1.
Đi như một dòng sông
2.
Khuôn mặt
3.
Thiền: Chất liệu nuôi dưỡng, trị liệu và chuyển hóa
4.
Thông Bạch Đầu Năm 2002
5.
Bài Tụng Thiếu Nhi
ĐI
NHƯ MỘT DÒNG SÔNG
Ngày
em hai mươi tuổi.
Lá
Thư Thứ Hai Mươi Lăm ra ngày 12.2.2002
Năm
nay, 2002, là năm Làng mai được hai mươi tuổi. Để ăn mừng,
bốn chúng dự định tổ chức nhiều cuộc vui có ý nghĩa.
Trước hết, năm nay, từ ngày 1.6.2002 cho đến 21.6.2002 tại
Mai Thôn sẽ có khóa tu 21 ngày với đề tài Cánh Tay Của Bụt
dành cho các vị giáo thọ của Làng, các thành viên của dòng
Tiếp Hiện, và các thiền sinh đã có nhiều kiến thức và
kinh nghiệm tu tập. Trước khóa tu này, vào tháng 4. 2002, cũng
có một khóa tu đặc biệt khác, giảng dạy bằng Pháp ngữ,
với đề tài Đạo Bụt Và Trị Liệu Tâm Lý (la Psychothérapie
Bouddhique). Đại chúng cũng sẽ cho xuất bản những tập kỷ
yếu bằng Việt ngữ, Anh ngữ và Pháp ngữ có hình ảnh của
đạo tràng Mai Thôn và các cơ sở liên hệ. Lại sẽ có một
khóa tu tiếng Việt dành cho đồng bào ở Âu châu tổ chức
ngay tại Làng Mai bắt đầu từ ngày 17.4.2002 với chủ đề
Ngày em hai mươi tuổi. Lá Thư Làng Mai bằng tiếng Việt cũng
ra số đặc biệt, các lá thư tiếng Anh (The Mindfulness Bell)
và tiếng Pháp (Ici et Maintenant) cũng thế. Còn nhiều dự án
ăn mừng "ngày em hai mươi tuổi" nữa, nhưng chưa được tiết
lộ. Lá thư Làng Mai tiếng Việt mà bạn đang cầm trên tay,
như bạn đã biết, cũng là một lá thư đặc biệt. Mong rằng
lá thư này đem tới được cho các bạn nhiều niềm vui trong
dịp đầu năm.
Sen
Nở Trời Phương Ngoại
Năm
2001 là năm đầu của thế kỷ 21. Chúng ta đã thực tập ‘Leo
đồi thế kỷ’ với tư cách của một tăng thân dù thầy
Giác Thanh trú trì chùa Lộc Uyển đã thị tịch. Ai cũng thấy
một cách khá rõ ràng, là thầy vẫn còn đang leo đồi thế
kỷ với đại chúng. Đó cũng là nhờ sự thực tập mà không
ai bị sa vào trong tình trạng đau xót nhớ thương. Tính bất
diệt vô sinh của thầy Giác Thanh ai cũng tiếp xúc được
ít nhiều tùy theo trình độ tu tập.
Khóa
tu mùa Xuân 2001 đã được khai mạc ngày 2.3.01 tại chùa Cam
Lộ xóm Hạ. Ngay từ đầu khóa, Thầy đã đưa ra đề tài
quán chiếu và hội thảo về Làng Mai. Khi sư cô Mẫn Nghiêm
(sư em Mẫn Nghiêm năm nay mới có 15 tuổi) trở thành Sư Bà,
thì Làng Mai sẽ ra sao? Liệu tỷ số các thầy, các sư cô
Làng Mai gốc Tây phương có lên tới được 90%? Và chất liệu
văn hóa Tây phương sẽ được sử dụng để xây dựng nền
Phật giáo Âu Mỹ cũng có lên được tỷ lệ ấy chưa?
Ngày
26.3.01, Thầy đi Los Angeles. Ngày 30.3.01, bác sĩ Phan Thị Tuyết
Mai giải phẫu để thay thủy tinh thể cho con mắt phải của
Thầy. Ngày 1.4.01 Thầy giảng dạy ở Tu Viện Lộc Uyển. Ngày
5.4.01, Thầy lại nói pháp thoại tại Lộc Uyển. Ngày 7.4.01
Thầy và đại chúng Lộc Uyển viếng thăm hòa thượng Mãn
Giác tại chùa Việt Nam ở Los Angeles. Trong những ngày kế
tiếp, Thầy có dịp sinh hoạt gần gũi với tăng thân Lộc
Uyển và đến ngày 11.4.01 thì Thầy bay trở về Pháp.
Ngày
18.4.01, tại Làng Mai khai giảng khóa tu hàng năm bằng tiếng
Pháp. Khóa này kéo dài tới sáu ngày. Về khóa tu tiếng Pháp
năm ngoái, những bài giảng của Thầy đã được phiên tả
và nhà xuất Dangles đã xuất bản thành sách dưới nhan đề
là Toucher La Vie. Các bạn thông thạo tiếng Pháp nên tìm đọc
sách này, bởi vì nội dung sách rất giàu có và hàm chứa
rất nhiều phương pháp thực tập hữu hiệu để chuyển hóa
phiền não, tạo dựng an vui. Ngày 2.5.01 Thầy lại phải trở
qua Tu Viện Lộc Uyển để dự lễ ra mắt hai cuốn Thiết
Lập Tịnh Độ và Sen Nở Trời Phương Ngoại, và diễn giảng
cho thính chúng Hoa Kỳ tại San Diego. Chuyến đi này có thầy
Pháp Niệm và các sư cô Chân Không, Tín Nghiêm và Kính Nghiêm
đi phụ tá. Buổi ra mắt hai cuốn sách Thiết Lập Tịnh Độ
và Sen Nở Trời Phương Ngoại được tăng thân San Diego tổ
chức vào ngày 6.5.01 tại xóm Vững Chãi. Anh Chân Đạo Hành
và chị Chân Tuệ Hương, những người giúp Thầy nhuận sắc
sách Sen Nở Trời Phương Ngoại cũng có mặt. Ngày hôm nay
Phật tử Việt Nam tới Tu Viện Lộc Uyển rất đông; buổi
sáng tứ chúng được nghe Thầy giảng kinh Di Đà và buổi
chiều kinh Pháp Hoa. Mọi người lại có dịp đi thiền hành
và ăn cơm chánh niệm với Thầy. Ngày thứ năm 10.5.01, Thầy
giảng về đề tài Xây dựng tăng thân tại thiền đường
Trăng Đầu Non. Ngày 11.5.01, Thầy trả lời buổi phỏng vấn
cho chương trình cuốn phim The Living Buddha do một hãng phim Hoa
Kỳ thực hiện. Sau đó Thầy trả lời cuộc phỏng vấn của
đài truyền hình San Diego. Chiều hôm ấy Thầy tiếp tăng thân
San Diego, gồm có những thành phần Mỹ và Việt chịu trách
nhiệm tổ chức buổi thuyết giảng bằng Anh ngữ của Thầy
tại San Diego.
Buổi
thuyết giảng tại San Diego ngày 12.5.2001 với đề tài là Cultivating
Peace In Ourselves and our Communities, một buổi thuyết giảng đã
được tăng thân San Diego tổ chức kỹ lưỡng trong nhiều
tháng qua, đã đem lại nhiều thành công và lợi lạc lớn.
Có hơn hai ngàn người tới tham dự trong đó có nhiều nhân
sĩ và viên chức chính quyền địa phương. Ông Azim Khamisa
đã đứng ra giới thiệu Thầy. Ngày 13.5.01, Thầy giảng tiếp
về đề tài Xây Dựng Tăng Thân. Ngày 14.5.01, Thầy về Boston
để đi tu viện Rừng Phong. Ngày 17.5.01, Thầy giảng cho đại
hội Tiếp Hiện Bắc Mỹ tại đạo tràng Thanh Sơn, đề tài
bài giảng là Bốn Loại Thực Phẩm. Có ông Bill Ford đến
tham dự và tu tập một ngày. Buổi chiều, Thầy trả lời
các câu hỏi của các thành viên dòng Tiếp Hiện xoay quanh
các vấn đề thực tập và xây dựng Tăng thân. Ngày 18.5.01
tại trung tâm Hynes Conventional Center ở thành phố Boston, Thầy
thuyết giảng cho trên 3.000 người Mỹ với đề tài ‘Peace
is the Way’. Đêm hôm ấy Thầy ngủ lại Boston cùng một số
các thầy và các sư cô, để sáng hôm sau viếng thăm trường
đại học Long Island ở New York. Chiều hôm 19.5.01, Thầy diễn
thuyết tại vận động trường của trường đại học Long
Island cho khoảng 1.500 sinh viên, giáo sư và phụ huynh trường
đại học. Sáng ngày 20.5.01 Thầy phải tới Viện Mắt của
trường đại học Columbia để nhờ bác sĩ Schubertz xem lại
con mắt nên không tham dự được lễ tốt nghiệp của trường
đại học Long Island và diễn thuyết được cho sinh viên tốt
nghiệp và phụ huynh của họ như đã dự định. Tuy nhiên,
trong lúc Thầy vắng mặt, ông Robert Sillerman, viện trưởng
của South Hampton College, đã đứng lên giới thiệu Thầy và
ông David Steinberg, viện trưởng viện đại học Long Island
đã nhân danh Viện Đại Học hiến tặng Thầy bằng cấp Tiến
Sĩ Nhân Văn (Doctor of Humane Letters) danh dự của trường đại
học. Viện Đại Học đã tặng bằng cấp này để xác nhận
giá trị các công tác mà Thầy đã thực hiện trong mấy mươi
năm qua trong lĩnh vực giáo dục, văn hóa và xã hội. Ông viện
trưởng Viện Đại Học đã tuyên bố những lời sau đây:
‘Thầy đã mang hết năng lượng của cuộc đời để chữa
lành những thương tích gây ra cho thế giới do cuộc chiến
ở Việt Nam. Trong truyền thống Gandhi và Martin Luther King, Thầy
dạy rằng bất bạo động là con đường duy nhất cho hành
động chính trị và cách mạng xã hội. Cuộc đời của Thầy
đã chứng minh rằng chánh niệm, thiền quán và tình thương
không vị kỷ là con đường duy nhất đưa tới hòa bình’.
