THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Phật Học Cơ Bản
Phật Học Phổ Thông
Phật Học
Tâm Lý Học Phật Giáo
Triết Học Tánh Không

 
.
ĐI NHƯ MỘT DÒNG SÔNG
Nhất Hạnh
Lá Bối xuất bản
Mục Lục
01
02
03
04
 05
6. Một thông bạch quý báu
7. Hội ngộ Long Vương
8. Thư gửi về chùa
9. Ánh sáng đã lọt vào
10. Sư tử núi trở lại 
 

Một Thông Bạch Quí Báu
Con mắt của Nhà Văn Hóa
Sư Cô Chân Không viết 

Thông Điệp Phật Giáo Dân Tộc - Đạo Bụt Hiện Đại được thầy Nhất Hạnh gửi ra vào dịp đầu năm 2002 rất đáng để cho chúng ta chiêm nghiệm và đem ra thực tập. Cùng với một số các thầy và các Sư Cô ở Làng Mai, tôi đã từng được dịp gần gũi và lắng nghe thầy chúng tôi tâm sự về đề tài Phật Giáo Dân Tộc - Đạo Bụt Hiện Đại nên tôi viết những dòng này để chia sẻ với các bạn thêm về những gì tôi đã được học hỏi. 

1- Một nhà văn hóa

Điều trước tiên mà tôi muốn nói là tuy bề ngoài nhiều người nghĩ rằng thầy Nhất Hạnh là một bậc đạo sư hay một nhà truyền giáo, kỳ thực, nếu thâm cảm được tâm ý Thầy, ta sẽ thấy Thầy trước hết là một nhà văn hóa. Thầy Nhất Hạnh không còn bị hạn chế bởi những ranh giới chủng tộc và tôn giáo nữa. Thầy như một con cá bơi lội thảnh thơi trong mọi nguồn nước dù đó là sông hay là biển. Thầy có cái nhìn xa của một nhà văn hóa và vì vậy không có thái độ chật hẹp của một kẻ cố chấp và giáo điều chỉ biết nghĩ tới những cái lợi trước mắt. 

2- Bản chất văn hóa độc lập

Ai đã đọc sách Thiền Sư Tăng Hội của thầy Nhất Hạnh đều đã thấy Thầy nêu rõ vị trí địa dư và văn hóa của bán đảo Ấn Độ Chi Na. Ngày xưa, trước khi văn hóa Trung Quốc đi vào thì người dân nước Việt Nam đã chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Từ thiên văn, niên lịch, kiến trúc, y khoa cho đến phong tục, canh nông, ăn uống, hôn lễ, tang tế, ta đều theo Ấn Độ. Nhưng từ khi nội thuộc nhà Hán, ta bắt đầu tiếp nhận văn hóa Trung Hoa. Dần dần ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc lấn lướt ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Ngày xưa có cả trăm bộ tộc có tên Việt gọi là Bách Việt. Vậy mà hầu hết các bộ tộc Việt đều đã bị đồng hóa, kể cả Mân Việt. Vậy mà chỉ có bộ tộc Lạc Việt duy trì được bản sắc của mình mà không bị đồng hóa để rồi sau nầy gọi là Nam Việt. Núi sông hiểm trở đã đóng một vai trò nào đó cho sự ngăn cản bị đồng hóa. Yếu tố văn hóa, tuy vậy, là yếu tố quyết định. Vì vậy giữ được bản chất văn hóa độc lập là công việc thiết yếu nhất của dân tộc ta. Phải làm sao cho có sự thăng bằng giữa hai yếu tố văn hóa Ấn Độ và văn hóa Chi Na thì người Việt mới duy trì được một nền văn hóa độc lập. Đó là cái thấy của tổ tiên ta và cũng là cái thấy của thầy Nhất Hạnh. Phải nhìn công tác của thầy Nhất Hạnh dưới ánh sáng của nhận thức này ta mới hiểu được thâm ý của Thầy. 

Trong sách Thiền Sư Tăng Hội Thầy nhắc rằng chữ Giao trong địa danh Giao Châu có nghĩa là giao tiếp. Đất nước ta là nơi giao tiếp của hai nền văn hóa lớn, đó là văn hóa Ấn Độ và văn hóa Chi Na. Nhờ tổng hợp được hai nền văn hóa ấy mà ta có được một bản sắc văn hóa riêng, và trên cơ bản đó ta có thể tiếp thu được tinh hoa của những nền văn hóa khác. Thầy viết: ‘‘Nếu trong quá khứ, đất nước ta đã đóng được vai trò giao lưu văn hóa thì tại sao trong hiện tại và tương lai ta lại không tiếp tục được vai trò này? Ta có thể đóng góp được lớn lao cho văn hóa nhân loại nhờ vai trò lịch sử ấy’’. Câu nói này rất quan trọng. 

3 -Thăng bằng văn hóa

Khi viết sách Hương Vị Của Đất (tức là sách Văn Lang Dị Sử) năm 1966, thầy đã tạo được sự thăng bằng của các thần thoại liên hệ tới nguồn gốc và sự diễn biến của dân tộc và văn hóa Việt Nam. Thầy đã loại bớt các yếu tố có gốc rễ Trung Quốc trong các thần thoại ấy (ví dụ chuyện vua Thần Nông) và phục hồi lại những yếu tố có gốc rễ Ấn Độ đã bị lãng quên. Ai có đọc Văn Lang Dị Sử chắc cũng đã thấy những nhân vật như công chúa Sita, những hình ảnh như chim đại bàng Garuda và thủy quái Maraka xuất hiện trở lại trong các thần thoại. Trong chuyện Trọng Thủy Mỵ Châu, khi vua Thục An Dương Vương bị giặc đuổi tới đường cùng, và thần Kim Quy rẽ sóng cho vua đi vào thủy cung, ai cũng thấy là không phải vua Thục An Dương Vương đã giết công chúa Mỵ Châu vì nàng đã quá nghe lời Trọng Thủy mà chính là vì công chúa đã quá hối hận mà tự rút gươm của vua cha đeo bên mình để tự tử. Trong tinh thần văn hóa dân tộc, chưa từng có chuyện cha giết con để trừng phạt bao giờ. Sách Văn Lang Dị Sử (Hương Vị của Đất) đã chứng tỏ rằng từ 1966 thầy đã có chủ ý phục hồi lại sự thăng bằng giữa các yếu tố văn hóa Ấn Độ và Chi Na trong nền văn hóa Việt Nam. 

4 - Danh từ Bụt

Từ những năm 1970, Thầy đã bắt đầu dùng từ Bụt để thay thế cho danh từ Phật trong nhiều trường hợp. Trong các danh từ Hán Việt, từ Phật vẫn còn được Thầy sử dụng, như Phật giáo, Phật học, Phật tính, Phật tử, v.v.. nhưng từ Bụt như một từ Nôm đã được Thầy sử dụng trong tất cả mọi trường hợp khác. Ví dụ: ‘Bụt gọi thầy A Nan’ hoặc ‘Thầy Xá Lợi Phất lên gặp Bụt’. Dân tộc ta đã từng gọi Buddha là Bụt ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất của Tây lịch và vẫn còn sử dụng từ ấy cho đến ngày nay trong văn chương truyền khẩu. Phát âm ‘Phật’ là do ảnh hưởng Trung Quốc, và ta chỉ bắt đầu phát âm như thế từ lúc quân nhà Minh sang xâm chiếm nước ta. Chính thầy Khuy Cơ, cao đệ của thầy Huyền Trang cũng đã từng nói rằng Buddha phiên âm là Bột mới đúng, phiên âm thành Phật là sai. Nhận thức ấy đến hơi trễ, thành ra người Trung Quốc không sửa sai lại kịp (*). Không có lý do gì mà một dân tộc phải đi theo sự sai lầm của một dân tộc khác. Các dân tộc khác trong vùng đều phát âm Buddha là Bụt như Thái Lan, Nhật Bản, Miến Điện, Tây Tạng, v.v.. Thầy nói sử dụng cách phát âm Bụt không có nghĩa là mình không còn sử dụng những danh từ Hán Việt có chữ Phật, và như vậy ta chỉ là làm giàu thêm cho tiếng Việt. Ví dụ ta có thể sử dụng cả hai danh từ tâm Bụt (tâm Bụt không đâu không từ bi) và Phật tâm (Phật tâm vô xứ bất từ bi). Mãi đến thế kỷ thứ mười bốn, dân ta vẫn còn sử dụng danh từ Bụt trong văn chương bác học, như vua Trần Nhân Tông đã sử dụng trong các bài phú Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca. Chúng ta chỉ mới bắt chước người Trung Quốc phát âm chữ Phật từ sau đó, nghĩa là chỉ mới sáu trăm năm. Chỉ mới trôi qua hai chục năm từ ngày ta sử dụng âm Bụt trở lại mà danh từ này đã trở thành sống động, mọi người nghe đã quen tai và cảm thấy rất gần gũi với Bụt khi nghe và sử dụng lại cách phát âm này. 

5- Nghi Thức Tụng Niệm bằng Quốc Văn

Những bài tụng niệm bằng chữ Nôm đã được sáng tác từ khi chưa có chữ quốc ngữ. Trong thời Pháp thuộc, các hội Phật giáo cũng đã cho lưu hành những bài tụng như bài ‘Đệ tử kính lạy’. Từ năm 1949, thầy Nhất Hạnh đã làm bài ‘Phòng Hộ Chuyển Hóa’, nghĩa là cách đây đã 52 năm. Bây giờ đây ta đã có sách Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000 toàn bằng Quốc Văn với mười bốn nghi thức tụng niệm bằng tiếng Việt. Ta lại có sách Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn với rất nhiều nghi thức và kinh văn cũng toàn bằng tiếng Việt. Các nghi thức này đã được nhiều chùa trong nước bắt đầu áp dụng. Một số các chùa khác cũng đang rất muốn áp dụng nhưng còn hơi ngại ngùng. Thông Điệp Phật Giáo Dân Tộc - Đạo Bụt Hiện Đại Hóa năm 2002 khuyến khích chúng ta nên đem áp dụng ngay Thiền Môn Nhật Tụng năm 2000 vào các thời công phu sớm và tối. Ta nên thấy đây không phải là một công tác hành đạo mà còn là một công tác văn hóa để bồi đắp thành trì văn hóa dân tộc. Tụng niệm bằng tiếng Việt không những giúp ta hiểu được ý kinh rõ ràng mà còn là một công tác văn hóa để bồi đắp và phát triển nền văn hóa dân tộc trong lòng tuổi trẻ, bởi vì tuổi trẻ sẽ hiểu và sẽ ham chuộng sự thực tập nếu ta cống hiến được cho họ những tư liệu học hỏi và học tập bằng quốc văn. 

6 - Thiền sư Tăng Hội là sơ tổ của Thiền Tồng Việt Nam

Thiền sư Tăng Hội là một sơ tổ của Thiền Tông Việt Nam và của cả Giáo Tông Việt Nam. Điều này là một sự thật lịch sử. Thiền sư Tăng Hội đã đóng góp rất nhiều cho nền Phật giáo dân tộc. Ngài đã phiên dịch và sáng tác ở Việt Nam trước khi đi sang Trung Quốc (nước Đông Ngô thời Tam Quốc) để truyền đạo. Hồi đó chưa có người Hán nào được phép xuất gia làm sa môn. Thầy Tăng Hội là vị thầy đầu tiên truyền giới tỳ kheo cho người Trung Quốc. Thầy Tăng Hội lớn hơn tổ Bồ Đề Đạt Ma cả ba trăm tuổi. Tạc tượng Thiền Sư Tăng Hội để thờ ở các chùa Việt Nam không phải chỉ là một hành động kính ngưỡng và tri ân mà còn là một hành động xây dựng và củng cố nền văn hóa dân tộc. Xin các bạn đọc lại sách Thiền Sư Tăng Hội (Nhà xuất bản An Tiêm). Sách này cũng đã được xuất bản bằng tiếng Anh (nhà xuất bản Parallax, Berkeley, CA, USA) với tựa đề: Thiền sư Tăng Hội, vị thầy dạy thiền đầu tiên ở Việt Nam và Trung Quốc (Master Tăng Hội, the First Zen Teacher in Vietnam and China). 

7 - Pháp môn Làng Mai

Thiền đường của Làng Mai và của tất cả các chùa và các tăng thân liên hệ được thiết trí rất khác các thiền đường Trung Quốc. Các thiền đường Trung Quốc ít có cửa sổ mở ra ngoài, và thiền sinh ngồi trên bục cao. Các thiền sinh ở đạo tràng Mai Thôn (Pháp), Phong Lâm và Lộc Uyển (Hoa Kỳ) cũng như Trăng Rằm (tổ đình Từ Hiếu, Huế) đều được thiết trí với rất nhiều cửa sổ mở ra thiên nhiên, và thiền sinh ngồi ngay dưới sàn thiền đường, xoay mặt ra ngoài chứ không ngồi trên sập gỗ và xoay mặt vào trong. Ngồi trong những thiền đường như thế, ta tiếp xúc được với thiên nhiên, tâm tư thanh thoát dễ chịu, pháp lạc đến với ta rất dễ dàng. Ngồi trên tọa cụ đặt thành từng hàng trên sàn thiền đường, xoay mặt về phía các cửa sổ, các thiền sinh cảm thấy rất thoải mái và hạnh phúc. Cách ngồi sàn rất gần với truyền thống Phật giáo Ấn Độ. Ngày xưa, Bụt và các thầy cũng thường ngồi ngoài trời, rất gần với thiên nhiên. Chốn thiền lâm được gọi là A Lan Nhã. Cách ngồi ăn cơm quá đường cũng thế. Chúng ta ngồi kiết già trên tọa cụ để cúng dường, xuất sanh, lưu phạn và ăn cơm, rất thoải mái và an lạc như trong thời của Bụt. Cách thức lấy cơm vào bình bát được thực hành theo kiểu tự trợ (self service) không cần một đội tri đường tiếp trợ như ở các Ngũ Quán Đường bên Trung Quốc. Cách của ta tiện lợi, đơn giản và dễ chịu hơn nhiều và cho phép mọi người trong tăng thân được tham dự không sót người nào. 

