là năm 1983.
Mình mua đất vào mùa đông năm 82 và đã mở cửa làng vào
mùa hè năm 83. Vì vậy từ mùa đông 82 tới mùa hè 83 thầy
trò phải làm việc khá nhiều. Trước đó mỗi mùa hè thì
ta mở cửa ở Phương Vân Am. Phương Vân Am ở miền Đông
Nam của Paris, năm nào cũng mở cửa cho thiền sinh về tu học.
Nhưng am nhỏ quá, không tiếp đón được nhiều thiền sinh.
Thầy trò đã đi về miền Nam kiếm đất để làm một trung
tâm tu học có thể tiếp đón được nhiều người. Lịch
sử Phương Vân Am cũng rất hay, nhưng sư cô Chân Không kỳ
trước đã nói về Phương Vân Am rồi nên hôm nay tôi khỏi
nói. Bài thơ "Ảo hóa" đã được làm ở Phương Vân Am. Mùa
xuân năm 83 mình đã ấn hành một tập sách hướng dẫn gọi
là Sổ Tay Của Người Về Làng. Hồi đó không gọi là Làng
Mai mà gọi là Làng Hồng tại vì ta còn hoài niệm cái Làng
Hồng ở Việt Nam. Làng Hồng là một trung tâm tu học mà Trường
Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội và Dòng Tiếp Hiện dự trù thành
lập để làm chỗ tu dưỡng cho những người tác viên xã
hội. Hồng đây có nghĩa là cây hồng, trái hồng chứ không
phải là hoa hồng. Thật ra trước đó chúng ta đã có Phương
Bối Am ở miền cao nguyên Trung phần, ở Blao. Phương Bối
Am mà quý vị biết đến nhờ cuốn Nẻo Về Của Ý và các
vị từng đọc Fragrant Palm Leaves hay là Feuilles odorantes de Palmier
thì đã biết chút ít về Phương Bối Am. Phương Bối Am cũng
là một loại Làng Hồng, xuất hiện sớm lắm. Từ những
năm 1950, Phương Bối Am đã được thành lập và cũng là một
trung tâm tu học. Nhưng vì nó cách thành phố xa quá đi, nên
Dòng Tiếp Hiện và trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đã
muốn có một làng gần hơn. Khi viết quyển Phép Lạ của
Sự Tỉnh Thức tôi cũng đã có nói tới Làng Hồng và tám
năm sau thì mình tậu được Xóm Hạ. Mãi tới 8 năm sau điều
tiên đoán trong Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức mới được thực
hiện và mình có được Làng Hồng. Mình tính trồng hồng
nhưng cuối cùng thì thấy không thực tế nên đã trồng mai.
Chúng ta còn khá ngây thơ, nghĩ là nếu trồng nhiều mai (tức
là mận) thì đó là một nguồn kinh tế tự túc. Nhưng không
phải là nông dân chuyên nghiệp nên ta đã không thành công
lắm. Chúng ta đã hưởng hoa mai nhiều hơn là trái mận. Sư
cô Chân Đức đã từng ghi tên học tỉa mận một tuần lễ
và sư cô cũng có khả năng tỉa mận. Nếu không tỉa thì
mận không thể lớn và không có trái.
Không
biết sư cô Chân Đức còn nhớ nghệ thuật tỉa mận không,
nhưng sức của sư cô thì chỉ tỉa được vài chục cây là
hết. Ở đây mình lại có tới 1250 cây mận. Chúng ta bắt
đầu trồng mận ngay vào năm đầu của Làng mở cửa, tức
là năm 1983. Và trong số những cây mận được trồng đó
có những cây được trồng bằng tiền túi của các thiếu
nhi về Làng. Các em nghe rằng mận này trong 7 năm sẽ có trái,
trái đó sẽ được phơi khô, bán và lấy tiền gởi về cho
trẻ em đói ở Việt Nam và những nước nghèo đói. Vì vậy
nhiều thiếu nhi đã để dành tiền túi mà trồng cây mận.
Hồi đó mỗi cây mận mang tên một em bé Việt Nam hay một
em bé ngoại quốc nhưng số lượng các em bé Việt Nam đông
hơn. Mỗi em phải có 35 quan Pháp thì mới có thể trồng được
một cây mận. Còn nếu không có đủ 35 quan Pháp thì em phải
chung vốn với một em khác mới có thể trồng được một
cây mận ở Làng Mai, nghĩ rằng cây mận đó là để nuôi
trẻ em đói. Và chúng ta đã cố gắng để trồng đủ số
1250 cây mận. Đó là con số của tăng đoàn nguyên thủy của
Bụt. Vào tháng 5 năm 83, chúng ta ấn hành tập Sổ Tay Của
Người Về Làng bằng tiếng Việt, sau đó mấy tháng ấn hành
tập bằng tiếng Anh. Khóa tu mùa hè gọi là Summer Opening. Mùa
hè đầu tiên có 117 thiền sinh về tu học. Trong mùa tu học
này chúng ta chưa có thiền lạy, chưa có thi kệ nhật dụng
nhưng đã có thiền tọa, thiền hành, thiền trà và tham vấn.
Hồi đó chưa có các thầy các sư cô nên tôi phải hướng
dẫn thiền sinh từ đầu tới cuối, từ A tới Z. Từ thiền
ngồi qua thiền trà đến thiền hành tôi phải hướng dẫn
hết. Tôi phải đi chữa cái lưng của từng người cho thẳng,
cái đầu của từng người cho ngay. Hồi đó chưa có cuốn
Thiền Hành Yếu Chỉ tức là tập sách viết về phương pháp
thiền đi. Trước khi Làng mở cửa đã có một Lá Thư Làng
Mai, nhưng hồi đó gọi là Lá Thư Làng Hồng. Lá Thư đó chỉ
có 3 trang nhưng đọc cũng vui lắm. Tôi xin đề nghị Tết
này mình sẽ photocopy Lá Thư Thứ Nhất, Lá Thư Thứ Hai, Lá
Thư Thứ Ba rồi dán lên tường cho mọi người đọc. Các
bạn của chúng ta sẽ biết những gì xảy ra trong năm đầu
của Làng Mai. Những chi tiết như tôi trồng xong tùng lọng
và ngã bệnh nằm luôn ba tuần cũng được ghi chép trong đó.
Mùa thu năm đó có Lá Thư Làng Hồng Số Hai, tường thuật
đầy đủ về những gì đã xảy ra trong khóa tu mùa hè. Người
ta rất hạnh phúc. Ngay mùa hè đầu tiên mà đã có thiền
sinh Tây phương về tu chung với người Việt. Vào mùa hè thứ
hai có 232 người về tu, mùa hè thứ ba có 305 người, mùa
hè thứ tư có 396 người, mùa hè thứ năm có 452 người, mùa
hè thứ sáu 463 người, mùa hè thứ bảy 483 người, mùa hè
thứ chín 1030 người. Tới 1996 thì vào mùa hè có 1200 người
về. Vào mùa hè 1998 thì 1450 người về Làng tu học. Mùa hè
1999 thì có 1500 người và vào năm 2000 thì số lượng thiền
sinh tăng lên 1800. Cố nhiên không phải là 1800 người về
Làng một lần, tại vì có người chỉ về hai tuần, có người
về ba tuần, có người về một tuần, và có người về luôn
bốn tuần. Có người về hơn bốn tuần vì sau khi về bốn
tuần thì thấy ưa thích quá, đòi ở lại. Nói như vậy không
có nghĩa là thiền sinh chỉ về mùa hè. Trong các mùa khác
cũng có thiền sinh về để tu học. Những năm đầu thì thiền
sinh ngoại quốc được ở Xóm Thượng. Thiền sinh gốc Việt
Nam và Á châu thì ở Xóm Hạ để được ăn thức ăn quê
hương.
Những
cây tùng gọi là Cedre Atlantica mà quý vị thấy ở Xóm Thượng
cũng được trồng vào năm đầu. Hồi mình trồng thì những
cây đó chỉ cao có 1m20 thôi. Những cây đó lên chậm lắm
và càng lớn thì chúng càng đẹp. Ba trăm năm thì sẽ rất
đẹp. Cedre Atlantica dịch là Tùng Đại Tây, có hai thứ: một
thứ màu lục, một thứ màu lam. Mỗi khi đi thiền hành ở
Xóm Thượng chúng ta đều xuất phát từ cây tilleul, cây bồ
đề. Qua thiền đường Chuyển Hóa, chúng ta gặp bên tay phải
những cây tùng Đại Tây, những cây Cedre Atlantica. Bây giờ
đã đẹp rồi. Mỗi khi đi ngang qua những cây tùng Đại Tây
đó thì tôi hay nghĩ tới các sư chú, các sư cô. Tôi thường
hay đứng lại để ca ngợi "sư chú này làm ăn khá quá", tại
vì các cây tùng đó lên rất tốt tươi, rất xinh đẹp. Tôi
thường nhìn và thấy đó là một sư chú hay một sư cô đang
lớn lên rất mạnh khỏe trên đất Làng Mai. Và mỗi khi đi
ngang qua chúng ta hay dừng lại để chiêm ngưỡng vẻ đẹp
của những cây tùng ấy. Hai mươi năm qua, bây giờ các cây
tùng ấy đã lớn, không còn là những cây tùng nhỏ bé một
thước hai như ngày xưa. Ở Làng Mai cũng có nhiều cái đã
lớn như các cây tùng. Không những là các sư cô sư chú đã
lớn, các Phật tử cư sĩ đã lớn, mà những pháp môn thực
tập của mình cũng lớn. Và những kinh nghiệm học hỏi và
thực tập của mình cũng lớn như những cây tùng.
Làng
Mai vô tướng
Năm
1983, đứng ở trên đỉnh đồi nhìn xuống thì tôi đã thấy
hoa mai nở trắng cả đồi. Đó là cái nhìn trong bản môn.
Cái tên Mai Thôn rất đẹp. Vì vậy sau này chúng ta đã đổi
tên Làng Hồng thành Làng Mai. Trên thực tế ta chỉ trồng
có mấy chục cây hồng thôi trong khi đó trồng tới 1250 cây
mai. Vào khoảng bốn năm sau thì đến mùa xuân hoa mai nở rất
đẹp. Vào mỗi tháng tư chúng ta đều có tổ chức Hội Hoa
Mai, có trà, có bánh, có ca hát, có thi ca. Ở Làng Mai có hai
hội hoa: một gọi là Hội Hoa Mai và một gọi là Hội Thủy
Tiên vì trên Xóm Thượng vào cuối tháng ba thì hàng ngàn,
hàng chục ngàn bông thủy tiên nở. Mình chưa bao giờ trồng
những bông thủy tiên ấy. Chúng nằm sẵn ở khu gọi là Pháp
Thân Tạng. Chúng ta thường tổ chức Hội Thủy Tiên vào cuối
tháng ba. Sau đó độ chừng nửa tháng thì tổ chức Hội Hoa
Mai ở Xóm Hạ. Về Làng vào tháng tư thì quý vị sẽ được
dự Hội Hoa Mai rất đẹp và rất thơ.
Bây
giờ Làng Mai đã có thêm Xóm Mới tức là Chùa Từ Nghiêm,
rồi Xóm Mới Đầu Thôn và Xóm Mới Lưng Đồi. Trên Xóm Thượng
chúng ta lại có thêm Xóm Trung và Xóm Đoài. Khi tới Làng Mai,
nhìn vào Làng Mai thì cố nhiên chúng ta có một ý niệm về
Làng Mai. Nhưng nhiều người trong chúng ta rất ngạc nhiên
khi thấy Làng Mai không giống như cái mình tưởng tượng.