Chiều hôm ấy giáo sư Louis Greenstein đã ra tận phi trường
Westhampton đưa tiễn Thầy, đem theo cả áo mũ tiến sĩ ra để
trao cho Thầy. Giáo sư nói: ‘Chúng tôi chẳng có cái gì quý
hơn để tặng Thầy, xin Thầy vui lòng tiếp nhận’. Tối
hôm ấy từ phi trường Boston Thầy và các vị phụ tá bay
về Pháp.
Mô
thức thực tập mới
Ngày
28.5.01, Thầy cùng một phái đoàn Làng Mai đi Luân Đôn. Phái
đoàn tháp tùng Thầy gồm có các thầy Pháp Trí, Pháp Hải,
các sư cô Chân Không, Hoa Nghiêm, Tịnh Quán, Định Nghiêm,
Thiều Nghiêm và Anh Nghiêm. Trong ba buổi chiều liên tiếp,
tại giảng đường lớn của nhà thờ Methodist ngay tại trung
tâm thủ đô Luân Đôn, với đề tài Peace in Oneself, Peace in
the World, Thầy và tăng đoàn đã giảng dạy và thực tập
với một thính chúng người Anh khoảng trên 1.500 người. Buổi
chiều nào thiền sinh cũng đến lúc 6 giờ chiều để thực
tập thiền hành với Thầy và tăng đoàn, đi từ giảng đường
đến công viên gần đấy. Cảnh sát đã giữ gìn cho các đoàn
thiền hành được đi trong thoải mái và an lạc, mỗi đoàn
được một số các vị xuất gia hướng dẫn. Tại công viên,
đại chúng cũng ngồi xuống theo từng đoàn và ăn cơm chiều
chánh niệm trên cỏ xanh. Nữ mục sư Elizabeth Harris phụ trách
sinh hoạt Liên Tông của nhà thờ Methodist đã đứng lên ân
cần giới thiệu Thầy cho thính chúng. Điều đáng ghi nhớ
là số thính giả đã tăng lên mỗi ngày. Rất nhiều thiền
sinh rất cảm kích, một số đông ban ngày có thể đi làm
như thường lệ, và tới buổi chiều lại được thực tập
4 giờ đồng hồ với tăng đoàn Làng Mai. Tất cả đều nhận
được lệnh suốt trong ngày tuy đi làm vẫn an trú trong chánh
niệm, và buổi tối khi ra về vẫn giữ im lặng hùng tráng
cho đến sáng ngày hôm sau. Thầy và tăng đoàn đã có ý sẽ
tổ chức những ngày tu học tại Paris và các thành phố khác
ở Âu châu theo mô thức này. Ngày 7.6.01 tại Nội Viện Phương
Khê, Thầy giảng cho đại chúng xuất gia về đề tài ‘This
is it’. (Nó đây rồi)
Chân
trời rộng
Ngày
8.6.01, Thầy cùng một phái đoàn xuất gia lên đường đi Đức.
Phái đoàn tháp tùng Thầy gồm có các thầy Nguyên Chơn, Giác
Trí, Minh Nghĩa, Pháp Ấn, Pháp Ứng, Pháp Niệm, Pháp Cần và
các sư cô Chân Không, Diệu Nghiêm, Thuần Nghiêm, Tố Nghiêm,
Đẳng Nghiêm, Đạt Nghiêm và Vĩnh Nghiêm.
Tại
Koeln ngày 8.6.01, ở tòa thị chính (Stadthalle) Thầy giảng cho
1.500 người Đức những căn bản về những pháp thực tập
chánh niệm. Ngày hôm sau là ngày quán niệm tổ chức cho thiền
sinh Đức tại vùng Koeln gần một công viên rất mỹ lệ nơi
đó thiền sinh đã được Thầy hướng dẫn thiền hành. Thầy
dạy mình không cần là Phật tử cũng có thể thực tập được
chánh niệm, và đưa ra những pháp môn thực tiễn để nuôi
dưỡng, trị liệu và chuyển hóa thân tâm. Ngày hôm sau, 10.6.01,
là một ngày quán niệm cho đồng bào Phật tử được tổ
chức tại viện bảo tàng Hambroich không xa thành phố Neuss.
Chiều
hôm ấy sau khi hoàn mãn ngày chánh niệm, tăng đoàn đi Oldenburg
bằng xe lửa, để khai giảng khóa tu cho trên 600 người Đức.
Khóa tu này phẩm chất rất cao và thiền sinh được chuyển
hóa nhiều lắm. Ngay từ ban đầu Thầy đã dạy về Tam Pháp
Ấn, ứng dụng được ngay vào sự sống hàng ngày. Tứ Đế
và Bát Chánh Đạo được đem ra giảng giải và áp dụng một
cách rất khoa học. Trong khóa tu này Thầy đã sáng tác ra được
nghệ thuật pháp kịch (Dharma Drama) đưa thiền sinh lên để
đóng những vai trò cha con, anh em, vợ chồng v.v.. để giúp
cho toàn thể thiền sinh thấy và nhớ lại được những phép
thực tập họ đã được trao truyền để mai mốt về nhà
họ có thể nhớ đem ra mà áp dụng khi cần thiết. Trong khóa
tu này Thầy cũng đã tìm ra thì giờ để sáng tác thêm được
năm bài tụng bằng tiếng Việt. Nhiều thiền sinh Đức đã
báo cáo là trong khóa tu họ đã sử dụng điện thoại để
thực tập hòa giải với những người thân của họ, và thực
tập rất thành công nhờ cảm hứng do những bài pháp thoại
của Thầy gây ra. Khóa tu chấm dứt vào 12 giờ trưa ngày 15.6.01
và sau đó tăng đoàn đã lên xe lửa để đi về Frankfurt.
Tám
giờ chiều hôm ấy, tại khách sạn Hessischer Hof, Thầy được
báo chí và đài vô tuyến truyền hình Đức phỏng vấn, trong
khi tăng đoàn đã có mặt tại Damstadt để chuẩn bị cho khóa
tu dành cho 400 đồng bào Việt Nam. Thầy đã tới Frankfurt để
tham dự Đại Hội Giáo Hội Tin Lành Đức Quốc (Deutscher Evangelischer
Kirchentag) tổ chức tại đây có gần cả 100.000 người từ
toàn quốc về tham dự trong vòng năm ngày. Trong lá thư gởi
mời Thầy đề ngày 20.10.2000, tiến sĩ Friederike Woldf, tổng
thư ký ban tổ chức, đã viết những dòng sau đây: ‘Thay
mặt hội đồng chủ tọa Đại Hội, tôi kính gởi đến Thầy
lời chào hỏi của các vị chủ tọa, và hy vọng rằng Thầy
sẽ chấp nhận lời mời của chúng tôi và chúng tôi tin rằng
bài thuyết giảng của Thầy sẽ gây được cảm hứng và
hướng đi cho Đại Hội Tin Lành Đức Quốc lần thứ 29 một
cách chưa từng có.’ (On behalf of our presidency, I am sending you
greetings and I am hopping that you’ll be able to comply with our request
and that your speech with shape the 29th German Protestant Kirchentag in
an extraordinary way). Chủ đề của đại hội năm 2001 là ‘Người
đã cho chúng con đặt chân trên một miền đất rộng’ (You
have set my feet in a broad place), lấy từ Ca Vịnh số 31.8 trong
Cựu Ước.
Ngày
16.6.01, Thầy thuyết giảng tại hội trường lớn nhất của
đại hội cho một thính chúng gồm trên 7.000 người Đức.
Thầy nói về tuệ giác và từ bi là những năng lượng giữ
gìn ta không cho ta rơi vào cạm bẫy của hận thù và tuyệt
vọng, và đưa ta tới khung trời giải thoát. Thầy lại nói
rằng nước Chúa, hay Phật độ, là một thực tại có thể
tiếp xúc ngay được trong giây phút hiện tại, và đó là
tự do đích thực của con người. Nếu ta không bị những
phiền não như thèm khát và sợ hãi trấn ngự thì ta có thể
đi ngay vào khung trời tự do ấy. Thầy cũng mong ước nhà
thờ sẽ cung cấp những giáo lý và thực tập có thể đối
trị được với những phiền não hiện có và giúp được
cho con người tiếp xúc ngay được với khung trời tự do kia.
Và Thầy chấm dứt buổi giảng bằng cách chỉ dạy mọi người
phương pháp đi thiền hành.
Tăng
đoàn trước buổi pháp thoại đã cùng xướng tụng bài Đầu
Cành Dương Liễu và niệm Bồ Tát Quan Thế Âm. Bây giờ Thầy
và tăng đoàn hướng dẫn mọi người đi thiền hành. Có khoảng
trên 4.000 người cùng đi thiền hành với Thầy và tăng đoàn
qua những đường phố Frankfurt, từ trung tâm Đại Hội đến
Nhà Hát Lớn. Xe cảnh sát đã chặn đường và khai thông đại
lộ để bảo vệ cho cuộc thiền hành. Đây có lẽ là lần
đầu tiên trong lịch sử Đức Quốc có một đoàn người
đi thiền hành trong chánh niệm đông như thế. Gần một giờ
đồng hồ sau, đoàn thiền hành đi tới Nhà Hát Lớn, và tại
đây Thầy lại thuyết giảng thêm về đướng lối giáo dục
bất bạo động cho quần chúng đang quy tụ phía trước. Cuối
cùng Thầy và tăng đoàn đã thả bong bóng màu lên trời trước
sự hoan hô nồng nhiệt của quần chúng.