8 - Khuynh hướng tổng hợp

Đạo Bụt Việt Nam đã có khuynh hướng tổng hợp ngay từ thời khởi thủy. Thiền sư Tăng Hội giảng giải và thực tập các kinh thiền nguyên thủy với tinh thần đạo Bụt đại thừa. Ví dụ ngài nói: ‘‘An ban là đại thừa của chư Bụt để cứu độ chúng sinh đang lênh đênh chìm nổi’’. Khuynh hướng thống nhất các hệ phái Phật giáo đã có ngay từ đầu trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tới đời Trần, tất cả các thiền phái Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường đều đã được thống nhất với thiền phái Trúc Lâm. Đời Trần, ta có quốc sư Nhất Tông đại diện cho khuynh hướng thống nhất ấy. Các thiền phái Việt Nam từ đó đã đi vào cùng một dòng thiền duy nhất mà ta có thể gọi là Phật Giáo Nhất Tông. Các thiền phái Lâm Tế và Tào Động sau này từ Trung Quốc truyền qua Việt Nam cũng đã chảy vào dòng sông lớn ấy. Cận đại, ta thiếp lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cũng là để tiếp nối tinh thần ấy mà thôi. Phật Giáo Thống Nhất cũng như Phật Giáo Nhất Tông chỉ là một. Đạo Bụt Đại Thừa và dạo Bụt Nguyên Thỉ cũng nằm trong một tổ chức giáo hội, đều này là một nét đặc thù của Phật Giáo Việt Nam. Đó là một đặc tính văn hóa của dân tộc ta, một trong những đặc tính làm nên một nền văn hóa độc lập với phương Bắc. Sách Đường Xưa Mây Trắng sử dụng tài liệu các kinh nguyên thỉ trong tinh thần đại thừa cũng thể hiện được ước muốn và đường lối ấy của văn hóa dân tộc. 

9 - Đem đạo Bụt Đại Thừa về tắm suối nguồn Phật Giáo Nguyên Thỉ

Pháp môn tu tập của chùa tổ, của các đạo tràng Mai Thôn, Thanh Sơn, Rừng Phong, Lộc Uyển và của gần một ngàn tăng thân được thiết lập ở Âu châu, Mỹ châu, Úc châu và Á châu cũng phản chiếu tinh thần tổng hợp ấy giữa Đại Thừa và Nguyên Thỉ. Thông điệp năm 2002 kêu gọi chúng ta phối hợp tinh thần Thiền và Tịnh cũng đi trên đường lối ấy. Các pháp môn thiền thở, thiền đi, thiền ngồi, thiền lạy, thiền chấp tác đã đưa đạo Bụt Đại Thừa về tắm ở nguồn suối Phật Giáo Nguyên Thỉ và đã tạo nên một nguồn sinh khí mới cho sự thực tập không những ở tại Tây phương mà còn ở các nước Á Đông nơi thầy đã có dịp đi qua giảng dạy như Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản và Triều Tiên. Hiện giờ sách vở và băng giảng về các pháp môn thực tập này đang được phổ biến rộng rãi ở các nước ấy. 

10 - Bước tiến của đạo Bụt Trung Quốc

Sau hơn bốn mươi năm Cách Mạng Văn Hóa, Phật giáo Trung Quốc nay đã có cơ hội tổ chức và xây dựng trở lại. Người trẻ lại được xuất gia, chùa tháp lại được xây dựng. Đứng về phương diện hình thức đạo Bụt Trung Quốc đang đi những bước tiến vĩ đại: chùa tháp được xây dựng lại nguy nga, khách xá của tự viện tiện nghi không kém những khách sạn bên ngoài. Nhiều Viện Phật Học đã mở cửa. Đạo Bụt miền Bắc Việt Nam nhờ thế cũng đã được thừa hưởng chút ít. Nhưng đứng về phương diện nội dung thì sự thực tập vẫn nằm trong phạm vi tín ngưỡng (devotion) và hình thức. Đạo Bụt chưa chinh phục được giới trẻ, trí thức và giới cán bộ, tại vì giáo lý và phép hành trì không khế hợp với căn cơ thời đại. Phật tử tới chùa chỉ biết đốt hương, tụng kinh và cầu nguyện. Tuy các thầy, các sư cô có thuyết pháp giảng dạy, tuy tại các tổ đình thỉnh thoảng cũng có tổ chức các thiền thất, nhưng sự giảng dạy và thực tập này quả thực chưa hoặc không thỏa mãn được những nhu yếu của quần chúng, nhất là giới trí thức và tuổi trẻ. Đốt hương và cầu nguyện có thể đem lại sự an ủi và xoa dịu bớt khổ đau nhưng phải có những pháp môn hành trì thích ứng mới có thể giải quyết được vấn đề khổ đau. 

11 - Tăng đoàn xuất gia mới có khả năng xây dựng niềm tin

Trong những thập niên qua, thiền sư Nhất Hạnh đã dành rất nhiều công phu và năng lượng để xây dựng một tăng đoàn xuất gia có khả năng gây được niềm tin cho giới trí thức và trẻ tuổi. Tăng đoàn này biểu lộ được sự thực tập giáo lý mà Thầy giảng dạy, là mẫu mực sống động cho giáo lý ấy, từ bước chân, hơi thở, nụ cười cho đến tình huynh đệ và sự chuyển hóa. Những khóa tu của Thầy tổ chức tại Âu châu, Mỹ châu, Úc châu, Ấn Độ và Trung Quốc và các nước Á châu khác đã chứng tỏ đạo Bụt có thể đáp ứng được nhu yếu của thời đại mới. Sự thành công này nhờ ở tăng đoàn mà sự có mặt được xem như là một sự chứng minh về khả năng hiện đại hóa của đạo Bụt. Thật vậy, nếu thầy Nhất Hạnh chỉ đi Trung Quốc hay đi Mỹ một mình thì dù các bài thuyết giảng của Thầy có hay cách mấy đi nữa cũng không đủ để đem lại niềm tin tưởng của tứ chúng bên các nước ấy. Sở dĩ những khóa tu đó thành công rực rỡ, đó là nhờ một phần lớn ở sự có mặt của tăng đoàn. Tại Hương Cảng chẳng hạn, giới Phật học rất muốn chứng minh cho xã hội biết là đạo Bụt rất hay, rất thích hợp với thời đại mới, và họ đã giảng thuyết, viết báo và viết sách để làm chuyện ấy. Nhưng những cố gắng này không đem lại được kết quả nào đáng kể, bởi vì khi tới chùa người ta chỉ thấy sự thực tập cúng lễ và cầu xin. Cho nên công trình xây dựng một tăng thân hiện đại có khả năng giảng dạy và hướng dẫn tu học cho giới trẻ và giới trí thức, giúp họ chuyển hóa khổ đau và tìm được hướng đi tâm linh là việc căn bản nhất mà chúng ta phải làm trong thời điểm này. Sự có mặt của một tăng thân rất hiện đại, có hạnh phúc, có thương yêu, có đoàn kết, có khả năng tổ chức và hướng dẫn tu tập, giúp người chuyển hóa khổ đau, hòa giải lại được với bản thân, với gia đình và với xã hội là công trình xây dựng cấp thiết nhất ở Việt Nam, ở Trung Quốc hoặc ở bất cứ một nước nào khác. Trong suốt ba mươi năm hành đạo tại Tây phương, Thầy và tăng đoàn đã cung hiến những giáo lý và những phép thực tập thích ứng với những nhu cầu của xã hội mới, những giáo lý và những pháp môn này có thể đem áp dụng để hiện đại hóa đạo Bụt một cách tích cực và dễ dàng. Học hỏi và thực tập như thế nào để hoa trái hạnh phúc và giác ngộ có thể được thu lượm mỗi ngày, trong tăng thân xuất gia cũng như tại gia, trong các khóa tu cũng như trong các ngày quán niệm. Đó là vấn đề căn bản. Và lịch sử đạo tràng Mai thôn đã chứng minh rằng đây là một điều có thể làm được. Thông bạch Phật giáo Dân Tộc và Đạo Bụt Hiện Đại không phải là một mơ ước suông. Đây là một thông điệp bằng vàng, có thể thực hiện ngay được với những vốn liếng hiện có của truyền thống. Chúng ta hãy tổ chức học hỏi hằng ngày và hằng tuần về thông bạch này để có thể đem đạo Bụt vào thế kỷ mới như một cống hiến lớn lao của nền văn hóa Việt Nam cho nền văn minh thế giới. 

Chú thích:

 (*)

Đại sư Khuy Cơ, cao đệ của Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang, đời Đường, trong sách Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương, quyển thứ sáu, có nói ‘Bột Đà (Buddha) là tiếng Phạn, gọi tắt một cách sai lầm là ‘Phật’( Phạn Vân Bột Đà, ngoa lược vân Phật)’ 
 
 

HỘI NGỘ LONG VƯƠNG
Thầy Nhất Hạnh 

Đó là ngày 11.05.01, tôi đang ở tịnh thất Tùng Bút tại tu viện Lộc Uyển, miền Nam tiểu bang California Mỹ quốc. Buổi sáng các Thầy, các sư chú trên Xóm Vững Chãi và các sư cô dưới Xóm Trong Sáng đều được mời đến tịnh thất Tùng Bút để ngồi thiền với tôi, thay vì ngồi ở các thiền đường trong xóm. Các vị đến vào lúc năm giờ. Trước đó tôi đã đi đốt lò củi và đun nước sôi pha trà. Thầy Giác Thanh đã có cất chứa những khối củi ép có nhựa thông, thành ra đốt lò sưởi rất dễ và rất mau. Thất Tùng Bút nằm giữa hai xóm. Buổi ngồi thiền này chỉ là một trong những buổi thầy trò ngồi chung để có thêm năng lượng, để cảm thấy sự có mặt của nhau, bên nhau. Sau buổi thiền ngồi, chúng tôi còn ngồi với nhau thêm nửa giờ nữa để cùng góp ý kiến làm sao cho trong tăng thân có thêm hòa điệu và hạnh phúc. 

Sáng hôm ấy vị thị giả của tôi là sư cô Kristin (Thường Nghiêm), hồi đó còn là một vị sa di ni. Sư cô là người Hoa Kỳ. (Sư cô mới được thọ giới lớn tại Đại Giới Đàn Kỷ Nguyên Mới tổ chức từ ngày 16 đến ngày 22 tháng chạp năm 2001). Sư cô cho biết ngày hôm nay sẽ là một ngày mà tôi phải tiếp nhiều khách. Những vị khách đầu tiên là một đội quay phim từ NewYork tới. Mình đã hứa với họ năm ngoái là sẽ để cho họ đến phỏng vấn khi mình đến Hoa Kỳ. Chủ ý của họ là làm một cuốn phim lấy tên là The Living Buddha, nói về lịch sử đức Bụt và lịch sử đạo Bụt. Và họ muốn Thầy đại diện nói lên được tiếng nói của đạo Bụt dấn thân, đạo Bụt hiện đại hóa. Tôi vừa đi thiền hành từ đồi Yên Tử về thì đã thấy họ đến tự bao giờ, đang sắp đặt máy móc, ánh sáng và các trần thiết căn bản. Tôi bảo thị giả mời họ đi thiền hành một vòng trước khi ngồi xuống để bắt đầu cuộc phỏng vấn. Ban đầu vị thị giả và tôi nhận thấy rằng họ đã miễn cưỡng mà nhận lời đi thiền hành. Họ sợ mất thì giờ; đường sá xa xôi, họ lại từ vùng Đông Bắc tới. Nhưng sau khi được hướng dẫn và đi thiền hành được một vòng thì họ có được sự bình an. Họ được lây cái bình an của chúng tôi. Họ có được cái bình an trong hơi thở và bước chân họ. Tôi nghĩ cái sẽ làm cho họ nhớ nhất trong chuyến đi này của họ là buổi đi thiền hành chứ không phải là buổi phỏng vấn. Buổi phỏng vấn kéo dài tới hai giờ đồng hồ, đưa lại cho họ nhiều thỏa mãn, nhiều hơn là họ từng mong ước. 

Tôi được nghỉ ngơi khoảng chừng nửa giờ trước khi đi thọ trai. Hôm ấy hai xóm ăn cơm chung trên trai đường của Xóm Vững Chãi. Vào khoảng ba giờ chiều, tôi lại phải tiếp đài NBC địa phương. Sau đó, tôi lấy nón lá và bảo vị thị giả cùng đi thiền hành với tôi lên đồi Yên Tử. Đồi Yên Tử là ngọn đồi đã được tăng thân chọn để xây một tháp chuông, theo mẫu của tháp chuông chùa Thiên Trù trên núi Hương Tích. Thầy Pháp Dung đã vẽ đồ án của ngôi tháp, nhưng cho đến bây giờ vẫn chưa xin được giấy phép làm tháp chuông. Chúng tôi dự tính trồng cỏ và làm vườn sỏi trên đồi, chung quanh tháp chuông, để sau này mỗi khi đi thiền hành lên trên ấy thì có thể ngồi xuống tĩnh tọa nửa giờ trước khi đi về. Các thầy và các sư cô ở Lộc Uyển đã trồng hàng trăm cây tiêu California (Californian pepper trees) để có bóng mát từ dưới đỉnh đồi đi lên. Các cây tiêu này đang lớn rất nhanh, và cành lá rất xanh tươi dù trong những tháng hè khô và nóng bức. 

Lên tới Yên Tử, tôi đi đến chiếc võng giăng giữa hai cây tùng sát vào vách núi đá, ngồi lên võng, bỏ guốc ra và đưa hai chân trọn lên võng. Sư cô Thường Nghiêm ngồi dưới một gốc tùng phía đầu võng. Bỗng sư cô nói, giọng rất trầm tĩnh: "Thưa thầy, có một con rắn nằm ngay dưới võng thầy." Tôi quay đầu lại phía trái nhìn xuống, và thấy liền con rắn. Con rắn này dài khoảng 1m20, có màu vàng nhạt và đen nhạt. Hai mầu này tiệp với màu lá cây và màu đất thành thử tôi đã không trông thấy khi ngồi xuống võng. Sư cô Thường Nghiêm nhặt một cành cây khô đẩy về phía đuôi con rắn, tạo ra tiếng xào xạc để con rắn bò đi. Nhưng con rắn không đi. Sư cô lấy cành cây khô chạm vào đuôi rắn và ẩy nó đi, nó cũng không đi. Rồi sư cô nói bằng tiếng Anh: "Bạch thầy, con rắn này rất thích nằm bên thầy nên nó không chịu đi" (Thầy, the snake likes your presence, it does not want to go.) Tôi nói: "Vậy thì con cứ để yên cho nó." Lúc ấy là vào khoảng bốn giờ chiều, trời còn nắng. Chiếc nón lá rộng vành của tôi được đặt gần đôi guốc của tôi, chỉ cách con rắn có mười phân tây. Võng của tôi cũng cách mặt đất, phía trên con rắn chừng hai mươi phân tây. Tôi nằm rất yên, sư cô Thường Nghiêm cũng ngồi rất yên. Gió chiều bắt đầu mát. Bỗng sư cô Thường Nghiêm nói: "Hồi lễ Giáng Sinh năm ngoái, con có làm được một bài hát. Thầy có muốn con hát bài đó cho thầy nghe không?" Tôi nói: "Con hát đi, và hát cho con rắn nghe nữa." 