Ta tưởng tượng Làng Mai ghê gớm lắm. Với phái đoàn của
Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc, chúng ta đã cảnh cáo trước
rồi, nói rằng bên chúng tôi không có gì hết, chỉ toàn là
cây thôi, toàn là những chuồng bò xây dựng lại làm thiền
đường và tăng xá. Đã nói rất là nhiều lần mà khi qua
tới họ vẫn còn ngạc nhiên như thường. Họ không ngờ Làng
Mai nghèo, đơn sơ và thanh bạch như thế. Tôi nhớ hồi xưa
khi hòa thượng Tắc Phước ở bên Úc qua, ngài đem theo một
cái máy thu hình (camcorder). Khi tới Làng ngài rất ngạc nhiên
và nói: "Làng Hồng không có gì hết à?" Mà đúng là Làng
Hồng không có gì hết: không có một mái chùa cong, không có
một tượng Phật lớn. Vì vậy cho nên ý niệm của mình về
Làng Mai và cái sự thật về Làng Mai rất khác nhau. Hiện
bây giờ chúng ta có hòa thượng Minh Cảnh đang thăm viếng
Làng Mai. Ngài mới tới đây độ chừng hai tuần hay ít hơn
hai tuần. Ngài nói: "Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy
không bằng một rờ." Ngài đã thấy, ngài đã rờ, nhưng mà
chưa chắc ngài đã biết được sự thật về Làng Mai. Thượng
tọa Nguyên Chơn tới trước, và cố nhiên cái thấy của Thượng
tọa đã khác với cái thấy của hòa thượng vì thượng tọa
Nguyên Chơn đã có cơ hội thấy những yếu tố không phải
Làng Mai của Làng Mai. Nhìn vào Làng Mai như thế nào để thấy
được những yếu tố không phải Làng Mai của Làng Mai. Thượng
tọa Nguyên Chơn đã được đi Hoa Kỳ, đã được tiếp xúc
với tăng thân của Làng Mai ở Hoa Kỳ, và vì vậy thượng
tọa thấy được Làng Mai sâu hơn hòa thượng Minh Cảnh. Nhưng
thượng tọa Giác Trí lại đã được thấy Làng Mai sâu sắc
hơn vì thượng tọa Giác Trí đã được đi theo những chuyến
hoằng pháp tại Âu châu, đã đi Đức, đã đi Ý, đã thấy
được tăng thân Làng Mai tại Đức, tại Ý; và vì vậy cái
thấy của thượng tọa Giác Trí đã rất khác. Vì vậy, mỗi
người trong chúng ta có một cái thấy về Làng Mai. Sư chú
Pháp Cần lớn lên ở bên Đức, học ở bên Đức và qua tu
ở Làng Mai. Năm vừa rồi được tháp tùng phái đoàn đi Đức,
sư chú đã khám phá ra một nước Đức rất mới. Trong suốt
những năm ở Đức sư chú chưa bao giờ được tiếp xúc với
tăng thân Làng Mai ở bên Đức. Về Đức lần này sư chú
thấy rõ ràng rằng ở bên Đức số lượng những người
Việt và những người Đức tu học theo pháp môn Làng Mai rất
đông. Có những pháp thoại ba ngàn người Đức tham dự, có
những pháp thoại bảy ngàn người Đức tham dự, có những
buổi thiền hành bốn ngàn người Đức tham dự. Trở về
nước Đức, sư chú khám phá ra một nước Đức hoàn toàn
mới lạ. Làng Mai đang nằm trong nước Đức thế nhưng ở
7, 8 năm bên đó sư chú không thấy. Chúng ta phải tìm thấy
sự thật bằng con mắt vô tướng. Những yếu tố không-phải-Làng-Mai
nằm ở khắp nơi, nằm ở trong lòng mình. Sư chú Pháp Đôn
cũng vậy, lớn lên ở tiểu bang Florida, đã đi chùa bên đó,
đã được gặp tôi trong một khóa tu bên Mỹ, đã qua Làng
tu học. Mùa thu vừa rồi được tháp tùng tôi và phái đoàn
đi Mỹ, sư chú đã khám phá ra một nước Mỹ rất mới. Tại
vì lần đầu tiên sư chú được tiếp xúc với tăng thân
Làng Mai ở bên Hoa Kỳ, khắp nơi, khắp nơi. Vì vậy, tới
đây, với một cái camcorder để thâu hình chưa chắc thâu
được Làng Mai. Làng Mai không phải là một ngôi chùa Việt
Nam đặt trên mảnh đất Âu châu. Trong Làng Mai ta thấy có
văn hóa Ấn Độ, ta thấy có văn hóa Trung Quốc, ta thấy có
văn hóa Việt Nam, ta thấy có văn hóa Tây phương. Vì vậy
nhìn Làng Mai cho kỹ ta thấy có những yếu tố không phải
là Làng Mai nằm ở trong Làng Mai. Vì vậy Làng Mai cũng là
một đối tượng thiền quán. Nhìn càng sâu, ta thấy càng
rõ. Nếu không thì nhìn Làng Mai ta chỉ có một khái niệm
rất cạn, rất mơ hồ về Làng Mai. Nếu nhìn Làng Mai cho kỹ
thì mình thấy Làng Mai cũng bất sinh và bất diệt. Ngày xưa
khi đi thăm tu viện Kỳ Viên, Jeta Grove, ở Ấn Độ thì tôi
thấy tu viện Kỳ Viên không còn nữa. Có một phái đoàn khảo
cổ Nhật đang khai quật khu đất tu viện Kỳ Viên, phát hiện
ra nền móng của nhiều tu viện san sát nhau. Tất cả tu viện
Kỳ Viên đều đã bị san bằng theo thời gian và đất cát
đã phủ lấp lên. Bây giờ nhờ đoàn khảo cổ đó khai quật
lên chúng ta mới thấy rõ ràng những tu viện rất lớn nằm
bên nhau san sát. Chúng ta nhận ra được đây là chánh điện,
đây là tăng xá, đây là giảng đường. Nhưng tu viện Kỳ
Viên đâu có phải không còn, vì khi chúng ta đi qua các nước
khác, thấy các tu viện ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên
hay Tây Tạng thì chúng ta lại thấy rằng Kỳ Viên vẫn còn
đó trong những hình thức mới của nó. Vì vậy Kỳ Viên tính
là bất sinh bất diệt. Làng Mai cũng vậy. Ví dụ ngày mai
này họ đóng cửa Làng và có người xây cất siêu thị ở
Xóm Thượng và Xóm Hạ thì Làng Mai vẫn còn, còn dưới những
hình thái mới của nó ở khắp nơi, nhất là trong lòng chúng
ta. Vì vậy, tới Làng Mai, ta phải nhìn Làng Mai cho kỹ để
thấy được tính bất sanh bất diệt của Làng Mai, thấy thực
tại của Làng Mai vượt ngoài các tướng.
Đường
xưa mây trắng
Năm
đầu khi mở cửa Làng Mai vào mùa hè, tôi thường hay cư trú
trên phòng của cư xá Hồ Đào gần với cây Tilleul. Ở dưới
có quán sách và ở trên là phòng tôi ở. Vào năm đầu và
năm thứ hai chúng ta có ít phòng lắm nên tôi đã ngủ chung
với mấy thiếu nhi. Bốn năm đứa trẻ ngủ chung với tôi
và ban đêm các cháu đã nằm lăn ra khắp nơi. Bài hát "Con
về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con
trong cuộc đời..." tôi có chủ ý làm cho thiếu nhi hát. Tôi
nghĩ là thiếu nhi phải hát chứ tụng thì chưa đủ. Hôm đó
tôi ngồi thiền buổi chiều trong thiền đường Yên Tử. Trước
mặt tôi có một tảng đá vì các bức tường của thiền
đường Yên Tử đều được xây toàn bằng đá. Đang ngồi
thiền thì thấy tự nhiên những nốt nhạc của bài "Con về
nương tựa Bụt" đi ra. "Con về nương tựa Bụt, Namo Buddhaya".
Sau đó tôi sửa lại "Con về nương tựa Bụt, người đưa
đường chỉ lối cho con trong cuộc đời" rồi mới tới "namo
Buddhaya". Tôi tự nghĩ: "Mình đang ngồi thiền chứ đâu phải
đang sáng tác nhạc. Thôi để ngồi thiền xong rồi sẽ sáng
tác tiếp." Nhưng ngồi một lát nữa thì những nốt nhạc
lại trở về. Tôi nghĩ: "Thôi, nếu đã như vậy thì mình
sáng tác ngay lúc này." Và trong khi ngồi thiền tôi tiếp tục
sáng tác bài "Con về nương tựa Bụt". Ngồi thiền xong thì
tôi ra thâu bài hát vào băng nhựa vì sợ quên. Trong thời
gian thiền sư Baker Roshi tới thăm Làng Mai, tôi đã khởi thảo
tập sách Thiền Hành Yếu Chỉ. Rất nhiều người muốn có
một tập sách hướng dẫn về thiền đi. Sau đó thì những
bài thi kệ nhật dụng bằng tiếng Việt được sáng tác.
Tôi còn nhớ là hồi đó tôi viết Đường Xưa Mây Trắng
ở trong cái quán của Xóm Thượng. Hồi đó chưa có lò sưởi
trung ương, trong phòng chỉ có một cái lò sưởi đốt củi
thôi và trời rất lạnh. Tay phải tôi viết còn tay trái thì
đưa ra hơ trên lò sưởi. Tôi đã viết những chương của
Đường Xưa Mây Trắng với rất nhiều hạnh phúc. Thỉnh thoảng
tôi đứng dậy pha trà để uống. Mỗi ngày viết mấy giờ
cũng như được ngồi uống trà với đức Thế Tôn. Và tôi
biết trước người đọc sẽ rất có hạnh phúc vì khi viết,
mình cũng đang có rất nhiều hạnh phúc. Viết Đường Xưa
Mây Trắng không phải là một lao động mệt nhọc mà là cả
một niềm vui lớn. Đó là một quá trình khám phá. Có những
đoạn tôi cho là khó viết, như đoạn Bụt độ ba anh em ông
Ca Diếp. Tài liệu thường nói là Bụt độ ba anh em đó nhờ
thần thông của Ngài nhưng khi viết thì tôi đã không để
cho Bụt dùng thần thông mà cứ để Bụt sử dụng từ bi
và trí tuệ của Ngài để độ ba ông ấy. Bụt có rất nhiều
trí tuệ, rất nhiều từ bi, tại sao Bụt không dùng mà lại
phải dùng thần thông? Và tôi có một niềm tin rất vững
chãi là mình sẽ viết được chương đó. Chương này là một
trong những chương khó nhất của Đường Xưa Mây Trắng nhưng
cuối cùng tôi đã thành công. Cái chương khó thứ hai là chương
nói về cuộc trở về của Bụt để thăm gia đình. Mình đã
thành Phật rồi, mình đã thành bậc toàn giác rồi, nhưng
về thăm gia đình mình vẫn còn là một đứa con của cha,
của mẹ, vẫn là một người anh của em. Viết như thế nào
để Bụt vẫn còn giữ lại được tính người của Ngài.
Cũng nhờ niềm tin đó mà tôi thành công. Quý vị đọc lại,
sẽ thấy Bụt về thăm nhà rất tự nhiên. Cách Ngài nắm
tay vua cha đi từ ngoài vào, cách Ngài đối xử với em gái,
cách Ngài đối xử với Yasodhara và Rahula, rất tự nhiên.
Tôi có cảm tưởng là có chư tổ gia hộ nên tôi mới viết
như vậy được. Trong Đường Xưa Mây Trắng chúng ta khám
phá ra Bụt là một con người chứ không phải là một vị
thần linh. Đó là chủ tâm của tác giả, giúp cho người ta
khám phá lại Bụt như một con người và lột ra hết các
vòng hào quang thần dị người ta đã choàng lên cho Bụt. Không
thấy Bụt như một con người thì người ta sẽ tới với
Bụt rất khó.