Ngày
17.6.01, tại Damstadt, trong khóa tu mà tăng đoàn đang hướng
dẫn cho đồng bào, Thầy giảng một bài về phương pháp san
bằng hố ngăn cách văn hóa và tuổi tác giữa hai thế hệ
để thiếp lập truyền thông và hạnh phúc trong gia đình.
Có trên 400 đồng bào tham dự khóa tu này. Sau bài pháp thoại,
Thầy đã hướng dẫn đồng bào đi thiền hành trong rừng,
bên cạnh trường trung học sử dụng để làm đạo tràng
cho khóa tu. Ba giờ chiều hôm ấy, Thầy và tăng đoàn lại
đi xe lửa lên Hamburg để ngày sau thuyết giảng và hướng
dẫn một ngày tu chánh niệm cho Phật tử người Đức trên
ấy. Trong dịp hành đạo ở Hamburg, tăng đoàn đã có dịp
viếng thăm sư bà Diệu Tâm và ni chúng tại Ni Viện Bảo Quang
Tự. Ngày hôm sau tăng đoàn trở về Pháp.
Ngày
18.6.01 tại chùa Từ Nghiêm, xóm Mới, có lễ xuất gia của
năm vị: Pháp Lượng, Pháp Lực, Pháp Khí, Hóa Nghiêm và Mật
Nghiêm, gọi là năm Cây dâu (Muriers)
Sáu
bông hoa quỳnh nở
Ngày
12.7.01, tại Làng Mai, khóa tu mùa Hè bắt đầu. Năm nay tổng
số thiền sinh về Làng tu tập là 2.370 người. Đã từ mấy
năm nay, trong khóa tu mùa Hè, Thầy giảng dạy năm ngày mỗi
tuần, mỗi ngày hai bài pháp thoại tương đối ngắn bằng
hai thứ tiếng khác nhau, thay vì một bài pháp thoại dài bằng
một thứ tiếng. Thí dụ hôm nay bài pháp thoại đầu là tiếng
Pháp, thì bài thứ hai là tiếng Việt. Ngày mai bài đầu là
tiếng Việt, bài thứ hai là tiếng Anh. Ngày mốt bài đầu
là tiếng Anh, bài hai là tiếng Pháp, v.v.. Mỗi tuần Thầy
lại cho một buổi vấn đáp bằng Anh ngữ. Những hộp máy
dịch có cắm ống nghe được chế tạo ngay tại Làng để
thiền sinh các nước có thể nghe pháp qua bản dịch đồng
thời.
Năm
nay số thiền sinh Pháp đông hơn mọi năm.
Hôm
mồng một tháng 8 năm 2001, tờ Le Monde, nhật báo lớn nhất
của Pháp đã đăng trọn trang một bài về Làng Mai, với nhan
đề L’éveillé du Village des Pruniers. Ngày 2.8.01 tờ Témoignage
Chrétien, tạp chí có uy tín nhất của Công giáo Pháp cũng
có đăng một bài sáu trang về Làng Mai, với nhan đề Bouddhisme:
j’ai trouvé la Paix en Périgord (Đạo Bụt: Tôi đã tìm được
an lạc của tâm hồn tại vùng Périgord). Périgord là vùng đất
mà Làng Mai đang tọa lạc. Bài báo này lại có thêm hai đề
nữa: Un moine au coeur du siècle (Một ông thầy tu giữa lòng
thế kỷ) và Au pays de l’instant présent (Xứ sở của giây
phút hiện tại). Nữ ký giả Véronique Badets viết bài phóng
sự này rất xuất sắc vì cô đã về Làng tu tập miên mật
với đại chúng trong suốt bảy ngày, tham dự vào tất cả
các hoạt động của thời khóa. Mới gần đây, ngày 27.12.2001,
tuần báo L’express, một tuần báo có uy tín nhất của nước
Pháp, tương đương với tờ Newsweek của Hoa Kỳ, cũng có đăng
một bài sáu trang về Làng Mai. Bài này ký giả Jean Sébastian
Stehli viết rất công phu, vì ông đã phỏng vấn nhiều nhân
vật quan trọng tại Hoa Kỳ và tại Pháp trưóc khi viết. Nếu
bài báo trong Témoignages Chrétiens nói lên được nếp sống
tâm linh tại Làng, thì tờ L’express lại nói lên được tầm
vóc quốc tế của Thầy. Những bài báo như vậy đã làm cho
độc giả tìm đọc sách Thầy nhiều hơn và ghi tên vào các
khóa tu học ở Làng đông hơn.
Ngày
17.7.01 vào lúc 9 giờ 15 tối sáu bông hoa quỳnh nở tại thất
Ngồi Yên. Các thầy và các sư chú ở xóm Thượng đã ở
chơi với Thầy cho tới 11 giờ khuya. Sáng hôm sau một bông
hoa quỳnh khác lại nở.
Giọt
nước Cam Lộ
Ngày
9.8.01, Thầy cùng một tăng đoàn xuất gia lên đường cho chuyến
hoằng pháp mùa Thu tại Hoa Kỳ. Trong chuyến đi này có một
số các vị thượng tọa từ Việt Nam qua tháp tùng: đó là
các thượng tọa Minh Nghĩa, Nguyên Chơn, Giác Trí, Phước Tịnh
và Thông Hội. Máy bay đáp xuống phi trường Boston rất khó
nhọc vì có mưa bão rất lớn. Phái đoàn về tới tu viện
Rừng Phong lúc 10 giờ tối. Ngày 13.8.01, đại chúng cùng đi
lên khóa tu tổ chức tại trường đại học Massachusetts ở
Amherst thuộc tiểu bang MA. Chủ đề của khóa tu là "Yểm trợ
cho sự thực tập an hòa và bất bạo động trong khung cảnh
gia đình, học đường và nơi làm việc" (Supporting the Practice
of Peace and Non-Violence in the family, school and workplace). Số lượng
các vị xuất gia có mặt để hướng dẫn khóa tu là 80 vị.
Có trên 800 thiền sinh Hoa Kỳ tham dự. Sáng ngày 18.8.01, ngày
cuối của khóa tu, có lễ truyền quy giới cho thiền sinh. Bốn
giờ chiều hôm ấy, tại Mullins Center của trường đại học,
trên 3.000 người đã tới tham dự buổi thuyết giảng của
Thầy với đề tài là: ‘Sống hạnh phúc, chết bình an’
(Living happily, dying peacefully).
Ngày
hôm sau tăng đoàn bay về tu viện Lộc Uyển ở tiểu bang California.
Ngày 22.8.01, khóa tu cho người Hoa Kỳ được tổ chức tại
trường đại học UCSD. Ngày 26.8.01 tất cả các thiền sinh
của khóa tu đều được đưa về Tu Viện Lộc Uyển để
thực tập một ngày. Buổi sáng có pháp thoại ở Rừng Sồi,
buổi chiều có vấn đáp. Ngày 27.8.01, có lễ truyền giới
Tiếp Hiện, và sáng ngày 28 có lễ truyền Năm Giới.
Khóa
tu vừa chấm dứt ngày 28.8.01 thì ngày hôm sau đã bắt đầu
khóa tu cho đồng bào, cũng tại trường đại học UCSD. Phẩm
chất của khóa tu này rất cao, và đồng bào tu tập rất nghiêm
chỉnh. Hạnh phúc và sự chuyển hóa được nhìn thấy trên
mặt mọi người. Trong khóa tu này, sư cô Chân Đức đã phiên
dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh cho một số thiếu niên
không đủ giỏi tiếng Việt để theo dõi trực tiếp những
bài giảng bằng tiếng Việt.
Ngày
5.9.01, Thầy thuyết giảng cho khoảng 1.500 người Mỹ tại
Civic Auditorium tại thành phố Pasadena. Ngày 06.9.01, hòa thượng
Thanh Từ và một số các vị đệ tử xuất gia của Ngài đã
ghé thăm Thầy và đại chúng Tu Viện Lộc Uyển. Sáng hôm
sau, Thầy và một số các vị xuất gia cũng sang thăm Tu Viện
Đại Đăng. Ngày 08.9.01, tại công viên Balboa Park ở San Diego
có ngày chánh niệm cho 1.500 người Mỹ. Ngày hôm sau, 09.9.01,
tăng đoàn viếng thăm chùa Huệ Quang ở quận Cam (Orange County)
và Thầy đã thuyết giảng cho một thính chúng người Việt
khoảng 7.000 người. Sáng sớm ngày 11.9.01, Thầy và tăng đoàn
lên xe ca đi về Tu Viện Kim Sơn ở Watsonville, miền Bắc California.
Trước
khi lên xe, Thầy đã được thông báo về biến cố xảy ra
tại New York và Washington DC nhưng không có nhiều chi tiết.
Về tới Tu Viện Kim Sơn, tăng đoàn mới biết được tầm
quan trọng của biến cố. Vì tầm quan trọng ấy của biến
cố, nên Thầy đã quyết định đổi đề tài của buổi diễn
thuyết ngày 13.9.01 tại Berkeley. Thay vì lấy đề tài đã được
đề nghị trước đây là Sinh Tử Tương Tức, Thầy quyết
định nói về đề tài Đối Phó Bạo Động, Ôm Ấp Để
Chuyển Hóa Hận Thù.