Sư cô Thường Nghiêm hát: Rivers flow through me, sunshine is my morning tea. Body - harmony, feelings - clouds in the sky, perceptions - stones on the road, mental formations - birds are singing, singing songs of freedom, freedom, consciousness - deep blue sea wash over me...

Sư cô Thường Nghiêm hát xong bài hát, tôi hỏi: "Con rắn còn nằm dưới lưng thầy không con?" Cô trả lời: "Nó còn nằm nguyên trong vị trí cũ, thưa thầy. Nhưng con thấy cái đuôi nó có vẫy lên vẫy xuống, giống như nó đang thích bài hát và đánh nhịp theo bài hát vậy." Tôi nói: "Vậy thì con hát lại một lần nữa cho nó nghe đi." Tôi nằm thật yên. Sư cô Thường Nghiêm cũng ngồi thật yên, về phía đầu võng. Con rắn cũng nằm yên. Trời rất dễ chịu. Buổi sáng chúng tôi đã thức dậy cùng đại chúng lúc bốn giờ rưỡi sáng, đã ngồi thiền, pháp đàm, đi ăn sáng, đi thiền hành, trả lời cuộc phỏng vấn dài hơn hai tiếng đồng hồ, đi ăn cơm chánh niệm với đại chúng trên xóm Vững Chãi, và chưa được nghỉ ngơi gì thì đã phải trả lời cuộc phỏng vấn của đài NBC. Đây thật sự là giờ nghỉ ngơi của chúng tôi. Và có một chú rắn khá lớn cũng đang nghỉ ngơi với chúng tôi. Chú rắn này không phải là rắn rung chuông nhưng theo sư cô Thường Nghiêm cũng không phải là rắn hiền. Cô cho biết ngày xưa cô thường sợ rắn, nhưng bây giờ thì cô không còn sợ nữa, và có thể xem rắn như tất cả các loài động vật khác, cũng biết đói và biết sợ như những loài vật khác. Chỉ cần có ý tứ để khi đi đừng đạp lên nó thì không sao. 

Khoảng nửa giờ sau, sư cô Thường Nghiêm cho biết là con rắn bắt đầu di động. Nó bò đi rất chậm, mỗi phút nó di chuyển chỉ được một phân tây. Tôi tiếp tục nằm thở và tiếp xúc với cây với đá với nắng trên đồi Yên Tử. Tôi tự nhủ: để cho chú rắn leo vào trong núi đá rồi thì thòng chân xuống quơ guốc đi về. Nhưng chỉ độ chừng mười lăm phút sau đã có tiếng chuông báo chúng từ xóm Vững Chãi vọng lên. Các thầy các sư chú dưới ấy đã đến giờ dùng cơm chiều. Tôi nhìn xuống thì thấy chú rắn đã bắt đầu băng ra phía núi. Thân sau của chú còn nằm dưới võng nhưng thân trước của chú đã hướng về tảng đá. Tôi nói: "Mình phải về ăn cơm. Tối nay còn phải gặp tăng thân San Diego nữa." Hai thầy trò tạm biệt chú rắn, tạm biệt đồi Yên Tử với cái yên lặng nhẹ nhàng và sinh động của đá, của cây, của mây, của trời nơi này. Nắng đã hết. Tôi cầm chiếc nón trong tay. Hai thầy trò xuống núi. 

Sau buổi tiểu thực cùng đại chúng hai xóm tại nhà ăn xóm Vững Chãi, về tới nhà Tùng Bút, chúng tôi đã thấy tăng thân San Diego có mặt đông đủ trong phòng khách. Có khoảng ba mươi vị, hai phần ba là người Hoa Kỳ. Tất cả những vị chủ chốt trong ban nhiếp chúng đều có mặt. Tăng thân này đã được thành lập trong quá trình tổ chức buổi thuyết giảng tại San Diego ngày mai, tức là ngày 12.5.01. Đề tài buổi giảng là Cultivating Peace in Ourselves and our Communities. Tôi được báo tin là ngày mai thính giả sẽ đông lắm. Ban điều hành tăng thân làm việc rất siêng năng, luôn luôn tổ chức những buổi họp để kiểm điểm và để lấy thêm sáng kiến mới. Trong quá trình làm việc, các bạn đã mời được nhiều bạn mới, và tất cả đều đồng ý là việc tổ chức buổi giảng có thể được sử dụng như một cơ hội để đến với nhau, làm thân với nhau và tu tập cùng nhau. 

Tối nay nói chuyện với tăng thân San Diego, tôi có dịp kể lại chuyện chúng tôi gặp chú rắn trên đồi Yên Tử. Thầy Pháp Dung mấy hôm trước đây có kể cho chúng tôi nghe là một hôm lật một tảng đá lớn ở lưng đồi xóm Vững Chãi, mấy người thợ gốc Mễ Tây Cơ thấy một con rắn khá lớn nằm núp dưới tảng đá. Họ định giết con rắn, nhưng thầy Pháp Dung ngăn lại. Cuối cùng họ giúp con rắn trở về núi rừng. Tôi nói có lẽ con rắn mà tôi đã gặp chiều hôm nay dưới võng chính là con rắn mà thầy Pháp Dung đã cứu. Nó đã tìm tới tôi để tỏ lòng biết ơn tăng thân Lộc Uyển. Từ ngày về tới núi rừng Escondido, chúng tôi đã hết lòng bảo vệ cho các loài sinh vật cư trú tại đây. Trước đó, khi Vườn Nai còn để hoang, người ta thường hay lên đây để săn bắn, giết chóc. Tuy vùng núi này gọi là Deer Park mà chẳng thấy còn bóng dáng của một chú nai nào. Cảnh sát trong quận thường hay lên đây tập bắn. Họ bắn nát hết, kể cả những tấm bảng bằng sắt chỉ đường, kể cả tường vách của những căn nhà trống không còn bỏ lại. Trong những tháng đầu khi tu viện mới thành lập, đêm đêm chó rừng (coyotes) thường hay kéo về từng lũ hàng trăm con, bao quanh cư xá các vị xuất gia và tru lên. Đã lâu quá rồi loài người chỉ lên đây để phá phách và tàn sát. Bây giờ có người lại lên đây để ở. Các loài sinh vật trên núi chưa biết cái gì sẽ xảy ra cho họ và cho sinh môi của họ với sự có mặt của những con người mới này. Nhưng từ từ, chúng sinh vật ở Lộc Uyển nhận thấy các thầy và các sư cô rất hiền. Họ không đốn phá cây cối mà còn trồng thêm rất nhiều cây cối. Họ không tàn sát mà còn tìm cách bảo hộ sinh mạng. Họ rất im lặng. Họ tôn trọng khung cảnh thanh tịnh của núi rừng. Họ không bao giờ nổ súng để gieo rắc khủng bố. Họ bước những bước chân thanh tịnh và an lạc. Cũng có thể chú rắn mà chúng tôi gặp trên đồi Yên Tử là một Long Vương, đại diện cho tất cả các loài rắn có mặt trong hàng ngàn mẫu núi rừng trùng điệp ở Escondido, đã đến với tôi để mang tới thông điệp sống chung hòa bình. Chú biết tôi ngày nào cũng đi bộ trên đồi Yên Tử, và mỗi khi lên tới đỉnh đồi thì tôi lại tới ngồi trên chiếc võng mắc sẵn để nghỉ ngơi, cho nên chú đã đến nằm đó sẵn để chờ đợi. Chú đã được sư cô Thường Nghiêm hát cho nghe. Chú đã không chịu đi khi sư cô đuổi. Chú đã được tôi mời ở lại. Và cuộc hội ngộ tuy im lặng nhưng đã rất thân tình. Theo sư cô Thường Nghiêm thì chú rắn này không phải là một chú rắn thuộc về loại hiền. Nhưng hiền hay không hiền, điều đó tùy thuộc vào cách xử sự. Nếu mình có chánh niệm và có lòng từ bi thì mình sẽ được tiếp đãi một cách hiền hậu. Chúng tôi có chánh niệm, chúng tôi có lòng từ bi. Sau thời gian gần hai năm cư trú, tăng thân ở đây, xuất gia cũng như tại gia, đã chứng tỏ là chúng tôi muốn sống an lạc hòa bình với đất đai và dân chúng vùng Lộc Uyển. Các loài chúng sinh ở đây đã cảm nhận được điều đó. Cách đây có một tuần lễ, thầy Pháp Dung cho biết chú nai đầu tiên đã xuất hiện trong vùng đất tu viện. Chúng tôi rất mừng. Mai mốt nai về đông đảo, sẽ cùng nghe pháp với người. 

Tôi viết những dòng này ở Xóm Thượng Làng Mai. Xóm Thượng Làng Mai ở Thenac, ngày xưa, trong thế chiến thứ hai đã là nơi tranh chấp bạo động và đẫm máu. Lính Đức đã cột tay người kháng chiến Pháp và những người bị tình nghi trong vùng là yểm trợ cho kháng chiến và bắn họ bên bức tường đá tọa lạc bên cạnh Ngũ Quán Đường bây giờ. Hồi chúng tôi mới về đây, 1983, oan khí còn đằng đằng. Hai mươi năm đã đi qua từ độ ấy. Ngày nào tăng thân ở đây cũng tập ngồi, tập thở, tập đi thiền hành, lấy năng lượng chánh niệm và từ bi để chuyển hóa tâm thức và môi trường. Thiền sinh đã đến đây tu tập từ ba mươi quốc gia khác nhau. Số người Đức tới tu học rất đông, có khi còn đông hơn người Ý, người Anh và người Thụy Sĩ. Họ đã đến đây không với súng đạn và tâm niệm hận thù mà với ý chí tu tập. Họ đã đi những bước chân vững chãi, thảnh thơi, đã thực tập nhìn kỹ và phát khởi lòng từ bi. Dân chúng các thôn làng quanh đây đã cảm thấy sự chuyển đổi lớn lao đó. Họ cảm thấy năng lượng hòa bình bao trùm cả một vùng này. Mỗi năm có hàng bốn năm ngàn người tới đây tu học. Và ai cũng tới bằng một tâm niệm lành. Cỏ xanh hơn, trời trong hơn, người và vật có thêm rất nhiều từ ái. Đất ở đây đã trở thành đất Bụt. Chúng tôi định đặt tên vùng này là Nam Phương Phật Quốc, dịch tiếng Pháp là Terre Pure du Sud. Các bạn muốn về đất Bụt để rong chơi, ngắm nhìn trăng sao hay mời các vị bồ tát đi thiền hành thì cứ về. Lộc Uyển cũng vậy. Lộc Uyển cũng đã trở thành đất Bụt miền Tây Nam nước Mỹ. Mời quý vị đến Lộc Uyển để làm quen với tăng thân ở đây. Tăng thân ở đây không phải chỉ là người xuất gia và người tại gia. Tăng thân ở đây còn là tất cả các loài cây cỏ, đất đá và chúng sinh. Quý vị sẽ được tiếp đón với lòng ưu ái và kính cẩn. Long Vương vẫn còn ở trên núi. Chúng tôi đã ký một hiệp ước chung sống hòa bình và an lạc trên đồi Yên Tử ngày 11.5.2001. 
 
 

THƯ GỬI VỀ CHÙA
Thượng Tọa Thích Phước Tịnh

Làng Mai ngày 28 tháng 07 năm 2001.

Các cô chú và các Phật tử thân thương,

Thầy định viết thư cho các cô chú sau một tuần về đến Làng, nhưng lần lữa mãi. Hôm nay cuối khóa tu mùa hè ở đây, Thầy sẽ dành một ngày ‘làm biếng’ biên thư cho các cô chú và Phật tử Việt Nam nói một ít về Sư ông, về năng lực của những buổi pháp thoại Sư ông tưới tẩm hạnh phúc chân thực cho mọi người. Cố nhiên Thầy muốn viết rất dài nhưng trời xanh mông mênh mà tay con người bé nhỏ nên không ôm được là bao. Chỉ mong những lời Thầy mang được hơi ấm của Làng Mai về bên ấy để các cô chú và các Phật tử cảm nhận được năng lượng tươi mát ngọt ngào mà phát tâm quy hướng và thực tập, hầu nâng phẩm chất của cuộc sống lên cao. 

Thầy về đến xóm Thượng vào chiều thứ hai ngày 02 tháng bảy. Ngồi trên phi cơ Thầy không hình dung được Làng Mai ra sao, chỉ thả hồn bay bay và nghĩ rằng mình sẽ căng mắt ra nhìn con đường vào Làng cho no, để bù lại bao năm ở quê mơ ước. Thế mà thật xấu hổ! Thầy đã ngủ vùi từ lúc lên xe cho tới khi về đến Làng mới tỉnh. Dĩ nhiên sau đó có dịp đi về xóm Thượng bao lần nhưng đâu còn cái thú của cảm giác tiếp xúc ban sơ. Mùa này ở Làng Mai ngày rất dài. Mười giờ rưỡi tối mà giống như năm giờ chiều của Đà Lạt. Sáng thì như nhau, cũng sáu giờ mặt trời mọc, đẹp, rạng rỡ, ấm áp và an bình. Khí hậu có khi hơi lạnh, rừng sồi hùng vĩ bao quanh xóm Thượng, xanh tươi và không khí trong lành lắm.

Hôm thứ năm tuần đầu tháng, để chuẩn bị vào khóa hè, Sư ông có dạy hai buổi pháp thoại, truyền đạt cách bảo tồn năng lượng và gìn giữ sự tươi mát để tăng thân có thể hiến tặng sự có mặt chánh niệm của mình cho thiền sinh từ nhiều nơi về đây với chúng ta. Khóa mùa hè này sẽ có mặt khoảng 1.600 thiền sinh từ 25 quốc gia về tu tập. Thế nên các thầy, cô ở đây rất bận rộn, rất mệt. Vì vậy giữ gìn cho mình không bị tiêu hao năng lượng vô ích là điều thật cần thiết. 