Rue
de la goutte d(Or
Tôi
rời đất nước năm 1966, vào tháng năm. Lúc đó chiến tranh
Việt Nam đã đi tới mức khủng khiếp. Tôi nghĩ rằng mình
phải ra đi để cất lên tiếng kêu gọi hòa bình. Tôi chỉ
muốn đi vài tháng thôi rồi về. Lúc đó trường đại học
Cornell ở Ithaca mời tôi qua để giảng một loạt bài về
tình hình ở Đông Nam Á. Người đứng ra mời là George Kahin,
giáo sư chính trị học ở tại trường Cornell. Tôi đi ra để
nói rõ là dân Việt Nam không muốn đánh nhau nữa, chỉ muốn
ngồi xuống thương thuyết với nhau để đi tới một giải
pháp hòa bình và các cường quốc lớn trên thế giới đừng
dùng Việt Nam làm một chỗ để tranh giành ảnh hưởng nữa,
đừng sử dụng ý thức hệ cũng như bom đạn trên đất nước
nhỏ bé đó. Trong chuyến đi này, tôi có nhờ một tổ chức
hòa bình là Fellowship of Reconciliation, gọi là Hội Thân Hữu
Hòa Giải sắp đặt. Đó là một tổ chức có tính cách tôn
giáo và tâm linh, không phải là một tổ chức chính trị.
Họ bảo trợ cho tôi để tôi có thể đi khắp nơi trên nước
Mỹ và các nước Âu châu và Úc châu để nói lên tiếng nói
của những người khao khát hòa bình. Trong chuyến đi đó tôi
đã đi Mỹ, đã đi hầu hết các nước Âu châu và sau đó
tôi đi Úc, đi Tân Tây Lan, đi Phi Luật Tân và đi Nhật. Trong
quá trình vận động hòa bình này, tôi được báo tin rằng
chính quyền Việt Nam không muốn cho tôi về nữa. Vì vậy
tôi đã bị lưu đày từ tháng 5 năm 1966 đến bây giờ. Hồi
đó, gần như mỗi đêm tôi đều có nằm mơ về nhà. Tất
cả bạn bè, học trò và công việc lý tưởng của mình đều
ở Việt Nam. Nào là Viện Cao Đẳng Phật học, Viện Đại
Học Vạn Hạnh, tuần báo Hải Triều Âm, trường Thanh Niên
Phụng Sự Xã Hội, nhà xuất bản Lá Bối, tất cả công việc
đó, tất cả học tăng nam và nữ đều ở Việt Nam. Vì vậy
không về được Việt Nam tôi rất buồn. Tôi bị lưu đày
vì đã dám cất lên tiếng kêu gọi hòa bình. Trong những giấc
mơ tôi thấy tôi đang leo một cái đồi rất xanh, có những
cây rất đẹp và có những căn nhà rất xinh xắn. Thường
thường leo tới lưng chừng đồi thì tôi tỉnh dậy và nhớ
rằng mình đang bị lưu đày. Giấc mơ này cứ lập đi lập
lại nhiều lần. Tôi đi làm việc rất hăng hái. Có khi chỉ
ngủ một đêm ở một thành phố, và khi làm việc tại thành
phố đó xong thì phải bay đi thành phố khác. Thời gian ngồi
trên máy bay là lúc nghỉ ngơi vì xuống máy bay, vào đến
phi trường là phải họp báo, phải nói chuyện. Tôi đã đi
tới rất nhiều các thành phố lớn ở Âu châu, Mỹ châu,
Úc châu. Có lúc thức dậy ở khách sạn, tôi không biết là
tôi đang ở đâu. Hồi đó các thành phố ở Âu châu chưa
có chùa. Tổ chức bảo trợ cho tôi là một tổ chức hòa
bình có khuynh hướng tôn giáo mà trụ sở đặt ở Newark,
New York. Họ lo cho tôi về vấn đề chuyên chở và cư trú,
và họ cử một vị phụ tá đi theo. Hồi đó làm gì có phụ
tá người Việt nên mỗi khi bị cảm tôi phải nhờ phụ tá
người Mỹ cạo gió. Mà phụ tá người Mỹ làm sao biết cạo
gió, nên tôi phải huấn luyện cho người đó để anh ta có
thể cạo gió được. Lúc đó tôi đã biết tu tập chánh niệm,
biết cố gắng an trú bây giờ và ở đây, cho nên trong mỗi
hơi thở, trong mỗi bước chân, tôi đều có thực tập làm
quen với cảnh vật và con người ở tại Âu châu. Cây cối
ở đây khác, chim chóc khác, hoa cỏ cũng khác và người cũng
khác. Tôi phải tập làm quen và chơi với trẻ em ở Âu châu:
trẻ em Đức, trẻ em Pháp, trẻ em Ý; làm bạn không phải
với những ông thầy tu đạo Bụt mà làm bạn với những
ông mục sư Tin Lành, những ông linh mục Công giáo, và thực
tập nhận diện những cái mầu nhiệm của hiện hữu đang
có mặt xung quanh mình. Tôi thực tập rất đàng hoàng và sau
đó vào khoảng một năm hay một năm mấy thì giấc mơ kia
không trở về nữa. Tôi đã chấp nhận cả trái đất là
quê hương của mình. Từ năm 1968 đến 1975 tôi thành lập
và hướng dẫn một phái đoàn hòa bình của giáo hội Phật
Giáo Việt Nam tại Paris. Cuối năm 68, đầu 69 đã có hội
nghị hòa bình tại Paris và khi thăm dò thì biết bộ ngoại
giao chính phủ Pháp đồng ý cho mình mở một trụ sở của
Phật giáo tại Paris. Nhưng khi mình triệu tập hội nghị Phật
giáo Việt Nam tại Paris, mời tất cả các đại diện Phật
giáo Việt Nam tại các nước về họp ở Paris thì bộ ngoại
giao lại không cho, bộ ngoại giao ép mình phải đem cái hội
nghị đó về Fontaienbleau dưới áp lực các phái đoàn Hà
Nội, Sài Gòn và Mỹ. Ban đầu trụ sở của phái đoàn Phật
giáo Việt Nam là ở tại Maisons Alfort, ngoại ô Paris. Sau đó,
vào tháng 5, 1970 thì mới dời trụ sở đó về Paris, đó là
số 11 đường La Gtoutte d'Or ở Paris 18 è. Trước đó tôi đã
sáng tác được cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa (Lotus in the Sea
of Fire), được xuất bản bằng tiếng Anh, rồi bằng tiếng
Đức, rồi bằng một số các thứ tiếng khác trong đó có
tiếng Nhật. Cuốn này cũng được in chui ở Việt Nam nhiều
lần. Sư cô Chân Không hồi đó có giúp vào việc in chui, phát
hành chui sách này và bị bắt. Sư cô bị bắt tại Huế vì
có trong người một cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa, được xem
như tài liệu hòa bình. Cô được chuyển về nhà giam ở Sài
Gòn. Hồi đó tôi cũng sáng tác và gửi về nhà một tập
thơ gọi là Tiếng Đập Cánh Loài Chim Lớn cũng đã được
sư cô in chui. Nhà xuất bản ở bên Mỹ cũng có in của tôi
một tập thơ gọi là The Cry of Vietnam, in tiếng Anh và sau đó
được dịch ra nhiều thứ tiếng khác. Trong thời gian làm
việc tại Maisons Alfort tôi có xuất bản cuốn Love in Action
và một tập khảo luận gọi là Đối Thoại Cánh Cửa Hòa
Bình, đối thoại giữa những người quốc gia và người cọng
sản, (Dialogue, the Key to Vietnam Peace). Sau đó một thời gian
phái đoàn Phật Giáo Việt Nam được dời về thành phố Sceaux,
69 Boulevard des Granges mà số điện thoại là 7.02.67.33. Trong
thời gian làm việc tại Sceaux tôi có sáng tác được Vấn
Đề Nhận Thức Trong Duy Thức Học, tôi có viết được Văn
Lang Dị Sử, Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức, Việt Nam Phật
Giáo Sử Luận I. Trong thời gian đó tôi được nhận vào dạy
ở trường Ecole Pratique des Hautes Etudes trong ngành gọi là Science
Historique et Philologique (khoa học lịch sử và bác ngữ). Chính
trong thời gian giảng dạy đó mà tôi tìm ra được sự thật
là Tuệ Trung Thượng Sĩ không phải con của Trần Hưng Đạo
mà là anh ruột của tướng Trần Hưng Đạo. Hồi đó tôi
cũng viết cuốn Nẻo Vào Thiền Học nhưng không phải bằng
tiếng Việt. Nó được một nhà xuất bản ở Paris đặt viết
bằng tiếng Pháp, và khi xuất bản tên là "Clés du Zen".
Sau
1975, khi Mỹ rút khỏi Việt Nam và chính quyền miền Bắc nắm
hết cả miền Bắc lẫn miền Nam thì tăng thân ở Paris rút
về Phương Vân Am. Phương Vân Am cách một giờ rưỡi từ
Paris, và là chỗ mà trước đó mỗi cuối tuần mình đều
về để tu dưỡng. Tại Phương Vân Am tôi đã sáng tác được
Bưởi, Trái Tim Mặt Trời, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận II
và Việt Nam Phật Giáo Sử Luận III. Trong thời gian ở Phương
Vân Am này, từ 1975 đến 1982, cho đến khi tìm ra Làng Mai thì
tôi, sư cô Chân Không và một số các vị khác trong tăng thân
đã tổ chức cứu trợ thuyền nhân, đã thuê ba chiếc tàu,
một chiếc tên là Leapdal, một chiếc tên là Roland, và một
chiếc tên là Saigon 200 để đi cứu thuyền nhân trên biển.
Mục đích của mình là vớt người trên biển để chở một
cách bí mật tới các nước như Úc... Lúc ấy trên thuyền
của mình đã có 550 thuyền nhân, nhưng sau đó công tác bị
lộ, tôi cũng như sư cô Chân Không bị dẫn độ, tức là
bị đuổi ra khỏi Tân Gia Ba, vì văn phòng của mình hoạt
động bí mật ở Tân Gia Ba. Tân Gia Ba có một chính sách rất
không nhân từ đối với thuyền nhân. Mình bị lộ vì các
nhà báo đi săn tin, nếu không thì mình đã có thể chở các
thuyền nhân đó sang Úc và họ đã được định cư rất sớm.
Vì bị phát giác nên các thuyền nhân đó bị giao cho Ủy Ban
Tị Nạn của Liên Hiệp Quốc và phải ở trong các trại tị
nạn ba năm, bốn năm hoặc năm năm mới có thể đi định
cư. Rất tiếc. Trong cuốn Thử Tìm Dấu Chân Trên Cát sư cô
Chân Không có kể lại câu chuyện đi cứu trợ thuyền nhân
trên biển. Mời quý vị đọc. Như quý vị đã biết, ở Phương
Vân Am, mỗi mùa hè mình cũng mở cửa cho thiền sinh tới tu
học nhưng vì cơ sở bé nhỏ quá nên mình mới có ý đi về
miền Nam để kiếm một chỗ lớn hơn. Sư cô Chân Không, trước
khi rời Việt Nam để qua giúp tôi, đã làm việc với trường
Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội rất đắc lực. Và sư cô Chân
Không đã có mặt với tôi bắt đầu từ năm 1968 cho tới
bây giờ, đã yểm trợ tất cả công tác về hòa bình, về
xã hội của tôi một cách liên tục, không có một giây phút
nào ngưng nghỉ, không có một giây phút nào thối chí và muốn
bỏ cuộc. Cố nhiên là tôi có rất nhiều các bạn và các
đệ tử khác, nhưng có người đã bỏ cuộc nửa chừng, bởi
vì trên đường tranh đấu cho hòa bình, nhân quyền và xây
dựng Tăng thân, có rất nhiều hiểm nguy, khó khăn và trở
ngại. Có thể là vì có những khó khăn nội tâm hay khó khăn
ngoại cảnh mà nhiều người phải bỏ cuộc nhưng sư cô Chân
Không đã đi bên tôi từ đầu đến cuối như một chiến
hữu, chưa bao giờ có tư tưởng bỏ cuộc nửa chừng.
