6.
Một thông bạch quý báu
7.
Hội ngộ Long Vương
8.
Thư gửi về chùa
9.
Ánh sáng đã lọt vào
10.
Sư tử núi trở lại
Một
Thông Bạch Quí Báu
Con
mắt của Nhà Văn Hóa
Sư
Cô Chân Không viết
Thông
Điệp Phật Giáo Dân Tộc - Đạo Bụt Hiện Đại được thầy
Nhất Hạnh gửi ra vào dịp đầu năm 2002 rất đáng để cho
chúng ta chiêm nghiệm và đem ra thực tập. Cùng với một số
các thầy và các Sư Cô ở Làng Mai, tôi đã từng được dịp
gần gũi và lắng nghe thầy chúng tôi tâm sự về đề tài
Phật Giáo Dân Tộc - Đạo Bụt Hiện Đại nên tôi viết những
dòng này để chia sẻ với các bạn thêm về những gì tôi
đã được học hỏi.
1-
Một nhà văn hóa
Điều
trước tiên mà tôi muốn nói là tuy bề ngoài nhiều người
nghĩ rằng thầy Nhất Hạnh là một bậc đạo sư hay một
nhà truyền giáo, kỳ thực, nếu thâm cảm được tâm ý Thầy,
ta sẽ thấy Thầy trước hết là một nhà văn hóa. Thầy Nhất
Hạnh không còn bị hạn chế bởi những ranh giới chủng tộc
và tôn giáo nữa. Thầy như một con cá bơi lội thảnh thơi
trong mọi nguồn nước dù đó là sông hay là biển. Thầy có
cái nhìn xa của một nhà văn hóa và vì vậy không có thái
độ chật hẹp của một kẻ cố chấp và giáo điều chỉ
biết nghĩ tới những cái lợi trước mắt.
2-
Bản chất văn hóa độc lập
Ai
đã đọc sách Thiền Sư Tăng Hội của thầy Nhất Hạnh đều
đã thấy Thầy nêu rõ vị trí địa dư và văn hóa của bán
đảo Ấn Độ Chi Na. Ngày xưa, trước khi văn hóa Trung Quốc
đi vào thì người dân nước Việt Nam đã chịu ảnh hưởng
văn hóa Ấn Độ. Từ thiên văn, niên lịch, kiến trúc, y khoa
cho đến phong tục, canh nông, ăn uống, hôn lễ, tang tế, ta
đều theo Ấn Độ. Nhưng từ khi nội thuộc nhà Hán, ta bắt
đầu tiếp nhận văn hóa Trung Hoa. Dần dần ảnh hưởng văn
hóa Trung Quốc lấn lướt ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Ngày
xưa có cả trăm bộ tộc có tên Việt gọi là Bách Việt.
Vậy mà hầu hết các bộ tộc Việt đều đã bị đồng hóa,
kể cả Mân Việt. Vậy mà chỉ có bộ tộc Lạc Việt duy
trì được bản sắc của mình mà không bị đồng hóa để
rồi sau nầy gọi là Nam Việt. Núi sông hiểm trở đã đóng
một vai trò nào đó cho sự ngăn cản bị đồng hóa. Yếu
tố văn hóa, tuy vậy, là yếu tố quyết định. Vì vậy giữ
được bản chất văn hóa độc lập là công việc thiết yếu
nhất của dân tộc ta. Phải làm sao cho có sự thăng bằng
giữa hai yếu tố văn hóa Ấn Độ và văn hóa Chi Na thì người
Việt mới duy trì được một nền văn hóa độc lập. Đó
là cái thấy của tổ tiên ta và cũng là cái thấy của thầy
Nhất Hạnh. Phải nhìn công tác của thầy Nhất Hạnh dưới
ánh sáng của nhận thức này ta mới hiểu được thâm ý của
Thầy.
Trong
sách Thiền Sư Tăng Hội Thầy nhắc rằng chữ Giao trong địa
danh Giao Châu có nghĩa là giao tiếp. Đất nước ta là nơi
giao tiếp của hai nền văn hóa lớn, đó là văn hóa Ấn Độ
và văn hóa Chi Na. Nhờ tổng hợp được hai nền văn hóa ấy
mà ta có được một bản sắc văn hóa riêng, và trên cơ bản
đó ta có thể tiếp thu được tinh hoa của những nền văn
hóa khác. Thầy viết: ‘‘Nếu trong quá khứ, đất nước
ta đã đóng được vai trò giao lưu văn hóa thì tại sao trong
hiện tại và tương lai ta lại không tiếp tục được vai
trò này? Ta có thể đóng góp được lớn lao cho văn hóa nhân
loại nhờ vai trò lịch sử ấy’’. Câu nói này rất quan
trọng.
3 -Thăng
bằng văn hóa
Khi
viết sách Hương Vị Của Đất (tức là sách Văn Lang Dị
Sử) năm 1966, thầy đã tạo được sự thăng bằng của các
thần thoại liên hệ tới nguồn gốc và sự diễn biến của
dân tộc và văn hóa Việt Nam. Thầy đã loại bớt các yếu
tố có gốc rễ Trung Quốc trong các thần thoại ấy (ví dụ
chuyện vua Thần Nông) và phục hồi lại những yếu tố có
gốc rễ Ấn Độ đã bị lãng quên. Ai có đọc Văn Lang Dị
Sử chắc cũng đã thấy những nhân vật như công chúa Sita,
những hình ảnh như chim đại bàng Garuda và thủy quái Maraka
xuất hiện trở lại trong các thần thoại. Trong chuyện Trọng
Thủy Mỵ Châu, khi vua Thục An Dương Vương bị giặc đuổi
tới đường cùng, và thần Kim Quy rẽ sóng cho vua đi vào thủy
cung, ai cũng thấy là không phải vua Thục An Dương Vương đã
giết công chúa Mỵ Châu vì nàng đã quá nghe lời Trọng Thủy
mà chính là vì công chúa đã quá hối hận mà tự rút gươm
của vua cha đeo bên mình để tự tử. Trong tinh thần văn hóa
dân tộc, chưa từng có chuyện cha giết con để trừng phạt
bao giờ. Sách Văn Lang Dị Sử (Hương Vị của Đất) đã chứng
tỏ rằng từ 1966 thầy đã có chủ ý phục hồi lại sự
thăng bằng giữa các yếu tố văn hóa Ấn Độ và Chi Na trong
nền văn hóa Việt Nam.
4 -
Danh từ Bụt
Từ
những năm 1970, Thầy đã bắt đầu dùng từ Bụt để thay
thế cho danh từ Phật trong nhiều trường hợp. Trong các danh
từ Hán Việt, từ Phật vẫn còn được Thầy sử dụng, như
Phật giáo, Phật học, Phật tính, Phật tử, v.v.. nhưng từ
Bụt như một từ Nôm đã được Thầy sử dụng trong tất
cả mọi trường hợp khác. Ví dụ: ‘Bụt gọi thầy A Nan’
hoặc ‘Thầy Xá Lợi Phất lên gặp Bụt’. Dân tộc ta đã
từng gọi Buddha là Bụt ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất
của Tây lịch và vẫn còn sử dụng từ ấy cho đến ngày
nay trong văn chương truyền khẩu. Phát âm ‘Phật’ là do
ảnh hưởng Trung Quốc, và ta chỉ bắt đầu phát âm như thế
từ lúc quân nhà Minh sang xâm chiếm nước ta. Chính thầy Khuy
Cơ, cao đệ của thầy Huyền Trang cũng đã từng nói rằng
Buddha phiên âm là Bột mới đúng, phiên âm thành Phật là
sai. Nhận thức ấy đến hơi trễ, thành ra người Trung Quốc
không sửa sai lại kịp (*). Không có lý do gì mà một dân
tộc phải đi theo sự sai lầm của một dân tộc khác. Các
dân tộc khác trong vùng đều phát âm Buddha là Bụt như Thái
Lan, Nhật Bản, Miến Điện, Tây Tạng, v.v.. Thầy nói sử
dụng cách phát âm Bụt không có nghĩa là mình không còn sử
dụng những danh từ Hán Việt có chữ Phật, và như vậy ta
chỉ là làm giàu thêm cho tiếng Việt. Ví dụ ta có thể sử
dụng cả hai danh từ tâm Bụt (tâm Bụt không đâu không từ
bi) và Phật tâm (Phật tâm vô xứ bất từ bi). Mãi đến thế
kỷ thứ mười bốn, dân ta vẫn còn sử dụng danh từ Bụt
trong văn chương bác học, như vua Trần Nhân Tông đã sử dụng
trong các bài phú Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca. Chúng
ta chỉ mới bắt chước người Trung Quốc phát âm chữ Phật
từ sau đó, nghĩa là chỉ mới sáu trăm năm. Chỉ mới trôi
qua hai chục năm từ ngày ta sử dụng âm Bụt trở lại mà
danh từ này đã trở thành sống động, mọi người nghe đã
quen tai và cảm thấy rất gần gũi với Bụt khi nghe và sử
dụng lại cách phát âm này.
5-
Nghi Thức Tụng Niệm bằng Quốc Văn
Những
bài tụng niệm bằng chữ Nôm đã được sáng tác từ khi
chưa có chữ quốc ngữ. Trong thời Pháp thuộc, các hội Phật
giáo cũng đã cho lưu hành những bài tụng như bài ‘Đệ
tử kính lạy’. Từ năm 1949, thầy Nhất Hạnh đã làm bài
‘Phòng Hộ Chuyển Hóa’, nghĩa là cách đây đã 52 năm. Bây
giờ đây ta đã có sách Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000 toàn
bằng Quốc Văn với mười bốn nghi thức tụng niệm bằng
tiếng Việt. Ta lại có sách Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn
với rất nhiều nghi thức và kinh văn cũng toàn bằng tiếng
Việt. Các nghi thức này đã được nhiều chùa trong nước
bắt đầu áp dụng. Một số các chùa khác cũng đang rất
muốn áp dụng nhưng còn hơi ngại ngùng. Thông Điệp Phật
Giáo Dân Tộc - Đạo Bụt Hiện Đại Hóa năm 2002 khuyến khích
chúng ta nên đem áp dụng ngay Thiền Môn Nhật Tụng năm 2000
vào các thời công phu sớm và tối. Ta nên thấy đây không
phải là một công tác hành đạo mà còn là một công tác
văn hóa để bồi đắp thành trì văn hóa dân tộc. Tụng niệm
bằng tiếng Việt không những giúp ta hiểu được ý kinh rõ
ràng mà còn là một công tác văn hóa để bồi đắp và phát
triển nền văn hóa dân tộc trong lòng tuổi trẻ, bởi vì
tuổi trẻ sẽ hiểu và sẽ ham chuộng sự thực tập nếu
ta cống hiến được cho họ những tư liệu học hỏi và học
tập bằng quốc văn.
6 -
Thiền sư Tăng Hội là sơ tổ của Thiền Tồng Việt Nam
Thiền
sư Tăng Hội là một sơ tổ của Thiền Tông Việt Nam và của
cả Giáo Tông Việt Nam. Điều này là một sự thật lịch
sử. Thiền sư Tăng Hội đã đóng góp rất nhiều cho nền
Phật giáo dân tộc. Ngài đã phiên dịch và sáng tác ở Việt
Nam trước khi đi sang Trung Quốc (nước Đông Ngô thời Tam
Quốc) để truyền đạo. Hồi đó chưa có người Hán nào
được phép xuất gia làm sa môn. Thầy Tăng Hội là vị thầy
đầu tiên truyền giới tỳ kheo cho người Trung Quốc. Thầy
Tăng Hội lớn hơn tổ Bồ Đề Đạt Ma cả ba trăm tuổi.
Tạc tượng Thiền Sư Tăng Hội để thờ ở các chùa Việt
Nam không phải chỉ là một hành động kính ngưỡng và tri
ân mà còn là một hành động xây dựng và củng cố nền
văn hóa dân tộc. Xin các bạn đọc lại sách Thiền Sư Tăng
Hội (Nhà xuất bản An Tiêm). Sách này cũng đã được xuất
bản bằng tiếng Anh (nhà xuất bản Parallax, Berkeley, CA, USA)
với tựa đề: Thiền sư Tăng Hội, vị thầy dạy thiền đầu
tiên ở Việt Nam và Trung Quốc (Master Tăng Hội, the First Zen
Teacher in Vietnam and China).
7 -
Pháp môn Làng Mai
Thiền
đường của Làng Mai và của tất cả các chùa và các tăng
thân liên hệ được thiết trí rất khác các thiền đường
Trung Quốc. Các thiền đường Trung Quốc ít có cửa sổ mở
ra ngoài, và thiền sinh ngồi trên bục cao. Các thiền sinh ở
đạo tràng Mai Thôn (Pháp), Phong Lâm và Lộc Uyển (Hoa Kỳ)
cũng như Trăng Rằm (tổ đình Từ Hiếu, Huế) đều được
thiết trí với rất nhiều cửa sổ mở ra thiên nhiên, và
thiền sinh ngồi ngay dưới sàn thiền đường, xoay mặt ra
ngoài chứ không ngồi trên sập gỗ và xoay mặt vào trong.
Ngồi trong những thiền đường như thế, ta tiếp xúc được
với thiên nhiên, tâm tư thanh thoát dễ chịu, pháp lạc đến
với ta rất dễ dàng. Ngồi trên tọa cụ đặt thành từng
hàng trên sàn thiền đường, xoay mặt về phía các cửa sổ,
các thiền sinh cảm thấy rất thoải mái và hạnh phúc. Cách
ngồi sàn rất gần với truyền thống Phật giáo Ấn Độ.
Ngày xưa, Bụt và các thầy cũng thường ngồi ngoài trời,
rất gần với thiên nhiên. Chốn thiền lâm được gọi là
A Lan Nhã. Cách ngồi ăn cơm quá đường cũng thế. Chúng ta
ngồi kiết già trên tọa cụ để cúng dường, xuất sanh,
lưu phạn và ăn cơm, rất thoải mái và an lạc như trong thời
của Bụt. Cách thức lấy cơm vào bình bát được thực hành
theo kiểu tự trợ (self service) không cần một đội tri đường
tiếp trợ như ở các Ngũ Quán Đường bên Trung Quốc. Cách
của ta tiện lợi, đơn giản và dễ chịu hơn nhiều và cho
phép mọi người trong tăng thân được tham dự không sót người
nào.
8 -
Khuynh hướng tổng hợp
Đạo
Bụt Việt Nam đã có khuynh hướng tổng hợp ngay từ thời
khởi thủy. Thiền sư Tăng Hội giảng giải và thực tập
các kinh thiền nguyên thủy với tinh thần đạo Bụt đại
thừa. Ví dụ ngài nói: ‘‘An ban là đại thừa của chư
Bụt để cứu độ chúng sinh đang lênh đênh chìm nổi’’.