Tuy chưa sống với đại chúng Làng Mai lâu nhưng Thầy đã cảm nhận là các thầy, các cô nơi đây thật dễ thương. Hồn hậu, tươi mát và thân tình, họ đến và tu tập bên Sư ông hình thành một tăng thân hùng tráng. Có những thầy, cô còn rất trẻ nhưng lý tưởng được nuôi dưỡng vững vàng và sự thiền tập khá là sâu sắc. Học vị văn bằng ở Việt Nam là thứ quý đối với tăng ni, nhưng ở đây không còn là thứ để các thiền sinh kiêu hãnh nữa. những người trẻ mới xuất gia với Sư ông đã sử dụng thông thạo hai ngôn ngữ Pháp và Anh, tiếp xúc thân tình và chia sẻ được nhiều vấn đề xã hội, đạo lý với các thiền sinh Âu Mỹ. Điều đáng quý là các thầy, cô ở đây sống, làm việc, cư xử đạo tình chan hòa; chăm sóc, quý trọng, khích lệ nhau bằng năng lượng của trí tuệ và thương yêu, phẩm chất an lạc hạnh phúc trong họ ngày càng được tưới tẩm. Thầy nghĩ, các cô chú trong những tự viện Việt Nam thực tập được những điều nầy thì nếp sống của tăng đoàn Việt Nam sẽ hưng thịnh. Trong một cái tự viện nhỏ bé của chúng ta, nếu các cô chú có thể thực tập được sự quan tâm, giúp đỡ, thương quý, kính trọng nhau sẽ hình thành một tập thể tu hành dễ thương biết bao nhiêu. Nếu Phật tử đạo tràng chùa chúng ta thực tập được những điều này thì xây dựng được hạt nhân tin yêu cho các đạo tràng Phật tử khác rất nhiều. 

Sau buổi pháp thoại Sư ông ăn cơm cùng đại chúng tại thiền đường chùa Pháp Vân. Nhân buổi này Sư ông giới thiệu các thầy từ Việt Nam mới qua trước đại chúng. Thầy đảnh lễ Sư ông và đại chúng trưa hôm ấy. Sư ông dạy Thầy hãy nói với đại chúng đôi lời. Ôi! Cảm động biết bao trước tấm lòng bao dung, thương yêu và gần gũi của một bậc thầy trác việt và của một tăng thân vững chãi, hùng tráng, hòa ái và bao dung. Các cô chú hãy nghĩ, một người dạy đạo khắp năm châu, đệ tử quỳ bên chân gồm nhiều quốc tịch, bậc đạo sư lớn của đương thời, nhà văn hóa lỗi lạc, được các bậc thầy trong lĩnh vực văn hóa thế giới kính trọng, thế mà thật bình dị trong sắc áo nâu bạc màu và chiếc nón lá Việt Nam thân thương. Người ấy xử sự khiêm tốn, giản đơn và gần gũi quá. Dáng xương xương Người tuy không là gì cả, nhưng quả đây là người Việt Nam cao quý, được anh hoa tú khí của sông núi Đại Việt đúc nên. Bóng mát của Người đổ xuống che cho nhiều thế hệ tương lai của hành tinh này. Dĩ nhiên trong hiện tại hạt trí tuệ thương yêu người gieo từ bốn thập kỷ2 qua đã nảy mầm hình thành một tăng thân Làng Mai hùng tráng. Rồi những người con của Làng Mai hôm nay sẽ vươn ‘cánh tay của Bụt’ xa hơn, kế thừa sự nghiệp gieo hạt yêu thương hiểu biết vào thế giới rộng hơn, và sâu vào nhiều thế hệ hơn. 

Lần đầu tiên được tiếp xúc với Sư ông, thầy nhìn Người thật lâu, thật kỹ để nghe lòng mình sự cảm động bàng hoàng, đi kèm với nỗi niềm tôn kính vô biên. Tuy thầy chưa có dịp cùng tăng thân hầu Sư ông trong những chuyến hoằng pháp châu Âu, châu Mỹ, nhưng bằng vào buổi pháp thoại gần đây - Sư ông giảng cho thiền sinh khai mạc khóa tu mùa hè - đủ để lấy đi mặc cảm dân tộc có mặt nơi thầy. Các cô chú hãy hiểu: chúng ta sinh ra và lớn lên từ một đất nước bé nhỏ, chinh chiến liên miên, đói nghèo và bị trị. Từ đó đã hình thành bao sự nghi kỵ, sợ sệt và nhiều tính cách tiêu cực khác cùng có mặt do hệ quả của lịch sử đau thương. Điều dễ có mặt nơi mỗi người Việt Nam là tính mặc cảm. Hơn thế nữa, dù ta có là người hùng trên quê hương mình thì ta vẫn là người kém văn minh, không là gì cả và sống lạc lõng giữa đất nước bánh mì, rượu vang và pho mát. Nước Pháp đẹp, giàu, văn minh; người dân họ thanh lịch hòa ái, nhất là trẻ con Pháp đẹp như thiên thần và dễ thương kỳ lạ. Trong khi chúng ta tự hào mình có 4.000 năm văn hiến, đạo đức đã thấm nhuần vào cốt tủy con người, thế mà cách hành xử của chúng ta có lẽ không dễ thương hơn người bình dân quanh Làng mà thầy có dịp tiếp xúc. Thế nên thầy trò ta có lẽ tự hào ở lĩnh vực gì khác, nhưng lĩnh vực văn minh, văn hóa hãy khiêm tốn lại. Và hẳn sẽ không có, hoặc hiếm có người Việt Nam nào mơ ước được làm thầy dạy Đạo cho những người ở các nước văn minh. Vậy mà các cô chú ạ! Sư ông nghiễm nhiên là bậc đạo sư được thương yêu quý trọng trong hầu hết các nước châu Âu, châu Mỹ. Chuyến hoằng pháp của Sư ông vừa rồi ở Đức, số lượng thiền sinh tham dự có con số bảy nghìn3, phần lớn họ là những người lớn lên trong truyền thống Kitô giáo. Tuy con số có làm chúng ta ngạc nhiên nhưng sẽ không là gì cả nếu đấy chỉ là hình thức. Việc đáng nói ở đây là sự tu tập chân thành và năng lực chuyển hóa hùng tráng của họ. Những bước thiền hành từ trái tim tràn đầy chánh niệm của Sư ông, hướng dẫn một đoàn người dài như bất tận của thiền sinh Tây phương tu tập. Rồi những bữa ăn im lặng trong thế ngồi tĩnh tại ngoài trời, những buổi pháp thoại trong không gian tĩnh lặng, dù có mặt trên 7000 thính chúng. Dù ở Pháp, ở Đức, ở Mỹ, ở Anh, ở đâu cũng cùng một năng lượng nhiệm mầu. Ôi! Sao mà kỳ diệu và tuyệt vời đến vậy? Người có pháp thần gì làm rung động bao trái tim khác nguồn văn hóa và kiêu ngạo thế kia? Người đã gieo hạt mầm hiểu và thương vào văn hóa Tây phương như thế nào để nở hoa và kết trái như hiện tại? Để người Tây phương biết đến Phật giáo Việt Nam, cúi đầu thấp trước một ông thầy tu Việt Nam mảnh khảnh đến vậy? Dĩ nhiên đấy là một quá trình khai hoang và cày xới bằng... bằng mồ hôi và nước mắt, bằng tất cả máu yêu thương và nhiệt tình sâu lắng của trái tim Sư ông mà thầy không đủ khả năng nói hết. Chúng ta có thể coi đây là một sứ mạng mà chư Phật và chư Bồ tát giao phó cho Sư ông. Tuy rằng sự có mặt của đạo Phật ở Tây phương từ nhiều nguồn chảy đến và cũng không ít thầy tu Việt Nam qua đây hành đạo. Nhưng, chúng ta có thể nói Sư ông mới là người gieo hạt thực sự trên vùng văn hóa xa lạ và đầy kỳ thị với đạo Phật được biểu đạt trong hình thái tín ngưỡng Đông phương. Nếu không phải đạo Phật được làm mới trên cái nền giác ngộ từ đức Thế Tôn chảy qua chư vị tổ sư và được Sư ông vận dụng bằng tuệ giác để đáp ứng và cắm rễ sâu vào vùng văn hóa Kitô giáo, thì nhiều lắm đạo Phật Việt Nam chỉ là chiếc khinh khí cầu bay lửng lơ chiều hạ trên cánh đồng hoa hướng dương nước Pháp mà thôi. Sách vở nói về đạo Phật Việt Nam sẽ không là gì cả, không gây sự chú ý cho ai trên vô vàn sách báo thế giới nói về tôn giáo. Và ông thầy tu Việt Nam chắc sẽ rất lạc lõng, sẽ không là gì cả giữa các xứ sở văn minh. Thế nên, chúng ta nói Sư ông đích thực là người của sứ mạng, cột mốc cho thời điểm lịch sử lớn vì Người đã mang tuệ giác hiểu biết thương yêu của đạo Phật làm sâu lắng lại đời sống hiện thực của lớp người trẻ tuổi Tây phương. Rồi mai đây lịch sử loài người sẽ ghi lại điều này bằng những dòng trang trọng nhất. Người đã bay cao vào không gian lồng lộng, Người không còn là người của quốc gia nào. Tuy nhiên đạo Phật Việt Nam sẽ rất tự hào vì dưa muối khó nghèo quê hương đã sinh ra được một ông thầy tu thế ấy. Đất nước Việt Nam rộng mở sẽ thương quý và trọng ơn Sư ông biết là bao. Hiện tại Người sừng sững đó vươn cánh tay mẹ hiền ôm ấp và nuôi lớn bao thế hệ kế thừa của Làng Mai, như cây sồi lão của Làng rườm rà bóng mát che chở và nuôi dưỡng những cây sồi non đẹp, khỏe đang sức lớn. 

Các cô chú thương! 

Hôm chiều 14 rồi thầy được dự lễ ‘Bông hồng cài áo’ của xóm Trung tổ chức. Buổi lễ không nhiều tiết mục và chỉ có vài mươi người Việt Nam tham dự, thế mà cảm động vô cùng. Hầu như ai có mặt hôm ấy cũng nghe ấm lòng vì không khí buổi lễ sâu lắng và trang nghiêm. Xóm Thượng, xóm Mới, xóm Hạ cũng đều tổ chức lễ ‘Bông hồng cài áo’ cho thiền sinh Tây phương. Sau đó là phần thực tập 5 cái lạy, để họ nhớ và sống lại với truyền thống văn hóa, huyết thống và tâm linh của mình. Thầy về xóm Thượng muộn màng nên không dự được lễ ‘Bông hồng cài áo’ của thiền sinh Tây phương, chỉ lén nhìn phần thực tập 5 cái lạy của họ đủ đoán ra sự thành công và năng lực chuyển hóa của buổi lễ. Họ trang trọng và thành thiết biết bao. Nhìn họ mà cảm động. Có những người chảy nước mắt trong khi lạy, có những người gọi điện thoại về hàn gắn những đổ vỡ với người thân sau buổi thực tập ‘nhớ ơn’ này. Và rất nhiều gia đình được chuyển hóa. Thầy không biết quyển ‘Bông hồng cài áo’ có bản dịch tiếng Anh chưa, và buổi lễ cho thiền sinh Tây phương quý thầy có đọc cho họ nghe không? Riêng buổi lễ người Việt thì đây là những lời có năng lực đánh động sâu xa vào lòng người nhất. Hôm ấy một cô một chú vừa đọc lời nầy thì nước mắt của thính chúng lả tả rơi. Năm xưa, thuở còn là học tăng thầy đã học thuộc lòng bài ‘Bông hồng cài áo’ để đọc diễn cảm trong dịp lễ Vu Lan. Ngày tháng đi qua hơn 30 năm. Ấy vậy mà lần nào nghe đọc trong dịp lễ Vu Lan cũng bồi hồi xúc động. Các cô chú cũng biết mẹ thầy tuy còn đó nhưng càng ngày càng già hơn, nên hạnh phúc và nỗi sợ của thầy cũng lớn hơn khi nghe lại lời đọc ‘Bông hồng cài áo’. Sư ông viết bài này vào thập kỷ 70; một quyển sách hồng mong mỏng4. Dung lượng khiêm tốn và chỉ nói một vấn đề xưa như trái đất, thế mà những câu những chữ như có năng lực diệu kỳ, mỗi lần đọc lên như mới lại, đánh động rất sâu niềm thương yêu ngọt ngào tưởng chừng như chưa từng có mặt trong ta. Hơn thế nữa, nếu thầy nhớ không lầm thì quyển sách mỏng ấy đã dựng thành truyền thống lễ ‘Bông hồng cài áo’ cho ngày Vu Lan trên đất Việt. 

Chúng ta cũng biết có những quyển sách tác dụng lớn đến nỗi làm nên bao nhiêu chuyển biến của lịch sử loài người. Trong lịch sử đau thương và thù hận nhiều hơn an lạc và hạnh phúc. Điều này tùy thuộc vào tình thương và tuệ giác có được người viết gởi gắm vào trong sách hay không? Có những tâm hồn lớn, tình thương sâu, máu tim của họ từng giọt nhỏ vào trang giấy để lại cho con người, nên dù qua bao thế hệ xa xôi mà khi tiếp xúc ta vẫn nghe lòng thổn thức. Như truyện Kiều của Nguyễn Du chẳng hạn; một tác phẩm không chỉ diễm lệ, kiêu sa, toàn bích ở mặt văn chương mà còn tuyệt vời ở mặt phẩm chất. Nó đi tự nhiên vào lòng người dân Việt. Điều đáng nói thêm là mãi đến hôm nay người ta vẫn chưa khai thác hết những ẩn ngữ diệu kỳ nằm bên sau chữ nghĩa. Nguyễn Du là người gì thế? Người ta vẫn chưa hiểu hết. Phước đức thay cho dân tộc nào sinh được những người con như vậy, vì ngoài niềm tự hào của dân tộc ra, người ấy còn là người thổi hồn cho chữ nghĩa và nâng phẩm chất của ngôn ngữ lên cao. Chúng ta cũng biết đến một người khác nữa đó là Sư ông. Sư ông đã bắt đầu viết sách lúc tuổi còn rất trẻ. Năng lực sáng tạo ngôn ngữ của Người rất thần kỳ. Người nặn nó ra rồi hà hơi vào cho nó lên đường đi vào nhịp sống văn hóa hiện tại. Những từ gần đây trong giới tu Phật chúng ta dùng rất nhiều và đã trở thành thân thiết dễ thương như từ ‘tăng thân’ chẳng hạn. Chúng ta có từ ‘Phật thân’, ‘Pháp thân’ trong văn học Hán mà chưa hề gặp chữ ‘tăng thân’. Sư ông đã tạo từ và bắt chữ nghĩa hóa thân theo ý muốn của mình, và từ ‘tăng thân’ đã biết hóa thân, giống như tranh tố nữ của truyện Bích câu. Có điều Sư ông không như Tú Uyên đốt hương, cúng cơm. Sư ông chỉ cần vẫy tay là chữ nghĩa bước ra thành ‘tăng thân’ Làng Mai hùng tráng. Với thầy, từ nầy mang âm hưởng lớn vì khi đọc lên đã nghe triều dậy trong lòng năng lực vững chãi, an lạc, thảnh thơi của quý thầy bao quanh và ôm ấp chúng ta. 