Sen
búp từng cánh hé
Tôi
xuất gia ở Việt Nam, lớn lên ở Việt Nam, học Phật ở
Việt Nam, tu tập ở Việt Nam nhưng có chứng đắc ở Tây
phương. Trước đó tôi đã từng dạy nhiều thế hệ học
tăng rồi. Chính năm 1962 tại trường đại học Princeton nơi
tôi cư trú, tôi bắt đầu có những cái thấy rất sâu sắc,
hoa trái của sự thực tập. Nếu đọc Nẻo Về Của Ý thì
quý vị sẽ thấy chuyện tôi đi qua Princeton cũng giống như
chuyện tôi đi tu vậy. Vì hoàn cảnh Việt Nam lúc đó rất
căng thẳng, và khi qua tới Princeton tôi thấy trường đại
học này giống như một cái tu viện, xa hẳn những đòi hỏi
cấp bách của thời thế. Tôi có thì giờ rất nhiều để
đi thiền hành, để làm chín những cái thiền quán chưa được
chín lúc đó. Mùa hè năm 1962 tôi viết cuốn Bông Hồng Cài
Áo. Bông Hồng Cài Áo là một tập văn rất đơn sơ, nhưng
đó thực sự là hoa trái của tuệ giác. Đó là lần đầu
giáo pháp "hiện pháp lạc trú" được diễn tả. Tất cả
chúng ta đều có một bà mẹ. Mẹ thơm như chuối ba hương,
ngon như xôi nếp một và ngọt như đường mía lau, vì vậy
ta đừng sống hờ hững mà phải sống cho có ý thức. Đó
là cái thấy hiện pháp lạc trú. Mình sống như thế nào để
những cái mầu nhiệm của cuộc sống đừng vuột khỏi tầm
tay mình, mình phải sống sâu sắc với mỗi giây phút trong
hiện tại. Vì vậy cho nên có thể coi Bông Hồng Cài Áo là
cái hoa đầu tiên nở trên sự giác ngộ của tôi. Và từ
đó trở đi thì cái thấy ấy cứ một con đường đó mà
đi tới. Bài thuyết pháp hay nhất mà ngắn nhất của tôi
là "Đã về, đã tới". Chỉ có bốn chữ thôi. Và sáng nay
tôi có nói với sư em Châu Nghiêm rằng bốn chữ "đã về,
đã tới" có thể coi là pháp ấn của Làng Mai. Bất cứ một
bài thuyết pháp nào, bất cứ một giáo lý nào mà đi ngược
lại tinh thần "đã về, đã tới" thì đó không phải đích
thực là giáo lý và sự thực tập của Làng Mai. Dấu ấn
"Đã về, đã tới" đã phát hiện ngay từ năm 1962 trong tác
phẩm rất nhỏ bé tên là Bông Hồng Cài Áo. Và trong thời
gian hoạt động cho hòa bình ở ngay tại Paris thì tôi cũng
đã sáng tác tác phẩm gọi là Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức.
Sách này viết năm 1974. Tôi đã viết cuốn đó vì thương
các bạn xuất gia và tại gia đang phục vụ tại trường Thanh
Niên Phụng Sự Xã Hội trong một hoàn cảnh lửa đạn rất
là nguy hiểm. Cuốn đó viết xong thì được gửi về Việt
Nam in. Bên này tôi nghĩ rằng các bạn Tây phương của mình
đang yểm trợ công cuộc vận động hòa bình cũng có thể
được thừa hưởng giáo lý đó cho nên Phép Lạ của Sự
Tỉnh Thức đã được dịch ra tiếng Anh, The Miracle of Mindfulness.
Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức là một cuốn sách dạy mình
an trú trong hiện tại, sống chánh niệm, biết cái gì đang
xảy ra trong giờ phút hiện tại. Giữa Bông Hồng Cài Áo năm
1962 và Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức năm 1974 là mười hai
năm, tôi đã sáng tác rất nhiều. Quý vị có thể thấy trong
những sáng tác đó diễn biến của cái thấy của tôi. Đó
là quá trình sen búp từng cánh hé. Một điều có thể ghi
nhận là trong cuộc đời mình, tôi đã có cơ hội mang đạo
Bụt Đại Thừa về tắm lại trong dòng suối Nguyên Thủy.
Trước khi về lại với dòng suối Nguyên Thủy thì tôi đã
có cái thấy, đã có sự chứng đắc về Hiện Pháp Lạc Trú.
Về lại với nguồn suối Nguyên Thủy thì cái thấy đó lại
được chứng nghiệm rõ ràng hơn. Cuốn Phép Lạ của Sự
Tỉnh Thức đã được nhà xuất bản Beacon ấn hành, và cho
tới nay, sau mấy chục năm, cuốn sách vẫn tiếp tục bán
được như thường. Bán dài dài. Vì vậy quý vị có thể
nói là Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức là một cuốn sổ tay,
là một thiền phổ mà quý vị có thể chia sẻ cho những người
muốn thực tập pháp môn của Làng Mai. Người nào chưa đọc
Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức thì nên tìm mà đọc. Phép Lạ
của Sự Tỉnh Thức (The Miracle of Mindfulness) đã xuất bản
ít nhất là trong ba mươi thứ tiếng. Thiền chánh niệm là
phép thực tập căn bản ở Làng Mai, và chánh niệm có nghĩa
là an trú trong hiện tại, thấy được cái gì đang xảy ra
trong hiện tại, tích cực cũng như tiêu cực. Những cái tích
cực để nuôi dưỡng, những cái tiêu cực để chuyển hóa.
Hai mươi năm của Làng Mai đã giúp tôi học hỏi được rất
nhiều, đã giúp cho tăng thân của Làng Mai lớn lên rất nhiều.
Liên
hệ thầy trò
Hồi
xưa tôi đã từng đào tạo những thế hệ học tăng, nam cũng
như nữ. Tôi rất thương yêu thế hệ tăng ni sinh trẻ tuổi,
lo cho họ hết mình. Tôi đã nghĩ rằng lo cho họ là đủ,
mình khỏi cần phải có đệ tử. Khi sang tới ngoại quốc
tôi vẫn giữ tâm niệm đó. Cho tới một ngày tôi thấy rõ
ràng rằng nếu không có cái liên hệ thầy trò với người
đệ tử thì sự thực tập của người đệ tử không đi
xa được. Tôi đã từng giảng dạy ở các thiền viện ở
Hoa Kỳ và ở Âu châu. Trong khi giảng dạy cho họ thì có liên
hệ thầy trò, nhưng sau đó thì liên hệ đó trở thành lỏng
lẻo, vì vậy họ không lớn lên được. Họ không thực tập
một cách miên mật và liên tục giáo lý của mình, vì liên
hệ thầy trò không có. Vì vậy sau đó tôi đã quyết định
có những người đệ tử xuất gia và những người đệ tử
tại gia. Tôi khám phá ra được rằng cái liên hệ thầy trò
rất quan trọng, không những cho học trò mà cho cả tôi nữa.
Và tôi đã học được rất nhiều khi có những người đệ
tử sống và thực tập chung với tôi, những người đệ tử
xuất gia và tại gia.
Làng
Mai đã đóng góp rất nhiều không những cho đạo Bụt Âu
châu, Mỹ châu mà còn đóng góp rất nhiều cho đạo Bụt ở
Việt Nam. "Làm Mới" là một pháp môn. Nếu không có những
người đệ tử xuất gia ở Làng Mai thì tôi đã không sáng
tác được sách Bước Tới Thảnh Thơi. Bước Tới Thảnh
Thơi là một cuốn sách giáo khoa, là nền tảng thực tập
cho người sa di và sa di ni. Cuốn sách giáo khoa của sa di và
sa di ni mà hiện giờ các nước Phật giáo đang sử dụng đã
được sáng tác cách đây 400 năm. Các thầy Châu Hoằng và
Vân Thê đã sáng tác cuốn đó. Trong 400 năm, các cô các chú
đã chỉ dùng một cuốn đó thôi. Tôi nghĩ rằng nó cũ quá,
xưa quá, không còn thích hợp nữa. Do đó thầy trò Làng Mai
đã ngồi xuống và sáng tác được Bước Tới Thảnh Thơi
trong đó có tới 39 thiên uy nghi thay vì 24. Mười giới được
trình bày một cách rất thực tế, rất mới, với giới tướng
thật đẹp và đầy đủ. Nếu không có giới xuất gia ở
đây thì mình cũng đã không có Nhật Tụng Thiền Môn để
cống hiến cho Việt Nam. Hiện bây giờ ở Việt Nam có rất
nhiều chùa đang sử dụng Nhật Tụng Thiền Môn. Chúng ta đã
có nghi thức tụng giới tỳ kheo, tỳ kheo ni bằng tiếng Việt,
tiếng Anh và tiếng Pháp. Chúng ta đã có những giới bản
dùng trong các giới đàn truyền giới bằng tiếng Việt, bằng
tiếng Anh và tiếng Pháp. Vì cần dạy đệ tử xuất gia ở
Làng Mai nên chúng ta đã sáng tác ra những tư liệu đó mà
ở quê nhà, các chùa, các tu viện, các Phật học viện có
thể sử dụng. Chúng ta hãy nói tới một ví dụ là tác phẩm
Trái Tim Của Bụt. Trái Tim Của Bụt là Phật pháp căn bản
để dạy cho người xuất gia và nó đã được sử dụng,
đang được sử dụng bởi các giáo thọ trẻ ở Việt Nam
để giảng dạy trong các trường Phật học cơ bản. Chính
nhờ vào giáo trình đó mà chúng ta có một khóa tu 21 ngày
cho người Tây phương cũng lấy tên là Trái Tim Của Bụt.
Sách Trái Tim Của Bụt cho người Tây phương là cô đọng
cuốn Trái Tim Của Bụt cho người xuất gia tại Làng Mai, vì
tại Làng Mai các thầy các sư cô phải học chương trình này
cả năm trong khi Trái Tim Của Bụt cho người Tây phương chỉ
học trong 21 ngày. Vì vậy cuốn Trái Tim Của Bụt bằng tiếng
Việt giàu có và nhiều tư liệu hơn cuốn The Heart of the Buddha's
Teachings bằng tiếng Anh và bằng tiếng Pháp rất nhiều. Các
vị giáo thọ trẻ ở Việt Nam dùngTrái Tim Của Bụt làm tài
liệu giảng dạy và họ cũng sử dụng nhiều tư liệu khác
của Làng. Chúng ta có những khóa học cho người xuất gia
như là khóa "Kinh Samidhi, hạnh phúc mộng và thực", khóa Đại
Tạng Nam Truyền, khóa Đại Tạng Bắc Truyền, khóa Duy Thức
Tam Thập Tụng, khóa Duy Biểu 50 bài tụng, khóa Nhiếp Đại
Thừa v.v.. Những khóa ấy nhắm vào người xuất gia nhưng
những người cư sĩ cũng được thừa hưởng. Chúng ta đã
sáng tạo ra chương trình Bốn Năm Đào Tạo Người Xuất Gia.
