THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Phật Học Cơ Bản
Phật Học Phổ Thông
Phật Học
Tâm Lý Học Phật Giáo
Triết Học Tánh Không

 
.
ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG
Nhất Hạnh
Lá Bối xuất bản
Mục Lục
01
02
03
04
 05
11. Mừng Em Hai Mươi Tuổi
12. Bước chân trí tuệ diệu kỳ 
13. Tích niên hành xứ 
14. Ái Ngữ Lắng Nghe 
15. Kinh Sự Thật Đích Thực

MỪNG EM HAI MƯƠI TUỔI
Sư cô Chân Hội Nghiêm

Mừng hoa lá chim ca trong nắng
Em mỉm cười chào đón xuân sang
Hai kỷ nguyên ta cùng xây đắp
Mươi vạn đời tiếp bước chân em
Tuổi của em dệt thắm tình làng.

Ngày làng 20 tuổi thì con được 2 tuổi. Hai năm sống với tăng thân không phải là nhiều nhưng cũng không ít. Biết bao nhiêu kỷ niệm đáng nhớ gợi lại cho con những tháng ngày thơ ấu của thuở thiếu thời. Con nhớ có lần con ngồi ăn cơm, nhìn lên tường con thấy dòng chữ "You have arrived, you are home". Tự nhiên trong con có một phản ứng rất mạnh. Con nói: "No, my home is not here, my home is in Việt Nam." Nhưng rồi ngay sau đó con lại giật mình. Con thấy sao mình còn con nít quá. Và con tự hỏi: "Quê hương đích thực của mình ở đâu?" Con trả lời: "Ở đây, nơi này." Nhưng tận trong chiều sâu của con lúc đó câu trả lời vẫn còn bỏ lửng. 

Con thực tập và thực tập rồi mọi thứ dần dần trở nên quen thuộc với con. Cái gì cũng gần gũi thân quen. Những con đường làng, những bụi tre xanh... sao giống Việt Nam vậy. Khúc này đường ngoằn ngoèo quanh co giống Đà Lạt, khúc kia hai bên đường có hai hàng cây rợp bóng mát giống những con đường ở Nha Trang. Khúc kia là dòng sông giống dòng sông Hương, khúc kia nữa giống Từ Đức... Và rồi con tìm thấy được quê hương của mình đang ở đây. Nhưng quê hương không chỉ nơi những con đường yên tĩnh rợp bóng mát, mà quê hương nằm trong chiều sâu tâm linh của con, nơi mà con đã từng mơ ước, nghĩ về và khát khao đi tìm từ nhỏ.

Ở nơi đây, nơi ngôi làng thân quen này là cơ hội cho con luôn trở về. Trở về để lắng nghe mọi người, lắng nghe cảnh vật chung quanh và lắng nghe chính con. Rất nhiều trợ duyên giúp cho con làm công việc đó. Nhờ vào tiếng chuông, tiếng nhạc đồng hồ, tiếng điện thoại reo và đặc biệt là tiếng chim cúc cu. Mỗi lần nghe tiếng cúc chủng tử con nghe như tiếng gọi của Sư Ông, gọi con trở về ngôi nhà của chính con như tiếng mẹ con gọi khi hoàng hôn về mà con còn rong chơi bên hàng xóm. Con trở về, trở về ngôi nhà của chính con, xem con đang làm gì. Mỗi lần nghe tiếng ấy con nghe như Sư Ông đang gọi đúng tên con vậy. Con dừng lại, theo dõi hơi thở và trở về. Một hôm con đang ngồi thiền thì vọng tưởng kéo con đi. Đi từ Pháp sang Mỹ rồi về Việt Nam. Đi từ chuyện này đến chuyện khác. Bỗng dưng con nghe tiếng cúc chủng tử, mà nghe như Sư Ông đang gọi con vậy. Ngay lúc đó lòng con lắng xuống. Con biết là tâm con đang rong ruổi. Con trở về với giây phút hiện tại. Một niềm xúc động thoáng hiện lên trong con làm cho con rất hạnh phúc và hạnh phúc luôn trong suốt thời gian ngồi thiền còn lại và kéo dài suốt ngày hôm đó. Con không biết lúc đó có ai nghe tiếng cúc cu như đang lắng lòng nghe tiếng gọi của Sư Ông để trở về với giây phút hiện tại hay không. Đi tu thì nơi mình tu là quê hương tâm linh của mình. Con cũng muốn nói điều đó nhưng không phải vì những người đi trước đã nói và đã định mà con muốn nói lên từ trái tim của con. 

Khó mà định nghĩa được hai tiếng quê hương, nhưng quê hương đến với con như một cái gì mà con không thể quên được. Quê hương ở đây không phải là chùm khế ngọt, không phải là con đường đi học, không phải là chiếc đò nhỏ... mà là nơi cho con "trở về". Trở về tiếp xúc với con, với ông bà, cha mẹ con. Trước đây, con thương ba mẹ con, anh chị em của con, con nghĩ là con hiểu những người thân của con. Nhưng bây giờ con mới thấy rõ rằng tình thương ấy chưa phải là tình thương đích thực của con, mà đó chỉ là sự hưởng thụ. Hưởng thụ từ những cái gì ngọt ngào âu yếm của mẹ, từ những cái gì hay đẹp của ba. 

Ba mẹ ơi, cho con xin sám hối là con đã chưa thương ba mẹ đúng cách. Nhưng nhờ đi vào con đường tâm linh này mà con biết cách thương yêu và chăm sóc ba mẹ nhiều hơn. Tuy con không ở gần bên cạnh ba mẹ để trực tiếp chăm sóc nhưng điều đấy cũng nói lên được rằng con luôn hướng về ba mẹ kính yêu của con. Nhiều lúc con tự hỏi: "Sao con không còn cơ hội để chăm sóc ba mẹ nữa?" Nhưng rồi câu trả lời luôn sẵn có trong con. Đó chính là sự thực tập của con. Làng đã nuôi con lớn lên trong mạch sống tâm linh. Giúp con có khả năng bước đi những bước chân vững chãi và thảnh thơi, biết thở những hơi thở nhẹ và sâu, có ý thức, biết nhìn bằng đôi mắt từ bi. Biết chuyển hóa nỗi buồn cơn giận và những tập khí năm xưa. Con đã biết tự trở về khi hoàng hôn về vắng mẹ, khi nỗi buồn, cơn giận xâm chiếm tâm con. Biết lấy tình yêu thương của người khác xây dựng nên tình yêu thương của chính mình. Biết trân quý những gì mà cuộc sống chung quanh đã, đang và sẽ đem đến cho con. Tuy con có khó khăn và còn nhiều vụng về. Càng ngày con lại càng thấy nhiều cái vụng trong con hơn. Nhưng con không mặc cảm hay chểnh mảng, vì chính những khó khăn vụng về ấy đã nuôi con lớn lên, giúp con biết cảm thông và tha thứ, biết mở lòng ra, bao dung ôm lấy mọi người. Cái gì đã giúp con làm được điều đó? Chính tình thương của Sư Ông, của Thầy, của chúng - sư chị, sư em đã nâng đỡ con và dắt con qua những chặng đường khó khăn đó. Rồi đây, bằng tình thương ấy con sẽ làm được điều đó với các sư em của con. Đó là điều mà con luôn mong mỏi. 