Khuynh hướng thống nhất các hệ phái Phật giáo đã có ngay
từ đầu trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tới đời Trần,
tất cả các thiền phái Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn
Thông và Thảo Đường đều đã được thống nhất với thiền
phái Trúc Lâm. Đời Trần, ta có quốc sư Nhất Tông đại
diện cho khuynh hướng thống nhất ấy. Các thiền phái Việt
Nam từ đó đã đi vào cùng một dòng thiền duy nhất mà ta
có thể gọi là Phật Giáo Nhất Tông. Các thiền phái Lâm
Tế và Tào Động sau này từ Trung Quốc truyền qua Việt Nam
cũng đã chảy vào dòng sông lớn ấy. Cận đại, ta thiếp
lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cũng là để
tiếp nối tinh thần ấy mà thôi. Phật Giáo Thống Nhất cũng
như Phật Giáo Nhất Tông chỉ là một. Đạo Bụt Đại Thừa
và dạo Bụt Nguyên Thỉ cũng nằm trong một tổ chức giáo
hội, đều này là một nét đặc thù của Phật Giáo Việt
Nam. Đó là một đặc tính văn hóa của dân tộc ta, một trong
những đặc tính làm nên một nền văn hóa độc lập với
phương Bắc. Sách Đường Xưa Mây Trắng sử dụng tài liệu
các kinh nguyên thỉ trong tinh thần đại thừa cũng thể hiện
được ước muốn và đường lối ấy của văn hóa dân tộc.
9 -
Đem đạo Bụt Đại Thừa về tắm suối nguồn Phật Giáo
Nguyên Thỉ
Pháp
môn tu tập của chùa tổ, của các đạo tràng Mai Thôn, Thanh
Sơn, Rừng Phong, Lộc Uyển và của gần một ngàn tăng thân
được thiết lập ở Âu châu, Mỹ châu, Úc châu và Á châu
cũng phản chiếu tinh thần tổng hợp ấy giữa Đại Thừa
và Nguyên Thỉ. Thông điệp năm 2002 kêu gọi chúng ta phối
hợp tinh thần Thiền và Tịnh cũng đi trên đường lối ấy.
Các pháp môn thiền thở, thiền đi, thiền ngồi, thiền lạy,
thiền chấp tác đã đưa đạo Bụt Đại Thừa về tắm ở
nguồn suối Phật Giáo Nguyên Thỉ và đã tạo nên một nguồn
sinh khí mới cho sự thực tập không những ở tại Tây phương
mà còn ở các nước Á Đông nơi thầy đã có dịp đi qua
giảng dạy như Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản và
Triều Tiên. Hiện giờ sách vở và băng giảng về các pháp
môn thực tập này đang được phổ biến rộng rãi ở các
nước ấy.
10
- Bước tiến của đạo Bụt Trung Quốc
Sau
hơn bốn mươi năm Cách Mạng Văn Hóa, Phật giáo Trung Quốc
nay đã có cơ hội tổ chức và xây dựng trở lại. Người
trẻ lại được xuất gia, chùa tháp lại được xây dựng.
Đứng về phương diện hình thức đạo Bụt Trung Quốc đang
đi những bước tiến vĩ đại: chùa tháp được xây dựng
lại nguy nga, khách xá của tự viện tiện nghi không kém những
khách sạn bên ngoài. Nhiều Viện Phật Học đã mở cửa.
Đạo Bụt miền Bắc Việt Nam nhờ thế cũng đã được thừa
hưởng chút ít. Nhưng đứng về phương diện nội dung thì
sự thực tập vẫn nằm trong phạm vi tín ngưỡng (devotion)
và hình thức. Đạo Bụt chưa chinh phục được giới trẻ,
trí thức và giới cán bộ, tại vì giáo lý và phép hành trì
không khế hợp với căn cơ thời đại. Phật tử tới chùa
chỉ biết đốt hương, tụng kinh và cầu nguyện. Tuy các thầy,
các sư cô có thuyết pháp giảng dạy, tuy tại các tổ đình
thỉnh thoảng cũng có tổ chức các thiền thất, nhưng sự
giảng dạy và thực tập này quả thực chưa hoặc không thỏa
mãn được những nhu yếu của quần chúng, nhất là giới
trí thức và tuổi trẻ. Đốt hương và cầu nguyện có thể
đem lại sự an ủi và xoa dịu bớt khổ đau nhưng phải có
những pháp môn hành trì thích ứng mới có thể giải quyết
được vấn đề khổ đau.
11
- Tăng đoàn xuất gia mới có khả năng xây dựng niềm tin
Trong
những thập niên qua, thiền sư Nhất Hạnh đã dành rất nhiều
công phu và năng lượng để xây dựng một tăng đoàn xuất
gia có khả năng gây được niềm tin cho giới trí thức và
trẻ tuổi. Tăng đoàn này biểu lộ được sự thực tập
giáo lý mà Thầy giảng dạy, là mẫu mực sống động cho
giáo lý ấy, từ bước chân, hơi thở, nụ cười cho đến
tình huynh đệ và sự chuyển hóa. Những khóa tu của Thầy
tổ chức tại Âu châu, Mỹ châu, Úc châu, Ấn Độ và Trung
Quốc và các nước Á châu khác đã chứng tỏ đạo Bụt có
thể đáp ứng được nhu yếu của thời đại mới. Sự thành
công này nhờ ở tăng đoàn mà sự có mặt được xem như
là một sự chứng minh về khả năng hiện đại hóa của đạo
Bụt. Thật vậy, nếu thầy Nhất Hạnh chỉ đi Trung Quốc
hay đi Mỹ một mình thì dù các bài thuyết giảng của Thầy
có hay cách mấy đi nữa cũng không đủ để đem lại niềm
tin tưởng của tứ chúng bên các nước ấy. Sở dĩ những
khóa tu đó thành công rực rỡ, đó là nhờ một phần lớn
ở sự có mặt của tăng đoàn. Tại Hương Cảng chẳng hạn,
giới Phật học rất muốn chứng minh cho xã hội biết là
đạo Bụt rất hay, rất thích hợp với thời đại mới, và
họ đã giảng thuyết, viết báo và viết sách để làm chuyện
ấy. Nhưng những cố gắng này không đem lại được kết
quả nào đáng kể, bởi vì khi tới chùa người ta chỉ thấy
sự thực tập cúng lễ và cầu xin. Cho nên công trình xây
dựng một tăng thân hiện đại có khả năng giảng dạy và
hướng dẫn tu học cho giới trẻ và giới trí thức, giúp
họ chuyển hóa khổ đau và tìm được hướng đi tâm linh
là việc căn bản nhất mà chúng ta phải làm trong thời điểm
này. Sự có mặt của một tăng thân rất hiện đại, có hạnh
phúc, có thương yêu, có đoàn kết, có khả năng tổ chức
và hướng dẫn tu tập, giúp người chuyển hóa khổ đau, hòa
giải lại được với bản thân, với gia đình và với xã
hội là công trình xây dựng cấp thiết nhất ở Việt Nam,
ở Trung Quốc hoặc ở bất cứ một nước nào khác. Trong
suốt ba mươi năm hành đạo tại Tây phương, Thầy và tăng
đoàn đã cung hiến những giáo lý và những phép thực tập
thích ứng với những nhu cầu của xã hội mới, những giáo
lý và những pháp môn này có thể đem áp dụng để hiện
đại hóa đạo Bụt một cách tích cực và dễ dàng. Học
hỏi và thực tập như thế nào để hoa trái hạnh phúc và
giác ngộ có thể được thu lượm mỗi ngày, trong tăng thân
xuất gia cũng như tại gia, trong các khóa tu cũng như trong các
ngày quán niệm. Đó là vấn đề căn bản. Và lịch sử đạo
tràng Mai thôn đã chứng minh rằng đây là một điều có thể
làm được. Thông bạch Phật giáo Dân Tộc và Đạo Bụt Hiện
Đại không phải là một mơ ước suông. Đây là một thông
điệp bằng vàng, có thể thực hiện ngay được với những
vốn liếng hiện có của truyền thống. Chúng ta hãy tổ chức
học hỏi hằng ngày và hằng tuần về thông bạch này để
có thể đem đạo Bụt vào thế kỷ mới như một cống hiến
lớn lao của nền văn hóa Việt Nam cho nền văn minh thế giới.
Chú
thích:
(*)
Đại
sư Khuy Cơ, cao đệ của Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang, đời
Đường, trong sách Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương,
quyển thứ sáu, có nói ‘Bột Đà (Buddha) là tiếng Phạn,
gọi tắt một cách sai lầm là ‘Phật’( Phạn Vân Bột Đà,
ngoa lược vân Phật)’
HỘI
NGỘ LONG VƯƠNG
Thầy
Nhất Hạnh
Đó
là ngày 11.05.01, tôi đang ở tịnh thất Tùng Bút tại tu viện
Lộc Uyển, miền Nam tiểu bang California Mỹ quốc. Buổi sáng
các Thầy, các sư chú trên Xóm Vững Chãi và các sư cô dưới
Xóm Trong Sáng đều được mời đến tịnh thất Tùng Bút
để ngồi thiền với tôi, thay vì ngồi ở các thiền đường
trong xóm. Các vị đến vào lúc năm giờ. Trước đó tôi đã
đi đốt lò củi và đun nước sôi pha trà. Thầy Giác Thanh
đã có cất chứa những khối củi ép có nhựa thông, thành
ra đốt lò sưởi rất dễ và rất mau. Thất Tùng Bút nằm
giữa hai xóm. Buổi ngồi thiền này chỉ là một trong những
buổi thầy trò ngồi chung để có thêm năng lượng, để cảm
thấy sự có mặt của nhau, bên nhau. Sau buổi thiền ngồi,
chúng tôi còn ngồi với nhau thêm nửa giờ nữa để cùng
góp ý kiến làm sao cho trong tăng thân có thêm hòa điệu và
hạnh phúc.
Sáng
hôm ấy vị thị giả của tôi là sư cô Kristin (Thường Nghiêm),
hồi đó còn là một vị sa di ni. Sư cô là người Hoa Kỳ.
(Sư cô mới được thọ giới lớn tại Đại Giới Đàn Kỷ
Nguyên Mới tổ chức từ ngày 16 đến ngày 22 tháng chạp năm
2001). Sư cô cho biết ngày hôm nay sẽ là một ngày mà tôi
phải tiếp nhiều khách. Những vị khách đầu tiên là một
đội quay phim từ NewYork tới. Mình đã hứa với họ năm ngoái
là sẽ để cho họ đến phỏng vấn khi mình đến Hoa Kỳ.
Chủ ý của họ là làm một cuốn phim lấy tên là The Living
Buddha, nói về lịch sử đức Bụt và lịch sử đạo Bụt.
Và họ muốn Thầy đại diện nói lên được tiếng nói của
đạo Bụt dấn thân, đạo Bụt hiện đại hóa. Tôi vừa đi
thiền hành từ đồi Yên Tử về thì đã thấy họ đến tự
bao giờ, đang sắp đặt máy móc, ánh sáng và các trần thiết
căn bản. Tôi bảo thị giả mời họ đi thiền hành một vòng
trước khi ngồi xuống để bắt đầu cuộc phỏng vấn. Ban
đầu vị thị giả và tôi nhận thấy rằng họ đã miễn
cưỡng mà nhận lời đi thiền hành. Họ sợ mất thì giờ;
đường sá xa xôi, họ lại từ vùng Đông Bắc tới. Nhưng
sau khi được hướng dẫn và đi thiền hành được một vòng
thì họ có được sự bình an. Họ được lây cái bình an
của chúng tôi. Họ có được cái bình an trong hơi thở và
bước chân họ. Tôi nghĩ cái sẽ làm cho họ nhớ nhất trong
chuyến đi này của họ là buổi đi thiền hành chứ không
phải là buổi phỏng vấn. Buổi phỏng vấn kéo dài tới hai
giờ đồng hồ, đưa lại cho họ nhiều thỏa mãn, nhiều hơn
là họ từng mong ước.
Tôi
được nghỉ ngơi khoảng chừng nửa giờ trước khi đi thọ
trai. Hôm ấy hai xóm ăn cơm chung trên trai đường của Xóm
Vững Chãi. Vào khoảng ba giờ chiều, tôi lại phải tiếp
đài NBC địa phương. Sau đó, tôi lấy nón lá và bảo vị
thị giả cùng đi thiền hành với tôi lên đồi Yên Tử. Đồi
Yên Tử là ngọn đồi đã được tăng thân chọn để xây
một tháp chuông, theo mẫu của tháp chuông chùa Thiên Trù trên
núi Hương Tích. Thầy Pháp Dung đã vẽ đồ án của ngôi tháp,
nhưng cho đến bây giờ vẫn chưa xin được giấy phép làm
tháp chuông. Chúng tôi dự tính trồng cỏ và làm vườn sỏi
trên đồi, chung quanh tháp chuông, để sau này mỗi khi đi thiền
hành lên trên ấy thì có thể ngồi xuống tĩnh tọa nửa giờ
trước khi đi về. Các thầy và các sư cô ở Lộc Uyển đã
trồng hàng trăm cây tiêu California (Californian pepper trees) để
có bóng mát từ dưới đỉnh đồi đi lên. Các cây tiêu này
đang lớn rất nhanh, và cành lá rất xanh tươi dù trong những
tháng hè khô và nóng bức.
Lên
tới Yên Tử, tôi đi đến chiếc võng giăng giữa hai cây tùng
sát vào vách núi đá, ngồi lên võng, bỏ guốc ra và đưa
hai chân trọn lên võng. Sư cô Thường Nghiêm ngồi dưới một
gốc tùng phía đầu võng. Bỗng sư cô nói, giọng rất trầm
tĩnh: "Thưa thầy, có một con rắn nằm ngay dưới võng thầy."
Tôi quay đầu lại phía trái nhìn xuống, và thấy liền con
rắn. Con rắn này dài khoảng 1m20, có màu vàng nhạt và đen
nhạt. Hai mầu này tiệp với màu lá cây và màu đất thành
thử tôi đã không trông thấy khi ngồi xuống võng. Sư cô
Thường Nghiêm nhặt một cành cây khô đẩy về phía đuôi
con rắn, tạo ra tiếng xào xạc để con rắn bò đi. Nhưng
con rắn không đi. Sư cô lấy cành cây khô chạm vào đuôi
rắn và ẩy nó đi, nó cũng không đi. Rồi sư cô nói bằng
tiếng Anh: "Bạch thầy, con rắn này rất thích nằm bên thầy
nên nó không chịu đi" (Thầy, the snake likes your presence, it
does not want to go.) Tôi nói: "Vậy thì con cứ để yên cho nó."
Lúc ấy là vào khoảng bốn giờ chiều, trời còn nắng. Chiếc
nón lá rộng vành của tôi được đặt gần đôi guốc của
tôi, chỉ cách con rắn có mười phân tây. Võng của tôi cũng
cách mặt đất, phía trên con rắn chừng hai mươi phân tây.