Ngày xưa đào tạo cần mười năm, bây giờ ta đào tạo trên
căn bản bốn năm và khi học xong bốn năm thì đã có khả
năng tổ chức những khóa tu, hướng dẫn những ngày quán
niệm. Và thường thường sau năm năm thì người xuất gia
được làm lễ truyền đăng. Ở Làng Mai chúng ta có ba hình
thức giáo thọ: các vị giáo thọ xuất gia, các vị giáo thọ
tại gia và các vị giáo thọ xuất gia danh dự. Tuần sau chúng
ta sẽ làm lễ Truyền Đăng cho một số các vị xuất gia và
tại gia. Nếu kể hết số lượng của những vị xuất gia
được truyền đăng tại Làng Mai, kể cả những vị sắp
được truyền đăng là chúng ta đã truyền đăng cho khoảng
70 vị. Nếu kể cả những vị giáo thọ tại gia thì số lượng
các vị đã được truyền đăng và đi giảng dạy các nơi
là trên 100 vị. Những vị xuất gia đã được truyền đăng
tại Làng Mai và đang giảng dạy tại Việt Nam cũng nhiều.
Tại Làng Mai người xuất gia được học những lớp rất
dài và rất sâu mà phần lớn nhờ vào những khóa tu mùa đông.
Ví dụ như lớp học về "Truyền thống sinh động của đạo
Bụt", như là khóa "Thực tập ở Làng Mai" (The practice of Plum
Village), khóa "Đại Tạng Nam Truyền", hay là khóa "Đại Tạng
Bắc Truyền" trong đó có rất nhiều kinh lớn như kinh Duy Ma,
kinh Bát Nhã, kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm được giảng dạy.
Một số các bài giảng đó đã được làm thành sách để
cho những người xuất gia ở Việt Nam được thừa hưởng.
Vì vậy cho nên sự học hỏi và tu tập của các vị xuất
gia ở Làng Mai cũng đóng góp nhiều cho sự học hỏi và tu
tập ở quê hương cũng như ở Âu châu và Mỹ châu. Khi bắt
đầu có đệ tử xuất gia, tôi học hỏi được rất nhiều.
Cái liên hệ thầy trò trực tiếp và thường xuyên làm cho
tôi thấy được cách giáo dục nào có thể đưa tới sự
thành công chắc chắn. Về sự phối hợp giữa giáo lý và
hành trì luật nghi ta không thể phân biệt ra được. Trong
quá trình dạy dỗ và thực tập thì mình đã sáng tạo ra
được những pháp môn rất mầu nhiệm mà những người tại
gia và cư sĩ cũng có thể thừa hưởng được. Những quan
niệm như tăng thân, tăng nhãn, làm mới, soi sáng, thiền lạy,
đệ nhị thân v.v.. là những hoa trái của sự thực tập và
học hỏi ở Làng Mai, được sử dụng trong giới xuất gia
mà cũng được sử dụng trong giới tại gia nữa. Sự có mặt
của các sư cô sư chú ở Làng Mai đã đem lại cho tôi rất
nhiều hạnh phúc. Có lẽ một trong những lý do căn bản là
sự dấn thân của họ, sự cam kết dâng hiến cả cuộc đời
của họ trong sự tu học và quyết tâm đi trên con đường
lý tưởng chung. Ở Làng Mai, các thầy các sư cô đều có
nguyện ước sống với nhau như một gia đình, sống mãi mãi
với nhau như một gia đình, tu học với nhau và đi làm việc
với nhau.
Hạt
giống đi xa
Ngày
xưa tôi cũng đã từng dạy và đào tạo nhiều lớp tăng sinh,
ni sinh nhưng chưa bao giờ tôi có hạnh phúc nhiều như vậy.
Vì thầy trò sống với nhau, thực tập với nhau nên mỗi ngày
tôi đều kiếm cách để trao truyền tất cả những gì tôi
đang có; giống như chiếc lá chuối đầu trao truyền lại
cho chiếc lá chuối thứ hai, thứ ba... Hạnh phúc mà các sư
cô, sư chú trao cho tôi rất lớn. Không biết vì lý do gì mà
các sư cô sư chú ở Làng Mai người nào cũng xinh đẹp, dễ
thương, có con mắt rất sáng, có nụ cười rất tươi. Không
biết có phải là vì trước khi đi tu họ đã đẹp sẵn hay
nhờ đi tu mà họ đẹp ra? Hay là vì lý do cha mẹ thường
thường thấy con mình đẹp hơn con người khác? Nhưng mà sự
thật thì tôi thấy các sư cô sư chú Làng Mai rất đẹp, dầu
họ gốc Âu châu, Mỹ châu, hay Á châu. Điều này quý vị
chắc cũng có nhiều người đồng ý với tôi. Xong lễ xuất
gia thì đã thấy họ đẹp hơn liền. Mới có mấy giờ đồng
hồ sau lễ xuất gia mà thấy mặt mày họ đã rạng rỡ hơn,
hai mắt họ đã sáng hơn, miệng cười họ đã tươi hơn.
Đó là do quyết tâm, do giới thể, do sự dấn thân của người
tu. Và ngồi với các sư cô sư chú để uống trà, để pháp
đàm, để nói chuyện hạnh phúc trong hiện tại và trong tương
lai là một trong những chuyện tôi ưa làm nhất. Tôi để thì
giờ cho các sư cô sư chú rất nhiều và những giờ đó đem
lại cho tôi rất nhiều hạnh phúc. Tôi rất muốn ở trong
các chùa của mình có một số các vị cư sĩ cùng thực tập
chung với các sư cô sư chú để trở thành một cái cầu bắc
ngang giữa những người xuất gia và những người tại gia
bên ngoài. Những người đó thực sự đáng gọi là cận sự:
rất gần gũi, rất hiểu biết thì mới chuyển được tuệ
giác, hạnh phúc của tăng đoàn xuất gia tới tập đoàn của
người cư sĩ. Và đó là một trong những lý do khiến cho mình
đi tới trên sự phát triển dòng tu Tiếp Hiện. Trong dòng
Tiếp Hiện có rất nhiều người cư sĩ, họ là cư sĩ nhưng
không phải như những người cư sĩ khác, họ có 14 giới và
14 giới của họ là một cái cầu nối liền tăng đoàn những
người xuất gia với đoàn thể những người cư sĩ. Hiện
bây giờ chúng ta đang có những cố gắng thành lập những
cọng đồng những người tại gia do những người tại gia
hướng dẫn như cọng đồng InterSein bên Đức do ba vị giáo
thọ Đức hướng dẫn, cọng đồng Clear View ở Santa Barbara
Mỹ cũng do hai vị giáo thọ Mỹ hướng dẫn. Chúng ta mong
rằng trong những năm tới của thế kỷ 21 sẽ có nhiều tăng
thân tại gia như vậy được thành lập khắp nơi trên thế
giới do những người Tiếp Hiện tại gia lãnh đạo. Chúng
ta cũng hy vọng rằng có rất nhiều cơ sở, trung tâm thực
tập chánh niệm mà không có màu sắc tôn giáo, gọi là Mindfulness
Practice Center, được thiết lập ở mỗi thành phố để cho
mọi người bất luận tôn giáo nào, chủng tộc nào đều
có thể đến để thực tập, cảm thấy thoải mái, cảm thấy
mình không cần phải bỏ đạo gốc mà theo một đạo mới.
Thực tập của Làng Mai bây giờ phải vượt khỏi ranh giới
của tôn giáo. Điều này tôi thấy thật rõ. Trong chuyến đi
Trung Quốc vừa rồi, khi gặp Ủy Ban Tôn Giáo Nhà Nước tăng
đoàn của mình có tặng cho họ một bức bút pháp có chữ
"The Spiritual Dimension" (Chiều Hướng Tâm Linh). Ý của mình
muốn nói là Trung Quốc đang phát triển về mọi mặt: kinh
tế, giáo dục, nghệ thuật, chính trị, nhưng mà người ta
vẫn khổ nếu người ta không có yếu tố tâm linh trong đời
sống và hoạt động của mình. Vì vậy yểm trợ cho đạo
Bụt để đạo Bụt có thể đóng góp cho phần tâm linh ấy
thì sẽ giúp người ta bớt khổ. Cách đây độ chừng mấy
tuần trường đại học y khoa Genève có mời tôi qua giảng
một bài về bộ óc của con người. Họ tổ chức một tuần
lễ gọi là Semaine du Cerveau (tuần lễ về bộ óc) và họ
quy tụ những nhà khoa học thần kinh, những nhà khoa học về
não bộ để chiếu thêm ánh sáng vào lĩnh vực đó. Tôi đâu
phải một chuyên gia về óc mà họ vẫn mời. Là tại vì người
ta muốn có một cái thấy về phương diện tâm linh. Rồi Davos,
tức là hội nghị quốc tế của những nhà doanh thương lớn
cũng mời tôi. Tôi đâu phải là một nhà doanh thương, vậy
mà sao họ cũng mời? Là tại vì họ thấy giới doanh thương
và chính trị cũng có những đau khổ, lo lắng, sợ hãi và
họ cần tới một chiều hướng tâm linh. Rồi trường y khoa
Harvard cũng vậy, mời tôi cho một ngày quán niệm cho các bác
sĩ, cho các nhà khảo cứu y khoa. Trong khắp các lãnh vực người
ta đang cần cái chiều tâm linh để bớt lo lắng, khổ đau,
sợ hãi. Vì vậy đạo Bụt phải vượt khỏi cái giới hạn
tôn giáo của mình để đi tới như một nguồn tuệ giác không
có màu sắc tôn giáo. Điều này mình thấy rất rõ và đó
là sứ mạng của Đạo Tràng Mai Thôn. Các thầy, các sư cô,
các Phật tử cư sĩ biết rằng mình phải đem đạo Bụt ra
phụng sự cho đời không phải với tính cách một tôn giáo
mà với tính cách một nguồn tuệ giác, một truyền thống
thực tập. Mình phải đem đạo Bụt vào trong tù, mình phải
đem đạo Bụt vào trong trường học, trong bịnh viện, trong
nha cảnh sát. Làm thế nào để cho những người đó sống
đời sống của họ một cách thoải mái, giảm bớt khổ đau.
Vì vậy cho nên chúng ta rất cần học hỏi cống hiến phương
pháp thực tập chánh niệm như thế nào để có thể áp dụng
được trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội mà không
bị hạn hẹp bởi hình thức tôn giáo.
Đứng
về phương diện hoạt động của Làng Mai, chúng ta đã mở
những khóa tu không những chỉ ở Làng Mai mà ở khắp các
nước Âu châu, Mỹ châu và Á châu. Chúng ta đã mở các khóa
tu cho sự thực tập trong các gia đình. Chúng ta đã mở các
khóa tu cho các em thiếu nhi (chỉ cho các em thiếu nhi thôi),
nhiều lần ở Mỹ, ở Úc và tại Âu châu. Chúng ta đã mở
các khóa tu cho các nhà tâm lý trị liệu tại Mỹ châu và
Âu châu. Chúng ta đã mở các khóa tu cho các cựu chiến binh,
cho các nhà hoạt động sinh môi, cho các bác sĩ và các y tá,
cho những nhà hoạt động hòa bình. Chúng ta đã đem đạo
Bụt vào trong tù. Mỗi năm chúng ta đều có những khóa tu
như vậy, do các vị giáo thọ của Làng Mai tổ chức hoặc
do tăng đoàn ở Làng Mai đi tổ chức. Và năm nay trường đại
học y khoa Harvard muốn tôi qua để nhận một giải thưởng
của họ. Họ nói các khóa tu đó đã giúp người ta trị liệu
và bớt khổ rất nhiều. Chúng ta không phải là bác sĩ, không
phải là những nhà tâm lý trị liệu nhưng những khóa tu đó
đã đem lại sức khỏe, niềm vui và hy vọng cho hàng ngàn
người mỗi năm. Vì vậy họ muốn công nhận sự thật đó
bằng một giải thưởng. Nói như vậy có nghĩa là chúng ta
đã vượt được cái ranh giới về tôn giáo và đi vào cuộc
đời. Trong quá trình lớn lên của Làng Mai, chúng ta đã hiện
đại hóa được sự học hỏi và thực tập của đạo Bụt.