Buổi
diễn thuyết tại nhà hát cộng đồng Berkeley (Berkeley Communal
Theater) có trên 4.000 người tham dự. Tăng đoàn đã bắt đầu
bằng một lễ cầu nguyện. Tất cả các thầy và các sư cô
đều đắp y tăng già lê. Bàn thờ gồm có một bình hoa, một
bát hương và hai cây nến được đặt trên sân khấu, giữa
tăng đoàn và thính chúng. Khi Thầy đi vào, tất cả thính
chúng đều đứng dậy. Thầy niêm hương bằng tiếng Anh. Thầy
nói: "Trong giờ phút này, chưa có ai trong chúng ta đã vượt
thoát được sự chấn động tâm can gây ra bởi biến cố
ngày 11.9 ở New York. Chúng ta hãy cầu xin Bụt, các vị bồ
tát và tất cả tổ tiên tâm linh của chúng ta có mặt để
giúp chúng ta ôm ấp được nỗi khổ niềm đau to lớn này,
nỗi khổ niềm đau không những của thành phố New York, của
nước Hoa Kỳ, mà còn là của cả trái đất, của cả gia
đình nhân loại, để chúng ta có được sự trầm tĩnh và
sáng suốt. Sự trầm tĩnh và sáng suốt này sẽ giúp chúng
ta thấy được những gì ta cần làm và những gì ta không
nên làm, như vậy để chúng ta đừng hấp tấp, vội vã mà
gây thêm khổ đau cho chúng ta và cho kẻ khác. Trong chiều sâu
tâm thức, chúng ta biết rằng mọi hình thái bạo động đều
có tính cách bất công, rằng hận thù không thể nào giải
tỏa được hận thù, rằng chỉ có sự hiểu biết và tâm
thương yêu mới có thể tiêu diệt được bạo động và hận
thù. Cố nhiên trong lúc này ta phải làm được tất cả những
gì ta có thể làm để cứu trợ cho những người đang được
cần cứu trợ, và ngăn cản bạo lực và khủng bố không
cho phép chúng tiếp tục gây tàn hại trong ta và chung quanh
ta. Chúng ta hãy dâng lên bàn thờ tổ tiên tâm linh của chúng
ta những lễ vật quý báu nhất mà chúng ta có thể cúng dường:
đó là sự vững chãi, sự trầm tĩnh, tuệ giác và lòng từ
bi của chúng ta. Giờ đây, chúng ta hãy dâng hương và tụng
đọc Tâm Kinh với tuệ giác và tất cả sự thành kính.’
Sau
khi dâng hương và tụng Tâm Kinh bằng Anh ngữ, tăng đoàn đã
tụng bài We are trurely present (Chúng con hiện tiền tâm thanh
tịnh). Trong suốt thời gian đó, trên 4.000 thính giả đều
đứng dậy và phần lớn đã chắp tay. Lễ cầu siêu và cầu
an chấm dứt, mọi người ngồi xuống và lắng nghe Thầy giảng
dạy. Bài giảng của Thầy đã xoa dịu được vết thương
trong lòng mọi người, chỉ cho mọi người thấy con đường
của tình thương và bất bạo động, chuyển hóa được hận
thù và sợ hãi. Mỗi lời Thầy nói đều như một giọt nước
cam lồ rưới lên trái tim khổ đau của từng người. Sau khi
tụng kinh hồi hướng, tăng đoàn đưa tay vẫy chào thính chúng,
tất cả đều đưa tay vẫy lại. Có những người đứng dậy
và hô lớn: "We love you! We love you!" Cảnh tượng rất cảm
động. Không ngờ một buổi sinh hoạt ba giờ đồng hồ mà
có thể đem tới nhiều chuyển hóa và an ủi cho nhiều người
như thế. Bài thuyết giảng này đã được phát thanh toàn
vẹn nhiều lần trên đài KPFK và được nhiều đài khác tiếp
vận. Bài này cũng đã được các thầy trong tăng đoàn thu
hình, hiện được tàng trữ tại Làng Mai.
Ngày
17.9.01, Thầy khai giảng khóa tu xuất gia tại Tu Viện Kim Sơn.
Các vị xuất gia trẻ từ các chùa viện khác tới tham dự
đông đảo. Nội dung của khóa tu rất súc tích và giàu có.
Không khí của khóa tu rất thân mật và nghiêm túc. Ngay trong
ngày đầu Thầy đã giảng kinh Sơ Tâm và bài quy nguyện Nương
Tựa A Di Đà đánh động và làm sống dậy năng lượng ban
đầu của người xuất gia và để đưa mọi người vào thế
giới mầu nhiệm của hiện pháp lạc trú. Thầy đã hướng
dẫn một cách rất thực tế cho người xuất gia để họ
có thể vượt thoát những bế tắc và quay lại với chí nguyện
ban đầu của mình. Những phương pháp thực tập chuyển hóa
rất cụ thể đã được Thầy đưa ra cho mọi người cùng
thấy con đường mà ai cũng phải nắm lấy. Trong buổi pháp
thoại sáng ngày 20.9.01 Thầy nói về một đề tài rất hấp
dẫn: "Một sư chú có quyền nắm tay một sư cô không? " Sáng
ngày 21.1.01, Thầy nói bài pháp thoại cuối của khóa tu vào
lúc 7 giờ rưỡi sáng về các phương pháp thực tập thiền
ngồi, thiền đi và thiền lạy. Sau đó Thầy lên đường đi
Las Vegas để về Chicago.
Tối
hôm trước, 20.9.01, vào lúc 8 giờ chiều, Thầy nhận được
tin là em trai Thầy, chú Song, mới qua đời ở Chicago, trong
khi chú đang còn khỏe mạnh và đang tích cực xây dựng tăng
thân ở Chicago. Chú Song đã qua đời chỉ vì một cơn suyễn,
mà xe cấp cứu không xử lý được tình trạng trên đường
đến bệnh viện. Đêm ấy Thầy thức trong thất Phương Vân
ở Tu Viện Kim Sơn, thắp hương, ngồi thiền và viết bút
pháp. Thầy viết "Hoa Sen Chín Phẩm" và "Đẹp Tình Huynh Đệ,
Ngày Ấy Bên Nhau". Không có máy bay trực tiếp đi Chicago sáng
hôm đó nên Thầy đã đi Las Vegas - Chicago. Tháp tùng Thầy
có sư cô Chân Không, thầy Pháp Niệm và sư cô Kính Nghiêm.
Ngày 22.9.01 Thầy hướng dẫn tang lễ, giảng pháp cho thân
hữu đến viếng và làm lễ truyền Năm giới. Thầy đã để
nhiều thì giờ để an ủi và sinh hoạt với thím Song và các
cháu. Sáng 23.9.01, Thầy và ba vị phụ tá lên đường đi New
York bằng một chiếc máy bay chỉ có bốn chỗ ngồi. Máy bay
này do các Phật tử từ Vermont gởi tới.
Ngày
24.9.01 tờ New York Times có đăng một thông bạch Thầy chia
buồn với các nạn nhân của cuộc thảm sát ngày 11.9 tại
NewYork đồng thời báo tin là Thầy sẽ diễn giảng tối ngày
25.9.01 tại nhà thờ Riverside Church ở số 490 đường Riverside
Prive, Nữu Ước, với đề tài Embracing Anger (Ôm ấp và chuyển
hóa hận thù). Bản thông bạch này chiếm một phần tư trang
của tờ Nữu Ước Thời Báo. Sáng ngày hôm sau, tờ báo này
lại đăng một thông bạch nội dung tương tợ, nhưng chiếm
hết cả một trang đầy, đó là trang A 5. Để đăng thông
bạch này, Phật tử New York và Vermont đã phải trả tới 40.000
Mỹ kim. Thông bạch báo tin là nhạc sĩ Paul Winter và ca sĩ
Judy Collins sẽ có mặt để trình diễn, yểm trợ cho chương
trình sinh hoạt đêm ấy tại thánh đường Riverside. Thông
bạch này nhắc lại những điều cốt tủy Thầy đã nói tại
Berkeley, có in bài thơ Ấm Áp của Thầy và nhắc lại cuộc
tàn phá thị xã Bến Tre của không lực Hoa Kỳ. In lại bài
thơ và nhắc lại ngày đau thương ấy để kêu gọi người
Hoa Kỳ hãy bình tĩnh trong biến cố New York như Thầy đã bình
tĩnh trong biến cố Bến Tre để có thể có đủ sáng suốt
mà hành động.
Sáng
ngày 25.9.01, Thầy phải đến cơ sở Equitable Production Group,
787 seventh Avenue ở NewYork để cho các đài truyền thanh và
truyền hình trong nước Mỹ phỏng vấn. Cuộc phỏng vấn này
đã kéo dài từ 6 giờ sáng cho đến 2 giờ chiều, và đã
được nhà xuất bản Riverhead sắp đặt nhân dịp cuốn sách
mới nhất của Thầy ra đời. Cuốn sách này tên là Anger (Giận).
Ngày ra đời của cuốn sách là ngày 10.9.01, chỉ trước biến
cố World Trade Center hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Các đài
truyền hình và truyền thanh luân phiên phỏng vấn Thầy. Thầy
chỉ cần ngồi kiết già trên một cái bục gỗ và ký giả
của các đài đều từ xa gọi đến. Các cuộc phỏng vấn
hầu hết đều là trực tiếp truyền hình và truyền thanh.
Hình ảnh và âm thanh của Thầy đã được truyền đi từ
Nữu Ước. Có cuộc phỏng vấn kéo dài 15 phút, có cuộc phỏng
vấn chỉ kéo dài có 3 phút. Tính ra thì trong buổi sáng ấy
Thầy đã tiếp xúc được ít ra là 50 triệu khán giả và
thính giả Hoa Kỳ. Sau đây là lịch phỏng vấn, do nhà xuất
bản Riverhead cung cấp.