Tôi nằm rất yên, sư cô Thường Nghiêm cũng ngồi rất yên.
Gió chiều bắt đầu mát. Bỗng sư cô Thường Nghiêm nói:
"Hồi lễ Giáng Sinh năm ngoái, con có làm được một bài hát.
Thầy có muốn con hát bài đó cho thầy nghe không?" Tôi nói:
"Con hát đi, và hát cho con rắn nghe nữa."
Sư
cô Thường Nghiêm hát: Rivers flow through me, sunshine is my morning
tea. Body - harmony, feelings - clouds in the sky, perceptions - stones
on the road, mental formations - birds are singing, singing songs of freedom,
freedom, consciousness - deep blue sea wash over me...
Sư
cô Thường Nghiêm hát xong bài hát, tôi hỏi: "Con rắn còn
nằm dưới lưng thầy không con?" Cô trả lời: "Nó còn nằm
nguyên trong vị trí cũ, thưa thầy. Nhưng con thấy cái đuôi
nó có vẫy lên vẫy xuống, giống như nó đang thích bài hát
và đánh nhịp theo bài hát vậy." Tôi nói: "Vậy thì con hát
lại một lần nữa cho nó nghe đi." Tôi nằm thật yên. Sư
cô Thường Nghiêm cũng ngồi thật yên, về phía đầu võng.
Con rắn cũng nằm yên. Trời rất dễ chịu. Buổi sáng chúng
tôi đã thức dậy cùng đại chúng lúc bốn giờ rưỡi sáng,
đã ngồi thiền, pháp đàm, đi ăn sáng, đi thiền hành, trả
lời cuộc phỏng vấn dài hơn hai tiếng đồng hồ, đi ăn
cơm chánh niệm với đại chúng trên xóm Vững Chãi, và chưa
được nghỉ ngơi gì thì đã phải trả lời cuộc phỏng vấn
của đài NBC. Đây thật sự là giờ nghỉ ngơi của chúng
tôi. Và có một chú rắn khá lớn cũng đang nghỉ ngơi với
chúng tôi. Chú rắn này không phải là rắn rung chuông nhưng
theo sư cô Thường Nghiêm cũng không phải là rắn hiền. Cô
cho biết ngày xưa cô thường sợ rắn, nhưng bây giờ thì
cô không còn sợ nữa, và có thể xem rắn như tất cả các
loài động vật khác, cũng biết đói và biết sợ như những
loài vật khác. Chỉ cần có ý tứ để khi đi đừng đạp
lên nó thì không sao.
Khoảng
nửa giờ sau, sư cô Thường Nghiêm cho biết là con rắn bắt
đầu di động. Nó bò đi rất chậm, mỗi phút nó di chuyển
chỉ được một phân tây. Tôi tiếp tục nằm thở và tiếp
xúc với cây với đá với nắng trên đồi Yên Tử. Tôi tự
nhủ: để cho chú rắn leo vào trong núi đá rồi thì thòng
chân xuống quơ guốc đi về. Nhưng chỉ độ chừng mười
lăm phút sau đã có tiếng chuông báo chúng từ xóm Vững Chãi
vọng lên. Các thầy các sư chú dưới ấy đã đến giờ dùng
cơm chiều. Tôi nhìn xuống thì thấy chú rắn đã bắt đầu
băng ra phía núi. Thân sau của chú còn nằm dưới võng nhưng
thân trước của chú đã hướng về tảng đá. Tôi nói: "Mình
phải về ăn cơm. Tối nay còn phải gặp tăng thân San Diego
nữa." Hai thầy trò tạm biệt chú rắn, tạm biệt đồi Yên
Tử với cái yên lặng nhẹ nhàng và sinh động của đá, của
cây, của mây, của trời nơi này. Nắng đã hết. Tôi cầm
chiếc nón trong tay. Hai thầy trò xuống núi.
Sau
buổi tiểu thực cùng đại chúng hai xóm tại nhà ăn xóm Vững
Chãi, về tới nhà Tùng Bút, chúng tôi đã thấy tăng thân
San Diego có mặt đông đủ trong phòng khách. Có khoảng ba mươi
vị, hai phần ba là người Hoa Kỳ. Tất cả những vị chủ
chốt trong ban nhiếp chúng đều có mặt. Tăng thân này đã
được thành lập trong quá trình tổ chức buổi thuyết giảng
tại San Diego ngày mai, tức là ngày 12.5.01. Đề tài buổi giảng
là Cultivating Peace in Ourselves and our Communities. Tôi được báo
tin là ngày mai thính giả sẽ đông lắm. Ban điều hành tăng
thân làm việc rất siêng năng, luôn luôn tổ chức những buổi
họp để kiểm điểm và để lấy thêm sáng kiến mới. Trong
quá trình làm việc, các bạn đã mời được nhiều bạn mới,
và tất cả đều đồng ý là việc tổ chức buổi giảng
có thể được sử dụng như một cơ hội để đến với
nhau, làm thân với nhau và tu tập cùng nhau.
Tối
nay nói chuyện với tăng thân San Diego, tôi có dịp kể lại
chuyện chúng tôi gặp chú rắn trên đồi Yên Tử. Thầy Pháp
Dung mấy hôm trước đây có kể cho chúng tôi nghe là một
hôm
lật một tảng đá lớn ở lưng đồi xóm Vững Chãi, mấy
người thợ gốc Mễ Tây Cơ thấy một con rắn khá lớn nằm
núp dưới tảng đá. Họ định giết con rắn, nhưng thầy
Pháp Dung ngăn lại. Cuối cùng họ giúp con rắn trở về núi
rừng. Tôi nói có lẽ con rắn mà tôi đã gặp chiều hôm nay
dưới võng chính là con rắn mà thầy Pháp Dung đã cứu. Nó
đã tìm tới tôi để tỏ lòng biết ơn tăng thân Lộc Uyển.
Từ ngày về tới núi rừng Escondido, chúng tôi đã hết lòng
bảo vệ cho các loài sinh vật cư trú tại đây. Trước đó,
khi Vườn Nai còn để hoang, người ta thường hay lên đây
để săn bắn, giết chóc. Tuy vùng núi này gọi là Deer Park
mà chẳng thấy còn bóng dáng của một chú nai nào. Cảnh sát
trong quận thường hay lên đây tập bắn. Họ bắn nát hết,
kể cả những tấm bảng bằng sắt chỉ đường, kể cả
tường vách của những căn nhà trống không còn bỏ lại.
Trong những tháng đầu khi tu viện mới thành lập, đêm đêm
chó rừng (coyotes) thường hay kéo về từng lũ hàng trăm con,
bao quanh cư xá các vị xuất gia và tru lên. Đã lâu quá rồi
loài người chỉ lên đây để phá phách và tàn sát. Bây giờ
có người lại lên đây để ở. Các loài sinh vật trên núi
chưa biết cái gì sẽ xảy ra cho họ và cho sinh môi của họ
với sự có mặt của những con người mới này. Nhưng từ
từ, chúng sinh vật ở Lộc Uyển nhận thấy các thầy và
các sư cô rất hiền. Họ không đốn phá cây cối mà còn
trồng thêm rất nhiều cây cối. Họ không tàn sát mà còn
tìm cách bảo hộ sinh mạng. Họ rất im lặng. Họ tôn trọng
khung cảnh thanh tịnh của núi rừng. Họ không bao giờ nổ
súng để gieo rắc khủng bố. Họ bước những bước chân
thanh tịnh và an lạc. Cũng có thể chú rắn mà chúng tôi gặp
trên đồi Yên Tử là một Long Vương, đại diện cho tất
cả các loài rắn có mặt trong hàng ngàn mẫu núi rừng trùng
điệp ở Escondido, đã đến với tôi để mang tới thông điệp
sống chung hòa bình. Chú biết tôi ngày nào cũng đi bộ trên
đồi Yên Tử, và mỗi khi lên tới đỉnh đồi thì tôi lại
tới ngồi trên chiếc võng mắc sẵn để nghỉ ngơi, cho nên
chú đã đến nằm đó sẵn để chờ đợi. Chú đã được
sư cô Thường Nghiêm hát cho nghe. Chú đã không chịu đi khi
sư cô đuổi. Chú đã được tôi mời ở lại. Và cuộc hội
ngộ tuy im lặng nhưng đã rất thân tình. Theo sư cô Thường
Nghiêm thì chú rắn này không phải là một chú rắn thuộc
về loại hiền. Nhưng hiền hay không hiền, điều đó tùy
thuộc vào cách xử sự. Nếu mình có chánh niệm và có lòng
từ bi thì mình sẽ được tiếp đãi một cách hiền hậu.
Chúng tôi có chánh niệm, chúng tôi có lòng từ bi. Sau thời
gian gần hai năm cư trú, tăng thân ở đây, xuất gia cũng như
tại gia, đã chứng tỏ là chúng tôi muốn sống an lạc hòa
bình với đất đai và dân chúng vùng Lộc Uyển. Các loài
chúng sinh ở đây đã cảm nhận được điều đó. Cách đây
có một tuần lễ, thầy Pháp Dung cho biết chú nai đầu tiên
đã xuất hiện trong vùng đất tu viện. Chúng tôi rất mừng.
Mai mốt nai về đông đảo, sẽ cùng nghe pháp với người.
Tôi
viết những dòng này ở Xóm Thượng Làng Mai. Xóm Thượng
Làng Mai ở Thenac, ngày xưa, trong thế chiến thứ hai đã là
nơi tranh chấp bạo động và đẫm máu. Lính Đức đã cột
tay người kháng chiến Pháp và những người bị tình nghi
trong vùng là yểm trợ cho kháng chiến và bắn họ bên bức
tường đá tọa lạc bên cạnh Ngũ Quán Đường bây giờ.
Hồi chúng tôi mới về đây, 1983, oan khí còn đằng đằng.
Hai mươi năm đã đi qua từ độ ấy. Ngày nào tăng thân ở
đây cũng tập ngồi, tập thở, tập đi thiền hành, lấy năng
lượng chánh niệm và từ bi để chuyển hóa tâm thức và
môi trường. Thiền sinh đã đến đây tu tập từ ba mươi
quốc gia khác nhau. Số người Đức tới tu học rất đông,
có khi còn đông hơn người Ý, người Anh và người Thụy
Sĩ. Họ đã đến đây không với súng đạn và tâm niệm hận
thù mà với ý chí tu tập. Họ đã đi những bước chân vững
chãi, thảnh thơi, đã thực tập nhìn kỹ và phát khởi lòng
từ bi. Dân chúng các thôn làng quanh đây đã cảm thấy sự
chuyển đổi lớn lao đó. Họ cảm thấy năng lượng hòa bình
bao trùm cả một vùng này. Mỗi năm có hàng bốn năm ngàn
người tới đây tu học. Và ai cũng tới bằng một tâm niệm
lành. Cỏ xanh hơn, trời trong hơn, người và vật có thêm
rất nhiều từ ái. Đất ở đây đã trở thành đất Bụt.
Chúng tôi định đặt tên vùng này là Nam Phương Phật Quốc,
dịch tiếng Pháp là Terre Pure du Sud. Các bạn muốn về đất
Bụt để rong chơi, ngắm nhìn trăng sao hay mời các vị bồ
tát đi thiền hành thì cứ về. Lộc Uyển cũng vậy. Lộc
Uyển cũng đã trở thành đất Bụt miền Tây Nam nước Mỹ.
Mời quý vị đến Lộc Uyển để làm quen với tăng thân ở
đây. Tăng thân ở đây không phải chỉ là người xuất gia
và người tại gia. Tăng thân ở đây còn là tất cả các
loài cây cỏ, đất đá và chúng sinh. Quý vị sẽ được tiếp
đón với lòng ưu ái và kính cẩn. Long Vương vẫn còn ở
trên núi. Chúng tôi đã ký một hiệp ước chung sống hòa
bình và an lạc trên đồi Yên Tử ngày 11.5.2001.
THƯ
GỬI VỀ CHÙA
Thượng
Tọa Thích Phước Tịnh
Làng
Mai ngày 28 tháng 07 năm 2001.
Các
cô chú và các Phật tử thân thương,
Thầy
định viết thư cho các cô chú sau một tuần về đến Làng,
nhưng lần lữa mãi. Hôm nay cuối khóa tu mùa hè ở đây, Thầy
sẽ dành một ngày ‘làm biếng’ biên thư cho các cô chú
và Phật tử Việt Nam nói một ít về Sư ông, về năng lực
của những buổi pháp thoại Sư ông tưới tẩm hạnh phúc
chân thực cho mọi người. Cố nhiên Thầy muốn viết rất
dài nhưng trời xanh mông mênh mà tay con người bé nhỏ nên
không ôm được là bao. Chỉ mong những lời Thầy mang được
hơi ấm của Làng Mai về bên ấy để các cô chú và các Phật
tử cảm nhận được năng lượng tươi mát ngọt ngào mà
phát tâm quy hướng và thực tập, hầu nâng phẩm chất của
cuộc sống lên cao.
Thầy
về đến xóm Thượng vào chiều thứ hai ngày 02 tháng bảy.
Ngồi trên phi cơ Thầy không hình dung được Làng Mai ra sao,
chỉ thả hồn bay bay và nghĩ rằng mình sẽ căng mắt ra nhìn
con đường vào Làng cho no, để bù lại bao năm ở quê mơ
ước. Thế mà thật xấu hổ! Thầy đã ngủ vùi từ lúc lên
xe cho tới khi về đến Làng mới tỉnh. Dĩ nhiên sau đó có
dịp đi về xóm Thượng bao lần nhưng đâu còn cái thú của
cảm giác tiếp xúc ban sơ. Mùa này ở Làng Mai ngày rất dài.
Mười giờ rưỡi tối mà giống như năm giờ chiều của Đà
Lạt. Sáng thì như nhau, cũng sáu giờ mặt trời mọc, đẹp,
rạng rỡ, ấm áp và an bình. Khí hậu có khi hơi lạnh, rừng
sồi hùng vĩ bao quanh xóm Thượng, xanh tươi và không khí trong
lành lắm.
Hôm
thứ năm tuần đầu tháng, để chuẩn bị vào khóa hè, Sư
ông có dạy hai buổi pháp thoại, truyền đạt cách bảo tồn
năng lượng và gìn giữ sự tươi mát để tăng thân có thể
hiến tặng sự có mặt chánh niệm của mình cho thiền sinh
từ nhiều nơi về đây với chúng ta. Khóa mùa hè này sẽ
có mặt khoảng 1.600 thiền sinh từ 25 quốc gia về tu tập.
Thế nên các thầy, cô ở đây rất bận rộn, rất mệt. Vì
vậy giữ gìn cho mình không bị tiêu hao năng lượng vô ích
là điều thật cần thiết.