Lúc con còn nhỏ, con thường ước mơ: khi con đi tu con chỉ có một thầy, một trò thôi hoặc cùng lắm là vài ba trò. Thế mà qua Làng con lại gặp một tăng thân rất lớn. Nhưng nhờ tăng thân mà con lớn rất nhanh. Bây giờ con lại muốn sống với chúng mà không phải là một thầy một trò nữa. Mỗi người đã dạy cho con ít nhất là một bài học. Con nhớ lúc con còn ở nhà, con rất làm biếng nấu ăn và chỉ nấu ăn ngon khi nào con thật sự thích. Còn lại là tạm tạm hoặc bị chê. Mẹ con thường la và bảo: "Con gái là phải biết nấu ăn." Con nói với mẹ con: "Lớn lên con sẽ làm có tiền và đi ăn nhà hàng hoặc ăn cơm tháng." Thế mà nay con đã nấu ăn được cho cả đại chúng lớn. Không phải chỉ có năm, bảy người như lúc còn ở nhà mà cho cả năm, bảy chục. Có khi lại cả trên trăm vị. Sư cô Bảo Nghiêm hỏi con: "Chắc ở nhà mẹ dạy con nấu ăn ngon lắm hả?" Con vừa cười vừa trả lời: "Dạ mẹ con chỉ dạy cho con biết cách ăn ngon thôi." Sư cô nói: "Biết ăn ngon mới biết nấu ngon." Thực ra, mẹ con có dạy con cách ăn ngon đâu. Nhưng mẹ kén ăn thì con cũng kén ăn theo. Con nhớ lúc con mới qua làng được vài tuần, Sư Ông hỏi con: "Con đã quen đồ ăn bên này chưa?" "Dạ chưa" con trả lời. Rồi Sư Ông tiếp: "Hồi xưa, đức Phật đi khất thực người ta cho gì ăn nấy chứ đâu có chọn lựa đâu phải không con?" Con "dạ". Và mỗi lần đi lấy thức ăn thì con lại nhớ đến lời dạy ấy của Sư Ông. Cho đến bây giờ con cũng chưa quen hết với những món ăn ở đây. Nhưng điều đó không thể lấy đi một mảy may nào hạnh phúc của con. Hạnh phúc của con là được sống với Sư Ông, với tăng thân. Được nghe Sư Ông dạy, được lên lạy Phật, ngồi thiền, tụng kinh, được đi thiền hành cùng tăng thân. Được chia sẻ công việc, vui chơi với các sư chị sư em. Hạnh phúc là con được phục vụ trong niềm vui và đem niềm vui đến cho người khác. Hạnh phúc là con biết lấy hạnh phúc của người khác làm hạnh phúc của con và lấy hạnh phúc của con làm hạnh phúc chung của mọi người. Con nhớ có lần Sư Ông dạy mấy chị em con nấu ăn. Sư Ông nói: "Cái khó của nấu ăn không phải là nấu ăn ngon mà là có hạnh phúc ngay khi cắt gọt. (Lúc đó Sư Ông đang cắt gọt). Bắt đầu nấu là đã có hạnh phúc rồi." Ồ như vậy thì đâu khó lắm, phải không? Vậy là mỗi lần nấu ăn con lại nhớ lời Sư Ông dạy và được niềm vui nuôi dưỡng. Con lại cúng dường đại chúng niềm vui ấy mà không phải là những món ăn ngon. Phải chăng vì thế mà con "làm ăn" khá hơn lúc ở nhà? Và tất cả những công việc khác, con đều làm với tinh thần ấy. 

Sư Ông ơi, con ngồi ôn lại những kỷ niệm này mà lòng thấy vui vui và thoáng nghe trái tim con rung động. Con thấy những ân nghĩa mà Làng, Sư Ông, quý Thầy, quý Sư Cô và tăng thân đã đem đến cho con, giúp con lớn lên được như ngày hôm nay quả là quá lớn. Suốt cuộc đời con nguyện mãi tri ân! 

Kính thương 

Con của Sư Ông

Chân Hội Nghiêm
 
 

BƯỚC CHÂN TRÍ TUỆ DIỆU KỲ
Trích từ tập nhật ký mùa hè 2001
Thượng Tọa Thích Thông Hội

02-07-01

14 giờ 40, phi cơ đáp xuống phi trường Bordeaux, hai huynh đệ đang loay hoay đợi lấy hành lý thì có hai thầy ở Làng ra đón. Huynh đệ chắp tay mừng rỡ chào nhau. Thầy Pháp Ấn lái xe, dọc đường, mình tính thức để nhìn khung cảnh hai bên đường, nhưng mệt quá mình cứ ngủ gà ngủ gật, về đến Làng hồi nào không hay. Đồng hồ của mình chỉ 24 giờ hơn giờ Việt Nam (tức 19 giờ hơn giờ Paris), mặt trời vẫn còn cao. Ba huynh đệ Việt Nam được xếp tạm ở Phù Vân Cốc. Đây là một thất sàn nằm dựa theo triền đồi trông về hướng đông, trước mặt là rừng sồi xanh mượt, bên cạnh cốc Ngồi Yên của Sư Ông Làng Mai. Nhưng Sư Ông đang ở Sơn Cốc, vài hôm nữa đến khóa mùa hè Sư Ông mới về. Sau khi đem hành lý vào cốc, hai huynh đệ đi rửa mặt mũi cho tỉnh táo vì qua chuyến đi khá dài, gần 20 giờ bay và một đoạn đường xe. Bây giờ, mình mới thấy không khí và cảnh vật ở đây sao quen thuộc quá, không phải mình đang ở trên đất Pháp mà ở Đà Lạt, thành phố cao nguyên Việt Nam. Trời lành lạnh và đồi núi giăng giăng trập trùng, những ngôi nhà ván đơn sơ mà xinh xắn. Bước xuống phi trường Paris mình thấy choáng ngợp, lạc lõng và xa lạ bao nhiêu thì ngôi thất và khung cảnh như tranh này gần gũi và ấm cúng bấy nhiêu. Mấy anh em nấu nước pha trà bày ra hành lang, hương trà Bắc Thái nồng nàn thoảng bay, từng hớp trà nóng đăng đắng và ngòn ngọt qua cổ, mình thấy tỉnh táo và ấm áp hơn trong chiều tĩnh lặng... 

05-7

5 giờ 30, sau một hồi chuông báo, mấy huynh đệ mình lên thiền đường ngồi thiền. 8 giờ tất cả đại chúng (gồm Tăng và ni và thiền sinh các xóm) vân tập về thiền đường để nghe pháp thoại của Sư Ông. Sau tiếng chuông hiệu, cả đại chúng đứng dậy chắp tay trang nghiêm đón Sư Ông. Sư Ông chắp tay bình dị chào mọi người rồi đến ngồi bên chuông lớn, sau tiếng chuông, tăng ni hát những bài hát Phật giáo. 