Giáo lý của chúng ta được quần chúng tiếp nhận một cách
rất hồ hởi, một cách hoan hỷ. Mỗi khi chúng ta tổ chức
một khóa tu thì Phật tử từ các truyền thống khác nhau đều
tới tu tập, không kỳ thị. Dù theo truyền thống thiền Nhật
Bổn hay là thiền Cao Ly, thiền Vipassana hay là thiền Miến
Điện, họ đều tới tu học và cảm thấy rất thoải mái
trong các khóa tu của chúng ta. Pháp môn và sự thực tập của
chúng ta giống như mẫu số chung cho các hệ phái Phật giáo.
Chúng ta đã cống hiến sự học hỏi đó, sự thực tập đó
cho tất cả các giới trong xã hội: giới tâm lý trị liệu,
giới bảo vệ sinh môi, giới bác sĩ, giới doanh thương v.v..
đủ hết. Có những nhà doanh thương sau khi đã dự khóa tu
tổ chức tại Làng Mai nói rằng hai, ba tháng sau mà họ vẫn
tiếp tục có thêm tuệ giác. Những hạt giống được gieo
trong khóa tu từ từ nẩy sinh và cho họ thêm tuệ giác, cho
họ biết nên đi con đuờng nào và không nên đi con đường
nào. Chúng ta đã trình bày được giáo lý và những pháp môn
tu tập mà người trẻ và người trí thức Tây phương có
thể hiểu được, chấp nhận được và áp dụng được.
Đó là một thành công lớn của Làng Mai nhưng không phải
là công trình của một người hay công trình của một vài
năm. Đây là công trình của ba mươi năm trong đó có hai mươi
năm của Làng Mai và công trình của cả tăng thân. Chúng ta
đã trình bày được Năm Giới với ngôn ngữ không Phật giáo.
Năm Giới là sự biểu hiện rất trung thực, rất sâu sắc
không những giáo lý của đạo Bụt mà cả sự hành trì của
đạo Bụt. Và Năm Giới được trình bày như là Chánh Niệm,
là sự thực tập cụ thể của Chánh Niệm chứ không phải
là những cấm cản. Và chúng ta cũng đã trình bày được
14 giới Tiếp Hiện như là tinh ba giáo lý và sự thực tập
của đạo Bụt. Cho đến nỗi những người không thuộc về
Phật giáo cũng muốn tụng giới Tiếp Hiện. Chúng ta đã thành
lập trên dưới 800 tăng thân ở khắp nơi trên thế giới.
Tại những thành phố lớn như Luân Đôn cũng đã có gần
mười tăng thân, vì thành phố quá lớn. Tại những thành
phố nhỏ cũng có những tăng thân. Ngay tại bên Do Thái cũng
đã có những tăng thân của Làng Mai. Ở Việt Nam có hàng
chục ngôi chùa và những tăng thân khác đang thực tập theo
pháp môn của Làng Mai. Nếu chúng ta chưa thấy được trên
dưới 800 tăng thân đó thì ta chưa thấy được Làng Mai. Bên
Úc, bên Đức cũng vậy, có rất nhiều tăng thân.
Năm
ngoái ngồi ở Luân Đôn trong khóa tu tôi rất cảm động khi
các thiền sinh ở Edinburgh viết thư cho tôi. Có mười mấy
lá thư từ Edinburgh. Edinburgh ở miền bắc Anh quốc, thuộc
Tô Cách Lan (Scotland). Tôi chưa bao giờ bước chân đến thành
phố Edinburgh, vậy mà thiền sinh ở đó viết thư cho tôi rất
tha thiết. Họ nói về sự thực tập của họ, hạnh phúc
của họ và về tăng thân được thành lập ở thành phố
đó. Tại sao tôi chú ý đến Edinburgh? Tại vì hồi xưa tôi
có một người bạn đồng tu xuất gia đã từng đi du học
ở Edinburgh. Vị đó đã được gởi đi Colombo để học Phật
giáo, nhưng học được vài năm thì hơi chán nên đã xin qua
Anh để học và đã được gởi tới Edinburgh. Vị đó đã
học nhân chủng học nhiều năm và đã về Việt Nam nhưng
không để lại dấu vết nào cả. Còn tôi chưa bao giờ bước
chân tới đó, vậy mà những hạt giống của Làng Mai đã
đi tới và mọc lên từ vùng đất đó. Đó là điều làm
tôi rất ngạc nhiên và rất vui. Có những vùng đất mình
chưa bao giờ bước tới nhưng những hạt giống đã bay tới.
Chúng ta biết rằng ở nước Pháp có một loại cây cỏ nhỏ
gọi là bồ công anh (pissenlit, tiếng Anh là dandelion). Khi hoa
chín rồi thì trở thành màu trắng và mỗi hạt có những
cái cánh, bay đi rất xa. Gió có thể đưa những hạt hoa bồ
công anh này bay xa hàng chục cây số. Những hạt giống mà
tăng thân Làng Mai gieo cũng đi xa lắm. Nó đi vào trong nhà
tù, nó đi vào các tu viện kín của người công giáo. Hôm
chúng tôi kết thúc khóa tu ở Phổ Đà Sơn, trú xứ của bồ
tát Quan Thế Âm ở Trung Quốc, thầy trò đang chuẩn bị hành
lý để đi ra bến tàu thì có một thiếu nữ chạy vào. Thiếu
nữ Trung Hoa đó từ Thượng Hải tới. Cô ta đã được đọc
một cuốn sách của tôi bằng tiếng Hoa, không phải là cuốn
Đường Xưa Mây Trắng. Khi tới Phổ Đà Sơn nghe nói có thầy
Nhất Hạnh đang giảng dạy ở chùa Phổ Tế, cô ta rất ngạc
nhiên. Cố nhiên là cô đã được đọc rất nhiều sách Phật
rồi, nhưng khi được đọc tới cuốn sách ấy thì cảm thấy
rằng mình tìm ra được con đường, tìm ra được lý tưởng
của mình. Đang đi trên cầu thang từ nhà bước xuống sân
thì tôi thấy cô ta bước tới và lạy xuống. Sư cô Chân
Không đã hướng dẫn cô ta đến. Cô ta vừa lạy vừa khóc,
tại vì không ngờ lại được gặp tác giả cuốn sách mình
hâm mộ ngay trên đất nước Trung Quốc của cô ta. Điều
này chứng tỏ rằng những hạt giống mà tăng thân gieo trồng
đi rất xa, xa lắm và mình không thể tưởng tượng được.
Nó đi xa trong không gian và nó sẽ đi xa trong thời gian. Vì
vậy nên mình không thể biết Làng Mai nằm ở đâu. Không
phải tới Meyrac hay Loubès-Bernac hay Dieulivol thì thấy được
Làng Mai đâu.
Còn
về dòng Tiếp Hiện: ngày xưa hồi sư cô Chân Không và chị
Nhất Chi Mai thọ giới thì chỉ có sáu người trong chúng chủ
trì thôi. Bây giờ thì dòng Tiếp Hiện đã lên tới khoảng
700 người và hiện có mặt khắp nơi trên thế giới.
Fleur
de Cactus
Hôm
nay là ngày 13 tháng 12 năm 2001, chúng ta đang ở tại Xóm Hạ,
trong khóa tu mùa đông. Bây giờ là 11 giờ sáng. Chúng ta nói
tiếp bài pháp thoại hồi sáng bằng tiếng Việt.
Hồi
sáng tôi có nói tới những Lá Thư Làng Mai số 1, số 2 và
số 3 mà mình sẽ phóng lớn ra để cho mọi người cùng được
đọc nhân dịp Tết năm nay. Nhân tiện, tôi xin nhắc quý vị
là có một tác phẩm khác tôi viết trong năm thứ hai của
Làng Mai là Tý. Tý là tên một em bé trai khoảng 10 tuổi tên
thật là Hải Triều Âm, là dân làng từ năm đầu. Nó là
con của anh Lê Nguyên Thiều, là một trong những người cốt
cán của Làng Mai trong năm đầu và năm thứ hai. Anh Lê Nguyên
Thiều cũng đã là học trò của tôi ngày xưa ở Việt Nam
và đã từng làm tổng thư ký của trường Thanh Niên Phụng
Sự Xã Hội. Anh đã vượt biên qua và sau đó được mình
mời về để xây dựng Làng. Hồi anh Thiều đưa gia đình
về thì anh chị có ba đứa con. Đứa con đầu là Tý, em trai
Tý là Miêu - nó sanh năm con mèo - và tên thật của nó là
Thiều Quang, đứa con thứ ba mới sanh được có mấy ngày
thì tới Làng, nó tên là Chó Con, tên chữ là Nhật Tâm. Nhật
Tâm tức là trái tim mặt trời. Anh Thiều đã đọc được
cuốn Trái Tim Mặt Trời trong trại tỵ nạn và đặt tên con
là Nhật Tâm. Nhật là mặt trời, Tâm là trái tim. Ngày mà
gia đình này về tới Làng Hồng là giữa mùa đông, cháu bị
bít bùng trong một cái giỏ suốt trên xe lửa. Rồi vì là
mùa đông giá buốt nên cháu ở luôn mấy tháng trong phòng.
Hôm đó trời hửng nắng, mẹ cháu mới đưa cháu ra ngoài
và đó là lần đầu tiên nó được thấy bầu trời. Lần
đầu thấy bầu trời xanh rộng lớn như vậy nó hơi hoảng,
vì lâu nay nó chỉ thấy những cái nho nhỏ thôi. Cái phòng
là cái lớn nhất rồi. Bây giờ thấy một khoảng không gian
xanh rộng như vậy thì nó hoảng. Nhưng chỉ trong vài giây
sau đó nó lấy lại được sự bình thường và cười lên
được. Tôi được chứng kiến giây phút đó. Tý là một
em bé 10 tuổi. Tôi đã viết một cuốn sách lấy tên là Tý.
Cuốn sách đó có hai tập, tập đầu tên là Tý, Chiếc Lá
Ổi Non và cuốn hai là Tý, Cây Tre Triệu Đốt. Sách này ít
người được đọc lắm, vì chỉ mới in có mấy trăm bản
thôi. Nếu quý vị đọc được bộ sách Tý này thì sẽ biết
rõ những gì đã xảy ra trong năm đầu và năm thứ hai của
Làng Mai. Mình phải tìm cách để tái bản cuốn này. Ngày
xuất bản cuốn đó là ngày 22 tháng 2 năm 1984, tức là trước
khi mở cửa làng vào mùa hè năm thứ hai. Ngày 27 tháng 9 năm
1984 thì tôi đã viết xong Thi Kệ Nhật Dụng bằng tiếng Việt
và vào ngày 5 tháng 11 năm 84 thì viết xong Việt Nam Phật Giáo
Sử Luận III. Ngày 23 tháng 5 năm 85, tôi viết xong Kinh Pháp
Ấn và ngày 2 tháng 9 năm 1985 thì chúng ta đã có thiền đường
Hoa Quỳnh, Fleur de Cactus, ở Paris. Ngày 3 tháng 8 năm 86 thì
chúng ta có Kinh Quán Niệm Hơi Thở bằng tiếng Việt và tháng
chạp năm 86 thì tôi viết Đường Xưa Mây Trắng tới đoạn
Bụt nhập Niết Bàn. Tôi đặt bút xuống và thở. Rồi sau
đó tôi yêu cầu độc giả đọc tới đó cũng đặt sách
xuống và thở. Đó là ngày 22 tháng Chạp năm 1986, tôi ngồi
viết bên lò sưởi đốt bằng củi.