Buổi
phỏng vấn ở Satelite Media Tower tại New York ngày 25 tháng 9
năm 2001
ABC
Radio (The Bob & Lou Show) truyền thanh, toàn quốc, thu trước
WDAF/
FOX (morning show) truyền hình, Kansas City, trực tiếp
KUSA
/ NBC (morning news) truyền hình, Denver, thu trước
WJRT
/ ABC (morning news) truyền hình, Flint, trực tiếp
WALA
/ FOX (morning news) truyền hình, Mobile, trực tiếp
KTRT
/ ABC (morning news) truyền hình, Houston, trực tiếp
KSDK
/ NBC (morning news) truyền hình, St. Louis, thu trước
Radio
America (Good day USA) truyền thanh, toàn quốc, trực tiếp
KPFO
/ CBS (morning news) truyền hình, Phoenix, trực tiếp
NEWS
12 LI (morning edition) truyền hình, New York, trực tiếp
WJBK
/ FOX (morning news) truyền hình, Detroit, trực tiếp
OHIO
NEWS (morning news) truyền hình, Ohio, trực tiếp
KDFW
/ FOX (5 PM News) truyền hình, Dallas, thu trước
USA
RADIO (Day break USA) truyền thanh, toàn quốc, thu trước
KOVR
/ CBS (morning news) truyền hình, Sacramento
CONUS
(All news channel) truyền hình, toàn quốc
WS™
/ NBC (5 PM News) truyền hình, Syracuse, thu trước
NEWS
12, WESCHSTER (morning edition) truyền hình, New York, trực tiếp
WIOD-AM
(morning news) truyền thanh, Miami, thu trước
WLVQ-FM
(morning show) truyền thanh, Columbus OH, thu trước
KPTV
/ UPN (morning news) truyền hình, Portland, trực tiếp
CABLE
VISION (See, hear) truyền hình, St. Louis, trực tiếp
KRON
/ NBC (Medical Feature) truyền hình, San Francisco, thu trước
VOA
(Book World) truyền thanh, quốc tế, thu trước
WKRC
/ CBS(5 PM News) truyền hình, Cincindi, thu trước
KXL-AM
(News Feature) truyền thanh, Portland, thu trước
WAMC-NPR
(The Round Table) truyền thanh, N.E, thu trước
Bảy
giờ chiều hôm ấy tại nhà thờ Riverside Church ở NewYork có
khoảng 3.000 người được vào ngồi trong nhà thờ. Đứng
bên ngoài nhà thờ có chừng 1.500 người không vào được.
Sau phần trình diễn của các nghệ nhân, tăng đoàn trong y
áo nghi lễ đã làm lễ cầu nguyện và tụng kinh trước khi
Thầy giảng dạy, hình thức cũng gần giống như ở Berkeley,
nhưng khác hơn là thay vì niêm hương, Thầy đã niêm đăng,
nghĩa là thay vì nâng lên ba cây nhang, Thầy đã nâng lên một
cây đèn nến, như vậy để cho có vẻ gần gũi với văn hóa
Tây phương hơn. Kết quả của buổi sinh hoạt cũng tốt đẹp
không khác gì buổi sinh hoạt ở Berkeley. Phần lớn đều biết
chắp tay trong thời gian cầu nguyện. Sự chuyển hóa được
trông thấy trên mọi khuôn mặt. Mọi người ra về nhẹ nhàng
và thư thái gấp bội, không như khi họ vừa đến. Thầy và
tăng đoàn đã đem giọt cam lộ của Đức Như Lai tưới lên
trái tim đau khổ và nóng bức của từng thính giả. Pháp Bụt
quả thực là mầu nhiệm. Năng lượng của tăng đoàn đã
giúp cho giáo pháp của Đức Thế Tôn chuyển hóa được hàng
ngàn người sau chỉ mấy giờ đồng hồ thực tập.
Cất
tiếng lên cho chim xanh ngàn phương bay về quy tụ
Buổi
thuyết giảng tại nhà thờ Riverside quả thật là một phép
lạ. Trước hôm 25.9.01 nhiều người đã lo lắng cho Thầy,
sợ Thầy sẽ bị ám hại ngay trong đêm diễn thuyết, bởi
vì Thầy đã muốn nói lên một tiếng nói mà ít ai dám nói.
Có một số những vị nhân sĩ trong giới lãnh đạo chính
trị, doanh nghiệp, trí thức đã tỏ ý yểm trợ Thầy, hứa
sẽ đến có mặt để giới thiệu Thầy đêm đó, nhưng đã
không đến được. Lý do sâu xa không phải là vì họ bận
rộn, nhưng vì họ biết tiếng nói nhân bản này sẽ làm cho
họ mất quần chúng, bởi vì các giới quần chúng đang sôi
sục hận thù, ai nấy đều muốn yểm trợ chiến tranh. Hận
thù không phải là lý do duy nhất, ngoài hận thù còn có lý
do sợ hãi. Vì sợ hãi nên người ta muốn tỏ ra là mình can
đảm, sẵn sàng để đối phó bằng bạo lực; sợ rằng nói
ra lời nói của thương yêu, của từ bi thì sẽ bị người
ta xem là mình yếu đuối và bất lực, cũng như người đi
ban đêm sợ ma thì hay hát lớn lên để tỏ ra rằng mình không
sợ, nhưng có thể là mình đang run. Ngoài lý do hận thù và
sợ hãi, còn có lý do tự ái bị tổn thương. Nước Mỹ thường
nghĩ là mình mạnh nhất hoàn cầu, đánh ai thì kẻ ấy thua,
và không ai có thể đánh bại được mình, và chạm được
đến mình.
Năm
1975, lần đầu nước Mỹ bị thất bại ở Việt Nam, phải
rút quân về. Bây giờ thì kẻ thù đã tấn công Mỹ ngay trên
đất nước Mỹ, và nhắm vào những biểu tượng quan trọng
nhất của uy thế Hoa Kỳ là Ngũ Giác Đài (quân sự) và Trung
Tâm Quốc Tế Thương Mại (kinh tế). Ba lý do đó (hận thù,
sợ hãi và tự ái tổn thương) đã khiến cho đa số người
Mỹ yểm trợ tổng thống của họ trong cuộc chiến A phú
hãn. Lên tiếng ngăn cản bạo động trong tình thế sôi sục
hận thù này là một việc làm rất nguy hiểm. Những đầu
óc quá khích đã được đọc thông bạch của Thầy ở tờ
New York Times, họ có thể đem súng đến để bắn Thầy trong
đêm ấy. Thầy cũng ý thức được điều đó nhưng Thầy
không thể không làm công việc mà Thầy thấy Thầy phải làm.
Ngồi giữa các vị xuất gia đêm 24.9.01, Thầy nói: "Thầy
đã lớn tuổi, chết thì cũng không sao. Chỉ thương cho các
con của Thầy, có đứa mới xuất gia tu học với Thầy chưa
được một năm. Những đứa ấy sẽ cảm thấy bơ vơ. Nhưng
dù sao các em vẫn còn các sư anh và sư chị hướng dẫn. Nếu
Thầy ham sống sợ chết mà không dám lên tiếng, thì tuy hình
hài Thầy còn nhưng giá trị tâm linh của Thầy đã mất, và
như vậy thì cũng như các con đã mất Thầy. Tuy nhiên Thầy
tin rằng chư vị hộ pháp và long thiên sẽ yểm trợ cho Thầy,
vì thầy trò mình đang làm một công việc rất cần làm, và
công việc này có thể ngăn cản không cho một cuộc thế chiến
bùng nổ". Đêm ấy các học trò và thân hữu của Thầy ai
cũng hộ niệm cho Thầy.
Người
lái xe limousine cho Thầy, chiếc xe mà nhà xuất bản mướn
cho Thầy đi, đã nói với sư cô Jina Diệu Nghiêm buổi sáng
ngày 26.9.01: "Nhờ lái xe cho Thầy mà tôi được đi vào nhà
thờ và có chỗ ngồi hẳn hoi để nghe Thầy. Nghe Thầy xong
tôi cảm thấy là những gì Thầy nói rất phù hợp với những
gì tôi suy nghĩ, nhưng những điều tôi suy nghĩ ấy, tôi đâu
có dám nói ra cho bè bạn và các đồng nghiệp của tôi nghe
đâu. Nói ra những điều ấy tôi có thể bị tẩy chay và
kỳ thị. Thầy đã nói dùm cho tôi, và cho rất nhiều người
như tôi." Trong thời gian ở Nữu Ước, Thầy và tăng đoàn
đã lưu trú tại các cư xá của đại chủng viện Union Theological
Seminary sát ngay trường đại học Columbia.
Sáng
ngày 26.9.01, có đại sứ Andrew Young và một số thân hữu
của ông tới thăm và đàm đạo với Thầy. Sáng hôm ấy đài
truyền hình PBS từ thủ đô Hoa Thịnh Đốn đến để phỏng
vấn Thầy tại tư gia của giáo sư Chung, người gốc Đại
Hàn, hiện đang giảng dạy tại đại chủng viện Union. Thầy
cũng tiếp các ký giả khác như ký giả Rachel Neumann của tờ
The Village Voice ở Nữu Ước. Ký giả Jeff Cochran của tờ Publishers
Weekly và ký giả Peter Alsop của tờ Tricycle cũng ở NewYork.
Chiều hôm ấy đại sứ Andrew Young đã đưa Thầy đến thăm
Ground Zero, tàng tích của hai cao ốc chọc trời của Trung Tâm
Thương Mại Quốc Tế. Cảnh sát canh phòng rất nghiêm mật.
Xe cam nhông từ những ngày qua vẫn tiếp tục bốc dỡ và
chở đi nơi khác đống gạch ngói và xi măng khổng lồ của
hai tòa nhà sụp đổ, nhưng những đống gạch ngói và xi măng
ấy vẫn còn cao như núi. Mùi tử thi vẫn còn rất nặng. Bao
nhiêu xác chết đã và đang ngún cháy trong đống vôi gạch
khổng lồ kia. Tăng đoàn chỉ còn biết niệm Bụt, Pháp và
Tăng để cầu Tam Bảo cứu độ cho hàng ngàn người tử nạn
trong đó, cho gia đình họ, và cho cả thế giới.
Từ
giã các bằng hữu ở NewYork, Thầy và tăng đoàn trở về
Tu Viện Rừng Phong bằng máy bay nhỏ 8 chỗ ngồi. Sáng ngày
27.9.01, Thầy trả lời mấy cuộc phỏng vấn nữa từ xa gọi
tới, trong đó có thông tấn xã Religious News mà chương trình
được quảng bá bởi 95 đài phát thanh địa phương trong toàn
quốc và ký giả Anne Simpkinson của hãng Beliefnet. Bài phỏng
vấn này của cô Anne đã được nhiều tờ báo ở Mỹ châu
và Âu châu đăng tải bằng nhiều thứ tiếng. Đề tài của
bài báo là: "Nếu gặp Osama Bin Laden, tôi sẽ nói gì với ông
ấy."