Dứt phần hát Sư Ông lên pháp tòa, chủ yếu dặn dò đại chúng đừng để hao năng lượng bằng những việc dư thừa không ích lợi... Lời dạy của Sư Ông sao mà thân thương quá, như lời cha già dặn dò những đứa con yêu của mình. Ngày xưa, khoảng thập niên 60 mình đã đọc nhiều sách của Sư Ông, lời văn trong sách chứa chan tình người, tình quê hương của người đã thu hút mình từ đó. Mình từng ước ao có một dịp nào được diện kiến Sư Ông, nhưng rồi trải qua nhiều thăng trầm đổi thay của đất nước, Sư Ông rời quê hương đi làm sứ giả hòa bình... Hơn 30 năm trôi qua, bây giờ Sư Ông ngồi đó, giọng nói của người nhẹ ngàng, bình dị ấm áp chân tình. Niềm mơ ước ngày xưa, nay thành hiện thực và còn hơn thế nữa, mình được tắm trong pháp nhũ của người... Ba huynh đệ mình được chuyển vào phòng Trăng Non từ chiều qua. Phòng này nằm sát bên Thiền Đường Yên Tử, chung quanh được bao bọc bằng những bụi trúc xanh, mát rượi và nên thơ. Chiều nay là chiều làm biếng, mình và thầy Minh Nghĩa rủ nhau ra chơi banh... 

08-07-2001

7 giờ 15, sửa soạn đi nghe pháp thoại ở Xóm Mới (Chùa Từ Nghiêm). Cũng như lần pháp thoại ở Xóm Thượng (Chùa Pháp Vân), khởi đầu là phần hợp ca (của tăng thân các xóm) hôm nay hát bài Tìm nhau (phổ nhạc từ bài thơ Con Đã Đi Tìm Đức Thế Tôn). Lần này Sư Ông cũng kêu mình và T.P.T ngồi hai bên, cạnh Sư Ông. Bài hát thật hay cả lời và nhạc, thêm giọng hòa âm chân thành và cảm động của đại chúng. Lời ca khơi dậy niềm khát khao, trăn trở kiếm tìm một bóng hình thật lạ mà cũng thật quen, thật xa tuyệt mù mà cũng thật gần không chút cách ngăn... 

Boong!... Boong!... Cả thiền đường lặng ngắt chỉ còn tiếng chuông chánh niệm ngân dài. Trong bài pháp thoại Sư Ông nói phần đầu của bài kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm, quán thân trong thân và nhấn mạnh... ‘Nếu không nắm bắt được hơi thở và bước chân của mình thì đừng hòng nói chuyện giác ngộ và giải thoát...’ Bài pháp thoại khoảng 70 phút như mọi khi. Đại chúng nghỉ ngơi chút xíu, ăn sáng rồi tiếp tục nghe pháp thoại tiếng Anh. 

Sau giờ pháp thoại là thiền hành, đại chúng nối gót Sư Ông đi trên thảm cỏ xanh điểm lấm tấm những hoa dại màu vàng rất đẹp. Trời vào hạ rồi mà vẫn lành lạnh, mình đi chầm chậm theo đoàn, dẫm nhẹ từng bước trên thảm xanh điểm những hoa vàng đó. 

            Bỗng dưng đất nở hoa vàng

            Thảm xanh cỏ đón hàng hàng người đi.

            Bước chân trí tuệ diệu kỳ

            Lao xao mà chẳng có gì xôn xao. 

Hàng mấy trăm người đi trong thinh lặng, chỉ có tiếng bước chân dẫm nhẹ nhàng trên lối cỏ. Mọi người đang nắm từng hơi thở vào ra, từng bước chân của mình. Có người đi chân không, để ý thức sâu hơn khi bàn chân tiếp xúc với đất. Những bước chân nhẹ nhàng và thư thả, tỏa ra niềm an lạc và trí tuệ diệu kỳ. Chỉ có tiếng lao xao trên đất chứ không có những xôn xao mong đợi trong lòng. Mình nhớ mới hôm nào, nhóm quý thầy Việt Nam, đi cùng Sư Ông về thất, gần đến những bậc cấp dẫn đến thất, Sư Ông dừng lại nói: ‘...Pháp môn thiền hành là pháp môn căn bản rất quan trọng, yếu chỉ của thiền hành là tỉnh thức được từng bước chân, đi là đi từng bước an lạc và thảnh thơi như đi trên tịnh độ, bước đi là đến nơi chứ không có ý mong cho đến nơi. Ngồi thiền cũng vậy, ngồi xuống là an lạc chứ không phải đợi một thời gian mới có an lạc...’ Đại chúng theo gót Sư Ông, từng bước, từng bước lên đến lưng đồi. Hai bên đường là những hàng táo và những vườn nho ngay hàng thẳng lối. Nho đang ra trái non màu xanh mơn mởn. 

Theo bắc sử ghi, vừa mới sanh ra thái tử Tất Đạt Đa đã bước đi bảy bước nở bảy đóa sen đâu chẳng phải là những bước chân tỉnh thức, bước chân trí tuệ diệu kỳ này? Những bước chân đầu tiên ấy mở đường cho những bước chân im lặng hùng tráng từ cội Bồ Đề đến vườn Lộc Uyển của bậc Đại Giác. Và bánh xe pháp luân đâu chẳng phải đã bắt đầu chuyển từ những bước chân tỉnh trí mầu nhiệm ấy rồi hay sao? Bây giờ Sư Ông đang nối nhịp những bước chân ngày xưa và đại chúng cũng đang nối bước theo người. Lên đến nơi, Sư Ông và đại chúng ngồi yên lặng nhìn xuống dưới kia là khung cảnh yên bình của vùng quê. Những mái nhà ngói đỏ điểm lác đác trên nền xanh của những vườn nho và những hàng sồi vững chãi, thấp thoáng ngôi thiền đường xinh xắn của Chùa Từ Nghiêm. 

Sau giờ thiền hành là giờ dùng cơm trưa. Đại chúng nối theo Sư Ông từng người một, ôm bình bát sớt thức ăn và chầm chậm đi vào thiền đường. Thiền đường Từ Nghiêm rộng và thoáng, tất cả tọa cụ và bồ đoàn đều một màu tím. Tất cả đại chúng đều phân ngồi thứ theo tuổi hạ chia hai hàng ngồi kế Sư Ông, bên tăng và bên ni (có cả cư sĩ nam và cư sĩ nữ). Sau nghi thức thọ trai, đại chúng ngồi ăn yên lặng trong chánh niệm. Dùng trưa xong, Sư Ông dẫn đại chúng ôm bát đi trong chánh niệm vòng ra hồ sen. Hình ảnh tăng đoàn thời Đức Phật được khơi dậy bằng sắc thái thuần túy Việt Nam: Áo tràng nâu, quần nâu và nón lá, màu sắc lam lũ của vùng nông thôn. Sư Ông đã ‘Đưa quê hương về ngự giữa tha hương’. Sư Ông ngồi xuống cầu gỗ bắc ngang qua hồ, quý Thầy Việt Nam cũng ngồi theo, ngắm sen nở. Hồ sen không lớn, nhưng bông sen đang nở đầy, đưa mùi hương thoảng nhẹ trong gió... 