Tuy
chưa sống với đại chúng Làng Mai lâu nhưng Thầy đã cảm
nhận là các thầy, các cô nơi đây thật dễ thương. Hồn
hậu, tươi mát và thân tình, họ đến và tu tập bên Sư ông
hình thành một tăng thân hùng tráng. Có những thầy, cô còn
rất trẻ nhưng lý tưởng được nuôi dưỡng vững vàng và
sự thiền tập khá là sâu sắc. Học vị văn bằng ở Việt
Nam là thứ quý đối với tăng ni, nhưng ở đây không còn
là thứ để các thiền sinh kiêu hãnh nữa. những người trẻ
mới xuất gia với Sư ông đã sử dụng thông thạo hai ngôn
ngữ Pháp và Anh, tiếp xúc thân tình và chia sẻ được nhiều
vấn đề xã hội, đạo lý với các thiền sinh Âu Mỹ. Điều
đáng quý là các thầy, cô ở đây sống, làm việc, cư xử
đạo tình chan hòa; chăm sóc, quý trọng, khích lệ nhau bằng
năng lượng của trí tuệ và thương yêu, phẩm chất an lạc
hạnh phúc trong họ ngày càng được tưới tẩm. Thầy nghĩ,
các cô chú trong những tự viện Việt Nam thực tập được
những điều nầy thì nếp sống của tăng đoàn Việt Nam sẽ
hưng thịnh. Trong một cái tự viện nhỏ bé của chúng ta,
nếu các cô chú có thể thực tập được sự quan tâm, giúp
đỡ, thương quý, kính trọng nhau sẽ hình thành một tập
thể tu hành dễ thương biết bao nhiêu. Nếu Phật tử đạo
tràng chùa chúng ta thực tập được những điều này thì
xây dựng được hạt nhân tin yêu cho các đạo tràng Phật
tử khác rất nhiều.
Sau
buổi pháp thoại Sư ông ăn cơm cùng đại chúng tại thiền
đường chùa Pháp Vân. Nhân buổi này Sư ông giới thiệu các
thầy từ Việt Nam mới qua trước đại chúng. Thầy đảnh
lễ Sư ông và đại chúng trưa hôm ấy. Sư ông dạy Thầy
hãy nói với đại chúng đôi lời. Ôi! Cảm động biết bao
trước tấm lòng bao dung, thương yêu và gần gũi của một
bậc thầy trác việt và của một tăng thân vững chãi, hùng
tráng, hòa ái và bao dung. Các cô chú hãy nghĩ, một người
dạy đạo khắp năm châu, đệ tử quỳ bên chân gồm nhiều
quốc tịch, bậc đạo sư lớn của đương thời, nhà văn
hóa lỗi lạc, được các bậc thầy trong lĩnh vực văn hóa
thế giới kính trọng, thế mà thật bình dị trong sắc áo
nâu bạc màu và chiếc nón lá Việt Nam thân thương. Người
ấy xử sự khiêm tốn, giản đơn và gần gũi quá. Dáng xương
xương Người tuy không là gì cả, nhưng quả đây là người
Việt Nam cao quý, được anh hoa tú khí của sông núi Đại
Việt đúc nên. Bóng mát của Người đổ xuống che cho nhiều
thế hệ tương lai của hành tinh này. Dĩ nhiên trong hiện tại
hạt trí tuệ thương yêu người gieo từ bốn thập kỷ2 qua
đã nảy mầm hình thành một tăng thân Làng Mai hùng tráng.
Rồi những người con của Làng Mai hôm nay sẽ vươn ‘cánh
tay của Bụt’ xa hơn, kế thừa sự nghiệp gieo hạt yêu thương
hiểu biết vào thế giới rộng hơn, và sâu vào nhiều thế
hệ hơn.
Lần
đầu tiên được tiếp xúc với Sư ông, thầy nhìn Người
thật lâu, thật kỹ để nghe lòng mình sự cảm động bàng
hoàng, đi kèm với nỗi niềm tôn kính vô biên. Tuy thầy chưa
có dịp cùng tăng thân hầu Sư ông trong những chuyến hoằng
pháp châu Âu, châu Mỹ, nhưng bằng vào buổi pháp thoại gần
đây - Sư ông giảng cho thiền sinh khai mạc khóa tu mùa hè
- đủ để lấy đi mặc cảm dân tộc có mặt nơi thầy. Các
cô chú hãy hiểu: chúng ta sinh ra và lớn lên từ một đất
nước bé nhỏ, chinh chiến liên miên, đói nghèo và bị trị.
Từ đó đã hình thành bao sự nghi kỵ, sợ sệt và nhiều
tính cách tiêu cực khác cùng có mặt do hệ quả của lịch
sử đau thương. Điều dễ có mặt nơi mỗi người Việt Nam
là tính mặc cảm. Hơn thế nữa, dù ta có là người hùng
trên quê hương mình thì ta vẫn là người kém văn minh, không
là gì cả và sống lạc lõng giữa đất nước bánh mì, rượu
vang và pho mát. Nước Pháp đẹp, giàu, văn minh; người dân
họ thanh lịch hòa ái, nhất là trẻ con Pháp đẹp như thiên
thần và dễ thương kỳ lạ. Trong khi chúng ta tự hào mình
có 4.000 năm văn hiến, đạo đức đã thấm nhuần vào cốt
tủy con người, thế mà cách hành xử của chúng ta có lẽ
không dễ thương hơn người bình dân quanh Làng mà thầy có
dịp tiếp xúc. Thế nên thầy trò ta có lẽ tự hào ở lĩnh
vực gì khác, nhưng lĩnh vực văn minh, văn hóa hãy khiêm tốn
lại. Và hẳn sẽ không có, hoặc hiếm có người Việt Nam
nào mơ ước được làm thầy dạy Đạo cho những người
ở các nước văn minh. Vậy mà các cô chú ạ! Sư ông nghiễm
nhiên là bậc đạo sư được thương yêu quý trọng trong hầu
hết các nước châu Âu, châu Mỹ. Chuyến hoằng pháp của
Sư ông vừa rồi ở Đức, số lượng thiền sinh tham dự có
con số bảy nghìn3, phần lớn họ là những người lớn lên
trong truyền thống Kitô giáo. Tuy con số có làm chúng ta ngạc
nhiên nhưng sẽ không là gì cả nếu đấy chỉ là hình thức.
Việc đáng nói ở đây là sự tu tập chân thành và năng lực
chuyển hóa hùng tráng của họ. Những bước thiền hành từ
trái tim tràn đầy chánh niệm của Sư ông, hướng dẫn một
đoàn người dài như bất tận của thiền sinh Tây phương
tu tập. Rồi những bữa ăn im lặng trong thế ngồi tĩnh tại
ngoài trời, những buổi pháp thoại trong không gian tĩnh lặng,
dù có mặt trên 7000 thính chúng. Dù ở Pháp, ở Đức, ở
Mỹ, ở Anh, ở đâu cũng cùng một năng lượng nhiệm mầu.
Ôi! Sao mà kỳ diệu và tuyệt vời đến vậy? Người có pháp
thần gì làm rung động bao trái tim khác nguồn văn hóa và
kiêu ngạo thế kia? Người đã gieo hạt mầm hiểu và thương
vào văn hóa Tây phương như thế nào để nở hoa và kết trái
như hiện tại? Để người Tây phương biết đến Phật giáo
Việt Nam, cúi đầu thấp trước một ông thầy tu Việt Nam
mảnh khảnh đến vậy? Dĩ nhiên đấy là một quá trình khai
hoang và cày xới bằng... bằng mồ hôi và nước mắt, bằng
tất cả máu yêu thương và nhiệt tình sâu lắng của trái
tim Sư ông mà thầy không đủ khả năng nói hết. Chúng ta
có thể coi đây là một sứ mạng mà chư Phật và chư Bồ
tát giao phó cho Sư ông. Tuy rằng sự có mặt của đạo Phật
ở Tây phương từ nhiều nguồn chảy đến và cũng không ít
thầy tu Việt Nam qua đây hành đạo. Nhưng, chúng ta có thể
nói Sư ông mới là người gieo hạt thực sự trên vùng văn
hóa xa lạ và đầy kỳ thị với đạo Phật được biểu
đạt trong hình thái tín ngưỡng Đông phương. Nếu không phải
đạo Phật được làm mới trên cái nền giác ngộ từ đức
Thế Tôn chảy qua chư vị tổ sư và được Sư ông vận dụng
bằng tuệ giác để đáp ứng và cắm rễ sâu vào vùng văn
hóa Kitô giáo, thì nhiều lắm đạo Phật Việt Nam chỉ là
chiếc khinh khí cầu bay lửng lơ chiều hạ trên cánh đồng
hoa hướng dương nước Pháp mà thôi. Sách vở nói về đạo
Phật Việt Nam sẽ không là gì cả, không gây sự chú ý cho
ai trên vô vàn sách báo thế giới nói về tôn giáo. Và ông
thầy tu Việt Nam chắc sẽ rất lạc lõng, sẽ không là gì
cả giữa các xứ sở văn minh. Thế nên, chúng ta nói Sư ông
đích thực là người của sứ mạng, cột mốc cho thời điểm
lịch sử lớn vì Người đã mang tuệ giác hiểu biết thương
yêu của đạo Phật làm sâu lắng lại đời sống hiện thực
của lớp người trẻ tuổi Tây phương. Rồi mai đây lịch
sử loài người sẽ ghi lại điều này bằng những dòng trang
trọng nhất. Người đã bay cao vào không gian lồng lộng, Người
không còn là người của quốc gia nào. Tuy nhiên đạo Phật
Việt Nam sẽ rất tự hào vì dưa muối khó nghèo quê hương
đã sinh ra được một ông thầy tu thế ấy. Đất nước Việt
Nam rộng mở sẽ thương quý và trọng ơn Sư ông biết là
bao. Hiện tại Người sừng sững đó vươn cánh tay mẹ hiền
ôm ấp và nuôi lớn bao thế hệ kế thừa của Làng Mai, như
cây sồi lão của Làng rườm rà bóng mát che chở và nuôi
dưỡng những cây sồi non đẹp, khỏe đang sức lớn.
Các
cô chú thương!
Hôm
chiều 14 rồi thầy được dự lễ ‘Bông hồng cài áo’
của xóm Trung tổ chức. Buổi lễ không nhiều tiết mục và
chỉ có vài mươi người Việt Nam tham dự, thế mà cảm động
vô cùng. Hầu như ai có mặt hôm ấy cũng nghe ấm lòng vì
không khí buổi lễ sâu lắng và trang nghiêm. Xóm Thượng,
xóm Mới, xóm Hạ cũng đều tổ chức lễ ‘Bông hồng cài
áo’ cho thiền sinh Tây phương. Sau đó là phần thực tập
5 cái lạy, để họ nhớ và sống lại với truyền thống
văn hóa, huyết thống và tâm linh của mình. Thầy về xóm
Thượng muộn màng nên không dự được lễ ‘Bông hồng cài
áo’ của thiền sinh Tây phương, chỉ lén nhìn phần thực
tập 5 cái lạy của họ đủ đoán ra sự thành công và năng
lực chuyển hóa của buổi lễ. Họ trang trọng và thành thiết
biết bao. Nhìn họ mà cảm động. Có những người chảy nước
mắt trong khi lạy, có những người gọi điện thoại về
hàn gắn những đổ vỡ với người thân sau buổi thực tập
‘nhớ ơn’ này. Và rất nhiều gia đình được chuyển hóa.
Thầy không biết quyển ‘Bông hồng cài áo’ có bản dịch
tiếng Anh chưa, và buổi lễ cho thiền sinh Tây phương quý
thầy có đọc cho họ nghe không? Riêng buổi lễ người Việt
thì đây là những lời có năng lực đánh động sâu xa vào
lòng người nhất. Hôm ấy một cô một chú vừa đọc lời
nầy thì nước mắt của thính chúng lả tả rơi. Năm xưa,
thuở còn là học tăng thầy đã học thuộc lòng bài ‘Bông
hồng cài áo’ để đọc diễn cảm trong dịp lễ Vu Lan. Ngày
tháng đi qua hơn 30 năm. Ấy vậy mà lần nào nghe đọc trong
dịp lễ Vu Lan cũng bồi hồi xúc động. Các cô chú cũng biết
mẹ thầy tuy còn đó nhưng càng ngày càng già hơn, nên hạnh
phúc và nỗi sợ của thầy cũng lớn hơn khi nghe lại lời
đọc ‘Bông hồng cài áo’. Sư ông viết bài này vào thập
kỷ 70; một quyển sách hồng mong mỏng4. Dung lượng khiêm
tốn và chỉ nói một vấn đề xưa như trái đất, thế mà
những câu những chữ như có năng lực diệu kỳ, mỗi lần
đọc lên như mới lại, đánh động rất sâu niềm thương
yêu ngọt ngào tưởng chừng như chưa từng có mặt trong ta.
Hơn thế nữa, nếu thầy nhớ không lầm thì quyển sách mỏng
ấy đã dựng thành truyền thống lễ ‘Bông hồng cài áo’
cho ngày Vu Lan trên đất Việt.
Chúng
ta cũng biết có những quyển sách tác dụng lớn đến nỗi
làm nên bao nhiêu chuyển biến của lịch sử loài người.
Trong lịch sử đau thương và thù hận nhiều hơn an lạc và
hạnh phúc. Điều này tùy thuộc vào tình thương và tuệ giác
có được người viết gởi gắm vào trong sách hay không? Có
những tâm hồn lớn, tình thương sâu, máu tim của họ từng
giọt nhỏ vào trang giấy để lại cho con người, nên dù qua
bao thế hệ xa xôi mà khi tiếp xúc ta vẫn nghe lòng thổn thức.
Như truyện Kiều của Nguyễn Du chẳng hạn; một tác phẩm
không chỉ diễm lệ, kiêu sa, toàn bích ở mặt văn chương
mà còn tuyệt vời ở mặt phẩm chất. Nó đi tự nhiên vào
lòng người dân Việt. Điều đáng nói thêm là mãi đến hôm
nay người ta vẫn chưa khai thác hết những ẩn ngữ diệu
kỳ nằm bên sau chữ nghĩa. Nguyễn Du là người gì thế? Người
ta vẫn chưa hiểu hết. Phước đức thay cho dân tộc nào sinh
được những người con như vậy, vì ngoài niềm tự hào của
dân tộc ra, người ấy còn là người thổi hồn cho chữ nghĩa
và nâng phẩm chất của ngôn ngữ lên cao. Chúng ta cũng biết
đến một người khác nữa đó là Sư ông. Sư ông đã bắt
đầu viết sách lúc tuổi còn rất trẻ. Năng lực sáng tạo
ngôn ngữ của Người rất thần kỳ. Người nặn nó ra rồi
hà hơi vào cho nó lên đường đi vào nhịp sống văn hóa hiện
tại. Những từ gần đây trong giới tu Phật chúng ta dùng
rất nhiều và đã trở thành thân thiết dễ thương như từ
‘tăng thân’ chẳng hạn. Chúng ta có từ ‘Phật thân’,
‘Pháp thân’ trong văn học Hán mà chưa hề gặp chữ ‘tăng
thân’. Sư ông đã tạo từ và bắt chữ nghĩa hóa thân theo
ý muốn của mình, và từ ‘tăng thân’ đã biết hóa thân,
giống như tranh tố nữ của truyện Bích câu. Có điều Sư
ông không như Tú Uyên đốt hương, cúng cơm. Sư ông chỉ cần
vẫy tay là chữ nghĩa bước ra thành ‘tăng thân’ Làng Mai
hùng tráng. Với thầy, từ nầy mang âm hưởng lớn vì khi
đọc lên đã nghe triều dậy trong lòng năng lực vững chãi,
an lạc, thảnh thơi của quý thầy bao quanh và ôm ấp chúng
ta.