Học lịch sử các cô chú còn nhớ Phật giáo vào Trung Hoa từ đầu kỷ nguyên, nhưng quá trình giao lưu văn hóa dịch thuật kinh Phật trải dài qua các thời đại và đầy khó khăn mới hội nhập vào văn hóa Hoa hạ. Phải đến ngài La Thập - đầu thế kỷ thứ 5 - từ ngữ Phật học mới được định chuẩn hóa và những bản dịch của ngài được gọi là định bản. Về sau người bản địa giỏi như Đường Huyền Trang cũng chỉ tuân phục mà thôi. Thầy dở quá nên không đọc và tiếp xúc với ngôn ngữ Tây phương, nhưng nhìn phong cách Sư ông giảng cho thiền sinh Âu Mỹ, thầy nghĩ chắc phải tuyệt vời lắm trong cách sử dụng ngôn ngữ để truyền đạt của Sư ông. Và phải sáng tạo rất nhiều từ mới trong Anh ngữ, phải hà hơi vào để ngôn ngữ Tây phương có hồn, có thể truyền tải được những khái niệm rất trừu tượng của truyền thống văn hóa Đông phương. Điều thầy kính sợ nhất ở đây là ‘Thiền môn nhật tụng đại toàn’ bằng Anh ngữ của Sư ông đã hình thành một định chế cho sinh hoạt tăng già Tây phương và thẩm thấu tự nhiên vào văn hóa Ki tô giáo. Lịch sử truyền giáo của đệ tử Phật xưa nay phải chăng có những lần lập lại. Ngài La Thập mất hai mươi năm5 lưu lãng ngoài hoang mạc để rèn luyện chí kiên trinh, tính thi ca và nhã ngữ Hán rồi sau đó mới tặng cho người Hán những bản dịch kinh Phật thâm áo diệu lý, cô đọng sáng ngời ngữ nghĩa, mà còn đậm chất thi ca, lung linh sắc màu và bất hủ với thời gian. Sư ông chúng ta bốn thập niên hành hoạt cõi trời tây, bằng vào cuộc sống phong nhiêu người đã tiếp thu, chắt lọc, dung hội tinh hoa của hai nguồn văn hóa để định hình và làm khởi nguyên cho một dòng chảy. Không biết niềm vui của Sư ông lớn bao nhiêu khi nhìn và nghe thiền sinh Tây phương sinh hoạt, lễ tụng theo đạo Phật bằng chính ngôn ngữ và phong cách văn hóa của họ. Riêng thầy, khi tiếp xúc điều này vừa bàng hoàng sửng sốt vừa vui sướng ngập lòng. Ôi! Cây bồ đề năm xưa từ chiếc nôi Ấn Độ bên lưu vực sông Hằng được di thực qua nhiều vùng đất xa lạ, và khó khăn vô vàn để sống còn ở Việt Nam qua những năm dài bị đọa đày, thế rồi giờ lại thấy mọc lên ở Tây phương xanh tốt. Cây đã thật sự cắm rễ rất sâu và hứa hẹn ngày càng sâu hơn, tỏa bóng mát rộng hơn. Xưa kia ngài La Thập có thành công trong cuộc đời hoằng pháp trên vùng đất xa lạ, nhưng hẳn lòng cũng có chút gì se sắt buồn, nên lời thơ cuối đời ngài có những câu: ‘Ai loan cô đồng thượng, thanh âm triệt cửu tiêu’, ‘chim phượng hoàng lẻ loi trên cây ngô đồng trụi lá, tiếng kêu buồn của nó vang vọng chín tầng xanh’6. Thầy nghĩ: Sư ông chúng ta ‘hạnh phúc quá chừng’ - chữ của Sư ông thường dùng trong pháp thoại - vì ngoài niềm vui lớn đem an lạc hạnh phúc trao tặng cho nhiều người, Sư ông còn có niềm vui nhìn thấy con đường mình mở ra có rất nhiều hóa thân thừa tiếp. Và ở một mức độ cạn nhất Sư ông giống ngài La Thập vì đã hình thành được khí vị quê hương mình trên cõi trời Âu. 

Năm 1992 khi phụ trách môn lịch sử Phật giáo cho trường trung cấp Phật học... Thầy rất lúng túng vì không biết phải dùng tài liệu nào để làm nền cho môn mình dạy. Cuối cùng thì hai bộ Đường xưa mây trắng và Việt Nam Phật giáo sử luận đã ‘bị’ thầy làm sách gối đầu. Thầy dùng Đường xưa mây trắng để viết toát yếu bài học cho môn Lịch sử Đức Phật và Lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Sư ông đã viết về cuộc đời Đức Phật qua dạng truyện để tính truyền đạt lên cao, tuy nhiên tinh thần sử liệu và văn bản học được Người sử dụng nghiêm túc. Chúng ta biết rằng Đường xưa mây trắng đã có mặt bằng nhiều thứ tiếng - kể cả tiếng Hindu - lan rộng qua nhiều quốc gia và thấm vào nhiều giới xã hội. Riêng đối với người tu trẻ Việt Nam thì sách có năng lực lấy đi tính kỳ thị kiêu ngạo có mặt trong truyền thống Phật giáo Bắc tông. Xưa giờ chúng ta được nuôi lớn bằng văn học Hán. Rồi vài thập niên gần đây tiếp xúc với Nam tạng hình thành một trường phái bài bác Đại thừa. Một tồn tại do tính lịch sử phân hóa đáng ra không cần có mặt. Thế mà dòng thời gian đi qua vẫn không sao nối liền được hố phân cách trong lòng của những người tu Phật. Hẳn Sư ông có dụng ý khi dẫn dụng các tư liệu của văn học A hàm để làm nền cho pháp hành và pháp học. Thắp sáng những trang kinh Niệm xứ, An ban... bị Bắc tạng coi thường bằng tuệ giác của Phật giáo phát triển và của thiền tông. Bắt những quyển kinh ngủ quên lâu nay thức dậy lên đường mang hạnh phúc và an lạc đến cho con người hiện tại. Hầu như phần lớn sách Việt ngữ của Sư ông hai yếu tố luôn có mặt đó là tình tự quê hương sâu lắng và sự nối kết lại mạch nguồn tuệ giác từ đức Thế Tôn vào hai dòng chảy chính của đạo Phật phân hóa hôm nay. Ngày trước đọc sách cụ Nguyễn Hiến Lê chúng ta phục phong cách viết của cụ. Một cuốn Tô Đông Pha cụ Lê cũng cung cấp cho đọc giả bản đồ Trung Quốc thời Tống và vẽ ra con đường hoạn lộ khi bị biếm trích của chàng Tô. Cuối cuộc đời cụ Lê viết về nghiệp văn của mình, đọc vào chúng ta càng kính trọng sự tận tụy và nghiêm túc của cụ hơn. Hiện tại chúng ta cũng biết vài thư tịch khi viết về lịch sử Phật giáo Việt Nam. Không có mặt tinh thần làm việc này. 

Cái thiếu vắng ban đầu đó là lương tâm trong sáng, cái nhìn toàn diện, khách quan và minh chỉnh của người viết sử. Nếu một cái nhìn định kiến, rồi cắt xén một mảng nhỏ của thực trạng xã hội đen tối trong tổng thể đang vận hành để lên án, phê bình và đánh phá. Điều ấy không những làm tiêu ma danh phận người viết, thương tổn uy tín sĩ phu đương thời mà còn tác hại sâu hơn nữa là làm đổ vỡ nền tảng đạo đức xã hội đã được ông cha ta tạo dựng tự nghìn xưa. Dĩ nhiên đây là vấn đề lớn hãy dành cho một dịp nào. Điều thầy muốn chia sẻ cùng các cô chú đó là tinh thần làm việc và khả năng đóng góp của Sư ông vào nguồn sử liệu Phật giáo trong nước. Sư ông rời quê hương Việt Nam đâu mang được gì ngoài hành lý cá nhân. Thầy nghĩ cái duy nhất và cũng quý nhất Sư ông mang theo dễ dàng ấy là hơi thở và bước chân chánh niệm. Rồi vừa hoạt động xã hội vừa làm ngàn vạn chuyện trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Thế mà vẫn tập hợp được từng chút từng chút một tư liệu lịch sử, để hình thành một thư tịch lớn đóng góp vào gia tài lịch sử Phật giáo cho quê hương. Bằng sự đơn độc riêng mình và khó khăn hơn nữa là đối chiếu, phối kiểm tư liệu với thực tế địa vực. Chúng ta nhớ, Sư ông đâu đã được về lại trên đất Thăng Long thăm viếng và khảo sát các chốn tổ - nơi phát tích thiền phái Tăng Hội, Tỳ Ni, Trúc Lâm, Thảo Đường... Thế mà trong mỗi trang sách thể hiện tính xác thực trang trọng của người viết sử. Điều gần gũi mà chúng ta dễ cảm nhận nhất là hơi thở quê hương nồng nàn và khí vị của truyền thống sơn môn được tỏa ra trong trang sách. 

Các cô chú ạ, thầy về Làng tu tập, đi thiền hành sau Sư ông, rồi ngồi trong thiền đường nghe pháp thoại mới nhận ra một điều Sư ông nói và viết như Sư ông thở, có nghĩa là nhẹ nhàng, đằm thắm, sâu lắng và hạnh phúc. Cũng có nghĩa là dễ dàng, tự nhiên và sống thực. Viết chỉ là sự sống nhiệm mầu thật hữu được Sư ông thở ra và làm cho nó hiện thực trên trang giấy mà thôi. Thế nên giới nào tiếp xúc với sách của Sư ông cũng cảm nhận được năng lực diệu kỳ, và cũng bị thôi thúc thực tập ‘hiện pháp lạc trú’ để làm an lạc tự thân. Hầu như càng về già ngôn ngữ Sư ông càng giản dị, mát dịu, ít tính chất hàn lâm và nhờ vậy đã đi vào lòng người sâu lắng. Chúng ta cũng nhớ trong văn học A hàm, những bài kinh của Phật dạy sao mà bình thường và gần gũi quá. Kinh Gò Mối, Kinh Sừng Bò, Kinh Người Bắt Rắn7... Sinh thời ngôn ngữ Đức Thế Tôn không hề mang tính kinh viện dù Ngài bác lãm thư tịch Vệ Đà. Ngài chỉ để lòng từ mang tuệ giác tràn ra - tràn theo cách thế nào đó mà mọi người dễ cảm nhận nhất, dễ nắm lấy để thực tập nhất. Lời dạy của đấng Đạo sư ngày xưa trải qua 25 thế kỷ bị rụng rơi bao lần vì quá trình hình thành văn bản khi kiết tập, và biến dịch khi đi qua chu kỳ sinh diệt của ngôn ngữ và văn hóa địa vực khác nhau. Thế mà, giờ đọc lại chúng ta vẫn cảm nhận được năng lượng giác ngộ, từ bi nằm bên sau chữ nghĩa. Vì vậy, điều quan trọng không phải là khả năng tu từ trong khi nói và dùng chữ diễm lệ mượt mà trong khi viết. Cái chính yếu là bên sau lời ấy, chữ ấy tình thương lớn và tuệ giác chân thực của bậc đạt đạo có mặt hay không. Các cô chú sẽ hỏi: ‘Theo thầy, Sư ông của chúng ta đã đạt đến đâu nhỉ?’ Đấy là câu hỏi mà thầy sẽ chẳng bao giờ trả lời. Thay vào đấy thầy sẽ gởi về tặng các cô chú và Phật tử Việt Nam thêm sách và băng pháp thoại của Sư ông để các vị tự cảm nhận năng lực từ ái diệu kỳ và tuệ giác thâm sâu của Sư ông truyền đạt. 

Có một hôm Sư ông gọi quý thầy Việt Nam ra thiền thất ‘Ngồi yên’ của Sư ông uống trà. Trên đường đi, Người thỉnh thoảng lại chỉ cho các thầy thấy những cây cỏ bên đường và nói đến sự diệu kỳ của một đóa hoa dại, sự mầu nhiệm của một chiếc lá và cuối cùng Sư ông dạy năng lực kỳ diệu đã về đã tới trong mỗi bước chân. Các cô chú ơi! Sư ông có những pháp thoại ngắn, bất ngờ mà cô đọng diệu nghĩa của tinh thần ‘Vô tác, vô nguyện, vô chứng’ thâm sâu trong giáo lý đạo Phật. Tiếc rằng thầy không thông minh và bén nhạy để nhớ những lời dạy tuyệt vời này. Một điều may mắn còn đọng lại nơi thầy đó là câu: ‘Thiền hành không phải là thiền hành mới là thiền hành, mà thiền hành là mỗi bước chân ta đi trong ngày đều thiền hành cả. Phải thiền hành 100% thì ngay trong từng bước chân là đạp lên cõi Tịnh độ, là an trụ trong niết bàn’. Thầy nghĩ chỉ một lời dạy ấy đủ cho thầy trò ta thực tập cả một đời tu. 

Khóa tu mùa Hè, Sư ông giảng pháp thoại một tuần 4 buổi cho thính chúng đa quốc gia. Cố nhiên một buổi hai thời giảng Sư ông sử dụng hai ngôn ngữ Pháp Anh, Việt Anh hoặc Việt Pháp, nhưng dù nói tiếng gì thì pháp âm vẫn chấn động tâm thức người nghe ‘Phạm âm, hải triều âm, thắng bỉ thế gian âm’10. Thiền sư ngồi trên bục giảng thì trầm lắng tĩnh tại, bước xuống viết bảng thì an lạc thong dong. Đây là điều có mặt tự nhiên như hơi thở của Sư ông mà chúng ta đã biết. Thầy nhớ trước khi về Làng Mai một ít học trò cũ của Sư ông ngày xưa ở Đà Lạt đến thăm thầy. Họ bảo: ‘‘Sư ông có giọng nói trầm ấm, thân tình, bước chân thật nhẹ. Cho đến bây chừ 50 năm đi qua mà con còn nhớ như in’’. Năm thập kỷ đi qua, cũng có nghĩa là nửa thế kỷ đi qua, học trò của Sư ông giờ tóc đã bạc, thế mà tình cảm quý trọng và những ấn tượng về Sư ông vẫn còn rất rõ trong lòng bao Phật tử Việt Nam. Thầy nói điều ấy để các cô chú nhận ra một điều khác đó là phẩm chất của âm sắc, bước chân và nhịp thở Sư ông giờ đã được nâng cao đến mức độ nào. 