12-07-2001

Bảy giờ kém xả thiền, đi dùng sáng. Tám giờ hơn, đại chúng lên thiền đường nghe pháp thoại. Tăng thân các xóm cũng đã về. Thiền đường lớn chật ních người, hầu hết là các thiền sinh Âu Mỹ. Mọi người tìm chỗ ngồi và chào hỏi nhau chợt, boong! Tiếng chuông chánh niệm vang lên, cả thiền đường lặng ngắt, bất động, trở về hơi thở. Tiếng chuông ngân dài rồi dứt hẳn. Mấy huynh đệ Việt Nam cũng tìm được chỗ ngồi thích hợp. Keng! Tiếng chuông nhỏ vang lên báo hiệu Sư Ông đến. Đại chúng đồng loạt đứng dậy chắp tay. Sư Ông đi từng bước khoan thai vào thiền đường, chắp tay búp sen cùng đại chúng xá chào rồi đến ngồi bên chuông lớn, đại chúng cũng an vị. Tất cả tăng ni cùng quý thầy Việt Nam đều lên phía trước chuẩn bị niệm Phật. Sư Ông thỉnh một tiếng chuông, cả thiền đường im lắng. Âm vang tiếng chuông vừa dứt là giọng trầm hùng ngâm bài kệ Tán Dương Quán Âm của thầy Pháp Niệm... 

Rồi, hai bên tăng ni, luân phiên niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm theo sự đánh nhịp của T.P. Niệm. Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm. Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, thanh âm trầm hùng, thanh âm trong trẻo kết hợp hài hòa với lòng chân thành và tha thiết tạo thành hợp âm hùng tráng tỏa ra những đợt sóng năng lượng hùng hậu chấn động lòng người. Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm. Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm. Dường như mình cũng tan thành những đợt sóng hợp âm, những đợt hải triều vang dậy chuyên chở năng lượng hùng tráng của tình thương thấm sâu vào lòng người. Nhiều thiền sinh Âu Mỹ ngồi chắp tay thành kính trang nghiêm, có người trở về hơi thở chánh niệm, biết mở lòng cho những đợt hải triều âm thẩm thấu chất liệu tình thương và không ngăn được những giòng nước mắt chân thành. Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm...

Hôm nay Sư Ông nói bài pháp thoại tiếng Pháp trước. Phần này, Sư Ông nói về hạnh phúc. ‘Hạnh phúc ở trong tầm tay, chỉ cần bỏ hết những tham muốn, mong cầu, chất chứa và sống với giờ phút hiện tại là có hạnh phúc’. Phần tiếng Việt giảng về tám con đường chân chánh, tám con đường này xây dựng trên ba dấu ấn vô thường, vô ngã và niết bàn... 

Mười hai giờ hơn, chấm dứt pháp thoại, kế đó là giờ thiền hành. Đại chúng theo gót Sư Ông đi vòng lên hồ sen, ngồi quanh hồ ngắm sen một lúc rồi về, cũng vừa lúc chuông báo giờ cơm. Trưa nay dùng cơm theo gia đình, gia đình mình có tên Great Earth, nhưng mình đi lấy cơm trễ nên không biết họ ngồi dùng cơm ở đâu. Mình bưng cơm đi một vòng rồi quay lại trai đường dùng cơm với thầy Nguyên Chơn (cũng cùng gia đình với mình), lát sau Thầy Phước Tịnh cũng bưng cơm đến ăn vì cùng tình trạng lạc gia đình. 

17 giờ kém, T. Nguyên Chơn đến rủ đi dự pháp đàm theo gia đình. Thì ra gia đình Great Earth đang sinh hoạt gần thiền đường lớn. Họ ngồi thành vòng tròn gồm người Anh, Pháp, Tây Ban Nha và thầy Pháp Ấn đang hướng dẫn họ. Thầy Pháp Ấn giới thiệu thầy Nguyên Chơn và mình với gia đình và mời mọi người trình bày chỗ hiểu về pháp thoại, kinh nghiệm về pháp hành và tỏ bày những vướng víu, niềm đau, nỗi khổ trong cuộc sống. 

Một người Mỹ, anh ta nói có vẻ xúc động:

‘Tôi đến Làng lần thứ hai. Từ lâu trong gia đình tôi không hạnh phúc, giữa ba tôi và tôi có vấn đề và càng ngày khoảng cách giữa hai cha con càng xa. Sống chung mà ít khi nói chuyện hay nhìn mặt nhau, điều này làm tôi rất đau khổ, nhưng từ khi đến làng, nghe pháp thoại và thực tập chánh niệm theo Sư ông, về nhà tôi đã biết cách làm lành được với ba tôi và giữa hai cha con không còn vấn đề gì với nhau nữa, năm đó tôi gần 40 tuổi và ba tôi 70 tuổi. Nhưng hiện nay tôi còn đang tìm cách hòa giải giữa tôi và con trai tôi vì giữa con trai tôi và tôi đang lặp lại tình trạng như tôi và ông nội nó ngày trước. Có điều bây giờ tôi ít khổ hơn vì tôi đã biết quán chiếu và thực tập chánh niệm, tôi mong rằng cha con tôi có thể làm lành với nhau sớm hơn...’ 

Anh J.M người Mỹ, anh nói:

‘Lâu lắm tôi sống không hạnh phúc, luôn bị những mặc cảm tội lỗi của quá khứ làm tôi bất an, tôi muốn tôi trở thành người tốt, nhưng quá khứ cứ sống dậy làm tôi khó chịu. Tôi đến đây hơn một tuần rồi và tôi học được rằng: ý niệm mong muốn, trở thành càng làm rối rắm, bất an thêm vì ý niệm đó gây ra xung đột trong nội tâm, ta đang là thế này và ý niệm muốn ta trở thành thế khác. Quá khứ trở về có mặt trong hiện tại, chỉ cần thực tập chánh niệm từng hơi thở, ý thức từng bước chân, có mặt bây giờ và ở đây là ta tiếp xúc được với hiện tại và ngay khi đó chuyển hóa được những ám ảnh của quá khứ. Nhờ vậy tôi đỡ hơn nhiều, bắt đầu sống có niềm vui...’ 

Một chị người Tây Ban Nha, nước da ngăm ngăm, dáng nhỏ nhắn, chị nói: 

‘Trước kia tôi sống không hạnh phúc, trong đời sống luôn có vấn đề với chồng, với con, càng ngày tôi càng xa cách gia đình và rất cô đơn. Tôi rất đau khổ vì chồng con tôi không hiểu tôi, nhưng nhờ một duyên may tôi qua Làng được dự nhiều buổi pháp thoại, đi thiền hành và nghe chuông chánh niệm, tôi thấy an lạc dần. Từ đó về nhà tôi chỉ thực hành những cái nho nhỏ trong sinh hoạt ngày thường, như nghe chuông điện thoại. Mỗi lần chuông điện thoại reo dù đang làm gì tôi cũng dừng lại thở, rồi mới đi chầm chậm đến nghe. Tôi thấy có hiệu quả. Bây giờ tôi đã hòa giải được với chồng con, gia đình tôi sống vui lắm. Tôi kinh nghiệm rằng, hãy bắt đầu thực hành những điều nho nhỏ như vậy tốt hơn...’ 