Học
lịch sử các cô chú còn nhớ Phật giáo vào Trung Hoa từ đầu
kỷ nguyên, nhưng quá trình giao lưu văn hóa dịch thuật kinh
Phật trải dài qua các thời đại và đầy khó khăn mới hội
nhập vào văn hóa Hoa hạ. Phải đến ngài La Thập - đầu
thế kỷ thứ 5 - từ ngữ Phật học mới được định chuẩn
hóa và những bản dịch của ngài được gọi là định bản.
Về sau người bản địa giỏi như Đường Huyền Trang cũng
chỉ tuân phục mà thôi. Thầy dở quá nên không đọc và tiếp
xúc với ngôn ngữ Tây phương, nhưng nhìn phong cách Sư ông
giảng cho thiền sinh Âu Mỹ, thầy nghĩ chắc phải tuyệt vời
lắm trong cách sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt của Sư
ông. Và phải sáng tạo rất nhiều từ mới trong Anh ngữ,
phải hà hơi vào để ngôn ngữ Tây phương có hồn, có thể
truyền tải được những khái niệm rất trừu tượng của
truyền thống văn hóa Đông phương. Điều thầy kính sợ nhất
ở đây là ‘Thiền môn nhật tụng đại toàn’ bằng Anh
ngữ của Sư ông đã hình thành một định chế cho sinh hoạt
tăng già Tây phương và thẩm thấu tự nhiên vào văn hóa Ki
tô giáo. Lịch sử truyền giáo của đệ tử Phật xưa nay
phải chăng có những lần lập lại. Ngài La Thập mất hai
mươi năm5 lưu lãng ngoài hoang mạc để rèn luyện chí kiên
trinh, tính thi ca và nhã ngữ Hán rồi sau đó mới tặng cho
người Hán những bản dịch kinh Phật thâm áo diệu lý, cô
đọng sáng ngời ngữ nghĩa, mà còn đậm chất thi ca, lung
linh sắc màu và bất hủ với thời gian. Sư ông chúng ta bốn
thập niên hành hoạt cõi trời tây, bằng vào cuộc sống phong
nhiêu người đã tiếp thu, chắt lọc, dung hội tinh hoa của
hai nguồn văn hóa để định hình và làm khởi nguyên cho một
dòng chảy. Không biết niềm vui của Sư ông lớn bao nhiêu
khi nhìn và nghe thiền sinh Tây phương sinh hoạt, lễ tụng
theo đạo Phật bằng chính ngôn ngữ và phong cách văn hóa
của họ. Riêng thầy, khi tiếp xúc điều này vừa bàng hoàng
sửng sốt vừa vui sướng ngập lòng. Ôi! Cây bồ đề năm
xưa từ chiếc nôi Ấn Độ bên lưu vực sông Hằng được
di thực qua nhiều vùng đất xa lạ, và khó khăn vô vàn để
sống còn ở Việt Nam qua những năm dài bị đọa đày, thế
rồi giờ lại thấy mọc lên ở Tây phương xanh tốt. Cây
đã thật sự cắm rễ rất sâu và hứa hẹn ngày càng sâu
hơn, tỏa bóng mát rộng hơn. Xưa kia ngài La Thập có thành
công trong cuộc đời hoằng pháp trên vùng đất xa lạ, nhưng
hẳn lòng cũng có chút gì se sắt buồn, nên lời thơ cuối
đời ngài có những câu: ‘Ai loan cô đồng thượng, thanh
âm triệt cửu tiêu’, ‘chim phượng hoàng lẻ loi trên cây
ngô đồng trụi lá, tiếng kêu buồn của nó vang vọng chín
tầng xanh’6. Thầy nghĩ: Sư ông chúng ta ‘hạnh phúc quá
chừng’ - chữ của Sư ông thường dùng trong pháp thoại -
vì ngoài niềm vui lớn đem an lạc hạnh phúc trao tặng cho
nhiều người, Sư ông còn có niềm vui nhìn thấy con đường
mình mở ra có rất nhiều hóa thân thừa tiếp. Và ở một
mức độ cạn nhất Sư ông giống ngài La Thập vì đã hình
thành được khí vị quê hương mình trên cõi trời Âu.
Năm
1992 khi phụ trách môn lịch sử Phật giáo cho trường trung
cấp Phật học... Thầy rất lúng túng vì không biết phải
dùng tài liệu nào để làm nền cho môn mình dạy. Cuối cùng
thì hai bộ Đường xưa mây trắng và Việt Nam Phật giáo sử
luận đã ‘bị’ thầy làm sách gối đầu. Thầy dùng Đường
xưa mây trắng để viết toát yếu bài học cho môn Lịch sử
Đức Phật và Lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Sư ông đã viết
về cuộc đời Đức Phật qua dạng truyện để tính truyền
đạt lên cao, tuy nhiên tinh thần sử liệu và văn bản học
được Người sử dụng nghiêm túc. Chúng ta biết rằng Đường
xưa mây trắng đã có mặt bằng nhiều thứ tiếng - kể cả
tiếng Hindu - lan rộng qua nhiều quốc gia và thấm vào nhiều
giới xã hội. Riêng đối với người tu trẻ Việt Nam thì
sách có năng lực lấy đi tính kỳ thị kiêu ngạo có mặt
trong truyền thống Phật giáo Bắc tông. Xưa giờ chúng ta được
nuôi lớn bằng văn học Hán. Rồi vài thập niên gần đây
tiếp xúc với Nam tạng hình thành một trường phái bài bác
Đại thừa. Một tồn tại do tính lịch sử phân hóa đáng
ra không cần có mặt. Thế mà dòng thời gian đi qua vẫn không
sao nối liền được hố phân cách trong lòng của những người
tu Phật. Hẳn Sư ông có dụng ý khi dẫn dụng các tư liệu
của văn học A hàm để làm nền cho pháp hành và pháp học.
Thắp sáng những trang kinh Niệm xứ, An ban... bị Bắc tạng
coi thường bằng tuệ giác của Phật giáo phát triển và của
thiền tông. Bắt những quyển kinh ngủ quên lâu nay thức dậy
lên đường mang hạnh phúc và an lạc đến cho con người hiện
tại. Hầu như phần lớn sách Việt ngữ của Sư ông hai yếu
tố luôn có mặt đó là tình tự quê hương sâu lắng và sự
nối kết lại mạch nguồn tuệ giác từ đức Thế Tôn vào
hai dòng chảy chính của đạo Phật phân hóa hôm nay. Ngày
trước đọc sách cụ Nguyễn Hiến Lê chúng ta phục phong cách
viết của cụ. Một cuốn Tô Đông Pha cụ Lê cũng cung cấp
cho đọc giả bản đồ Trung Quốc thời Tống và vẽ ra con
đường hoạn lộ khi bị biếm trích của chàng Tô. Cuối cuộc
đời cụ Lê viết về nghiệp văn của mình, đọc vào chúng
ta càng kính trọng sự tận tụy và nghiêm túc của cụ hơn.
Hiện tại chúng ta cũng biết vài thư tịch khi viết về lịch
sử Phật giáo Việt Nam. Không có mặt tinh thần làm việc
này.
Cái
thiếu vắng ban đầu đó là lương tâm trong sáng, cái nhìn
toàn diện, khách quan và minh chỉnh của người viết sử.
Nếu một cái nhìn định kiến, rồi cắt xén một mảng nhỏ
của thực trạng xã hội đen tối trong tổng thể đang vận
hành để lên án, phê bình và đánh phá. Điều ấy không những
làm tiêu ma danh phận người viết, thương tổn uy tín sĩ phu
đương thời mà còn tác hại sâu hơn nữa là làm đổ vỡ
nền tảng đạo đức xã hội đã được ông cha ta tạo dựng
tự nghìn xưa. Dĩ nhiên đây là vấn đề lớn hãy dành cho
một dịp nào. Điều thầy muốn chia sẻ cùng các cô chú đó
là tinh thần làm việc và khả năng đóng góp của Sư ông
vào nguồn sử liệu Phật giáo trong nước. Sư ông rời quê
hương Việt Nam đâu mang được gì ngoài hành lý cá nhân.
Thầy nghĩ cái duy nhất và cũng quý nhất Sư ông mang theo dễ
dàng ấy là hơi thở và bước chân chánh niệm. Rồi vừa
hoạt động xã hội vừa làm ngàn vạn chuyện trong nhiều
lĩnh vực khác nhau. Thế mà vẫn tập hợp được từng chút
từng chút một tư liệu lịch sử, để hình thành một thư
tịch lớn đóng góp vào gia tài lịch sử Phật giáo cho quê
hương. Bằng sự đơn độc riêng mình và khó khăn hơn nữa
là đối chiếu, phối kiểm tư liệu với thực tế địa vực.
Chúng ta nhớ, Sư ông đâu đã được về lại trên đất Thăng
Long thăm viếng và khảo sát các chốn tổ - nơi phát tích
thiền phái Tăng Hội, Tỳ Ni, Trúc Lâm, Thảo Đường... Thế
mà trong mỗi trang sách thể hiện tính xác thực trang trọng
của người viết sử. Điều gần gũi mà chúng ta dễ cảm
nhận nhất là hơi thở quê hương nồng nàn và khí vị của
truyền thống sơn môn được tỏa ra trong trang sách.
Các
cô chú ạ, thầy về Làng tu tập, đi thiền hành sau Sư ông,
rồi ngồi trong thiền đường nghe pháp thoại mới nhận ra
một điều Sư ông nói và viết như Sư ông thở, có nghĩa
là nhẹ nhàng, đằm thắm, sâu lắng và hạnh phúc. Cũng có
nghĩa là dễ dàng, tự nhiên và sống thực. Viết chỉ là
sự sống nhiệm mầu thật hữu được Sư ông thở ra và làm
cho nó hiện thực trên trang giấy mà thôi. Thế nên giới nào
tiếp xúc với sách của Sư ông cũng cảm nhận được năng
lực diệu kỳ, và cũng bị thôi thúc thực tập ‘hiện pháp
lạc trú’ để làm an lạc tự thân. Hầu như càng về già
ngôn ngữ Sư ông càng giản dị, mát dịu, ít tính chất hàn
lâm và nhờ vậy đã đi vào lòng người sâu lắng. Chúng ta
cũng nhớ trong văn học A hàm, những bài kinh của Phật dạy
sao mà bình thường và gần gũi quá. Kinh Gò Mối, Kinh Sừng
Bò, Kinh Người Bắt Rắn7... Sinh thời ngôn ngữ Đức Thế
Tôn không hề mang tính kinh viện dù Ngài bác lãm thư tịch
Vệ Đà. Ngài chỉ để lòng từ mang tuệ giác tràn ra - tràn
theo cách thế nào đó mà mọi người dễ cảm nhận nhất,
dễ nắm lấy để thực tập nhất. Lời dạy của đấng Đạo
sư ngày xưa trải qua 25 thế kỷ bị rụng rơi bao lần vì
quá trình hình thành văn bản khi kiết tập, và biến dịch
khi đi qua chu kỳ sinh diệt của ngôn ngữ và văn hóa địa
vực khác nhau. Thế mà, giờ đọc lại chúng ta vẫn cảm nhận
được năng lượng giác ngộ, từ bi nằm bên sau chữ nghĩa.
Vì vậy, điều quan trọng không phải là khả năng tu từ trong
khi nói và dùng chữ diễm lệ mượt mà trong khi viết. Cái
chính yếu là bên sau lời ấy, chữ ấy tình thương lớn và
tuệ giác chân thực của bậc đạt đạo có mặt hay không.
Các cô chú sẽ hỏi: ‘Theo thầy, Sư ông của chúng ta đã
đạt đến đâu nhỉ?’ Đấy là câu hỏi mà thầy sẽ chẳng
bao giờ trả lời. Thay vào đấy thầy sẽ gởi về tặng các
cô chú và Phật tử Việt Nam thêm sách và băng pháp thoại
của Sư ông để các vị tự cảm nhận năng lực từ ái diệu
kỳ và tuệ giác thâm sâu của Sư ông truyền đạt.
Có
một hôm Sư ông gọi quý thầy Việt Nam ra thiền thất ‘Ngồi
yên’ của Sư ông uống trà. Trên đường đi, Người thỉnh
thoảng lại chỉ cho các thầy thấy những cây cỏ bên đường
và nói đến sự diệu kỳ của một đóa hoa dại, sự mầu
nhiệm của một chiếc lá và cuối cùng Sư ông dạy năng lực
kỳ diệu đã về đã tới trong mỗi bước chân. Các cô chú
ơi! Sư ông có những pháp thoại ngắn, bất ngờ mà cô đọng
diệu nghĩa của tinh thần ‘Vô tác, vô nguyện, vô chứng’
thâm sâu trong giáo lý đạo Phật. Tiếc rằng thầy không thông
minh và bén nhạy để nhớ những lời dạy tuyệt vời này.
Một điều may mắn còn đọng lại nơi thầy đó là câu: ‘Thiền
hành không phải là thiền hành mới là thiền hành, mà thiền
hành là mỗi bước chân ta đi trong ngày đều thiền hành cả.
Phải thiền hành 100% thì ngay trong từng bước chân là đạp
lên cõi Tịnh độ, là an trụ trong niết bàn’. Thầy nghĩ
chỉ một lời dạy ấy đủ cho thầy trò ta thực tập cả
một đời tu.
Khóa
tu mùa Hè, Sư ông giảng pháp thoại một tuần 4 buổi cho thính
chúng đa quốc gia. Cố nhiên một buổi hai thời giảng Sư
ông sử dụng hai ngôn ngữ Pháp Anh, Việt Anh hoặc Việt Pháp,
nhưng dù nói tiếng gì thì pháp âm vẫn chấn động tâm thức
người nghe ‘Phạm âm, hải triều âm, thắng bỉ thế gian
âm’10. Thiền sư ngồi trên bục giảng thì trầm lắng tĩnh
tại, bước xuống viết bảng thì an lạc thong dong. Đây là
điều có mặt tự nhiên như hơi thở của Sư ông mà chúng
ta đã biết. Thầy nhớ trước khi về Làng Mai một ít học
trò cũ của Sư ông ngày xưa ở Đà Lạt đến thăm thầy.