Đi
như một dòng sông
Hồi
tháng 5 năm 66, khi rời khỏi Việt Nam tôi không nghĩ là sẽ
đi lâu, nhưng rốt cuộc đã bị kẹt phải ở lại. Thành
ra tôi giống như một tế bào của một cơ thể bị văng ra
khỏi cơ thể, rất nguy hiểm. Như là một con ong bị tách
biệt ra khỏi đàn ong. Chúng ta biết rõ một con ong mà bị
tách biệt ra khỏi đàn không về được thì con ong đó sẽ
khô, sẽ chết. Một tế bào mà bị tách biệt ra khỏi cơ
thể thì cũng sẽ khô, sẽ chết. Nhưng mà tôi đã không khô,
không chết là tại vì tôi đã đi qua xứ người không phải
với tư cách một cá nhân mà với tư cách một tăng thân,
vì sự nghiệp của tăng thân. Đi để kêu gọi hòa bình vì
lúc đó những công tác về văn hóa, giáo dục và xã hội
ở Việt Nam rất lớn. Mình có Viện Đại Học Vạn Hạnh,
mình có trường Cao Đẳng Phật học, mình có nhà xuất bản
Lá Bối, mình có tạp chí Hải Triều Âm, mình có trường
Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đang làm việc khắp nơi trên
đất nước và mình có một phong trào tranh đấu cho hòa bình
Việt Nam. Tôi đi với những cái đó trong trái tim nên tôi
không thể nào khô được. Nếu đi với tính cách cá nhân,
đi kiếm một ít địa vị, một ít danh lợi thì tôi sẽ khô
héo, nhưng vì mang theo được tăng thân cho nên qua bên này,
vấn đề sống chết là thành lập tăng thân. Vì vậy tôi
đã thành lập tăng thân với những người giúp mình vận
động hòa bình. Những người tới để giúp tôi, những ông
mục sư, linh mục, giáo sư đại học, sinh viên, học sinh,
mình đã đến gặp họ, kết thân và mời họ đi vào con đường
phụng sự cho hòa bình. Trong khi tiếp xúc với những cá nhân,
những đoàn thể rất ưu tư về hòa bình và công bình xã
hội, tôi thấy họ có những khó khăn. Hoạt động một hồi
thì họ cũng bị chia rẽ, mỏi mệt và thối chí. Vì vậy
đến với nhóm nào, với người nào tôi cũng chia sẻ phương
pháp thực tập của tôi. Vì thế trước khi mình có tăng thân
qui tụ về một chỗ thì mình đã có tăng thân như từng yếu
tố cá nhân ở khắp nơi rồi. Mục sư Kloppenburg ở Bremen
bên Đức là một người rất có cảm tình với tôi. Tuy là
một vị mục sư Tin Lành nhưng ông đã cổ động, tổ chức
cho tôi đi diễn thuyết và kêu gọi khắp nơi trên nước Đức
và đã giúp tôi dịch và xuất bản cuốn Hoa Sen Trong Biển
Lửa bằng tiếng Đức. Ông cũng đã giúp phương tiện tài
chánh để tôi có thể gửi về yểm trợ cho trường Thanh
Niên Phụng Sự Xã Hội tiếp tục công tác và cũng đã giúp
tôi tổ chức những hội nghị hòa bình ở Paris. Trong văn
phòng của ông có treo một tấm hình của tôi. Ông không treo
hình Chúa mà cũng không treo hình của bất cứ ai. Điều đó
chứng tỏ ông là một người bạn rất thân. Ở Hòa Lan có
mục sư Hannes de Graff của giáo hội Dutch Reform Church cũng rất
yểm trợ tôi. Trên bước đường đi vận động hòa bình
cho Việt Nam, tôi đã kết giao với rất nhiều bạn hữu trong
giới tôn giáo, trong giới nhân bản, và trong giới trẻ. Khi
tôi thành lập Phái Đoàn Phật Giáo Việt Nam tại Paris thì
những người trẻ tới tình nguyện giúp tôi nhiều lắm. Họ
tới nhận làm không công thôi, bữa trưa thì mình cho họ ăn
sơ sài, sau bữa tối thì họ ở lại để ngồi thiền. Có
người về nhà ăn cơm rồi trở lại. Có người ở lại để
ăn chiều sơ sơ với mình rồi ngồi thiền, tối nào cũng
ngồi thiền cả. Những người tới giúp mình cũng biết thực
tập thiền hành, biết ngồi thiền và biết ca hát. Hồi đó
mình chưa có những bài hát của Làng Mai như bây giờ nên
mình chỉ lựa chọn những bài hát nào lành mạnh, nhất là
những bài hát có tính cách tâm linh và nhân bản. Hồi đó
những bài hát như là By The River Side hay là Where have all the
flowers gone?, đã được hát rất nhiều, sau đó mới có mấy
bài của Trịnh Công Sơn. Hồi làm việc cho Phái Đoàn Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Paris, mình tổ chức ngồi thiền
cho thiền sinh Tây phương có mặt tại Paris mỗi tuần một
lần tại trụ sở của những người Quakers, Quaker Center ở
đường Vaugirard. Và những người trẻ tuổi, những thanh niên
tới văn phòng của phái đoàn thì thường thường được
chỉ dạy cho cách buông thư (deep relaxation) và ngồi thiền.
Vì vậy hạt giống đã được gieo rất nhiều và mỗi khi
mình tổ chức Summer Opening mở cửa Làng Mai thì nhiều người
tới lắm. Từ một tế bào bị đánh văng ra khỏi tăng thân
ở quê hương mà tôi đã làm được một sinh hóa thân (cloning)
và không những tôi đã không khô như một con ong lìa tổ mà
từ một tế bào tôi đã trở thành một cơ thể. Cơ thể
đó đã trở thành một tăng thân như hôm nay ta thấy. Vì vậy
điều quan trọng là mình phải đi với một trái tim đầy
ắp tăng thân thì mình mới không khô chết. Hôm trước tôi
có nói là nếu quý vị tới được Làng Mai rồi thì hãy đem
cả Làng Mai về nhà chứ đừng đem ít hơn. Đem Làng Mai về
nhà thì mình sẽ sống lâu hơn và mình biết rằng giáo lý
và sự thực tập "đã về đã tới" luôn luôn đi đôi với
giáo lý "đi như một dòng sông mà đừng đi như một giọt
nước". Đi với tư cách của một giọt nước thì nửa đường
mình sẽ bốc hơi, còn đi với tư cách của một dòng sông
thì chắc chắn mình sẽ tới biển. Chưa bao giờ tôi đi như
một giọt nước cả, luôn luôn đi với dòng sông. Trong những
năm bị lưu lạc tại quê người chưa bao giờ tôi có cảm
tưởng bị cắt đứt với tăng thân ở Việt Nam. Năm nào
cũng sáng tác, cũng gởi bản thảo về. Và năm nào ở nhà
cũng tìm cách để xuất bản sách của tôi. Đến khi sách
bị cấm in thì lại được chép tay hoặc in chui, hoặc in dưới
một bút hiệu khác. Ngay từ hồi phe quốc gia chống cọng
còn nắm quyền thì sách tôi cũng đã không được ký tên
Nhất Hạnh rồi, phải ký bằng hàng chục cái tên khác: B'Su
Danglu, hay Thạc Đức, hay Tuệ Uyển, hay Minh Hạnh, tại vì
cái tên Nhất Hạnh đã bị kiểm duyệt - đó là tên của
một người đang kêu gọi hòa bình - Bên chính quyền cọng
sản cũng vậy. Sách của tôi được xuất bản dưới những
tên khác nhưng rồi độc giả cũng nhận ra được. Trong thời
gian những người cọng sản lên nắm chính quyền thì việc
in chui rất khó. Vì vậy có phong trào chép tay, chép tay nhiều
quá đến nỗi cán bộ phải triệu tập dân chúng lại để
học tập là đừng có chép tay sách của ông nớ. Nhưng sau
đó thì từ từ phong trào in chui sách và sang chui băng của
tôi trong nước được đồng bào tự động phát động. Nhiều
người cán bộ cũng có cơ duyên được đọc sách và nghe
băng giảng của tôi, có nhiều người thích lắm. Bề ngoài
họ làm ra vẻ muốn tịch thâu, làm khó làm dễ nhưng có khi
họ làm lơ, để cho mình có thể in chui hay phát hành chui được.
..........
Hồi
mới thành lập ra Phái Đoàn Phật Giáo Việt Nam tại Paris
có rất nhiều khó khăn. Hồi đó trụ sở thì nhỏ mà cư
trú thì quá đông người. Đủ mọi thứ khó khăn: khó khăn
về giấy tờ cư trú, khó khăn về cơm áo. Có những bữa
mà sư cô Chân Không - trước đó là giáo sư trường đại
học khoa học Sài Gòn - phải đi xin ngủ nhờ ở một nhà
hàng ăn vì không có chỗ ngủ. Đại chúng thay vì mua gạo
đàng hoàng thì mua tại các tiệm bán đồ ăn súc vật (grainetterie)
loại gạo tấm dành bán cho chim ăn vì gạo đó rẻ lắm, gạo
bể (broken rice). Có một bữa ông bán hàng hỏi mình: "Nhà
quý vị có nhiều chim lắm hả?" Vị mua gạo trả lời: "Nhiều
lắm, chín con, con nào con nấy to như thế này này" (giơ tay
làm hiệu). Nhưng cuộc sống rất vui. Tôi kiếm được một
chỗ dạy học, lương tháng khoảng 1,000 quan Pháp. Và những
người khác cũng đi kiếm công việc. Sư cô Chân Không đi
dạy toán, kèm trẻ để có thêm tiền. Phương Vân Am mình
đã mua được với giá 35,000 quan Pháp, làm chỗ nương tựa
cho tăng thân hồi đó và thầy trò đã dụng công xây dựng
nó thành một trung tâm tu học. Phương Vân Am hiện nay vẫn
còn, mai này mình sẽ tổ chức một cuộc đi hành hương Phương
Vân Am cho vui. Nơi đó tôi đã viết được nhiều sách và
làm được nhiều thơ. Phương Vân Am ở bên rừng Othe rất
đẹp và khí hậu lạnh hơn ở đây. Có một thời gian tôi
đi học nghề in. Hiện bây giờ tôi in sách và đóng sách khá
giỏi. In trong chánh niệm, đóng sách trong chánh niệm. Tôi
đã in hàng chục cuốn sách, đóng hàng chục ngàn cuốn sách.
Hồi đó Lá Bối chưa dời sang Mỹ. Bàn tay này (Thầy giơ
tay phải lên) tuy làm thơ được, viết thư pháp được, nhưng
mà in sách và đóng sách cũng được. Tại vì tôi đi học
nghề đàng hoàng. Thầy trò đã sống một phần trên tiền
bán sách. Sư cô Chân Không đem bản thảo Phép Lạ Của Sự
Tỉnh Thức bằng tiếng Pháp đi bán cho nhiều nhà xuất bản.
Không có nhà nào mua cả. Có một nhà xuất bản nói rằng
"Cuốn sách này hay quá, nhưng ông này chưa ai biết tên, thành
ra sợ in ra bán lỗ, không dám mua." Đó là tình trạng hồi
đó. Nhưng khi tôi đã nổi tiếng bên Mỹ rồi thì các nhà
xuất bản bên Pháp lại giành nhau để mua.