Gia đình Great Earth của mình gần 30 thành viên, có người đến đây nhiều lần, đa số những người này họ đã thay đổi được nếp sống cũ của mình, họ sống an lạc hơn, tươi tắn hơn. Hầu hết họ đã hàn gắn những rạn nứt trong gia đình hoặc nối lại được những tương giao ngoài xã hội. Thỉnh thoảng họ đưa cả gia đình về Làng để học hỏi thêm, thăm Sư ông và để được dự vào những sinh hoạt ấm cúng của những gia đình (số thiền sinh đến Làng trong khóa hè khá đông nên được chia thành từng nhóm gọi là gia đình, như gia đình Great Earth, gia đình Sun Flower, gia đình Immense Space v.v..) mỗi gia đình có một tăng thân là giáo thọ phụ trách hướng dẫn, vị này trong những buổi pháp đàm từng gia đình thường khơi dậy để các thiền sinh nói lên chỗ hiểu biết về các bài pháp thoại, kinh nghiệm tu tập, hoặc nói lên những vướng mắc trong cuộc sống gia đình và xã hội, những mặc cảm hoặc những xung đột của nội tâm v.v.. Về sinh hoạt này, mình thấy người Âu-Mỹ họ rất dạn dĩ, chân thành và cởi mở. Những vị đến lần đầu thường có những nỗi đau riêng, hoặc với cha mẹ, chồng con hoặc những khó khăn trong những giao tiếp ngoài xã hội. Có người vừa tức tưởi vừa nói lên nỗi khổ của mình, ngay cả những thanh niên cũng không dằn được cảm xúc. Buổi sinh hoạt nhóm nhờ ở tinh thần cởi mở chân thành đó mà có không khí ấm cúng của một gia đình lớn. Những thiền sinh mới tới lần đầu, dù mang quốc tịch nào, chỉ qua vài lần sinh hoạt gia đình (pháp đàm, thiền trà và dùng cơm chung) được nghe pháp thoại của Sư ông, dự những buổi ngồi thiền, thiền hành thì nỗi đau mà họ mang tới dần dần được giải tỏa, lòng nhẹ nhàng thảnh thơi hơn và trở thành những thành viên khắn khít của đại gia đình như gia đình Great Earth chẳng hạn. Để rồi khi quay về họ mang năng lượng của tỉnh thức, của nhẹ nhàng tươi mát về với gia đình với xã hội, hàn gắn những rạn nứt, đổ vỡ đã qua, tạo một sinh khí mới mẻ, ấm cúng cho những người thân yêu của mình... 

Đêm nay mình thức hơi khuya, nhìn đồng hồ thì đã 12 giờ hơn. Ở đây ngày dài quá, nên nhiều khi mình cứ ngỡ còn sớm, vì đến 10.30 mới chập choạng tối. Mình tắt đèn đi ngủ. Trời hơi lạnh, kéo mền đắp kín, mình nằm mềm người trong trạng thái buông thư...

 14-7

Ngày làm biếng... 18 giờ,

Một hồi chuông báo hiệu cơm chiều. Nắng còn thật cao. Ngày dài hơn, dường như mặt trời cũng đi vào khóa tu mùa hè nên bước đi thật chậm, thật tỉnh thức, chiếu những tia nắng ấm áp cho hoa lá tươi thắm hơn và thật lâu tàn. Dùng chiều xong, mình cùng quý thầy Việt Nam đi bách bộ chơi trên con đường dẫn vào xóm Thượng. Đội thêm mũ len, khoác thêm áo lạnh, mình đem theo máy ảnh để chụp những cảnh đẹp. Qua khỏi vườn nho trồng thẳng tắp của ông láng giềng, băng qua ngã ba con đường nằm trên một sườn đồi, nho trồng dọc triền đồi, hàng hàng lớp lớp thứ tự như những hàng lính mặc quân phục xanh đang đứng nghiêm trang làm lễ. Vùng đất bằng dưới thung lũng cũng trồng nho, chính giữa là hồ nước, sáng lên vì phản chiếu nắng chiều. Huynh đệ bước đi từng bước thư thả, tận hưởng không khí trong lành, tươi mát của vùng quê rất đẹp và thanh bình. Thỉnh thoảng trên đường có những thiền sinh Âu-Mỹ, họ đi chân không, bước đi chậm rãi, để ý thức sâu xa từng bước chân đang tiếp xúc với mặt đường. Gặp nhau, hai bên cùng chắp tay búp sen chào nhau vui vẻ. Thiền sinh Tây phương họ nghe pháp thoại và thực tập rất nghiêm chỉnh. Nhìn họ chăm chú lắng nghe pháp thoại, chắp tay búp sen và đi thiền hành với từng bước chân vững chãi trên đất, điều đáng quý nữa là nghe pháp thoại xong họ chắp tay đứng yên đến khi Sư ông ra khỏi cửa họ mới đi, mình nghĩ, có lẽ thời đại hoàng kim của Phật giáo Âu châu đã bắt đầu rồi chăng? Và Sư ông - vị thiền sư có phong cách bình dị, dáng gầy gầy xương xương của nước Việt - bằng trí tuệ sâu và tình thương lớn, từng bước, từng bước đã đưa Phật giáo đi vào lòng các dân tộc năm châu, bước thiền hành của Người và Tăng thân đã in dấu trên các đại lộ của những thành phố lớn trên thế giới. Những bước chân trí tuệ diệu kỳ. 

Chùa Pháp Vân, xóm Thượng

Khóa tu mùa hè 2001 
 
 

TÍCH NIÊN HÀNH XỨ
Thầy Pháp Niệm 

Tích niên hành xứ: nơi khởi hành năm xưa, nhìn lại tôi thấy tôi đã bước đi được những bước thật dài, tôi đã không dẫm chân tại chỗ. Tăng thân như một dòng sông đưa tôi đi, tôi đi nhưng tôi cũng đến từng phút từng giây. 

Thầy thương, đã hơn sáu năm nay từ ngày con được xuất gia và gia nhập vào tăng đoàn đã có những giây phút khó khăn, nhưng nhìn lại con thấy con đã gặt hái được nhiều hoa trái trong sự tu tập; cái nhìn của con về cuộc đời lạc quan và tươi vui hơn. Lúc còn là cư sĩ, chưa biết tu tập, con thật sự không biết mình là ai, mình nên làm gì, hướng đi thì còn quá mù mờ, con lại không thỏa mãn với nếp sống ở đời bằng sự đeo đuổi theo năm thứ dục lạc của thế gian như bao chàng thanh niên khác. Trong khi đó những vấn đề khó khăn, khổ đau của gia đình, bạn bè và xã hội thì không có cách gì để giải quyết. Con ý thức rằng nếu con không biết tu tỉnh thì con cũng sẽ rơi vào những hầm hố của khổ đau. Từ đó niềm khát khao đi tìm đời sống tâm linh (đời sống mà con tin chắc là sẽ đem lại cho con an lạc, hạnh phúc và tự do chân thật) trong con bừng sống dậy thật mạnh mẽ và cuối cùng con đã tìm đến được với Thầy và với tăng thân. Con muốn tìm lại con người đích thực của mình và tìm con đường tu tập để chuyển hóa tự thân, giúp gia đình, bạn bè và xã hội. 

Thầy ơi, Thầy và tăng thân đã đưa con đi thật xa, đã giúp con lớn lên và trưởng thành một cách mau chóng: từ cách đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, tiếp xử, hiểu biết và thương yêu. Điều này con có thể nhận thấy được sự khác biệt trong phong cách của mình khi con gặp những người bạn thân ngày xưa của con. Chắc chắn là giới luật và uy nghi, nếp sống chánh niệm đã tạo cho con cái khác đời ấy. Khi mới bước vào tu viện, con thấy con là một đứa bé phải học lại từ đầu cách làm người. Thầy và tăng thân đã giúp con khám phá và phát triển những tài năng mà con nghĩ tự mình sẽ không thể khám phá ra được. Tăng thân là môi trường tu tập thuận lợi cho con tìm hiểu và khám phá ra chính mình và giúp con thành tựu được tâm nguyện của con. 