Họ bảo: ‘‘Sư ông có giọng nói trầm ấm, thân tình, bước
chân thật nhẹ. Cho đến bây chừ 50 năm đi qua mà con còn
nhớ như in’’. Năm thập kỷ đi qua, cũng có nghĩa là nửa
thế kỷ đi qua, học trò của Sư ông giờ tóc đã bạc, thế
mà tình cảm quý trọng và những ấn tượng về Sư ông vẫn
còn rất rõ trong lòng bao Phật tử Việt Nam. Thầy nói điều
ấy để các cô chú nhận ra một điều khác đó là phẩm
chất của âm sắc, bước chân và nhịp thở Sư ông giờ đã
được nâng cao đến mức độ nào.
Thầy
đã viết cho các cô chú những trang thư khá dài. Cố nhiên
còn biết bao điều thầy không có khả năng nói được trong
thư. Vì sao? Vì có những điều phải tiếp xúc để cảm nhận.
Như các cô chú đến Làng Mai tiếp xúc với Tăng thân để
cảm nhận năng lực hùng tráng, tiếp xúc với những buổi
pháp thoại Sư ông để cảm nhận năng lượng trí tuệ từ
bi, tiếp xúc với thiền sinh Tây phương về đây tu tập để
cảm nhận khả năng chuyển hóa và niềm an lạc hạnh phúc
có mặt thật sự nơi họ. Thế nên dù thầy có viết ra sao?
Cách nào? Cũng không truyền đạt được điều phải tự thân
các cô chú cảm nhận mà thôi. Trong thư thầy có nói chút
ít cảm nhận của mình về Sư ông, về Làng Mai và vài nét
phác về khóa tu mùa hè tại Làng, tuy biểu đạt được ít
nhiều nhưng vẫn còn khiêm tốn lắm. Tuy nhiên, chúng ta cũng
không cần phải làm gì thêm bởi năng lực tự tỏa sáng,
và sức hút diệu kỳ của Sư ông và của Làng Mai, hiện tại
không còn xa lạ với con người của nhiều quốc gia trên hành
tinh này nữa. Điều thầy trò ta cần làm là hãy làm cho chính
mình, bằng sự tiếp nối hơi thở của Sư ông. Bằng một
hơi thở và bước chân Sư ông đã hiên ngang sừng sừng giữa
bao giông tố cuộc đời phủ xuống, xây dựng cơ đồ trên
vùng văn hóa Ki tô. Bằng hơi thở và bước chân Sư ông tiếp
nối được tuệ giác và từ bi của chư Phật, chư Bồ tát
và khơi nguồn cho dòng chảy này tưới tắt hiện thực xã
hội khổ đau. Bằng hơi thở và bước chân Sư ông nâng phẩm
chất tu học của Tăng thân Làng Mai, dựng dậy tông phong hùng
tráng, thành tựu an lạc hạnh phúc cho thiền sinh Tây phương...
và vô vàn điều diệu kỳ được tuôn tràn ra từ một hơi
thở và bước chân của Sư ông. Bậc đại sĩ xuất hiện
trong cuộc đời, tùy quốc độ và căn cơ chúng sinh vận dụng
muôn ngàn phương tiện để làm thế nào lấy đi được niềm
đau nỗi khổ của con người, và trao tặng hạnh phúc cho nhân
gian. Có khi các Ngài hiện thân hoa sen giữa lòng cuộc sống
bình thường mà chúng ta không dễ biết. Văn học Phật giáo
phát triển bảo rằng: ‘Găm một chiếc đinh xuống mặt đại
địa, nơi nào cũng có xương thịt của Bồ tát từng thị
hiện cõi nhân gian’11. Và ‘Bồ tát phát đại bi tâm độ
sinh nên không nỡ đoạn hết mê lầm vi tế, vì đấy là điều
kiện để còn trở lại cuộc đời’12. Ngoài những bậc
‘Thạch trụ tùng lâm, già lam mô phạm’ chúng ta còn có
một Hàn sơn, Thập đắc rong chơi trong cõi bụi hồng, trêu
chọc chúng tăng để truyền đăng sử Trung Hoa thêm nhiều
huyền thoại. Một Tuệ Trung thượng sĩ Việt Nam đạo phong
chất ngất, thơ thiền Ngài trang điểm cho cuộc sống phong
nhiêu. Một Trần Nhân Tông tay thiền trượng, tay vó câu, hòa
Chiêm, bình Thát Đát, khơi nguồn cho dòng thiền Yên Tử chảy
đến ngày nay. Ôi! Bậc thượng nhân hành xử như nước chảy
mây trôi, cưỡi sóng tử sinh, hùng khí ngang tàng đến đi
tự tại. Đức lớn ví Thái Sơn mà thấp mình như đất, thành
công kỳ vĩ mà xóa dấu vết trên sử xanh. Coi mọi thành bại
như mây trời, thả mình bồng tênh như gió hạ, sống chết
giống con người, bình thường như lá cỏ. Nhưng điều kỳ
diệu hơn con người là sự hiện diện của người ấy là
sự hiện diện của năng lượng thương yêu và tuệ giác.
Người ấy rãi lòng từ lên nhân gian làm dịu lửa oán thù
chất ngất, hóa thân vào văn hóa các địa vực, vào lòng
người và còn hứa hẹn triệu triệu lần rong chơi cõi tử
sinh. Ôi! Bóng của người ấy lồng lộng cõi nhân gian, chúng
ta có nói ngàn vạn lời cũng chỉ là vẽ được nét hằn
trên mặt nước.
Chiều
nay nắng rắc vàng trên xóm Thượng, những cây sồi tơ vươn
cánh tay vẫy gọi người đến với Làng Mai. Ai đã một lần
đến nơi nầy ngắm nắng chiều reo vui trên rừng sồi xanh
mát hẳn sẽ thấy lòng xôn xao và điều kỳ diệu bên trong
tự nhiên tuôn chảy. Thầy mong các cô chú thực tập thật
sâu sắc hơi thở và bước chân để cho điều diệu kỳ của
tự thân lập tức nở hoa.
Chú
thích.
Khóa
tu mùa hè bắt đầu từ 11 tháng 07 đến ngày 8 tháng 8. 2001.
Sư
ông rời Việt Nam vào năm 1966.
Sư
ông giảng ngày 16 tháng 6. 2001 tại Frankfurt - Đại hội Cơ
Đốc giáo.
Quyển
‘Bông hồng cài áo’ được viết vào năm 1962 Lá Bối in
lần đầu. Sách trình bày theo thể loại sách hồng.
Ngài
La Thập bị tướng Lã Quang mang quân đánh nước kể tên bắt
về (?) trên đường về triều đình Trung Hoa thay đổi Lã
Quang dừng lại đất Cô Tàng 18 năm. Sau đó vua Dao Tần thương
lượng ngài La Thập mới được về Trường An. (phần này
chưa chính xác).
Trong
quyển ‘Ngài La Thập’ HT Trí Quang.
Phần
này chưa chính xác. Xin được tra cứu lại.
Thiền
thất bằng gỗ, nằm phía đông của thiền đường chùa Pháp
Vân.
Đọc
quyển Con đường chuyển hóa, Thiền hành yếu chỉ và Kinh
quán niệm hơi thở của Sư ông
Câu
trong phẩm ‘Phổ môn’ của kinh Pháp Hoa, có nghĩa: Tiếng
phạn âm thanh tao nhạc điệu, tiếng hải triều hùng tráng
vang rền, hơn hết tất cả thanh âm của thế gian.
Ý
từ kinh Pháp Hoa.
Ý
từ kinh Duy Ma Cật.
ÁNH
SÁNG ĐÃ LỌT VÀO
Tây
Bá Linh ngày17/1/2002
Kính
gửi lời thăm sức khỏe đến Thầy.
Thưa
Thầy, con tên là Huỳnh Hiệp Khoái, sinh ngày 14.10.1958 tại
Bạc Liêu,Việt Nam. Vào dịp Đại Giới Đàn Kỷ Nguyên Mới
vừa qua tại Làng Mai, con được thọ Năm giới do chính Thầy
truyền. Nhưng vì đây là lần đầu con về Làng, và cũng vì
Thầy chưa từng thấy con, chưa lần nào biết con, cho nên lá
thư này là để con tự giới thiệu với Thầy, và dù đây
là lá thư đầu nhưng sự thực nó là lá thư thứ mấy mươi
mà con đã viết cho Thầy rồi mà lần đầu được gửi.
Thầy
ơi, trước khi con được đến Làng thọ giới với Thầy thì
con cũng như hàng triệu người khác đã biết Thầy rồi, biết
qua các băng giảng, sách vở và phim ảnh. Con đã quý thương
thầy qua tiếng tăm, qua những người thân, nhất là qua sự
nhắc nhở của chú Phạm Ngọc Đảnh ở Berlin. Con cũng cư
trú ở Berlin, được gần gũi chú Đảnh và đã từng xem chú
Đảnh như cha của con vậy. Lúc ấy Thầy chưa ở trong con,
con thấy như vậy bởi vì chỉ khi có ai nhắc đến Thầy hoặc
thấy hình ảnh hay nghe tiếng nói của thầy... con mới nhớ
Thầy. Rồi mãi đến năm 2000, con quên không biết đích xác
tháng nào ngày nào, một hôm đó con được nghe lần đầu
câu kệ: ‘Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười’.
Khi được nghe câu kệ đó, con bỗng giật mình. Sao mà nó
hay dữ như vậy. Nó đúng là một câu linh chú, nó đúng là
một viên linh dược. Từ hôm đó, mỗi ngày, khi đi, đứng,
nằm, ngồi, nhất là trong những lúc làm việc ở hãng con
cứ thực tập theo câu kệ ấy, mỗi khi nhớ là làm. Thực
tập như vậy, con thấy cả tâm hồn và thân xác đều được
nhẹ nhàng và an lạc. Sau đó con được có duyên đến với
tăng thân ở Berlin, và mỗi cuối tuần đến thiền phòng Quan
Âm để thực tập ngồi thiền, tụng kinh và bái sám. Con đã
được đọc những sách sau đây của Thầy (theo thứ tự):
Thiết Lập Tịnh Độ (do chú Đảnh giới thiệu), Kim Cương
Gươm Báu Cắt Đứt Phiền Não (do con tự đi tìm), Sen Búp
Từng Cánh Hé, Sen Nở Trời Phương Ngoại, và Đường Xưa
Mây Trắng. Con đã nghe tiếng bộ Đường Xưa Mây Trắng từ
lâu, nhưng mãi đến cuối năm 2001 con mới có dịp đọc. Từ
khi con đọc Thiết Lập Tịnh Độ thì mỗi ngày con đã ‘thơ’
cho Thầy mấy lần. ‘ Thơ’ ở đây không phải là ‘gởi
thơ’ hay là ‘lá thơ’. ‘Thơ’ đây vừa là danh từ mà
vừa là động từ. Con đã ‘thơ’ cho Thầy hằng ngày nhưng
chưa bao giờ diễn bày được hết lời hết ý, và Thầy cũng
chưa bao giờ nhận được. Lúc con chưa gặp Thầy tận mặt
thì Thầy đã ở trong con rồi. Mỗi lần hít chậm và thở
sâu thì con thấy Thầy hiện ra rất rõ trong con. Một thời
gian sau đó thì con mới hiểu được thế nào là ‘Phật ở
trong tâm’. Con đã nghe câu ‘Phật ở trong tâm’ đã từ
xưa mà chưa bao giờ con cảm nhận được rõ ràng như bây
giờ.
Thầy
ơi, người ta nói một cách bình dân ở ngoài đời là ‘gãi
đúng vào chỗ ngứa’. Ở đây con phải tìm cách nói khác
hơn. Từ cuốn Thiết Lập Tịnh Độ cho đến cuốn Sen Nở
Trời Phương Ngoại, Thầy đã làm cho cái óc của con nứt
ra để ánh sáng có thể lọt vào. Hiện nay con rất sung sướng
vì có trên tay tờ Điệp Hộ Giới trong đó có ghi mấy chữ
‘đệ tử của Thiền sư Nhất Hạnh’. Con kính chúc Thầy
thật khỏe. Con: Huỳnh Hiệp Khoái.
Tái
bút: Thầy ơi, cuốn sách gần đây nhất (con đọc trước
khi con về Làng dự lễ và thọ Năm giới) đã đem lại cho
con vô cùng an lạc khi con làm việc ở hãng. Đó là cuốn Phép
Lạ Của Sự Tỉnh Thức. Cuốn sách này quý giá với con quá,
quý giá đến miễn bàn. Nội dung sách thật đúng như tựa
đề của sách. Con cầu xin chư Bụt và chư Bồ tát làm sao
cho ai cũng có cơ duyên được đọc cuốn sách này và đem
ra áp dụng trong đời sống hằng ngày.
Huỳnh
Uterstr.7
13357
Berlin Deutschland
SƯ
TỬ NÚI TRỞ LẠI
Sư
cô Thoại Nghiêm
13
tháng 1, 2001
Bạn
hiền thân,
Rốt
cuộc rồi Lộc Uyển cũng có mưa. Mưa tầm tã ba ngày liền.
Đến nỗi hôm nay có nắng tôi bỗng dưng... mừng quá sức.
Dĩ nhiên là Lộc Uyển cần nước quá chừng chừng, nhưng
chạy mưa cũng mệt và lại là kinh nghiệm mới ở đây: giày
dép ướt (vì đâu ngờ cơn mưa đổ xuống đột ngột như
vậy sau sáu tháng nắng), nhà cửa dơ, máng xối mục đổ
từng mảng nước lớn, không khí ẩm và lạnh. May là nóc
nhà không bị dột như chúng tôi đoán trước. Cỏ cây không
còn gục đầu ủ rũ mà vươn thẳng, tươi rói. Hoa thủy tiên
bắt đầu nở. Cả núi rừng như bừng lên một sức sống
mới. Tôi sẽ bắt đầu trồng cây tiêu cho kịp trong mùa mưa
để đỡ lo phần tưới nước. Hy vọng khi Thầy qua con đường
lên Yên Tử sẽ có chút màu xanh.
Tháng
hai
Càng
ngày tôi càng thấy rõ được không gian trong lòng mình. Có
phải vì Lộc Uyển bát ngát nên hồn tôi cũng rộng mở hơn.