Cho
đến ngày hôm nay, có nhiều vị trong tăng đoàn ngày xưa vẫn
còn tiếp tục ngủ trong những cái nóp gọi là túi ngủ (sleeping
bag). Sư cô Chân Không cho đến ngày hôm nay cũng vẫn còn ngủ
trong túi ngủ. Còn tôi ở Làng Mai thì thường ngủ trên một
tấm ván ở dưới có kê bốn viên gạch và một tấm nệm
mỏng. Không phải vì vậy mà không có hạnh phúc. Mình không
hề có ý muốn xây dựng một cái chùa rất đẹp ở đây.
Khi bán được bản quyền một cuốn sách thì tiền đó mình
thường dùng để cứu trợ trẻ em đói, cứu trợ nạn nhân
bão lụt. Trong thời gian làm việc tại Paris, Phái Đoàn Phật
Giáo Việt Nam đã vận động bảo trợ được trên 9,000 cô
nhi do chiến tranh Việt Nam tạo ra. Mình không yểm trợ việc
thành lập những cô nhi viện mà chỉ đi kiếm những gia đình
của các ông chú, bà thím, ông nội, bà ngoại của em bé để
gởi em bé vào. Mình gởi về cho mỗi gia đình ấy mỗi tháng
25 quan Pháp để cho em bé đó có đủ cơm ăn và giấy bút
đi học. Hồi đó tôi có nhiều công việc lắm, nhưng mỗi
ngày vẫn phải dịch hồ sơ cô nhi. Tôi được trao mỗi ngày
20 hồ sơ cô nhi. Những hồ sơ cô nhi do tác viên xã hội của
mình ở Việt Nam thiết lập và gởi qua Paris. Trong hồ sơ
có hình của em bé, tên cha, tên mẹ, lý do tại sao cha chết,
chết ở đâu... Mình phải dịch ra tiếng Hòa Lan, tiếng Pháp,
tiếng Đức để đi kiếm người bảo trợ. Những người
bảo trợ một em bé phải đóng 25 quan Pháp. Thường thường
cách làm việc của tôi là nâng hồ sơ cô nhi lên, nhìn vào
mắt em bé và thở. Thở được chừng ba, bốn hơi thì năng
lượng từ bi trào lên, trái tim mình đầy sự thương cảm
và mình bắt đầu dịch. Mình dịch rất mau, dịch rất dễ
thương cũng vì đã có chất từ bi tuôn ra ngòi bút. Vì vậy
khi người ta đọc đơn xin bảo trợ, họ cho rất mau. Có một
cô thiền sinh người Hòa Lan gốc Đan Mạch đã giúp chương
trình bảo trợ cô nhi rất hăng hái đến nỗi cô đã đi học
tiếng Việt. Tiếng Việt cô đã đủ giỏi để cô có thể
dịch được những hồ sơ cô nhi. Hồi đó văn phòng của
mình đầy những hồ sơ, hồ sơ cô nhi và hồ sơ Phật giáo
các tỉnh. Hiện bây giờ mình vẫn còn giữ đầy đủ tài
liệu hồ sơ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
từ trung ương đến các tỉnh. Chính ở đây mình có tài liệu
nhiều nhất về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
từ năm 1966 đến 1974 chứ không phải ở Việt Nam. Ngày hôm
qua Fei Fei hỏi tôi: "Thầy làm việc cực nhọc như vậy mà
đã gặt hái được kết quả thầy mong muốn chưa?" Tôi hỏi
lại: "Con muốn thầy gặt hái cái gì nữa? Mỗi giây phút
của sự sống của thầy đều là hạnh phúc, đều là sự
gặt hái cả. Ví dụ như con đang ngồi uống trà với thầy
đây. Thầy trò ngồi với nhau như vậy đâu phải là để
phóng tâm tới một cái gì khác. Ngồi uống trà với nhau như
vậy là hạnh phúc rồi. Nói pháp thoại cũng là hạnh phúc,
đi thiền hành với các con cũng là hạnh phúc. Tổ chức khóa
tu, làm nở được những nụ cười trên môi các thiền sinh
cũng là hạnh phúc. Con muốn thầy gặt hái cái gì nữa?" Công
việc của mình phải là hạnh phúc, và giáo pháp của mình
là "hiện pháp lạc trú". Mỗi bài thuyết pháp của tôi phải
phản chiếu được pháp ấn của Làng Mai là "đã về đã
tới".
Nói
chuyện về Làng Mai mà nói vài giờ đồng hồ thì làm sao
nói hết. Vì vậy tôi xin tạm chấm dứt ở đây. Có cơ hội
mình sẽ nói tiếp.
Sen
Làng Đã Mọc
Thể
Tần.
Gần
mười năm trước, tôi làm việc trong thư viện của trường
Trung học ở cạnh nhà. Biết tôi theo đạo Phật, nhiều thầy
cô, trong đó có bà giáo dạy môn Tôn giáo, thường đến trò
chuyện hỏi han tôi về Phật giáo. Bà tỏ ra chăm chú lắng
nghe những điều tôi trình bày, dẫu rằng vốn hiểu biết
về đạo lẫn tiếng Đức của tôi thật ít. Tôi cũng nói
thật điều đó với bà, nhưng bà thường lịch sự tỏ vẻ
thích thú, thỉnh thoảng lại nêu ra đôi ba câu hỏi, chẳng
hạn tôi có tin vào Thượng đế không? Tôi có cầu nguyện
ở đức Phật không? Tôi cầu như thế nào, cầu những gì?
Có lúc bà muốn biết nghi lễ của Phật giáo như thế nào,
có chùa chiền, đền đài Phật giáo ở đây cho chúng tôi
không? ... Thật vất vả cho tôi khi trả lời những câu hỏi
của bà, vì như tôi đã nói, tiếng Đức của tôi tệ quá,
thậm chí trong giao tiếp hằng ngày, tôi còn gặp khó khăn,
nói gì đến việc giải thích những vấn đề trừu tượng
thuộc về tôn giáo.
Không
muốn để bà thất vọng, tôi viết thư trình bày và cầu
cứu Thầy trụ trì chùa Viên giác. Thầy gởi cho tôi hai cuốn
sách giới thiệu đạo Phật bằng tiếng Anh để giúp bà ấy
tìm hiểu thêm. Bà cảm ơn đón nhận, nhưng có vẻ vẫn chưa
thỏa mãn. Vu Lan năm đó, tôi mời bà đi dự lễ do chùa Bảo
Quang tổ chức. Bà vui vẻ nhận lời. Đến dự lễ, bà thực
hành các nghi thức như chúng tôi, cùng tụng kinh bằng tiếng
Việt. Tất nhiên là trong mười chữ, thì hết cả mười,
bà đã không đọc đúng, chưa nói đến hiểu nghĩa. Thế nhưng
bà vẫn tỏ ra hân hoan, vui sướng vì lần đầu tiên được
tham dự một nghi lễ Phật giáo như vậy.
Có
lần để trả lời câu hỏi của bà về những cơ sở Phật
giáo Việt nam ở châu Âu tôi có nhắc đến Làng Mai, cơ sở
tu học nổi tiếng do Sư Ông Nhất Hạnh thành lập tại miền
Nam nước Pháp, nơi tôi chỉ được biết qua tin tức của
người quen và sách báo mà chưa có lần viếng thăm, dầu từng
mơ ước. Tôi cũng nói thêm, Thầy là tác giả của hằng chục
cuốn sách, mà thế hệ thanh niên, sinh viên Việt nam vào thập
niên sáu mươi như chúng tôi rất ngưỡng mộ và kính phục.
Hầu như giới sinh viên, học sinh chúng tôi ngày ấy, ai cũng
đã một lần đọc hoặc nghe qua nội dung của những tác phẩm
nổi tiếng như: Nói Với Tuổi Hai Mươi, Nẻo Về Của Ý,
hoặc Bông Hồng Cài Áo... của Thầy. Từ cuốn sách Bông Hồng
Cài Áo, các nghệ sĩ còn sáng tác thêm bài ca và vở tuồng
cùng tên. Riêng giới Phật tử chúng tôi, từ ngày đó Lễ
Vu lan nào các chùa cũng có thêm phần cài hoa hồng cho những
người diễm phúc đang còn mẹ. Tục lệ ấy vẫn được các
chùa gìn giữ cho đến nay, trong nước cũng như ngoài nước.
Mấy
tháng sau đó, trong chương trình trao đổi học sinh giữa trường
tôi đang làm việc và một trường khác ở Marmande cạnh Bordeaux
bà muốn mời tôi đi cùng để thăm làng Mai (cách Marmande chừng
ba chục cây số), nhưng vì tình trạng giấy tờ của tôi chưa
xong, tôi đành từ chối. Bà an ủi tôi, và hứa sẽ ghé thăm
Làng, thăm Thầy, thay tôi.
Ba
tuần sau, ngay ngày đầu trở lại trường học, bà vội vào
Thư viện kiếm tôi, cười thật tươi và khoe vang:
-Tôi
đã đến thăm Làng Mai của ông rồi. Làng thật đẹp, rất
dễ thương. Tiếc rằng tôi không gặp được Thầy (Bà phát
âm tiếng Thầy khá rõ ), bởi Thầy đã đi Mỹ. Tôi gặp các
sư cô và đã hỏi họ để mua một vài món làm quà tặng
ông.
Bà
lấy trong cặp ra nhiều thứ. Đó là mấy cuộn băng giảng
của Thầy trong khóa tu mùa Hè vừa rồi; xấp hình chụp ở
làng và một viên sỏi màu hồng lớn bằng nửa bàn tay, rất
dễ thương. Tôi vui sướng vô cùng. Cuốn băng ghi bài giảng
của Thầy về cái đẹp của hai nền Văn hóa... Xấp hình
khá nhiều. Nào khóm trúc lớn xinh xắn chẳng kém gì các khóm
trúc ở quê nhà. Lại có võng treo nữa chứ. Nào tháp chuông
với mái cong vắt, những đường nét kiến trúc quen thuộc
của mái chùa quê hương, tôi nhìn đưọc cả những hàng chữ
Hán khắc trên chuông; lối vào xóm, con đường đất nho nhỏ
xinh xinh... tất cả hình ảnh chừng như thân quen với tôi
tự lúc nào, dẫu tôi chưa từng đến đó.
- Hy
vọng ông sẽ vui với những món quà nho nhỏ đó, trao cho tôi
viên sỏi, bà kể, - viên sỏi dễ thương này tôi cũng mang
từ Làng về. Tôi đã cố tìm một hòn sỏi thật xinh để
về tặng ông.
Tôi
cảm ơn và khen bà chu đáo quá.
-Vậy
là ông đã tiếp xúc được với đất đá ở Làng, ông đã
thấy được quang cảnh của Làng, ông lại có thể nghe được
lời giảng của Thầy, hy vọng chừng đó sẽ giúp ông bớt
nỗi mong ngóng lúc ông chưa đến được Làng...
Tôi
sung sướng giữ lấy những kỷ vật dễ thương ấy của bà
giáo. Đúng như bà nói, tôi đã tiếp xúc được với Làng,
với Thầy, dẫu tôi đang ở đây. Viên sỏi đẹp mà bà đã
chọn lựa, tìm kiếm để làm quà cho tôi, gây cho tôi nhiều
xúc động. Cầm viên sỏi trong tay, tôi có cảm giác chừng
như tôi đã đến Làng. Hình ảnh của Thầy, của Làng hiện
rõ trước mắt tôi. Viên sỏi còn là tình cảm của bà giáo
Đức, một người mà tôi chỉ vừa quen biết.
Từ
đó, mỗi khi có d