Ngày mới gia nhập vào tăng đoàn, con cảm thấy mình như một chiếc đũa bị bám đầy bụi nhơ, và khi được gia nhập vào bó đũa của tăng thân, chiếc đũa ấy được cọ xát với nhiều chiếc đũa khác bằng thứ nước của diệu pháp, của giới luật và uy nghi và chiếc đũa ấy cùng với bao chiếc đũa khác càng ngày càng trở nên sạch sẽ và bóng loáng. Qua sự tu tập, con thấy mình hiểu đời, thương đời và yêu đời nhiều hơn. Niềm vui của con bây giờ vững bền và thanh thoát hơn so với thứ niềm vui mà con đã từng đeo đuổi, mê đắm ở đời. Con nhận thấy ngọn lửa thương yêu trong con bốc cháy thật mạnh mẽ; ngọn lửa đó đã giúp con thiêu đốt bao sự bực bội, giận hờn, phiền não và tạo cho con có một khả năng kiên nhẫn và bao dung thật lớn, giúp con đi tới và vượt qua nhiều chứng ngại. Thầy và tăng thân đã đóng vai trò hết sức thiết yếu và quan trọng trong quá trình tu tập và chuyển hóa của con, đã đưa con tới một nếp sống thanh bạch và tự do của nội tâm. Không có tăng thân thì con không thể đi xa được. Điều này con thấy rất rõ, cụ thể là đã có vài vị trong tăng thân rời bỏ tăng thân ra đi nhưng cuối cùng họ cũng đã trở về với tăng thân. 

Thầy ơi, có những lần con rơi vào hầm hố của khó khăn, của lầm lỡ nhưng Thầy và tăng thân không rầy la một tiếng nào, ngược lại Thầy luôn luôn ở bên cạnh để đưa con ra, dìu dắt con, chỉ cho con hướng đi, cho con thêm niềm tin và năng lượng; tăng thân luôn luôn có mặt đó để soi sáng, che chở và bảo hộ cho con để con không bị rơi vào hầm hố của mê lạc và không vượt quá ‘lằn đỏ’ trong sự hành trì giới luật và uy nghi. Sự thực tập của từng vị trong tăng thân là sự nhắc nhở, khích lệ, giúp con chuyển hóa được tập khí lười biếng và giải đãi trong sự tu tập. Nếu không có tăng thân hỗ trợ thì sự thực tập của con khó khăn gấp trăm ngàn lần. Cho nên con rất trân quý sự có mặt của tăng thân. 

Hạnh phúc nhất là sau khi mình được gia nhập vào tăng đoàn thì tự nhiên mình có thêm nhiều sư anh, sư chị, sư em và được quen biết thêm nhiều các vị tôn túc, quý thầy và quý sư cô từ những nơi khác đến. Tuy mọi người đến từ khắp năm châu, nhưng khi xuất gia rồi thì tất cả đều xem nhau, thương yêu nhau như anh, chị, em ruột thịt. Tất cả đến đây đều mang một ước nguyện, hoài bão, thao thức và lý tưởng của tăng thân. Tuy nhiên cũng có những vị phải mất một thời gian kinh nghiệm nên con tạo ra bao lầm lỗi và gây khó khăn cho huynh đệ nhưng tăng thân vẫn kiên nhẫn, đùm bọc, thương yêu, tha thứ, soi sáng và nâng đỡ con, cho con thật nhiều không gian để tu tập chuyển hóa và dạy cho con cách ứng xử hay và khéo hơn. Vị nào cũng là bậc thầy của con cả. Một vị thầy có trái tim, trí tuệ và lòng kiên nhẫn lớn như thế, một tăng thân có thực chất tu học, có lòng bao dung, độ lượng lớn như thế thì đi đâu mà con có thể kiếm được dễ dàng. Để đáp lại tình thương rộng lớn ấy, con luôn luôn cố gắng tu tập tinh chuyên để không phụ lòng Thầy và tăng thân trông đợi. Con biết Thầy và tăng thân cũng như gia đình huyết thống của con đang trông đợi nơi con, con không thể ‘‘lục bình trôi riu ríu được’’. Con rất hạnh phúc được tu tập dưới sự hướng dẫn của Thầy và của tăng thân và con rất hạnh phúc với con đường và lý tưởng con đã chọn. 

Sự tu tập của con đã giúp gia đình con trở nên vững vàng hơn. Các anh chị đến được với nhau và sống chung hòa hợp, thương yêu hòa thuận nhiều hơn. Bây giờ họ đang tu tập như một tăng thân, có nhiều chuyển hóa trong liên hệ gia đình, anh, chị, em. Họ bỏ được nhiều tập khí không lành mạnh như uống bia, uống rượu, hút thuốc. Họ đang rất hạnh phúc. Họ đang nuôi dưỡng con và con cũng đang nuôi dưỡng họ. Con thấy rằng đi tu là đi tu cho cả gia đình chứ không phải tu cho riêng mình. Nếu con tu tập đàng hoàng, có hạnh phúc thì gia đình con cũng được hưởng lây và nếu họ sống có hạnh phúc, an vui, lành mạnh thì đó là sự yểm trợ rất lớn cho con. Con thấy con thật là may mắn, có nhiều phước đức nên mới được gặp Thầy và tăng thân. Con vô cùng biết ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên của con đã gieo trồng nhiều phước đức nên bây giờ con và anh, chị, em, dòng họ của con được thừa hưởng. Con biết ông bà, tổ tiên, ba mẹ và những thế hệ tương lai đều đang có mặt trong từng tế bào của con. Con không thấy có chút xa cách nào cả. Con đang tu tập mà đồng thời ông bà tổ tiên, thân quyến của con cũng đang tu tập. Con đang mang ông bà tổ tiên của con đi về tương lai và ông bà, tổ tiên, cha mẹ là gạch nối của quá khứ giúp con thấy được khuôn mặt đích thực của con. Con và ông bà tổ tiên của con là một thực tại vượt thoát thời gian và không gian. 

Kỳ rồi con được về Việt Nam thăm ba mẹ, mệ nội và bà con thân quyến, con đã nhận ra được nhiều đức tính tốt và cả những tập khí không tốt của họ nơi con. Thật là mầu nhiệm. Thầy và tăng thân cũng đều đang có mặt trong con. Thầy và tăng thân đã trao truyền cho con tất cả những gì Thầy và tăng thân có. Con là con, nhưng con là sản phẩm chung của tăng thân và của nhiều yếu tố khác. Cũng như Thầy là Thầy, nhưng Thầy cũng là sản phẩm của Bụt và của biết bao thế hệ tổ tiên tâm linh và huyết thống đi trước. Mỗi khi nhìn vào Thầy thật sâu, con tiếp xúc được sự có mặt của biết bao thế hệ tổ tiên đi trước. Không những con chỉ nhìn như thế, mà khi nghe pháp thoại con cũng nghe như thế. Con vô cùng hạnh phúc. Do đó con thấy con không có một cái ta riêng biệt nào cả. Sự thành đạt của con là sự thành đạt của tăng thân, là niềm vui lớn của tất cả thế hệ tổ tiên. Càng thực tập con càng thấy điều này rõ hơn. Nó không phải là một lý thuyết trừu tượng, khó hiểu. 