Thầy đã viết cho các cô chú những trang thư khá dài. Cố nhiên còn biết bao điều thầy không có khả năng nói được trong thư. Vì sao? Vì có những điều phải tiếp xúc để cảm nhận. Như các cô chú đến Làng Mai tiếp xúc với Tăng thân để cảm nhận năng lực hùng tráng, tiếp xúc với những buổi pháp thoại Sư ông để cảm nhận năng lượng trí tuệ từ bi, tiếp xúc với thiền sinh Tây phương về đây tu tập để cảm nhận khả năng chuyển hóa và niềm an lạc hạnh phúc có mặt thật sự nơi họ. Thế nên dù thầy có viết ra sao? Cách nào? Cũng không truyền đạt được điều phải tự thân các cô chú cảm nhận mà thôi. Trong thư thầy có nói chút ít cảm nhận của mình về Sư ông, về Làng Mai và vài nét phác về khóa tu mùa hè tại Làng, tuy biểu đạt được ít nhiều nhưng vẫn còn khiêm tốn lắm. Tuy nhiên, chúng ta cũng không cần phải làm gì thêm bởi năng lực tự tỏa sáng, và sức hút diệu kỳ của Sư ông và của Làng Mai, hiện tại không còn xa lạ với con người của nhiều quốc gia trên hành tinh này nữa. Điều thầy trò ta cần làm là hãy làm cho chính mình, bằng sự tiếp nối hơi thở của Sư ông. Bằng một hơi thở và bước chân Sư ông đã hiên ngang sừng sừng giữa bao giông tố cuộc đời phủ xuống, xây dựng cơ đồ trên vùng văn hóa Ki tô. Bằng hơi thở và bước chân Sư ông tiếp nối được tuệ giác và từ bi của chư Phật, chư Bồ tát và khơi nguồn cho dòng chảy này tưới tắt hiện thực xã hội khổ đau. Bằng hơi thở và bước chân Sư ông nâng phẩm chất tu học của Tăng thân Làng Mai, dựng dậy tông phong hùng tráng, thành tựu an lạc hạnh phúc cho thiền sinh Tây phương... và vô vàn điều diệu kỳ được tuôn tràn ra từ một hơi thở và bước chân của Sư ông. Bậc đại sĩ xuất hiện trong cuộc đời, tùy quốc độ và căn cơ chúng sinh vận dụng muôn ngàn phương tiện để làm thế nào lấy đi được niềm đau nỗi khổ của con người, và trao tặng hạnh phúc cho nhân gian. Có khi các Ngài hiện thân hoa sen giữa lòng cuộc sống bình thường mà chúng ta không dễ biết. Văn học Phật giáo phát triển bảo rằng: ‘Găm một chiếc đinh xuống mặt đại địa, nơi nào cũng có xương thịt của Bồ tát từng thị hiện cõi nhân gian’11. Và ‘Bồ tát phát đại bi tâm độ sinh nên không nỡ đoạn hết mê lầm vi tế, vì đấy là điều kiện để còn trở lại cuộc đời’12. Ngoài những bậc ‘Thạch trụ tùng lâm, già lam mô phạm’ chúng ta còn có một Hàn sơn, Thập đắc rong chơi trong cõi bụi hồng, trêu chọc chúng tăng để truyền đăng sử Trung Hoa thêm nhiều huyền thoại. Một Tuệ Trung thượng sĩ Việt Nam đạo phong chất ngất, thơ thiền Ngài trang điểm cho cuộc sống phong nhiêu. Một Trần Nhân Tông tay thiền trượng, tay vó câu, hòa Chiêm, bình Thát Đát, khơi nguồn cho dòng thiền Yên Tử chảy đến ngày nay. Ôi! Bậc thượng nhân hành xử như nước chảy mây trôi, cưỡi sóng tử sinh, hùng khí ngang tàng đến đi tự tại. Đức lớn ví Thái Sơn mà thấp mình như đất, thành công kỳ vĩ mà xóa dấu vết trên sử xanh. Coi mọi thành bại như mây trời, thả mình bồng tênh như gió hạ, sống chết giống con người, bình thường như lá cỏ. Nhưng điều kỳ diệu hơn con người là sự hiện diện của người ấy là sự hiện diện của năng lượng thương yêu và tuệ giác. Người ấy rãi lòng từ lên nhân gian làm dịu lửa oán thù chất ngất, hóa thân vào văn hóa các địa vực, vào lòng người và còn hứa hẹn triệu triệu lần rong chơi cõi tử sinh. Ôi! Bóng của người ấy lồng lộng cõi nhân gian, chúng ta có nói ngàn vạn lời cũng chỉ là vẽ được nét hằn trên mặt nước. 

Chiều nay nắng rắc vàng trên xóm Thượng, những cây sồi tơ vươn cánh tay vẫy gọi người đến với Làng Mai. Ai đã một lần đến nơi nầy ngắm nắng chiều reo vui trên rừng sồi xanh mát hẳn sẽ thấy lòng xôn xao và điều kỳ diệu bên trong tự nhiên tuôn chảy. Thầy mong các cô chú thực tập thật sâu sắc hơi thở và bước chân để cho điều diệu kỳ của tự thân lập tức nở hoa. 

Chú thích.

Khóa tu mùa hè bắt đầu từ 11 tháng 07 đến ngày 8 tháng 8. 2001. 

Sư ông rời Việt Nam vào năm 1966. 

Sư ông giảng ngày 16 tháng 6. 2001 tại Frankfurt - Đại hội Cơ Đốc giáo. 

Quyển ‘Bông hồng cài áo’ được viết vào năm 1962 Lá Bối in lần đầu. Sách trình bày theo thể loại sách hồng. 

Ngài La Thập bị tướng Lã Quang mang quân đánh nước kể tên bắt về (?) trên đường về triều đình Trung Hoa thay đổi Lã Quang dừng lại đất Cô Tàng 18 năm. Sau đó vua Dao Tần thương lượng ngài La Thập mới được về Trường An. (phần này chưa chính xác). 

Trong quyển ‘Ngài La Thập’ HT Trí Quang. 

Phần này chưa chính xác. Xin được tra cứu lại. 

Thiền thất bằng gỗ, nằm phía đông của thiền đường chùa Pháp Vân. 

Đọc quyển Con đường chuyển hóa, Thiền hành yếu chỉ và Kinh quán niệm hơi thở của Sư ông 

Câu trong phẩm ‘Phổ môn’ của kinh Pháp Hoa, có nghĩa: Tiếng phạn âm thanh tao nhạc điệu, tiếng hải triều hùng tráng vang rền, hơn hết tất cả thanh âm của thế gian. 

Ý từ kinh Pháp Hoa. 

Ý từ kinh Duy Ma Cật. 
 
 
 
 

ÁNH SÁNG ĐÃ LỌT VÀO 

Tây Bá Linh ngày17/1/2002

Kính gửi lời thăm sức khỏe đến Thầy.

Thưa Thầy, con tên là Huỳnh Hiệp Khoái, sinh ngày 14.10.1958 tại Bạc Liêu,Việt Nam. Vào dịp Đại Giới Đàn Kỷ Nguyên Mới vừa qua tại Làng Mai, con được thọ Năm giới do chính Thầy truyền. Nhưng vì đây là lần đầu con về Làng, và cũng vì Thầy chưa từng thấy con, chưa lần nào biết con, cho nên lá thư này là để con tự giới thiệu với Thầy, và dù đây là lá thư đầu nhưng sự thực nó là lá thư thứ mấy mươi mà con đã viết cho Thầy rồi mà lần đầu được gửi. 

Thầy ơi, trước khi con được đến Làng thọ giới với Thầy thì con cũng như hàng triệu người khác đã biết Thầy rồi, biết qua các băng giảng, sách vở và phim ảnh. Con đã quý thương thầy qua tiếng tăm, qua những người thân, nhất là qua sự nhắc nhở của chú Phạm Ngọc Đảnh ở Berlin. Con cũng cư trú ở Berlin, được gần gũi chú Đảnh và đã từng xem chú Đảnh như cha của con vậy. Lúc ấy Thầy chưa ở trong con, con thấy như vậy bởi vì chỉ khi có ai nhắc đến Thầy hoặc thấy hình ảnh hay nghe tiếng nói của thầy... con mới nhớ Thầy. Rồi mãi đến năm 2000, con quên không biết đích xác tháng nào ngày nào, một hôm đó con được nghe lần đầu câu kệ: ‘Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười’. Khi được nghe câu kệ đó, con bỗng giật mình. Sao mà nó hay dữ như vậy. Nó đúng là một câu linh chú, nó đúng là một viên linh dược. Từ hôm đó, mỗi ngày, khi đi, đứng, nằm, ngồi, nhất là trong những lúc làm việc ở hãng con cứ thực tập theo câu kệ ấy, mỗi khi nhớ là làm. Thực tập như vậy, con thấy cả tâm hồn và thân xác đều được nhẹ nhàng và an lạc. Sau đó con được có duyên đến với tăng thân ở Berlin, và mỗi cuối tuần đến thiền phòng Quan Âm để thực tập ngồi thiền, tụng kinh và bái sám. Con đã được đọc những sách sau đây của Thầy (theo thứ tự): Thiết Lập Tịnh Độ (do chú Đảnh giới thiệu), Kim Cương Gươm Báu Cắt Đứt Phiền Não (do con tự đi tìm), Sen Búp Từng Cánh Hé, Sen Nở Trời Phương Ngoại, và Đường Xưa Mây Trắng. Con đã nghe tiếng bộ Đường Xưa Mây Trắng từ lâu, nhưng mãi đến cuối năm 2001 con mới có dịp đọc. Từ khi con đọc Thiết Lập Tịnh Độ thì mỗi ngày con đã ‘thơ’ cho Thầy mấy lần. ‘ Thơ’ ở đây không phải là ‘gởi thơ’ hay là ‘lá thơ’. ‘Thơ’ đây vừa là danh từ mà vừa là động từ. Con đã ‘thơ’ cho Thầy hằng ngày nhưng chưa bao giờ diễn bày được hết lời hết ý, và Thầy cũng chưa bao giờ nhận được. Lúc con chưa gặp Thầy tận mặt thì Thầy đã ở trong con rồi. Mỗi lần hít chậm và thở sâu thì con thấy Thầy hiện ra rất rõ trong con. Một thời gian sau đó thì con mới hiểu được thế nào là ‘Phật ở trong tâm’. Con đã nghe câu ‘Phật ở trong tâm’ đã từ xưa mà chưa bao giờ con cảm nhận được rõ ràng như bây giờ. 

Thầy ơi, người ta nói một cách bình dân ở ngoài đời là ‘gãi đúng vào chỗ ngứa’. Ở đây con phải tìm cách nói khác hơn. Từ cuốn Thiết Lập Tịnh Độ cho đến cuốn Sen Nở Trời Phương Ngoại, Thầy đã làm cho cái óc của con nứt ra để ánh sáng có thể lọt vào. Hiện nay con rất sung sướng vì có trên tay tờ Điệp Hộ Giới trong đó có ghi mấy chữ ‘đệ tử của Thiền sư Nhất Hạnh’. Con kính chúc Thầy thật khỏe. Con: Huỳnh Hiệp Khoái. 

Tái bút: Thầy ơi, cuốn sách gần đây nhất (con đọc trước khi con về Làng dự lễ và thọ Năm giới) đã đem lại cho con vô cùng an lạc khi con làm việc ở hãng. Đó là cuốn Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức. Cuốn sách này quý giá với con quá, quý giá đến miễn bàn. Nội dung sách thật đúng như tựa đề của sách. Con cầu xin chư Bụt và chư Bồ tát làm sao cho ai cũng có cơ duyên được đọc cuốn sách này và đem ra áp dụng trong đời sống hằng ngày.

Huỳnh

Uterstr.7

13357 Berlin Deutschland 
 

SƯ TỬ NÚI TRỞ LẠI 
Sư cô Thoại Nghiêm

13 tháng 1, 2001 

Bạn hiền thân,

Rốt cuộc rồi Lộc Uyển cũng có mưa. Mưa tầm tã ba ngày liền. Đến nỗi hôm nay có nắng tôi bỗng dưng... mừng quá sức. Dĩ nhiên là Lộc Uyển cần nước quá chừng chừng, nhưng chạy mưa cũng mệt và lại là kinh nghiệm mới ở đây: giày dép ướt (vì đâu ngờ cơn mưa đổ xuống đột ngột như vậy sau sáu tháng nắng), nhà cửa dơ, máng xối mục đổ từng mảng nước lớn, không khí ẩm và lạnh. May là nóc nhà không bị dột như chúng tôi đoán trước. Cỏ cây không còn gục đầu ủ rũ mà vươn thẳng, tươi rói. Hoa thủy tiên bắt đầu nở. Cả núi rừng như bừng lên một sức sống mới. Tôi sẽ bắt đầu trồng cây tiêu cho kịp trong mùa mưa để đỡ lo phần tưới nước. Hy vọng khi Thầy qua con đường lên Yên Tử sẽ có chút màu xanh. 