Trong
những ngày 27 và 28.9, Thầy đã dành thì giờ để sinh hoạt
với tứ chúng của Đạo Tràng Thanh Sơn và Tu Viện Rừng Phong.
Đáng lý Thầy được ở lại đây tới bảy hôm để sinh
hoạt với đại chúng, nhưng vì biến cố ở New York nên Thầy
chỉ về được với đại chúng có hai ngày. Chiều 29.9.01,
Thầy và các vị phụ tá ra phi trường Boston để bay về Pháp.
Ngày
4.10.01, Thầy gởi một thông bạch cho tứ chúng môn phái Từ
Hiếu. Thông bạch này lấy tên là "Phật giáo dân tộc, đạo
Bụt hiện đại", được in trong Lá Thư Làng Mai kỳ này.
Tiếng
cười trẻ đã vang
Sinh
hoạt với đại chúng Làng Mai được 12 ngày thì Thầy đã
phải lên đường đi Trung Quốc để hoằng hóa. Tăng đoàn
Làng Mai kỳ này chỉ gồm có 29 vị xuất gia và 2 vị cư sĩ.
Hai mươi vị xuất phát từ Làng Mai, tới Bắc Kinh lúc 7 giờ
45 sáng ngày 11.10.01 và chín vị xuất gia khác xuất phát từ
tu viện Rừng Phong và Lộc Uyển, tới Bắc Kinh lúc 14giờ
35 chiều cùng một ngày, còn 3 vị khác xuất phát từ Việt
Nam sẽ chỉ tháp tùng phái đoàn từ địa điểm Nam Kinh.
Sáng
ngày 12.10.01, tăng đoàn đã đến thăm chùa Quảng Tế, trú
sở của Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc. Pháp sư Hoằng Độ,
trú trì chùa Quảng Tế, pháp sư Diệu Hoa phó chủ tịch Hiệp
Hội, pháp sư Diễn Giác và ông Nghê Cường phó bí thư trưởng
Hiệp Hội cùng với chư tăng và 200 vị cư sĩ y áo chỉnh
tề cùng với hương án đã túc trực sẵn ở Thiên Vương
Điện để đón tiếp phái đoàn. Lễ chào mừng được cử
hành tại Đại Hùng Bảo Điện. Đại đức Pháp Trí người
Hoa Kỳ đã thay mặt phái đoàn tác bạch và đảnh lễ các
vị tổ sư. Sau lễ chào mừng, tăng đoàn được mời về
thọ trai tại quán cơm chay Bắc Hải. Chiều hôm ấy Thầy
và khoảng 20 vị xuất gia đến thăm viếng xã giao ông giám
đốc Tôn Giáo Sự Vụ. Ông bộ trưởng Kế Tiểu Văn vì bận
đi họp buổi họp bất thường của nội các nên ông thứ
trưởng Dương Đồng Tường đã thay thế để tiếp phái đoàn.
Cuộc mạn đàm kéo dài được chừng một tiếng rưỡi đồng
hồ. Những tin tức và trao đổi của hai bên đều đã đóng
góp không ít cho sự hiểu biết và cộng tác. Thầy đã tặng
cho văn phòng một bức bút pháp bằng Anh ngữ với câu The
Spiritual Dimension và giải thích rằng hiện trong mọi lĩnh vực
của sự sống xã hội và con người, như chính trị, kinh tế,
giáo dục, y dược, v.v.. yếu tố tâm linh đã trở nên rất
cần thiết, vì vậy Thầy mong rằng Tôn Giáo Sự Vụ có thể
nâng đỡ cho Phật giáo để Phật giáo có thể cống hiến
được tuệ giác và kinh nghiệm mình cho xã hội để làm giảm
bớt bạo động, lo lắng và khổ đau trong những lĩnh vực
ấy của sự sống.
Sáng
ngày 13.10.01, phái đoàn đi tham quan chùa Linh Quang, cũng gọi
là Chùa Răng Bụt. Pháp sư Thường Tạng, tăng chúng chùa và
trên hai trăm vị cư sĩ đã ra sắp hàng đón tiếp phái đoàn.
Sau lễ đón tiếp tại Đại Hùng Bảo Điện, phái đoàn được
pháp sư Thường Tạng hướng dẫn tham bái tháp Răng Bụt,
và sau đó Thầy đã giảng Phật pháp cho trên 1.000 Phật tử
cư sĩ. Đây là lần đầu tiên ở Trung Quốc có một thính
chúng cư sĩ lớn như thế đã tới để nghe Thầy thuyết pháp.
Thuyết pháp xong, mọi người đi thọ trai, và sau đó lại
tập họp để cùng thực tập thiền hành với tăng đoàn.
Buổi thiền hành diễn ra rất đẹp. Có thể đây là lần
đầu tiên tại chùa có một buổi thực tập thiền hành như
thế. Đi thiền hành về, Thầy cho Phật tử đặt những câu
hỏi. Có rất nhiều câu hỏi rất thực tế đã giúp Thầy
cống hiến cho Phật tử những tuệ giác và pháp môn cần
thiết để cho mọi người cùng có cơ hội thực tập. Vì
số người quá đông đảo cho nên mọi sinh hoạt thuyết pháp
và vấn đáp đều được tổ chức ngoài trời, ngay trước
sân Đại Hùng Bảo Điện.
Sáng
ngày 14.10.01 phái đoàn tới viếng thăm Viện Cao Cấp Phật
Học Bắc Kinh ở chùa Pháp Duyên. Hòa Thượng Truyền Ấn không
có nhà nên pháp sư Năng Hành, giám viện, và ông Viện Trưởng
Viện Cao Cấp Phật Học cùng tất cả các tăng sinh đã tổ
chức đón tiếp phái đoàn. Sáng hôm ấy Thầy giảng diễn
cho các tăng sinh Phật Học Viện và vài trăm vị cư sĩ có
liên hệ tới viện. Có nhiều vị đã đến nghe Thầy giảng
nhiều lần tại đây, bởi vì kỳ nào qua Trung Quốc, Thầy
cũng đến thăm Phật học viện. Trong buổi vấn đáp tổ chức
chiều hôm ấy, Thầy đã giải đáp những câu hỏi có liên
hệ tới sự khác biệt giữa sự học hỏi và thực tập Phật
pháp tại Trung Quốc và tại Tây phương. Thầy đã có cơ hội
chia sẻ những phép thực tập rất căn bản của Làng Mai cho
tăng sinh ở đây, như phương pháp sử dụng tăng nhãn, chấp
nhận tăng thân, soi sáng, làm mới và thống lý đại chúng
bằng cách phối hợp tinh thần dân chủ Tây phương và truyền
thống thâm niên của đạo Bụt. Cả hai buổi giảng diễn
và vấn đáp đã gây ra rất nhiều hào hứng. Ông Viện Trưởng
và một số các vị quan khách đã phát biểu cảm tưởng,
đức tin và niềm vui lớn của họ về ngày sinh hoạt chung
của tăng đoàn Làng Mai và Viện Phật học Bắc Kinh.Tăng đoàn
đã hiến tặng những bài tán tụng và ca hát bằng Anh ngữ
rất hùng tráng, và đáp lại, tăng sinh của viện cũng đã
ca hát và tán tụng để đáp lễ bằng tiếng Trung Quốc.
Tối
hôm ấy có buổi tiệc lớn của Hiệp Hội Phật Giáo Trung
Quốc thiết đãi phái đoàn tại khách sạn Tân Thế Kỷ trước
khi phái đoàn rời Bắc Kinh đi hành đạo ở các tỉnh. Ông
Đạo Thuật Nhân, phó hội trưởng Hiệp Hội, vừa đi công
tác ở Nhật Bản về kịp đã chủ tọa buổi tiệc này. Khách
sạn quá sang trọng, và phòng thiết yến quá lớn. Bữa tiệc
như là để thiết đãi các vị nguyên thủ quốc gia, khiến
cho tăng đoàn không cảm thấy thoải mái lắm. Những trao đổi
giữa Làng Mai và Hiệp Hội tối hôm ấy đã thắt chặt tình
hữu nghị giữa hai tổ chức. Ông Đạo Thuật Nhân biết là
Thầy chưa được phép về Việt Nam để giảng dạy. Ông nói
với Thầy: "Ngài đừng lo. Thời cuộc thay đổi rất mau chóng.
Tôi chắc chắn rằng vài năm nữa là họ sẽ để cho Ngài
về để thăm viếng và giảng dạy. Mười năm trước đây
ở Trung Quốc, tôi cũng không thể tưởng tượng được nổi
có một ngày mà Ngài lại đang ngồi đây với chúng tôi và
được mời đi giảng dạy khắp nơi ở Trung Quốc".
Buổi
tiệc đã kéo dài quá lâu nên mọi người rất hoan hỷ khi
được về nghỉ ngơi, tại vì còn phải chuẩn bị để ngày
mai đi Nam Kinh. Tối hôm ấy (14.10.01) trong khi tiếp mấy vị
học tăng Trung Quốc trẻ tuổi tỏ ý muốn xin qua Làng Mai
tu học, thầy được sư cô Trung Chính báo tin là thầy Giác
Thanh, trú trì chùa Lộc Uyển, đang hấp hối ở bệnh viện.