Thầy ơi, hơn sáu năm tu tập vừa qua, tuy có một ít khó khăn nhưng không đáng kể so với niềm hạnh phúc mà con đã gặt hái được. Hơn nữa những khó khăn kia đã đóng vai trò thiết yếu cho hoa trái của hạnh phúc và tự do của con. Khó khăn và khổ đau đã nuôi con lớn lên. Tâm bồ đề của con chưa bao giờ bị lung lay, xói mòn tí nào, ngược lại nó càng ngày càng vững mạnh. Từ ngày xuất gia tới nay, con chưa bao giờ có một ý nghĩ thối lui. Có nhiều lúc trong thực cũng như trong mộng, tâm thức biểu hiện những cám dỗ thật hấp dẫn, nhưng con luôn luôn nhận thấy trong con cái ước muốn tu tập và độ đời vẫn chiếm thượng phong và đánh bại những con ma ‘đáng thương’ đó. Điều này cho con niềm tin vững vàng là con sẽ đi trọn con đường và có tăng thân cùng đi thì con không còn lo sợ gì nữa cả. 

Thầy ơi, sống trong đại chúng, làm việc chung, cái khó nhất là dung hòa ý kiến, là tôn trọng sự khác biệt của nhau. Có nhiều lúc với trách nhiệm lo cho chúng, con có khuynh hướng đòi hỏi một sự toàn hảo nào đó và vì có những khuynh hướng như thế nên có nhiều lần con đã tạo ra những khó khăn trong huynh đệ với nhau. Nhưng khi con biết buông bỏ những ý niệm, những đòi hỏi như thế này thế kia đi, thì tự nhiên con thấy khỏe nhẹ và tự do hơn. Con biết điều quan trọng là mình cứ thực tập cho đàng hoàng là được. Tuy nhiên sự thực tập cũng đòi hỏi chút thông minh và nghệ thuật. Sống chung và làm việc với tăng thân, con học hỏi được rất nhiều. Con rất thích tinh thần làm việc như một tăng thân. Tinh thần này đã giúp giải quyết nhiều hiểu lầm, trừ khử được tính cách đổ lỗi cho một cá nhân hoặc đánh tan được cái ‘ngã’ tự cho mình là số một và tạo thêm nhiều cảm thông... Khi con ôm chặt vào một nhận thức nào đó thì con thấy người khổ đầu tiên chính là mình. Vì vậy sống trong chúng, điều cần thiết là phải có thái độ cởi mở để đưa ra ý kiến, tiếp nhận ý kiến và dung hòa ý kiến. Tuy đôi lúc ý kiến không đồng nhau nhưng không phải vì vậy mà anh em không thương nhau. Anh em vẫn vui vẻ đến với nhau. Nhìn lại, con thấy anh em của con ai ai cũng hạnh phúc, đang vững vàng đi tới. Người nào cũng có chuyển hóa, đạt được sự thảnh thơi, dẫu rằng trong tâm của mỗi người còn nhiều tập khí yếu kém. 

Có tăng thân dìu dắt, nâng đỡ và soi sáng thì thế nào cũng được chuyển hóa và qua được bờ bên kia. Nhờ có những pháp môn tu tập thực tế, nhờ Thầy khéo hướng dẫn và tăng thân hỗ trợ, các sư anh, sư chị và sư em của con chuyển hóa rất nhiều và họ đang làm chỗ nương tựa vững chãi cho con và cho rất nhiều người. Các sư anh sư chị đã dạy cho chúng con những gì nên làm và nên tránh, nhờ vậy mà chúng con là đàn em tới sau thừa hưởng được rất nhiều kinh nghiệm của các sư anh và sư chị. Chúng con vô cùng biết ơn. Trong tăng thân, con thấy có tinh thần huynh đệ, đoàn kết, thương yêu và hòa điệu. Điều này cho con một niềm tin vững chắc là dù sau này Thầy ra đi thì chúng con vẫn tiếp tục được con đường, vẫn nắm tay nhau để đi tới. Con thấy rằng thế kỷ 21 là thế kỷ có nhiều biến động trong thế giới nhân loại, và sẽ có những vấn đề thật phức tạp mà thế hệ chúng con sẽ phải đương đầu. Vì vậy chúng con cần phải nắm tay nhau thật chặt và đi như một tăng thân thì chúng con mới thực hiện được lý tưởng cao cả của chúng con. Chúng con phải dùng cái tuệ giác chung (collective insight) và lòng thương như một tăng thân mới có thể đáp ứng được những khó khăn và nhu cầu lớn của thời đại. Vì vậy con nguyện đem hết sức lực để xây dựng tăng thân, tu tập có an lạc, hạnh phúc để làm chỗ nương tựa cho những ai cần đến chúng con. 

Thầy ơi, Thầy có biết là con đang hạnh phúc lắm không! Không phải chỉ có riêng con mà tăng thân cũng đang hạnh phúc lắm. Con không còn phân biệt sự thực tập nữa: Ngồi thiền cũng hạnh phúc, đi thiền cũng hạnh phúc, ăn cơm cũng hạnh phúc, làm việc cũng hạnh phúc, giúp thiền sinh cũng hạnh phúc và hạnh phúc luôn cả những lúc mình không cần phải làm gì hết. Con không nghĩ rằng mình phải giác ngộ hoàn toàn rồi mới ra giúp đời. Mình phải vừa tự độ và độ tha. Càng giúp người thì sự hiểu biết của mình càng lớn rộng và lòng thương càng bao la. Con thấy đó là việc chính của người tu. Tu kiếp này rồi kiếp sau tu tiếp, không có gì phải gấp gáp cả. 

Con ý thức rất rõ là Thầy đang đi với chúng con vào thế kỷ 21. Thầy đang có mặt khắp nơi và trong từng đệ tử của Thầy. Tình thương, trí tuệ, lòng kiên nhẫn, đức vững chãi và thảnh thơi là những chất liệu cụ thể để chứng minh điều ấy. Con thấy rất rõ cách Thầy sống, những gì Thầy làm là sự trao truyền trong im lặng tuyệt vời. Thầy như ánh sáng và nước mưa. Những tế bào của Thầy đi vào chúng con từng giây từng phút. Vì vậy mỗi hành động của đời sống đều là hành động của sự giác ngộ. Con đâu cần đi tìm sự giác ngộ đâu xa, con chỉ cần nhìn vào thực tại cho thật sâu thì con sẽ thấy được tất cả. ‘‘Tất cả vẫn còn đây. Em còn ước mơ gì?’’ Đó là hai câu thơ của sư em Pháp Cảnh. Chỉ cần nhận diện và thấy mà thôi. Thầy ơi, tăng thân đã và đang cho con nhiều sức sống, niềm tin, hạnh phúc và tình thương. Con không đòi hỏi gì thêm nơi tăng thân cả; như vậy là đẹp lắm rồi. Con nghĩ đi đâu cũng khó có thể tìm được một tăng thân toàn hảo bởi vì điều đó sẽ không bao giờ có. Con thấy cái toàn hảo là khi nào mình chuyển được cái tâm phân biệt, nghi kỵ, so đo, mong cầu, ghen tỵ, khi mình chấp nhận cái thực tại như nó đang là và không để bị lay chuyển bởi những xung đột, những va chạm trong đời sống mà thôi. Còn chuyện lớn tiếng với nhau đôi lần là chuyện thường. Nếu trái tim mình lớn thì mình có thể ôm được những vấn đề ấy một cách dễ dàng. 