Tháng hai 

Càng ngày tôi càng thấy rõ được không gian trong lòng mình. Có phải vì Lộc Uyển bát ngát nên hồn tôi cũng rộng mở hơn. Hôm nay trên đường từ cổng về, trong buổi chiều chạng vạng gặp con coyotes quen thuộc đứng nhìn. Đôi mắt ngơ ngác và hiền như mắt nai. Tôi dừng xe, sư em Thường Nghiêm giả tiếng chó tru thì nó mới quay đầu bước đi, nhưng ngoái đầu lại lưu luyến mấy lần. Tôi có cảm tưởng nếu mở cửa xe rủ lên chắc nó cũng chịu lên nữa đó. Tôi lái xe đi tiếp, thấy mình thân thuộc và như thành một phần của đời sống núi rừng. Bạn hiền hỏi tôi có lần nào ‘gặp lại’ chú sư tử núi. Thì mới tuần trước đây thôi, chú đến viếng Tùng Bút. Thầy Giác Thanh ở trong phòng khách nhìn ra thấy chú đủng đỉnh trèo qua đống đá trước vườn, đi vòng qua chỗ để củi bên hông nhà rồi mới biến vào rừng. Ngang nhiên như đi thăm... hàng xóm. Mà không phải hàng xóm thì là gì? Không biết có phải đó là chú sư tử ‘cố nhân’ của thầy Pháp Dung hay không nhưng từ đó về sau không ai gặp nó nữa, dù là ở trên núi. Tuy nhiên chuột thì chúng tôi gặp khắp nơi. Ở trong căn bếp nhỏ chúng nó chạy rần rần, bẫy hoài mà không được. Nhưng mấy con chuột này cũng buồn cười lắm, nghe chuông biết ‘dừng lại’ đó nghe bạn hiền. Chắc sự im lặng đột ngột của đại chúng khi nghe chuông cũng làm nó khớp nên... im lặng theo. Và khi mọi người sinh hoạt bình thường trở lại thì nó tiếp tục ồn ào trở lại. Có vẻ như cũng biết thực tập với đại chúng vậy. Tuy nhiên mấy con chuột trong thiền đường thì quá sức là loạn. Chúng tôi ngồi thiền mà nghe tiếng nó cắn gãy cây ở góc thiền đường và lôi nhánh cây đi một cách ồn ào công khai trước mắt mọi người. Hẳn vì chúng tôi ngồi quá im nên nó không sợ, hay nó biết chúng tôi đâu thể bỏ thời ngồi thiền... để đi bắt chuột nên mới ngang nhiên như vậy. Tri đường thì rầu lắm vì cúng trái cây loại nào cũng bị chuột gặm cả. Ngay cả đến hoa cúng cũng bị cắn gãy thảm thương. Khẩu phần của Bụt bị giảm từ từ đến lúc tri đường đề nghị một cách rụt rè là chắc nên cúng Bụt... trái cây và hoa bằng ny lông. Tri chung cũng rầu nữa. Một buổi sáng tới giờ ngồi thiền tri chung kiếm không ra hộp quẹt để thắp nến. Đến lúc ngồi xuống tọa cụ thì không thấy khánh, không thấy đồng hồ. Làm sáng đó tri chung không được an lạc cho lắm nhưng không hề nghĩ ra ai là thủ phạm phá phách như vậy. Mãi tới trưa khi dọn dẹp lại bàn Bụt tri đường mới khám phá ra những thứ đó ‘bị giấu’ đằng sau chậu cây. Chúng tôi cười: ‘Mấy chú chuột này chẳng những thiếu oai nghi mà còn phạm giới thứ hai nữa’. 

Cuối tháng hai 

Thầy kính thương,

Tết đã tới và đã qua. Chúng con đón Tết như ở Làng. Cũng đóng và gởi Lá Thư Làng Mai, cũng gói bánh chưng tặng thân hữu, cũng bói Kiều. Tối hăm bảy Tết chúng con ôm đàn ngồi quanh bếp lửa với hai nồi bánh khá to. Bếp được đào dưới đất, hình chữ nhật, ở kế sân xi măng của Xóm Trong Sáng. Củi thì được vơ từ đống gỗ cũ tháo ra khi sửa nhà và các nhánh khô gãy gần đó. Trời lạnh đến suýt soa. Chúng con chia phiên nhau thức và châm nước. Có một vài anh chị Tiếp Hiện dưới phố cũng lên chơi, ngắm trăng, đút thêm thanh củi vào bếp, hơ tay cho ấm, hít hà nhớ tới bếp lửa quê hương. Sáng ba mươi, chúng con dậy sớm nghe Thầy đọc thơ từ Làng, ngồi thiền và làm lễ đón Giao Thừa theo giờ Việt Nam. Tết trúng vào ngày thường nên sau lễ đón Giao Thừa con được một buổi trưa và chiều thật thảnh thơi, không có chương trình. Con ra thiền đường thắp nhang, ngồi thiền, tụng kinh. Lòng bình an và nhẹ nhàng. Bắt đầu cho một năm mới như vậy là quá đầy đủ. Mồng một và mồng hai dù trúng ngày thường cũng có nhiều vị Phật tử lên thăm nên chúng con thay vì bói Kiều cho nhau thành ra bói Kiều cho khách. Con không ngờ quý vị thích bói Kiều đến như vậy. Buổi tối chúng con lên chúc Tết thầy trụ trì, nhận lì xì, uống trà, hò hát cho nhau nghe. 

Sau đó thì chúng con tiếp tục trang trí, dọn dẹp, nấu ăn, và lo văn nghệ cho Tết. Ngày thứ bảy và chủ nhật thật đông người lên Vườn Nai. Nhất là có những đợt hành hương cả trăm người. Chúng con phải thay phiên nhau ngồi bói Kiều liên tục. Con không tránh được như lúc ở Làng vì ở đây chúng ít mà nhu cầu thì thật đông. Thầy Giác Thanh vừa từ nhà thương về mà cũng ngồi đủ sáng chiều ‘hai thời’ thì con làm sao mà dám trốn. Rồi chúng con tiếp khách đi thăm xóm mình, đi thăm phòng mình như những dịp thăm viếng ở Làng. Các vị Phật tử ngạc nhiên quá đỗi khi thấy mấy sư cô ngủ trên những ‘cái hòm’ (nguyên văn của một bác) không nệm không chiếu mà lại tới ba người một phòng. Điều này thường với Làng mình nhưng ở xứ Mỹ đầy đủ mọi tiện nghi thì các bác có vẻ thương cho đời sống của chúng con lắm. Chúng con chỉ cười. Làm sao giải thích được cho các vị hiểu được là chúng con yêu đời sống đơn giản như vậy. 

Buổi tối Chủ Nhật, chúng con đãi cơm tối rồi làm văn nghệ. Nấu ăn rồi là khoác áo vẽ râu lên sân khấu. Không có giờ để mà tập chung với nhau dù chỉ một lần. Chỉ nói đại ý rồi là... mạnh ai nấy cương. Lại chẳng biết sư em Thắng Nghiêm bôi lọ nồi làm râu cho con ra sao mà thiên hạ cười dữ quá. Nhưng khán giả dễ tính và diễn viên thì còn dễ tính hơn nên chúng con cứ phom phom làm tới. Trong nhà cả mà. Sau này con mới hay là cuốn băng đón Tết đó đã được đi rất xa, nhiều người ‘không trong nhà’ đã coi. May là họ cũng cười vui với chúng con thôi. Và nếu chúng con có thiếu oai nghi chút xíu khi ‘nhập vai’ thì chắc đâu có sao phải không Thầy? 

Chúng con bắt đầu đi đặt cây về trồng. Mỗi ngày một ít. Quý vị thân hữu cũng giúp đỡ tận tình: người cúng dường cây, người chỉ chỗ mua giá rẻ, người dọn nhà xới cây vào chậu đem cho. Chúng con trồng cây mà chắc nhờ bồ tát giám viên rủ lòng thương Vườn Nai nên cứ trồng xong đợt nào là có mưa ngay sau đó. Dù khi đặt cây mình không hề đoán được ngày nào thì cây được đem tới và lúc nào thì có người để trồng. Có khi nắng ấm hai ba ngày liên tiếp nên chúng con mới quyết định đi lấy cây và kêu thợ (vì mưa thì họ không tới). Nhưng chiều đó khi xong việc thì mây kéo đến và mưa nguyên đêm. Cứ ngày nắng (cho chúng con và quý vị thân hữu làm vườn) và đêm mưa thế này thật là thuận lợi. Con nghĩ là Long thần hộ pháp thương và bảo hộ Vườn Nai, muốn cho chỗ này mau thành tựu để có nơi hoằng pháp chứ có nhiều việc trí con người không tính được. Ngày xưa con nhớ thầy bổn sư con cứ nói: ‘Không sao, Tam Bảo sắp đặt’ và chúng con trong Gia Đình Phật Tử thì cứ cười tủm tỉm, không dám cãi khi thầy khăng khăng muốn chúng con dựng lễ đài ngoài trời trong mùa mưa gió. Vậy mà tới ngày lễ thì trời quang mây tạnh để chúng con xuýt xoa là thầy ‘có thần thông’. Bây giờ thì con cũng bắt chước nói như thầy vậy. Việc cần làm cứ làm. Và làm với hết lòng mình là đủ. Thật ra mọi việc há chẳng đã được sắp đặt và chỉ chờ cơ hội để biểu hiện? Con nhớ tới câu thơ của Thầy: 

Công trình xây dựng ngàn đời

Nhưng em xem công trình đã được ngàn đời hoàn tất 

Thưa thầy, từ hồi con lo chuyện mua cây, trồng cây tới giờ con thấy con tiếp xúc với cây nhiều hơn, để ý hơn, và tâm từ bi cũng mở rộng hơn cho loài thực vật. Không phải là điều mơ hồ đâu mà con thấy con ‘thương’ cây thiệt. Con đau xót khi có những bụi cây già bị đốn bỏ một cách vô lý thay vì đem trồng chỗ khác, khi thấy những cây tiêu bị bỏ quên đến chết héo. Hồi trước con đâu có cảm giác đó. Bây giờ con thích ngắm cây để thấy mỗi loại đều khác nhau và đều đẹp. Nói chuyện cây, con nhớ lúc nhỏ thỉnh thoảng có dịp được đi thiền hành riêng với Thầy, Thầy hay chỉ từng cây tùng, cây thông và kể là Thầy trồng vào năm nào. Cây nào là ‘sư anh’ của con. Lúc đó con nghe mà không ‘cảm’ được. Bây giờ thì con hiểu lắm. Vì con cũng đã giới thiệu về Lộc Uyển, về cây cối trong vườn y như vậy một cách rất tự nhiên. Và vì khi nhìn một cái cây lớn lên, tự tay mình chọn lựa, vun xới đất cho cây mạnh, chăm sóc cho cây đừng bị khô héo, thì tình cảm phát sinh thôi. Thầy ‘khoe cây’ như người ta ‘khoe con’. Và chúng con há không phải là những cái cây trong khu vườn của Thầy chăm sóc hay sao? Có cây đứng vững ngoài sương gió thì lâu lâu Thầy đi ngang vỗ về. Có cây yếu ớt thì Thầy phải để ý chăm sóc nhiều hơn. Có cây cần nhiều nắng, có cây cần nhiều nước, có cây cần phân thường xuyên, có cây cần được tỉa, có cây phải được che chở. Có loại thuộc hoa kiểng, có hoa như lan rừng. Cây có bao nhiêu loại thì chúng con cũng đủ chừng đó tâm tính để Thầy dạy dỗ và chăm sóc. Chỉ mong chúng con lớn sởn sơ và đem cái đẹp ra cho đời. Bởi vậy con biết mỗi khi chúng con bị yếu đi, làm nên lỗi lầm thì Thầy không giận không trách mà chỉ tìm cách sửa đổi hoàn cảnh để chúng con có thể lớn mạnh trở lại. Con nghe nói Nội Viện đã làm xong. Con cười mà nghĩ tới cái nhà kiếng để hoa của Thầy. 

Tháng ba, 2001 

Bạn hiền ơi,

Sáng nay phải viết cho bạn hiền về Xóm Trong Sáng, về mùa xuân ở đây. Bên những gộp đá cạnh nhà, hoa thủy tiên nở cả tháng nay. Những chùm hoa nhỏ trắng muốt như những ngôi sao thật tinh khiết. Và lúc nào cũng vậy, khi tôi mở cửa sau bước ra khỏi nhà cũng nghe thoang thoảng một mùi hương thật dễ chịu. Mùi thơm thật nhẹ, khi có khi không giữa không gian bao la của núi đồi Lộc Uyển. Nhìn xa xa, màu cây xanh, màu đá đen, màu hoa trắng, chen chúc nhau ở khoảng đất cạnh nhà thật là tươi mát. Thỉnh thoảng lại có những đóa địa lan nở sớm, màu cam, búp nhỏ và dài, xen với thủy tiên trắng thật ngộ. Tàn mùa thủy tiên sẽ đến mùa địa lan. Các bạn tới chơi bảo vậy. Tôi vẫn nghĩ là Lộc Uyển sẽ đẹp lắm vào mùa xuân, mà vẫn không tả được cho bạn hiền nghe cái đẹp đó. Có những điều mình chỉ có thể cảm được chứ không diễn tả nổi. Chỉ biết ước ao bạn hiền có mặt đây để cùng hưởng mà thôi. Mới tháng trước là mùa hoa vàng. Những cây ‘great fern’ (không biết có đúng tên như vậy không vì có người bảo là cây lim, nhưng tên gì thì cũng vậy thôi, đâu quan trọng) cho những tàng hoa vàng rực. Hoa nhỏ và dầy như những cụm gòn vàng, như hoa mimosa tuy không có mùi thơm. Những cánh hoa vàng đó đã nở rực rỡ trên con đường dẫn lên Xóm Vững Chãi. Trước nhà bếp Xóm Trong Sáng cũng có một cây để tôi ngẩn ngơ mỗi khi đứng ở cửa sổ nhìn ra. Và ở Nhà Tùng Bút, một buổi sáng lên thăm thầy Giác Thanh, tôi cũng thấy những chùm bông vàng nõn vừa nở tung bên ngoài cửa kiếng. Tôi bỏ dở câu chuyện, bàng hoàng ngắm sự sống đang vươn lên mạnh mẽ của một sáng mùa xuân, trong sương mù còn bàng bạc. Chỉ ngắm hoa thôi, đủ thấy hạnh phúc tràn đầy. Bây giờ mùa hoa vàng đã tàn. Những cụm bông vàng nõn một thời rụng đầy lối đi kế bên thiền đường Xóm Trong Sáng. Rắc phấn hoa vàng đầy trên đường. Để tôi bước từng bước thiền hành mà chợt nhớ tới một câu thơ làm đã lâu: 

 ‘... sắc vàng rực rỡ thong dong áo người.’ 