Hôm nay trên đường từ cổng về, trong buổi chiều chạng
vạng gặp con coyotes quen thuộc đứng nhìn. Đôi mắt ngơ ngác
và hiền như mắt nai. Tôi dừng xe, sư em Thường Nghiêm giả
tiếng chó tru thì nó mới quay đầu bước đi, nhưng ngoái
đầu lại lưu luyến mấy lần. Tôi có cảm tưởng nếu mở
cửa xe rủ lên chắc nó cũng chịu lên nữa đó. Tôi lái xe
đi tiếp, thấy mình thân thuộc và như thành một phần của
đời sống núi rừng. Bạn hiền hỏi tôi có lần nào ‘gặp
lại’ chú sư tử núi. Thì mới tuần trước đây thôi, chú
đến viếng Tùng Bút. Thầy Giác Thanh ở trong phòng khách nhìn
ra thấy chú đủng đỉnh trèo qua đống đá trước vườn,
đi vòng qua chỗ để củi bên hông nhà rồi mới biến vào
rừng. Ngang nhiên như đi thăm... hàng xóm. Mà không phải hàng
xóm thì là gì? Không biết có phải đó là chú sư tử ‘cố
nhân’ của thầy Pháp Dung hay không nhưng từ đó về sau không
ai gặp nó nữa, dù là ở trên núi. Tuy nhiên chuột thì chúng
tôi gặp khắp nơi. Ở trong căn bếp nhỏ chúng nó chạy rần
rần, bẫy hoài mà không được. Nhưng mấy con chuột này cũng
buồn cười lắm, nghe chuông biết ‘dừng lại’ đó nghe
bạn hiền. Chắc sự im lặng đột ngột của đại chúng khi
nghe chuông cũng làm nó khớp nên... im lặng theo. Và khi mọi
người sinh hoạt bình thường trở lại thì nó tiếp tục
ồn ào trở lại. Có vẻ như cũng biết thực tập với đại
chúng vậy. Tuy nhiên mấy con chuột trong thiền đường thì
quá sức là loạn. Chúng tôi ngồi thiền mà nghe tiếng nó
cắn gãy cây ở góc thiền đường và lôi nhánh cây đi một
cách ồn ào công khai trước mắt mọi người. Hẳn vì chúng
tôi ngồi quá im nên nó không sợ, hay nó biết chúng tôi đâu
thể bỏ thời ngồi thiền... để đi bắt chuột nên mới
ngang nhiên như vậy. Tri đường thì rầu lắm vì cúng trái
cây loại nào cũng bị chuột gặm cả. Ngay cả đến hoa cúng
cũng bị cắn gãy thảm thương. Khẩu phần của Bụt bị giảm
từ từ đến lúc tri đường đề nghị một cách rụt rè
là chắc nên cúng Bụt... trái cây và hoa bằng ny lông. Tri
chung cũng rầu nữa. Một buổi sáng tới giờ ngồi thiền
tri chung kiếm không ra hộp quẹt để thắp nến. Đến lúc
ngồi xuống tọa cụ thì không thấy khánh, không thấy đồng
hồ. Làm sáng đó tri chung không được an lạc cho lắm nhưng
không hề nghĩ ra ai là thủ phạm phá phách như vậy. Mãi tới
trưa khi dọn dẹp lại bàn Bụt tri đường mới khám phá ra
những thứ đó ‘bị giấu’ đằng sau chậu cây. Chúng tôi
cười: ‘Mấy chú chuột này chẳng những thiếu oai nghi mà
còn phạm giới thứ hai nữa’.
Cuối
tháng hai
Thầy
kính thương,
Tết
đã tới và đã qua. Chúng con đón Tết như ở Làng. Cũng đóng
và gởi Lá Thư Làng Mai, cũng gói bánh chưng tặng thân hữu,
cũng bói Kiều. Tối hăm bảy Tết chúng con ôm đàn ngồi quanh
bếp lửa với hai nồi bánh khá to. Bếp được đào dưới
đất, hình chữ nhật, ở kế sân xi măng của Xóm Trong Sáng.
Củi thì được vơ từ đống gỗ cũ tháo ra khi sửa nhà và
các nhánh khô gãy gần đó. Trời lạnh đến suýt soa. Chúng
con chia phiên nhau thức và châm nước. Có một vài anh chị
Tiếp Hiện dưới phố cũng lên chơi, ngắm trăng, đút thêm
thanh củi vào bếp, hơ tay cho ấm, hít hà nhớ tới bếp lửa
quê hương. Sáng ba mươi, chúng con dậy sớm nghe Thầy đọc
thơ từ Làng, ngồi thiền và làm lễ đón Giao Thừa theo giờ
Việt Nam. Tết trúng vào ngày thường nên sau lễ đón Giao
Thừa con được một buổi trưa và chiều thật thảnh thơi,
không có chương trình. Con ra thiền đường thắp nhang, ngồi
thiền, tụng kinh. Lòng bình an và nhẹ nhàng. Bắt đầu cho
một năm mới như vậy là quá đầy đủ. Mồng một và mồng
hai dù trúng ngày thường cũng có nhiều vị Phật tử lên
thăm nên chúng con thay vì bói Kiều cho nhau thành ra bói Kiều
cho khách. Con không ngờ quý vị thích bói Kiều đến như vậy.
Buổi tối chúng con lên chúc Tết thầy trụ trì, nhận lì
xì, uống trà, hò hát cho nhau nghe.
Sau
đó thì chúng con tiếp tục trang trí, dọn dẹp, nấu ăn, và
lo văn nghệ cho Tết. Ngày thứ bảy và chủ nhật thật đông
người lên Vườn Nai. Nhất là có những đợt hành hương
cả trăm người. Chúng con phải thay phiên nhau ngồi bói Kiều
liên tục. Con không tránh được như lúc ở Làng vì ở đây
chúng ít mà nhu cầu thì thật đông. Thầy Giác Thanh vừa từ
nhà thương về mà cũng ngồi đủ sáng chiều ‘hai thời’
thì con làm sao mà dám trốn. Rồi chúng con tiếp khách đi thăm
xóm mình, đi thăm phòng mình như những dịp thăm viếng ở
Làng. Các vị Phật tử ngạc nhiên quá đỗi khi thấy mấy
sư cô ngủ trên những ‘cái hòm’ (nguyên văn của một bác)
không nệm không chiếu mà lại tới ba người một phòng. Điều
này thường với Làng mình nhưng ở xứ Mỹ đầy đủ mọi
tiện nghi thì các bác có vẻ thương cho đời sống của chúng
con lắm. Chúng con chỉ cười. Làm sao giải thích được cho
các vị hiểu được là chúng con yêu đời sống đơn giản
như vậy.
Buổi
tối Chủ Nhật, chúng con đãi cơm tối rồi làm văn nghệ.
Nấu ăn rồi là khoác áo vẽ râu lên sân khấu. Không có giờ
để mà tập chung với nhau dù chỉ một lần. Chỉ nói đại
ý rồi là... mạnh ai nấy cương. Lại chẳng biết sư em Thắng
Nghiêm bôi lọ nồi làm râu cho con ra sao mà thiên hạ cười
dữ quá. Nhưng khán giả dễ tính và diễn viên thì còn dễ
tính hơn nên chúng con cứ phom phom làm tới. Trong nhà cả mà.
Sau này con mới hay là cuốn băng đón Tết đó đã được
đi rất xa, nhiều người ‘không trong nhà’ đã coi. May là
họ cũng cười vui với chúng con thôi. Và nếu chúng con có
thiếu oai nghi chút xíu khi ‘nhập vai’ thì chắc đâu có
sao phải không Thầy?
Chúng
con bắt đầu đi đặt cây về trồng. Mỗi ngày một ít. Quý
vị thân hữu cũng giúp đỡ tận tình: người cúng dường
cây, người chỉ chỗ mua giá rẻ, người dọn nhà xới cây
vào chậu đem cho. Chúng con trồng cây mà chắc nhờ bồ tát
giám viên rủ lòng thương Vườn Nai nên cứ trồng xong đợt
nào là có mưa ngay sau đó. Dù khi đặt cây mình không hề
đoán được ngày nào thì cây được đem tới và lúc nào
thì có người để trồng. Có khi nắng ấm hai ba ngày liên
tiếp nên chúng con mới quyết định đi lấy cây và kêu thợ
(vì mưa thì họ không tới). Nhưng chiều đó khi xong việc
thì mây kéo đến và mưa nguyên đêm. Cứ ngày nắng (cho chúng
con và quý vị thân hữu làm vườn) và đêm mưa thế này thật
là thuận lợi. Con nghĩ là Long thần hộ pháp thương và bảo
hộ Vườn Nai, muốn cho chỗ này mau thành tựu để có nơi
hoằng pháp chứ có nhiều việc trí con người không tính được.
Ngày xưa con nhớ thầy bổn sư con cứ nói: ‘Không sao, Tam
Bảo sắp đặt’ và chúng con trong Gia Đình Phật Tử thì
cứ cười tủm tỉm, không dám cãi khi thầy khăng khăng muốn
chúng con dựng lễ đài ngoài trời trong mùa mưa gió. Vậy
mà tới ngày lễ thì trời quang mây tạnh để chúng con xuýt
xoa là thầy ‘có thần thông’. Bây giờ thì con cũng bắt
chước nói như thầy vậy. Việc cần làm cứ làm. Và làm
với hết lòng mình là đủ. Thật ra mọi việc há chẳng đã
được sắp đặt và chỉ chờ cơ hội để biểu hiện? Con
nhớ tới câu thơ của Thầy:
Công
trình xây dựng ngàn đời
Nhưng
em xem công trình đã được ngàn đời hoàn tất
Thưa
thầy, từ hồi con lo chuyện mua cây, trồng cây tới giờ con
thấy con tiếp xúc với cây nhiều hơn, để ý hơn, và tâm
từ bi cũng mở rộng hơn cho loài thực vật. Không phải là
điều mơ hồ đâu mà con thấy con ‘thương’ cây thiệt.
Con đau xót khi có những bụi cây già bị đốn bỏ một cách
vô lý thay vì đem trồng chỗ khác, khi thấy những cây tiêu
bị bỏ quên đến chết héo. Hồi trước con đâu có cảm
giác đó. Bây giờ con thích ngắm cây để thấy mỗi loại
đều khác nhau và đều đẹp. Nói chuyện cây, con nhớ lúc
nhỏ thỉnh thoảng có dịp được đi thiền hành riêng với
Thầy, Thầy hay chỉ từng cây tùng, cây thông và kể là Thầy
trồng vào năm nào. Cây nào là ‘sư anh’ của con. Lúc đó
con nghe mà không ‘cảm’ được. Bây giờ thì con hiểu lắm.
Vì con cũng đã giới thiệu về Lộc Uyển, về cây cối trong
vườn y như vậy một cách rất tự nhiên. Và vì khi nhìn một
cái cây lớn lên, tự tay mình chọn lựa, vun xới đất cho
cây mạnh, chăm sóc cho cây đừng bị khô héo, thì tình cảm
phát sinh thôi. Thầy ‘khoe cây’ như người ta ‘khoe con’.
Và chúng con há không phải là những cái cây trong khu vườn
của Thầy chăm sóc hay sao? Có cây đứng vững ngoài sương
gió thì lâu lâu Thầy đi ngang vỗ về. Có cây yếu ớt thì
Thầy phải để ý chăm sóc nhiều hơn. Có cây cần nhiều
nắng, có cây cần nhiều nước, có cây cần phân thường
xuyên, có cây cần được tỉa, có cây phải được che chở.
Có loại thuộc hoa kiểng, có hoa như lan rừng. Cây có bao nhiêu
loại thì chúng con cũng đủ chừng đó tâm tính để Thầy
dạy dỗ và chăm sóc. Chỉ mong chúng con lớn sởn sơ và đem
cái đẹp ra cho đời. Bởi vậy con biết mỗi khi chúng con
bị yếu đi, làm nên lỗi lầm thì Thầy không giận không
trách mà chỉ tìm cách sửa đổi hoàn cảnh để chúng con
có thể lớn mạnh trở lại. Con nghe nói Nội Viện đã làm
xong. Con cười mà nghĩ tới cái nhà kiếng để hoa của Thầy.
Tháng
ba, 2001
Bạn
hiền ơi,
Sáng
nay phải viết cho bạn hiền về Xóm Trong Sáng, về mùa xuân
ở đây. Bên những gộp đá cạnh nhà, hoa thủy tiên nở cả
tháng nay. Những chùm hoa nhỏ trắng muốt như những ngôi sao
thật tinh khiết. Và lúc nào cũng vậy, khi tôi mở cửa sau
bước ra khỏi nhà cũng nghe thoang thoảng một mùi hương thật
dễ chịu. Mùi thơm thật nhẹ, khi có khi không giữa không
gian bao la của núi đồi Lộc Uyển. Nhìn xa xa, màu cây xanh,
màu đá đen, màu hoa trắng, chen chúc nhau ở khoảng đất cạnh
nhà thật là tươi mát. Thỉnh thoảng lại có những đóa địa
lan nở sớm, màu cam, búp nhỏ và dài, xen với thủy tiên trắng
thật ngộ. Tàn mùa thủy tiên sẽ đến mùa địa lan. Các
bạn tới chơi bảo vậy. Tôi vẫn nghĩ là Lộc Uyển sẽ đẹp
lắm vào mùa xuân, mà vẫn không tả được cho bạn hiền
nghe cái đẹp đó. Có những điều mình chỉ có thể cảm
được chứ không diễn tả nổi. Chỉ biết ước ao bạn hiền
có mặt đây để cùng hưởng mà thôi. Mới tháng trước là
mùa hoa vàng. Những cây ‘great fern’ (không biết có đúng
tên như vậy không vì có người bảo là cây lim, nhưng tên
gì thì cũng vậy thôi, đâu quan trọng) cho những tàng hoa vàng
rực. Hoa nhỏ và dầy như những cụm gòn vàng, như hoa mimosa
tuy không có mùi thơm. Những cánh hoa vàng đó đã nở rực
rỡ trên con đường dẫn lên Xóm Vững Chãi. Trước nhà bếp
Xóm Trong Sáng cũng có một cây để tôi ngẩn ngơ mỗi khi
đứng ở cửa sổ nhìn ra. Và ở Nhà Tùng Bút, một buổi
sáng lên thăm thầy Giác Thanh, tôi cũng thấy những chùm bông
vàng nõn vừa nở tung bên ngoài cửa kiếng. Tôi bỏ dở câu
chuyện, bàng hoàng ngắm sự sống đang vươn lên mạnh mẽ
của một sáng mùa xuân, trong sương mù còn bàng bạc. Chỉ
ngắm hoa thôi, đủ thấy hạnh phúc tràn đầy. Bây giờ mùa
hoa vàng đã tàn. Những cụm bông vàng nõn một thời rụng
đầy lối đi kế bên thiền đường Xóm Trong Sáng. Rắc phấn
hoa vàng đầy trên đường. Để tôi bước từng bước thiền
hành mà chợt nhớ tới một câu thơ làm đã lâu:
‘...
sắc vàng rực rỡ thong dong áo người.’