Sau khi tiễn mấy vị học tăng về, Thầy đi vào phòng trong
để tĩnh tọa. Sau đó trở ra phòng khách, thầy gặp các thầy
Pháp Ấn, Pháp Trú và Pháp Niệm đang túc trực ở đó. Thầy
nhờ thị giả đi lấy bút mực để Thầy viết kệ gửi sang
thầy Giác Thanh cho kịp. Thầy viết: "Trượng phu tiếng đã
biết, việc đáng làm đã làm, tháp vừa dựng sườn núi,
tiếng cười trẻ đã vang". Và Thầy nhờ các thầy có mặt
một mặt tìm cách gửi bài kệ về theo đường truyền chân,
một mặt tìm cách cho Thầy liên lạc trực tiếp về bệnh
viện. Thầy dặn bất cứ giờ phút nào liên lạc được thì
cũng có Thầy túc trực, dù là khuya khoắt. Cuối cùng vào
khoảng nửa đêm, đường dây được thiết lập trong cư xá
của Thầy. Nhiều thầy và sư cô đã có mặt để cùng Thầy
nói chuyện qua thầy Giác Thanh. Trước đó, sư cô Chân Không
đã liên lạc được với thầy Giác Thanh, đã biết bài kệ
đã qua tới, và thầy Giác Thanh đã tiếp nhận được. Thầy
ủy lạo và khai thị cho thầy Giác Thanh với rất nhiều thương
yêu và tin cậy và giải thích thêm cho thầy Giác Thanh nghe
về ý nghĩa của bài kệ. Thầy nói: "Bảo tháp vừa dựng
xong bên sườn núi để kỷ niệm thầy Giác Thanh thì đã nghe
tiếng thầy Giác Thanh trở về với Tăng thân dưới dạng
một em bé đang cười vang". Thầy bảo chúng ta hãy cứ tiếp
tục leo đồi thế kỷ với nhau như một Tăng thân và chắc
chắn chúng ta sẽ có rất nhiều hạnh phúc. Các thầy và các
sư cô túc trực bên thầy Giác Thanh cho biết là thầy Giác
Thanh đã cười vui khi nghe Thầy bảo bài kệ sẽ được khắc
trên đá dựng ở sườn núi. Thầy nói xong thì các thầy Pháp
Niệm, Pháp Ấn, Pháp Trú và các sư cô thay phiên nói chuyện
với thầy Giác Thanh. Tối hôm ấy thầy trò đi nghỉ khá muộn.
Sáng
tinh sương ngày 15.10.01 tăng đoàn lên máy bay về Nam Kinh. Tiễn
đưa tại phi trường có ông Trương Ngọc Lâm, phó bí thư
hiệp hội, và các pháp sư Diệu Hoa, Hoằng Độ và Diễn Giác.
Trên xe buýt từ phi trường Nam Kinh về khách sạn Huyền Vũ,
ông thư ký Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc Trương Khai Cần
báo cho Thầy biết là ông vừa nhận được tin thầy Giác
Thanh vừa tịch. Ngồi trên xe, Thầy hướng dẫn đại chúng
niệm Bụt. Hèn gì mà hồi nãy trên máy bay bỗng nhiên Thầy
đã ngồi lên trong tư thế kết già rất lâu.
Đón
tiếp tại phi trường Nam Kinh có ông Ngô Tâm Phúc, cục trưởng
Tôn Giáo Vụ, pháp sư Châu Từ, phó hội trưởng hội Phật
Giáo, và sư bà Liên Hoa, hội trưởng.
Chuyển
hóa
Ba
giờ chiều hôm ấy, tăng đoàn đến chiêm bái chùa Kê Minh.
Ni sư trú trì là sư bà Liên Hoa tổ chức đón tiếp phái đoàn
rất nồng hậu. Các sư cô y hậu chỉnh tề đứng thành hai
hàng, vị nào cũng có ni sư đàn cầm trên hai tay. Phật tử
cư sĩ tới đông lắm có khoảng gần tám trăm người. Sau
lễ tiếp đón, Sư Bà thỉnh Thầy ban pháp thoại cho tứ chúng.
Hỏi Sư Bà muốn Thầy nói pháp trong bao lâu thì Sư Bà trả
lời Thầy càng giảng dài được chừng nào thì Phật tử
càng sung sướng chừng ấy, bởi vì ở đây họ rất khát
khao. Thầy đã giảng về đề tài đối trị cơn giận và
phương pháp thiết lập lại truyền thông. Bài giảng rất
thực tế, đánh động được tâm thức mọi người và khai
thị cho họ thấy con đường thực tập cụ thể. Sau buổi
giảng, Sư Bà đã hết sức tán thán và hứa kỳ sau Thầy
tới, Sư Bà sẽ mời hàng ngàn người để nghe giảng. Sau
buổi giảng, tăng đoàn được đi thiền hành dưới trăng
trên con đường thành lũy ngày xưa của thành phố. Khuya hôm
ấy, phái đoàn Việt Nam gồm có ba vị thượng tọa tới được
Nam Kinh. Sáng ngày 16.10.01, phái đoàn lên đường đi về chùa
Tường Phù ở quận Vô Tích. Chùa này vừa thực hiện được
một tượng Bụt vĩ đại nên đã trở thành chốn du lịch
của rất nhiều du khách. Pháp sư Vô Tướng hướng dẫn đồ
chúng Phật tử đón tiếp phái đoàn và đãi cơm. Tối hôm
ấy Thầy đã khai thị cho tăng chúng và tập cho họ đi thiền
hành.
Sáng
17.10.01, phái đoàn đi Tô Châu, tham bái chùa Tây Viên và Phật
học viện chùa Linh Nham. Thơ của Hồ Dzếnh:
’Tô
Châu mấy lớp phù Kiều,
Trăng
đêm Dương tử mây chiều Giang Nam,
Rạc
rời vó ngựa quá quan,
Cờ
treo ý cũ mây giàn mộng xưa...’
Tô
Châu là kinh đô xưa của vua Ngô Phù Sai. Nàng Tây Thi gái nước
Việt 2.500 năm về trước đã giúp Việt Vương Câu Tiễn báo
thù và làm sụp đổ ngai vàng bạo chúa... Cô hướng dẫn
viên trên xe nói: "Ở Trung Quốc người ta thường nói: Sinh
ở Tô Châu (thì làm người đẹp) sống ở Hàng Châu (thì
ở nơi sang) ăn ở Quảng Châu (thì cơm rất ngon) và chết
ở Liễu Châu (thì hòm được làm bằng gỗ tốt nhất)". Tại
chùa Tây Viên, phái đoàn được pháp sư Phổ Nhân hướng
dẫn tham quan và đãi cơm. Tại đây Thầy có thuyết pháp cho
tăng chúng khoảng 60 vị. Chiều hôm ấy phái đoàn leo núi,
tham vãn chùa Linh Nham Sơn. Đường lên rất xa và rất ngoạn
mục. Có những khách hành hương không leo nổi, phải thuê
kiệu gánh lên. Sau lễ tiếp đón, Thầy thuyết pháp cho chúng
xuất gia khoảng 100 vị. Ra về trời đã tối, phải dùng đèn
bấm để xuống núi. Tối hôm nay tăng đoàn nghỉ ngơi ở
khách sạn Lệ Đô.
Sáng
18.10.01, tăng đoàn lên xe đi Thượng Hải, tới thẳng chùa
Ngọc Phật. Pháp sư Giác Tỉnh hội trưởng Hiệp Hội Phật
Giáo Thượng Hải tiếp đón tăng đoàn rất nồng hậu. Đại
chúng đã tụng Tâm Kinh bằng Anh ngữ trong nghi lễ đón mừng
tại Đại Hùng Bảo Điện. Cũng tại đây Thầy giảng thuyết
về sự học hỏi, hành trì và phát triển của đạo Bụt
tại Tây phương. Phái đoàn được đãi cơm chay rất ngon.
Pháp sư Giác Tỉnh rất hâm mộ phái đoàn và khen ngợi những
bài tán tụng bằng Anh ngữ, nên tăng đoàn đã hiến tặng
thêm hai bài lễ tụng.
Chiều
hôm ấy phái đoàn đi tham bái chùa Long Hoa. Pháp sư Chiếu
Thành bí thư trưởng của Hiệp Hội đã tổ chức đón tiếp
và đãi cơm. Chùa rất đẹp, có rất nhiều hoa mộc, rất
nhiều tượng Bụt, Bồ Tát và A La Hán xưa cũ. Cả đại tạng
kinh đời Minh cũng được giữ lại.
Tối
hôm ấy phái đoàn nghỉ ngơi tại khách sạn Quang Đại Quốc
Tế. Sáng hôm sau phái đoàn trở lại chùa Long Hoa để tham
dự một buổi sinh hoạt chung với giới xuất gia tới từ
nhiều chùa và Phật Học Viện Thượng Hải. Trong dịp này
Thầy đã cống hiến cho các vị xuất gia có mặt những pháp
môn thực tập rất thiết yếu: thiền thở, thiền đi, pháp
môn soi sáng, đệ nhị thân, phép sử dụng tăng nhãn, làm
mới, rất có ích cho các thầy và các sư cô bên ấy. Các
ông Vương Chí Hạo và Chu Ngưỡng, cả hai đều là giới chức
cao cấp của Tôn Giáo Sự Vụ, đã đứng dậy phát biểu,
tỏ vẻ rất hào hứng, và rất mong mỏi giới xuất gia ở
Trung Quốc cũng thực tập được những pháp môn ấy. Buổi
sinh hoạt giao lưu này do pháp sư Quang Tuệ chủ tọa và pháp
sư Hoằng Minh tổng kết. Pháp sư Chiếu Thành đã bắt đầu
bằng một bài thuyết trình. Đại chúng đã ở lại dự buổi
cơm quá đường. Phong thái của tăng đoàn đã giúp chuyển
hóa được rất nhiều người có mặt. Lúc tăng đoàn ra xe,
pháp sư Chiếu Thành đã ra tận nơi để đưa tiễn, phong thái
rất khác với ngày hôm qua. Đây cũng là nhờ ở tâm thức
cọng đồng của các vị xuất gia và tại gia có mặt.
Trong
những ngày ở Thượng Hải, Thầy đã quán chiếu về tình
hình A Phú Hãn và đã viết được thông điệp Strike against
Terror để gửi về cho các Phật tử và bạn hữu ở Tây phương
thực tập. Văn bản này đã được các hãng thông tấn truyền
đi rất rộng.