24 tháng tư 

Bây giờ thật sự đã ở giữa mùa xuân. Khí núi còn lạnh nhưng cũng đã có những ngày nóng bức. Hoa dại nở đầy núi. Tuần lễ Sư Ông qua gặp lúc hoa tím nở rộ. Sư cô Chân Không bảo đó là hoa tử đinh hương. Tôi thích ngắm hoa nhưng dốt đặc về tên các loại hoa nên chỉ biết ngắm và mỉm cười. Những cụm rừng tím sẫm xen với màu xanh lá cây tạo nên những bức tranh thật hài hòa và nhẹ nhàng. Có cây màu tím thật non, thật tươi, đẹp như màu tím hoa cà. Tôi hay bị ngơ ngẩn nhiều phen trước những nhánh hoa bất ngờ trên con đường lái xe về xóm. Đó là những nhánh cây khô cằn mùa đông mà lắm lúc, tôi cứ nghĩ cây đã chết khô và cần được tỉa dọn. May chưa. Nếu không làm sao tôi được ngắm những cảnh tượng tuyệt vời như thế này. Trên đường lên tu viện có một vách núi nở đầy hoa dại đỏ và hoa leo tím, những đóa hoa có dáng của một loại lan rừng, nhỏ bằng ngón tay màu tím đậm và bò sát vách đá. Mỗi lần đi ngang tôi phải nhìn một chút, để thấy thiên nhiên quả là ưu đãi cho mình những món quà dễ thương mà nếu mình không biết mang ơn thì thật là vô tình lắm. Tôi đang bận rộn quá cho chuyện giúp tổ chức ngày pháp thoại công cộng cho Thầy nhân dịp Thầy qua vào tháng năm sắp tới, vào việc xây cất và vào việc quyên góp tiền bạc mua đất. Chúng lại ít vì có một số người đi Việt Nam nên quanh tới quẩn lui chỉ có mấy khuôn mặt mà việc thì không dừng được. Nên có những ngày tôi mệt đừ và không viết nổi cho bạn hiền thường xuyên như đã hứa. Nhưng tôi cũng phải ghi lại ít hàng để chia sẻ cùng bạn hiền những hạnh phúc mà người ở núi như tôi được hưởng. 

15 tháng năm 

Bạn hiền thương,

Công việc tổ chức cho buổi pháp thoại công cộng Thầy giảng lần đầu tiên ở San Diego rồi cũng xong và thành công dù thời gian rất ngắn. Tôi không làm gì nhiều lắm đâu bạn hiền à. Các bác, các anh chị ở San Diego ngồi lại sắp xếp, kêu gọi, lo lắng. Tôi chỉ thăm hỏi, động viên và quý trọng sự làm việc của các vị. Điều mà tôi cho là đẹp nhất chính là sự đoàn kết và làm việc hòa hợp với nhau để rồi đưa đến sự thành lập của một tăng thân mới gồm cả người Việt lẫn người Mỹ. Tôi nghe nói số lượng người tham dự vào tăng thân ngày một thêm và gồm nhiều tôn giáo khác nhau. Thật là một điều đáng mừng. Tôi thấy giáo pháp của Bụt qua sự giảng dạy của Thầy như những cánh hoa nở tung, để rồi hạt bay theo gió đi rất xa và lan rất rộng mà mình không ngờ tới được. 

Ở đây, mỗi ngày là một ngày mới. Cỏ cây thay nhau khoe sắc hương. Núi rừng đổi áo mới hoài hoài cho tôi ngơ ngẩn. Không muốn làm thơ cũng thấy mình khép mắt mộng mơ. Và cứ muốn cầm bút lên để gọi tiếp: ‘bạn hiền ơi’. Bao nhiêu điều ghi nhận được trong cuộc sống mỗi ngày mà không có cơ hội để ghi ra giấy. Để rồi khi bút cầm tay, lại thấy mình bâng khuâng muốn viết mà không biết phải bắt đầu từ đâu. Cứ thấy có gì đó thiếu thiếu, mà không định tâm đủ để giải bày. Thương chưa! Viết hai chữ này nhớ tới Anh Hương. Một trong những bạn hiền mà nghĩ tới thấy lòng ấm áp. 

Như sáng nay, dưới cơn mưa nhẹ của mùa xuân, tôi đi thiền hành trong một nỗi hạnh phúc lớn lao. Bạn hiền biết không, con đường dốc nhỏ lên Yên Tử do anh chàng Mễ lái xe cày ủi đại hồi nào trơ trụi bây giờ bắt đầu mọc lại cỏ. Thỉnh thoảng, từ dưới đất, giữa lòng đường, một nhánh hoa dại tím trang trọng mọc lên. Và hoa dại, trời ơi, những nhánh cây dại bên đường cong rũ xuống với những chùm hoa li ti trắng tươi, nhìn xa như những con suối bạc đang đổ từ vách núi ra. Cả thiên nhiên ngập tràn sức sống làm tôi muốn ngợp đi. Những cây tiêu (California pepper tree) nhỏ uống đủ nước, tắm mát nguyên đêm khoe màu xanh mơn mởn bên vách núi nâu đỏ. Tôi đi chầm chậm. Lòng mang nhiều cảm giác trộn lẫn nhau. Màu đất đỏ và sự hoang sơ của đất trời làm tôi nhớ tới Đà Lạt. Làm sao đủ tên để kể được hết những loại hoa tôi bắt gặp ở Vườn Nai? Tháng này hoa vàng, tháng sau hoa tím. Tuần này hoa đỏ, tuần sau hoa trắng. Mà đâu phải chỉ có một màu trắng, một màu cam. Nhiều loại hoa, nhiều màu đậm nhạt khác nhau, nở rộ cùng lần, để tôi chỉ biết đứng nhìn, lặng thinh mà chiêm ngưỡng. Cuối tháng năm vẫn còn mưa, ‘May shower’, đủ cho dịu lại không khí nóng gắt của tuần trước và cho tôi thở phào nhẹ nhõm vì hệ thống tưới cây vẫn chưa bắt xong. Không biết vì nhờ cơn mưa cuối mùa hay đã ngủ chán chê mà cây dương tần (dogwood) tôi trồng bây giờ mới chịu đâm chồi non. Hai tháng trời tôi thất vọng nhìn nhánh cây khô như không cách nào sống nổi với vùng đất sa mạc này. Nhưng tôi không nỡ nhổ bỏ. Cứ cố gắng tưới và thăm chừng. Để sáng hôm qua bàng hoàng khi thấy một chút xanh bắt đầu ló dạng. Sự sống mãnh liệt hay cây không nỡ phụ lòng tôi? Tôi nhớ tới cây dương tần Thầy trồng ở Xóm Thượng một ngày mưa lất phất của tám năm về trước. Ngày đó Thầy kêu tôi và sư cô Hương Nghiêm từ Xóm Hạ lên chơi. Hai chị em bị cảm, quấn khăn kín mít và chẳng biết làm gì để phụ giúp Thầy, chỉ đứng nhìn Thầy và sư chú loay hoay đặt cây, lấp đất, cười. Khờ hết sức mà cũng ngơ hết sức. Ngày cây cho hoa lần đầu tiên Thầy đếm xem có bao nhiêu đóa. Bây giờ tới mùa hoa nở trắng cây. Tôi bao nhiêu tuổi thì cây bấy nhiêu năm. Tôi trồng lại cây dương tần ở đây dù không biết chắc cây có sống nổi không, có lẽ chỉ vì hoa đã gắn liền với kỷ niệm. Và trên hết, tôi biết Thầy thích hoa này. Nhưng nếu nói tới hoa Thầy thích thì nhiều lắm. Bụi hoa mộc mua được trong lần Thầy về mổ mắt cũng được sư em Kính Nghiêm hì hục cho bay qua theo tới Vermont, ngồi riêng một ghế trên phi cơ đàng hoàng (nhờ máy bay trống chứ không phải sư em ‘sang’ đến thế), để phòng Thầy ở Vermont cũng ngát hương hoa mộc như ở Lộc Uyển. Sáng nay tôi đi dạo khắp cả Lộc Uyển. Con đường từ cốc Thầy - nhà Tùng Bút - đi ra ngập hoa cải vàng. Cây cải dại cao tới ngực tôi và tung ra những đóa hoa vàng mảnh mai chập chờn như những cánh bướm. Sư em Thắng Nghiêm cắt đem vô làm xà lách. Ngậm một đóa hoa, tôi thấy mình như một chú nai con giữa rừng sâu hoang sơ. Mùi cải nồng ướp hương vị của nắng, của gió, của mưa, của đất. Không cần phải quán chiếu nhiều lắm tôi cũng thấy được mình đang có cả vũ trụ trong chén cơm ngày hôm ấy.

Bạn hiền ơi, Vườn Nai như một thiên đàng vậy đó. Tôi không ví von với Niết Bàn vì Niết Bàn là nơi đã tắt hết mọi ý niệm. Nhưng ở đây thì tôi vẫn thấy Vườn Nai đẹp. Đẹp lúc trời mưa. Đẹp lúc trời nắng. Đẹp vì hồn tôi đang mở rộng và muốn ôm vào tất cả. Bạn hiền hiểu điều này mà, phải không? Như lần chúng mình ngồi trên đụn rơm, ăn cà rem, ngắm mặt trời lặn ở Xóm Hạ. Hôm ấy không gian thơm ngát mùi mận chín. Trời ấm áp và nồng nàn mùi đất, mùi cỏ mới cắt, mùi rơm, mùi ngọt của mận sấy. Bao nhiêu bận rộn như không còn có mặt. Bạn hiền và tôi trở lại thời trẻ con. Chúng mình mút cà rem một cách thích thú, tận hưởng cảnh chiều ở thôn quê và đồng ý với nhau rằng hạnh phúc thật đơn sơ và dễ dàng, chỉ tốn có... 5 francs thôi. Vậy mà, bao nhiêu năm đã trôi qua. Từ Xóm Hạ chúng mình lên Xóm Mới. Rồi bây giờ Lộc Uyển. Hạnh phúc vẫn là những điều thật đơn giản và thật gần. Nếu mình có đủ chánh niệm. 

Tháng Sáu 

Thầy đã qua và Thầy đã về. Nhưng những cây Thầy trồng trong chuyến đi vẫn còn đó. Cây bồ đề đang thay áo. Những chồi non xanh nõn mướt và mềm như lụa. Những chiếc lá vàng đong đưa chờ ngày rụng xuống lòng đất để rồi luân chuyển trở lại vào thân cây. Cây y lang khỏe mạnh sởn sơ. Ít lá nhưng chiếc nào cũng xanh và cứng cáp. Còn cây gạo thì lớn mạnh trông thấy. Lá đã ra đầy và tàng lá làm nên một chiếc dù nhỏ che nắng trên cao. Chỗ này thiền đường chưa được làm mà tôi như đã thấy một cây bồ đề cổ thụ che mát sân, một cây gạo đỏ rực hoa của ngày hè nắng gắt, và mùi hương của hoa y lang thoảng khắp nơi. Cho nên có những ngày thiền hành ngồi chơi quanh cây bồ đề, tôi nhắm mắt lại và có cảm tưởng mình đang ở trong thiền đường rồi. Còn những chuyện giấy tờ xây cất, chi phí tài chánh, thủ tục luật lệ chỉ là những trò chơi của thế gian mà không có không được, nhưng không phải là cần thiết đến mức phải có rồi tôi mới có hạnh phúc. Vậy chứ đôi lúc quên, mình vẫn bị kéo vào cơn lốc thế sự như thường. 

Hàng tiêu xanh dẫn lên Yên Tử rất sởn sơ. Mỗi lần đi ngang, nhìn những chiếc lá non mọc từ thân cây, gần dưới gốc là tôi lại nhớ tới Thầy và bài học ‘tỉa cây’. Trong thời gian ở Lộc Uyển sáng nào Thầy cũng đi thiền hành thật sớm với thị giả, có khi Thầy ghé ngang xóm Trong Sáng rủ chúng tôi đi cùng. Có ngày Thầy cầm theo kéo tỉa cây và tỉa những cành non mọc dưới thấp, ‘để cây dồn sức cho mau lớn’. Những cành con được tỉa đi thì cây mọc thẳng và mạnh khỏe hơn, cũng như trong đời sống hàng ngày mình nên dồn năng lượng cho những gì thật sự là cần thiết và ‘tỉa bớt’ đi những âu lo vô ích thì chắc mình cũng lớn nhanh và vững vàng hơn, bạn hiền có nghĩ như thế không? 

Bạn hiền thân, tôi vừa đi khám bịnh về. Hai tháng nay có những suy giảm sức khỏe rõ rệt để tôi phải chấp nhận là cơ thể mình đã đến lúc thay đổi. Ôi bạn hiền, bạn hiền có biết là những điều mình rủ rỉ cho nhau không ngờ bị đem lên đài phát thanh đọc? Khi Thầy cho đăng lên Lá Thư Làng Mai thì tôi có hơi quê một chút, nhưng nghĩ là chỉ có ‘người làng’, thân hữu đọc mà thôi. Tuy nhiên khi ông bà bác sĩ bảo tôi là họ đã nghe bài viết về Vườn Nai đọc mỗi tuần trên đài phát thanh thì tôi quê quá chừng. Mới nhớ tới hồi nào vừa xuất gia, Thầy dạy tôi mình là của thiên hạ rồi, không có cái gì gọi là riêng tư hết. Nhớ lời Thầy mà tôi mỉm cười được. Bạn hiền biết mà, tôi hay thẹn và rất dễ mắc cỡ, rất dị ứng với những lời khen. Đó cũng là một trong những tâm hành mà mình phải thực tập vượt qua thì mới mong được an nhiên, nhưng chắc cũng còn lâu lắm đó bạn hiền. Và bạn hiền cũng đồng ý với tôi là những lời khen cũng như lớp vỏ bên ngoài, đâu có giúp tôi đi xa hơn trong đời sống nội tâm? 

Tôi vừa đi qua một cơn bão. Thêm một cơ hội để được quay lại quán chiếu chính mình. Để thấy rõ hơn thân tâm là một. Thân không khỏe thì tâm cũng khó giữ được an. Như chiếc thuyền mà đóng không kỹ thì khi bão tới dễ bị nước rỉ vào. Nhưng rồi mây cũng tạnh và gió cũng tan. Tôi lại thấy mình kiên nhẫn đi dọn dẹp lại hầm tàu, vá lại những nơi bị hư hại. Như bài học quét lá năm xưa. Một bài học mà cả đời vẫn áp dụng. Lần trước Thầy qua, giảng cho chúng tôi nghe một bài thơ Thầy mới làm. Tôi họa lại, cho mình, để tự nhắc nhở. Chép cho bạn hiền nè: 

Thầy vẫn đang đến, đi thong dong

Có, không, còn, mất, chẳng bận lòng

Bước chân con theo về thanh thản

Trăng vẫn soi ngang trời thái không.
 
 

Tháng Bảy