24
tháng tư
Bây
giờ thật sự đã ở giữa mùa xuân. Khí núi còn lạnh nhưng
cũng đã có những ngày nóng bức. Hoa dại nở đầy núi. Tuần
lễ Sư Ông qua gặp lúc hoa tím nở rộ. Sư cô Chân Không bảo
đó là hoa tử đinh hương. Tôi thích ngắm hoa nhưng dốt đặc
về tên các loại hoa nên chỉ biết ngắm và mỉm cười. Những
cụm rừng tím sẫm xen với màu xanh lá cây tạo nên những
bức tranh thật hài hòa và nhẹ nhàng. Có cây màu tím thật
non, thật tươi, đẹp như màu tím hoa cà. Tôi hay bị ngơ ngẩn
nhiều phen trước những nhánh hoa bất ngờ trên con đường
lái xe về xóm. Đó là những nhánh cây khô cằn mùa đông
mà lắm lúc, tôi cứ nghĩ cây đã chết khô và cần được
tỉa dọn. May chưa. Nếu không làm sao tôi được ngắm những
cảnh tượng tuyệt vời như thế này. Trên đường lên tu
viện có một vách núi nở đầy hoa dại đỏ và hoa leo tím,
những đóa hoa có dáng của một loại lan rừng, nhỏ bằng
ngón tay màu tím đậm và bò sát vách đá. Mỗi lần đi ngang
tôi phải nhìn một chút, để thấy thiên nhiên quả là ưu
đãi cho mình những món quà dễ thương mà nếu mình không
biết mang ơn thì thật là vô tình lắm. Tôi đang bận rộn
quá cho chuyện giúp tổ chức ngày pháp thoại công cộng cho
Thầy nhân dịp Thầy qua vào tháng năm sắp tới, vào việc
xây cất và vào việc quyên góp tiền bạc mua đất. Chúng
lại ít vì có một số người đi Việt Nam nên quanh tới quẩn
lui chỉ có mấy khuôn mặt mà việc thì không dừng được.
Nên có những ngày tôi mệt đừ và không viết nổi cho bạn
hiền thường xuyên như đã hứa. Nhưng tôi cũng phải ghi lại
ít hàng để chia sẻ cùng bạn hiền những hạnh phúc mà người
ở núi như tôi được hưởng.
15
tháng năm
Bạn
hiền thương,
Công
việc tổ chức cho buổi pháp thoại công cộng Thầy giảng
lần đầu tiên ở San Diego rồi cũng xong và thành công dù
thời gian rất ngắn. Tôi không làm gì nhiều lắm đâu bạn
hiền à. Các bác, các anh chị ở San Diego ngồi lại sắp xếp,
kêu gọi, lo lắng. Tôi chỉ thăm hỏi, động viên và quý trọng
sự làm việc của các vị. Điều mà tôi cho là đẹp nhất
chính là sự đoàn kết và làm việc hòa hợp với nhau để
rồi đưa đến sự thành lập của một tăng thân mới gồm
cả người Việt lẫn người Mỹ. Tôi nghe nói số lượng
người tham dự vào tăng thân ngày một thêm và gồm nhiều
tôn giáo khác nhau. Thật là một điều đáng mừng. Tôi thấy
giáo pháp của Bụt qua sự giảng dạy của Thầy như những
cánh hoa nở tung, để rồi hạt bay theo gió đi rất xa và lan
rất rộng mà mình không ngờ tới được.
Ở
đây, mỗi ngày là một ngày mới. Cỏ cây thay nhau khoe sắc
hương. Núi rừng đổi áo mới hoài hoài cho tôi ngơ ngẩn.
Không muốn làm thơ cũng thấy mình khép mắt mộng mơ. Và
cứ muốn cầm bút lên để gọi tiếp: ‘bạn hiền ơi’.
Bao nhiêu điều ghi nhận được trong cuộc sống mỗi ngày
mà không có cơ hội để ghi ra giấy. Để rồi khi bút cầm
tay, lại thấy mình bâng khuâng muốn viết mà không biết phải
bắt đầu từ đâu. Cứ thấy có gì đó thiếu thiếu, mà
không định tâm đủ để giải bày. Thương chưa! Viết hai
chữ này nhớ tới Anh Hương. Một trong những bạn hiền mà
nghĩ tới thấy lòng ấm áp.
Như
sáng nay, dưới cơn mưa nhẹ của mùa xuân, tôi đi thiền hành
trong một nỗi hạnh phúc lớn lao. Bạn hiền biết không, con
đường dốc nhỏ lên Yên Tử do anh chàng Mễ lái xe cày ủi
đại hồi nào trơ trụi bây giờ bắt đầu mọc lại cỏ.
Thỉnh thoảng, từ dưới đất, giữa lòng đường, một nhánh
hoa dại tím trang trọng mọc lên. Và hoa dại, trời ơi, những
nhánh cây dại bên đường cong rũ xuống với những chùm hoa
li ti trắng tươi, nhìn xa như những con suối bạc đang đổ
từ vách núi ra. Cả thiên nhiên ngập tràn sức sống làm tôi
muốn ngợp đi. Những cây tiêu (California pepper tree) nhỏ uống
đủ nước, tắm mát nguyên đêm khoe màu xanh mơn mởn bên
vách núi nâu đỏ. Tôi đi chầm chậm. Lòng mang nhiều cảm
giác trộn lẫn nhau. Màu đất đỏ và sự hoang sơ của đất
trời làm tôi nhớ tới Đà Lạt. Làm sao đủ tên để kể
được hết những loại hoa tôi bắt gặp ở Vườn Nai? Tháng
này hoa vàng, tháng sau hoa tím. Tuần này hoa đỏ, tuần sau
hoa trắng. Mà đâu phải chỉ có một màu trắng, một màu
cam. Nhiều loại hoa, nhiều màu đậm nhạt khác nhau, nở rộ
cùng lần, để tôi chỉ biết đứng nhìn, lặng thinh mà chiêm
ngưỡng. Cuối tháng năm vẫn còn mưa, ‘May shower’, đủ
cho dịu lại không khí nóng gắt của tuần trước và cho tôi
thở phào nhẹ nhõm vì hệ thống tưới cây vẫn chưa bắt
xong. Không biết vì nhờ cơn mưa cuối mùa hay đã ngủ chán
chê mà cây dương tần (dogwood) tôi trồng bây giờ mới chịu
đâm chồi non. Hai tháng trời tôi thất vọng nhìn nhánh cây
khô như không cách nào sống nổi với vùng đất sa mạc này.
Nhưng tôi không nỡ nhổ bỏ. Cứ cố gắng tưới và thăm
chừng. Để sáng hôm qua bàng hoàng khi thấy một chút xanh
bắt đầu ló dạng. Sự sống mãnh liệt hay cây không nỡ
phụ lòng tôi? Tôi nhớ tới cây dương tần Thầy trồng ở
Xóm Thượng một ngày mưa lất phất của tám năm về trước.
Ngày đó Thầy kêu tôi và sư cô Hương Nghiêm từ Xóm Hạ
lên chơi. Hai chị em bị cảm, quấn khăn kín mít và chẳng
biết làm gì để phụ giúp Thầy, chỉ đứng nhìn Thầy và
sư chú loay hoay đặt cây, lấp đất, cười. Khờ hết sức
mà cũng ngơ hết sức. Ngày cây cho hoa lần đầu tiên Thầy
đếm xem có bao nhiêu đóa. Bây giờ tới mùa hoa nở trắng
cây. Tôi bao nhiêu tuổi thì cây bấy nhiêu năm. Tôi trồng
lại cây dương tần ở đây dù không biết chắc cây có sống
nổi không, có lẽ chỉ vì hoa đã gắn liền với kỷ niệm.
Và trên hết, tôi biết Thầy thích hoa này. Nhưng nếu nói
tới hoa Thầy thích thì nhiều lắm. Bụi hoa mộc mua được
trong lần Thầy về mổ mắt cũng được sư em Kính Nghiêm
hì hục cho bay qua theo tới Vermont, ngồi riêng một ghế trên
phi cơ đàng hoàng (nhờ máy bay trống chứ không phải sư em
‘sang’ đến thế), để phòng Thầy ở Vermont cũng ngát hương
hoa mộc như ở Lộc Uyển. Sáng nay tôi đi dạo khắp cả Lộc
Uyển. Con đường từ cốc Thầy - nhà Tùng Bút - đi ra ngập
hoa cải vàng. Cây cải dại cao tới ngực tôi và tung ra những
đóa hoa vàng mảnh mai chập chờn như những cánh bướm. Sư
em Thắng Nghiêm cắt đem vô làm xà lách. Ngậm một đóa hoa,
tôi thấy mình như một chú nai con giữa rừng sâu hoang sơ.
Mùi cải nồng ướp hương vị của nắng, của gió, của mưa,
của đất. Không cần phải quán chiếu nhiều lắm tôi cũng
thấy được mình đang có cả vũ trụ trong chén cơm ngày hôm
ấy.
Bạn
hiền ơi, Vườn Nai như một thiên đàng vậy đó. Tôi không
ví von với Niết Bàn vì Niết Bàn là nơi đã tắt hết mọi
ý niệm. Nhưng ở đây thì tôi vẫn thấy Vườn Nai đẹp.
Đẹp lúc trời mưa. Đẹp lúc trời nắng. Đẹp vì hồn tôi
đang mở rộng và muốn ôm vào tất cả. Bạn hiền hiểu điều
này mà, phải không? Như lần chúng mình ngồi trên đụn rơm,
ăn cà rem, ngắm mặt trời lặn ở Xóm Hạ. Hôm ấy không
gian thơm ngát mùi mận chín. Trời ấm áp và nồng nàn mùi
đất, mùi cỏ mới cắt, mùi rơm, mùi ngọt của mận sấy.
Bao nhiêu bận rộn như không còn có mặt. Bạn hiền và tôi
trở lại thời trẻ con. Chúng mình mút cà rem một cách thích
thú, tận hưởng cảnh chiều ở thôn quê và đồng ý với
nhau rằng hạnh phúc thật đơn sơ và dễ dàng, chỉ tốn có...
5 francs thôi. Vậy mà, bao nhiêu năm đã trôi qua. Từ Xóm Hạ
chúng mình lên Xóm Mới. Rồi bây giờ Lộc Uyển. Hạnh phúc
vẫn là những điều thật đơn giản và thật gần. Nếu mình
có đủ chánh niệm.
Tháng
Sáu
Thầy
đã qua và Thầy đã về. Nhưng những cây Thầy trồng trong
chuyến đi vẫn còn đó. Cây bồ đề đang thay áo. Những chồi
non xanh nõn mướt và mềm như lụa. Những chiếc lá vàng đong
đưa chờ ngày rụng xuống lòng đất để rồi luân chuyển
trở lại vào thân cây. Cây y lang khỏe mạnh sởn sơ. Ít lá
nhưng chiếc nào cũng xanh và cứng cáp. Còn cây gạo thì lớn
mạnh trông thấy. Lá đã ra đầy và tàng lá làm nên một
chiếc dù nhỏ che nắng trên cao. Chỗ này thiền đường chưa
được làm mà tôi như đã thấy một cây bồ đề cổ thụ
che mát sân, một cây gạo đỏ rực hoa của ngày hè nắng
gắt, và mùi hương của hoa y lang thoảng khắp nơi. Cho nên
có những ngày thiền hành ngồi chơi quanh cây bồ đề, tôi
nhắm mắt lại và có cảm tưởng mình đang ở trong thiền
đường rồi. Còn những chuyện giấy tờ xây cất, chi phí
tài chánh, thủ tục luật lệ chỉ là những trò chơi của
thế gian mà không có không được, nhưng không phải là cần
thiết đến mức phải có rồi tôi mới có hạnh phúc. Vậy
chứ đôi lúc quên, mình vẫn bị kéo vào cơn lốc thế sự
như thường.
Hàng
tiêu xanh dẫn lên Yên Tử rất sởn sơ. Mỗi lần đi ngang,
nhìn những chiếc lá non mọc từ thân cây, gần dưới gốc
là tôi lại nhớ tới Thầy và bài học ‘tỉa cây’. Trong
thời gian ở Lộc Uyển sáng nào Thầy cũng đi thiền hành
thật sớm với thị giả, có khi Thầy ghé ngang xóm Trong Sáng
rủ chúng tôi đi cùng. Có ngày Thầy cầm theo kéo tỉa cây
và tỉa những cành non mọc dưới thấp, ‘để cây dồn sức
cho mau lớn’. Những cành con được tỉa đi thì cây mọc
thẳng và mạnh khỏe hơn, cũng như trong đời sống hàng ngày
mình nên dồn năng lượng cho những gì thật sự là cần thiết
và ‘tỉa bớt’ đi những âu lo vô ích thì chắc mình cũng
lớn nhanh và vững vàng hơn, bạn hiền có nghĩ như thế không?
Bạn
hiền thân, tôi vừa đi khám bịnh về. Hai tháng nay có những
suy giảm sức khỏe rõ rệt để tôi phải chấp nhận là cơ
thể mình đã đến lúc thay đổi. Ôi bạn hiền, bạn hiền
có biết là những điều mình rủ rỉ cho nhau không ngờ bị
đem lên đài phát thanh đọc? Khi Thầy cho đăng lên Lá Thư
Làng Mai thì tôi có hơi quê một chút, nhưng nghĩ là chỉ có
‘người làng’, thân hữu đọc mà thôi. Tuy nhiên khi ông
bà bác sĩ bảo tôi là họ đã nghe bài viết về Vườn Nai
đọc mỗi tuần trên đài phát thanh thì tôi quê quá chừng.
Mới nhớ tới hồi nào vừa xuất gia, Thầy dạy tôi mình
là của thiên hạ rồi, không có cái gì gọi là riêng tư hết.
Nhớ lời Thầy mà tôi mỉm cười được. Bạn hiền biết
mà, tôi hay thẹn và rất dễ mắc cỡ, rất dị ứng với
những lời khen. Đó cũng là một trong những tâm hành mà mình
phải thực tập vượt qua thì mới mong được an nhiên, nhưng
chắc cũng còn lâu lắm đó bạn hiền. Và bạn hiền cũng
đồng ý với tôi là những lời khen cũng như lớp vỏ bên
ngoài, đâu có giúp tôi đi xa hơn trong đời sống nội tâm?
Tôi
vừa đi qua một cơn bão. Thêm một cơ hội để được quay
lại quán chiếu chính mình. Để thấy rõ hơn thân tâm là
một. Thân không khỏe thì tâm cũng khó giữ được an. Như
chiếc thuyền mà đóng không kỹ thì khi bão tới dễ bị nước
rỉ vào. Nhưng rồi mây cũng tạnh và gió cũng tan. Tôi lại
thấy mình kiên nhẫn đi dọn dẹp lại hầm tàu, vá lại những
nơi bị hư hại. Như bài học quét lá năm xưa. Một bài học
mà cả đời vẫn áp dụng. Lần trước Thầy qua, giảng cho
chúng tôi nghe một bài thơ Thầy mới làm. Tôi họa lại, cho
mình, để tự nhắc nhở. Chép cho bạn hiền nè:
Thầy
vẫn đang đến, đi thong dong
Có,
không, còn, mất, chẳng bận lòng
Bước
chân con theo về thanh thản
Trăng
vẫn soi ngang trời thái không.
Tháng
Bảy