Thầy ơi, sáu năm qua là sáu năm đáng sống nhất của đời con, dẫu biết rằng mình còn nhiều thứ cần được gột rửa và chuyển hóa. Thầy và tăng thân đã giúp con thực hiện được nhiều việc có ý nghĩa và đem lại nhiều niềm vui, hạnh phúc cho con và cho nhiều người. Con sung sướng lắm. Con thấy rằng không có cái gì có thể đánh đổi đời sống xuất gia và lý tưởng cao quý của con. Cám ơn Thầy đã dạy cho con biết thở, biết cười, biết đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng và tiếp xử trong chánh niệm, biết tiếp xúc với những gì mầu nhiệm của sự sống và biết nhìn đời bằng con mắt trầm tĩnh, hiều biết, tha thứ và thương yêu. Nhưng Thầy ơi, hai chữ ‘ cám ơn’ làm sao có thể diễn tả được tình thương và ơn đức dạy dỗ của Thầy và tăng thân. 

Ngưỡng cầu chư Bụt, chư Tổ hộ trì cho Thầy luôn được khỏe nhẹ và có nhiều niềm vui.

Kính dâng Thầy 

Con, Chân Pháp Niệm
 
 

ÁI NGỮ LẮNG NGHE

Ái Ngữ Lắng Nghe
Con đã trở về
Quỳ dưới đài sen quý
Nhìn lên con quan chiêm và ngưỡng mộ
Nét tâm linh rạng rỡ
Tỏa chiếu trên vầng trán Thế Tôn
Thế Tôn là ánh sáng bình minh
Là không gian bao la bát ngát
Là hành tinh vững chãi 
Chuyên chở chúng con
Trong cuộc hành trình
Từ thế giới u minh
Trở về cõi viên dung vô ngại.
 

Từ vô lượng kiếp xa xưa 
Chúng con đã gây lầm lỗi
Đã tạo nhiều khổ đau
Mỗi chúng con đều ôm đầy nội kết
Có khi không nhìn được mặt nhau
Không còn khả năng lắng nghe
Không còn nói được với nhau những lời hòa ái
Sự truyền thông giữa chúng con 
Đã trở nên khó khăn vì bao chướng ngại
Khổ đau không có đường giải tỏa
Hiểu và thương càng ngày càng vắng mặt
Tình trạng nặng nề bế tắc
Làm tắt lịm mọi niềm vui
Nay con xin đem đầu lạy xuống
Với tâm dạ chí thành
Nguyện vâng lời chỉ dạy đức Thế Tôn
Bắt đầu thực tập pháp lắng nghe
Và nói lời ái ngữ
Theo pháp môn lợi hành và đồng sự
Để mau chóng tái lập được truyền thông.
 

Xin chuyên cần thực tập
Hộ trì thân tâm
Bằng hơi thở chánh niệm
Bằng bước chân ý thức
Để có khả năng nhận diện
Để có khả năng ôm ấp
Những giận hờn và bực bội trong tâm
Để có thể ngồi lắng nghe
Với tất cả tâm từ bi
Và để người kia có dịp nói ra
Những khổ đau uất ức
Xin tập ngồi lắng nghe
Với niềm cảm thương thao thức
Để giúp cho người kia bớt khổ
Con xin hứa với Bụt
Là dù người kia có nói
Những điều không phù hợp với sự thực
Dù lời nói người kia
Có hàm ý buộc tội và trách móc
Con cũng sẽ chăm chú ngồi nghe.
Con sẽ biết đợi chờ
Cho đến khi thuận lợi
Mới tìm ra phương cách
Để nói cho người kia nghe
Những gì đã thật sự xảy ra
Để người kia có dịp
Điều chỉnh nhận thức mình.
 

Con nguyện sẽ thực tập 
Dùng ngôn từ hòa ái
Để giúp người đối diện
Có thể nghe và hiểu
Những gì con muốn nói
Mỗi khi trong lòng bực bội
Con sẽ chỉ tập thở
Tập đi thiền hành
Và nhất thiết tránh việc luận tranh
Con nguyện con chỉ nói
Mỗi khi con làm chủ được tâm mình.
 

Con xin đức Thế Tôn
Đức bồ tát Văn Thù Sư Lợi Đại Trí
Đức bồ tát Phổ Hiền Đại Hạnh
Và đức bồ tát Quan Âm Đại Bi
Gia hộ và soi sáng cho con
Để con mau chóng thành công
Trên con đường thực tập. 
 
 
 

KINH CHÂN ĐẾ
Kinh Sự Thật Đích Thực

 (Chân Đế Kinh, Paramattaka sutta, 
Attakavagga 5, Sutta Nipata)

Kẻ nào còn ôm ấp tư kiến, xem nhận thức của mình là cao nhất thế gian, cho rằng ‘kiến giải này là tối thượng’ và công kích mọi nhận thức khác, kẻ ấy còn được xem là chưa thoát khỏi vòng tranh chấp. 

Khi thấy, nghe hoặc cảm nhận được một điều gì rồi nghĩ rằng điều đó là cái duy nhất có thể đem lại lợi lạc và tiện nghi cho cá nhân và đoàn thể mình, người ta dễ có khuynh hướng bám víu vào điều ấy rồi cho rằng tất cả mọi kẻ khác so với mình đều là thua kém. 

Bị lệ thuộc vào chủ thuyết mình đang theo và xem thường tất cả những kiến giải khác, điều này được kẻ trí nhận thức là một sự ràng buộc, là một sự đánh mất tự do. Kẻ hành giả đứng đắn không nên vội tin vào những gì mình nghe, thấy và cảm nhận, kể cả những cấm giới và nghi lễ. 

Vị hành giả chân chính không có nhu yếu tạo ra một chủ thuyết mới cho thế gian, hoặc bằng kiến thức đã thu nhặt được, hoặc bằng những cấm giới và lễ lược đã được học hỏi, không tự cho mình là ‘hơn người’, ‘thua người’ hay ‘bằng người’.

Bậc thức giả là kẻ đã buông bỏ ý niệm về ‘ta’ và không còn giữ thái độ nắm bắt. Vị ấy không bị lệ thuộc vào bất cứ một cái gì, kể cả kiến thức, không đứng về phía nào khi có một cuộc tranh chấp và không còn duy trì một tư kiến hoặc một giáo điều nào nữa cả. 

Vị ấy hoàn toàn không còn tìm cầu và nắm bắt, hoặc cái này hay cái kia, hoặc trong đời này hay trong đời khác. Vị ấy đã chấm dứt mọi tư kiến và không còn đi tìm sự nương náu hoặc an ủi và vỗ về trong bất cứ một chủ thuyết nào. 

Bậc thức giả chân chính là người không còn tư kiến đối với những gì mình thấy, nghe và cảm nhận. Làm sao còn có thể phê phán hoặc nắm bắt được bằng khái niệm một bậc hành giả thanh tịnh đã từ bỏ mọi tư kiến? 

Bậc ấy quả không còn nhu yếu thiết lập một giáo điều hoặc chọn lựa một ý thức hệ. Mọi giáo điều và ý thức hệ đều đã bị bậc ấy buông bỏ. Kẻ cao sĩ không hề bị cấm giới và lễ nghi ràng buộc. Kẻ ấy đang đi từng bước vững chãi đến bờ giải thoát và không bao giờ còn trở lại chốn trầm luân.
 

 
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap

Xx