Đệ
nhất Phật quốc
Sáng
20.10.01, tăng đoàn ra bến tàu, sử dụng thuyền lướt (hovercraft)
để ra Phổ Đà Sơn, nơi sẽ có khóa tu bảy ngày cho người
xuất gia. Mọi người được đưa về chùa Phổ Tế và nghỉ
ngơi tại khách xá. Khóa tu bắt đầu từ sáng 21.10.01. Đại
chúng bắt đầu bằng phép thực tập thiền hành nhanh. Về
phía Trung Quốc, thiền sư Vô Ngại, đại diện cho thiền viện
Cao Mân, đã được thỉnh mời tới để cùng Thầy hướng
dẫn khóa tu. Chùa Phổ Tế có quá nhiều du khách và khách
hành hương vì vậy khung cảnh này không thích hợp mấy cho
khóa tu. Đây không thật sự là một thiền viện, và thiền
đường đã chỉ đặc biệt thiết lập cho khóa tu. Sở dĩ
Hiệp Hội Phật Giáo chọn nơi này bởi vì chùa có nhiều
khách xá và phòng ốc. Trong thời gian có khóa tu, chùa vẫn
tổ chức rất nhiều pháp hội cúng lễ, có cả trai đàn chẩn
tế "Thủy Lục Phổ Độ Đại Tế Thắng Hội Đạo Tràng".
Các nhóm hành hương và du khách vào ra tấp nập không ngớt.
Khóa tu chỉ sử dụng cư xá, thực đường và thiền đường.
Đi thiền hành thì đi từ thiền đường qua Thiên Vương Điện
để ra ngoài hồ. Tăng ni sinh đến từ nhiều nơi, từ lúc
sáng sớm và sinh hoạt xong thì tối trở về chùa và Phật
Học viện. Tăng chúng chùa Phổ Tế thì bận rộn việc chùa
không tham dự được. Số lượng tăng ni sinh khoảng trên 300
vị. Họ đến từ Phật Học Viện của Hiệp Hội, từ các
chùa Chánh Pháp, Mai Phước, Ban Sơn, Tây Viên, Pháp Vũ, Chúng
Thiện, Phúc Nguyên Thiền Lâm, Di Đà, Liên Tông, Thanh Lương
và Huệ Tế. Có xe của Hiệp Hội thuê để đưa và đón mỗi
sáng chiều. Hiệp Hội Phật Giáo Phổ Đà Sơn và các vị
chức sắc chùa Phổ Tế đã theo lệnh Trung Ương tổ chức
khóa tu này. Nhưng một phần vì các vị bận rộn công việc
chùa, một phần họ cũng chưa biết rõ Thầy là ai và đạo
tràng Mai Thôn là gì, nên họ không thực sự lưu tâm đến
khóa tu. Tuy nhiên tăng ni sinh khi được tiếp xúc với Thầy,
với tăng đoàn và với pháp môn thì cảm thấy rất thích
thú, vì vậy vào cuối khóa tu, đã có một sự chuyển hóa
lớn lao ảnh hưởng tới giới lãnh đạo. Trong buổi vấn
đáp cuối cùng của khóa tu đã có những thiền sinh đứng
lên hết lời ca tụng tăng đoàn và pháp môn. Tăng đoàn đã
luôn luôn tỏ ra khiêm nhượng và hành trì miên mật, vì vậy
đã chiếm được rất nhiều cảm tình của đại chúng. Những
câu trả lời của Thầy cho thiền sinh xuất gia đánh động
được cả tâm thức của các vị lãnh đạo. Cảnh trí của
Phổ Đà Sơn rất ngoạn mục. Đường vào chùa Phổ Tế có
những phiến đá lớn trên đó có khắc dòng chữ Chấn Đán
Đệ Nhất Phật Quốc. Ngày 24.10.01, tăng đoàn được đi thăm
Quan Âm Các và động Triêu Dương. Quan Âm Các có rất nhiều
tượng bồ tát Quan Âm điêu khắc trên những gốc gỗ đủ
các hình thù. Nghệ sĩ phải là người rất tài ba mới có
thể tạo ra được những khuôn mặt và những dáng người
thanh tú như thế của vị Bồ Tát Lắng Nghe và Cứu Khổ.
Sáng
hôm trước, 23.10.01 Thầy đã hướng dẫn các thầy và các
sư cô đi thiền hành ra tới bãi biển và ngồi thiền ngay
trên bãi biển. Đây có lẽ là lần đầu tiên giới xuất
gia ở trung Quốc được ra chơi và ngồi thiền ở bãi biển.
Thật là một cuộc cách mạng. Thiền sư Vô Ngại phát biểu
rằng nhờ thiền sư Nhất Hạnh đến cho nên đây là lần
đầu có thể quy tụ được mấy trăm vị xuất gia trong một
khóa tu. Trước đây quy tụ ba mươi người để tổ chức
một khóa tu cũng là một chuyện rất khó khăn.
Chiều
ngày 25.10.01 tăng đoàn được đưa đi tham bái các chùa Tuệ
Tế, động Quan Âm, chùa Pháp Vũ, và tượng Nam Hải Quan Âm
gần chùa Viên Quang. Cảnh trí trên đảo thật tuyệt vời.
Nơi nào cũng đẹp. Đúng là Phật quốc. Nhưng hỏi thăm thì
mới biết rằng dân địa phương rất lơ là với chuyện tu
học. Những người ra vào tấp nập các chùa đại đa số
đều thuộc về giới du lịch và hành hương từ phương xa
tới. Sự hưng thịnh này vì vậy chưa hẳn là một sự thành
công.
Sáng
ngày 26.10.01 có lễ cầu nguyện hòa bình tại chùa Phổ Tế.
Biểu ngữ: "Trung Pháp Phật Giáo Kỳ Đảo Hòa Bình Pháp Hội"
đã được giăng lên. Đến phiên tăng đoàn Làng Mai làm lễ
thì trời mưa. Đây là trận mưa đầu. Khách hành hương vì
vậy vào trú mưa ở chánh điện rất đông và do đó đã tham
dự rất đông vào lễ cầu nguyện. Hôm ấy cũng có lễ tiếp
tân trao đổi quà tặng giữa Hiệp Hội Phật Giáo địa phương
và phái đoàn Làng Mai. Làng Mai đã tặng Hiệp Hội bức bút
pháp ‘Peace is Every Step’ và Hiệp Hội đã tặng lại một
tôn tượng Quan Âm rất đẹp. Sau đó tạp chí Phổ Đà Sơn
Phật Giáo đã phỏng vấn Thầy. Vị pháp sư phỏng vấn Thầy
pháp danh là Thanh Tịnh, lý sự hiệp hội Phật Giáo tỉnh
Triết Giang, phó hội trưởng Phật giáo Phổ Đà Sơn và giám
viện chùa Pháp Vũ. Pháp sư rất ngạc nhiên được nghe rất
nhiều điều mới lạ về sự hành đạo của Tây phương.
Tạp chí này xuất bản 6.000 số mỗi kỳ.
Chiều
hôm ấy Thầy gởi thư truyền chân cho tu viện Lộc Uyển,
an ủi tứ chúng và đề cử thầy Pháp Dung làm xử lý thường
vụ trú trì chùa Lộc Uyển.
Chú
nguyện bằng bước chân
Sáng
ngày 27.10.01, tăng đoàn rời Phổ Đà Sơn đi Ninh Ba cũng bằng
hovercraft. Hòa thượng phó hội trưởng hiệp hội Phật giáo
đại diện hội và chùa Quảng Tế đã ra tận bến tàu để
đưa tiễn. Ngài ngồi đàm đạo với Thầy rất lâu ở phòng
đợi ngoài bến tàu và cũng xuống tàu ngồi với Thầy và
tăng đoàn cho đến phút chót trước khi tàu rời bến. Có
lẽ ngài đã thấy được giá trị của khóa tu và cuộc viếng
thăm của tăng đoàn, qua những báo cáo vào ngày cuối từ
nhiều nguồn tin tức. Sự có mặt của ngài chứng tỏ ảnh
hưởng lớn lao của khóa tu trên tâm thức của những người
tham dự. Thầy hứa Thầy sẽ trở lại Phổ Đà Sơn.
Tàu
đến Ninh Ba. Xe đã túc trực sẵn tại bến tàu để chở
tăng đoàn đi Ninh Ba, để tham bái chùa Thiên Đồng. Chùa Thiên
Đồng là một tổ đình lớn, nằm dưới chân núi, cảnh trí
vô cùng ngoạn mục. Đây là một ngôi chùa tổ của phái Tào
Động, ngày xưa tổ Đạo Nguyên có tới tu học ở đây. Hòa
thượng trú trì bị bệnh phải đi Thượng Hải điều trị.
Pháp sư Tu Tường đại diện ngài để đón tiếp. Pháp sư
là đại biểu nhân dân tỉnh Triết Giang, lý sự ban thường
vụ của Phật giáo Triết Giang, phó hội trưởng Phật giáo
Ninh Ba, và giám viện chùa Thiên Đồng. Phái đoàn được thọ
trai sau lễ đón tiếp. Buổi chiều Thầy giảng cho tăng chúng
và dẫn tăng chúng đi thiền hành.
Sáng
28.10.01 tăng đoàn, sau khi ăn sáng, được hướng dẫn lên
núi tham quan. Rừng tre ở đây thật đẹp. Buổi sáng Thầy
và các vị thị giả được đi thiền hành quanh hồ lớn,
hồ nhỏ. Cảnh núi rừng rất thanh tú. Sau đó tăng đoàn lên
xe đi về chùa Tuyết Đậu ở Khê Khẩu. Tại chùa Tuyết Đậu,
phái đoàn được pháp sư Di Tạng cùng bốn chúng tiếp đón
có nghi trượng rất long trọng. Sau khi thọ trai, phái đoàn
được đưa về Hàng Châu và nghỉ tại khách sạn Văn Hoa.
Sáng
ngày 29.10.01 phái đoàn tới chùa Linh Ẩn. Chùa này có thể
cho là chùa đẹp nhất ở Hàng Châu với rất nhiều tượng
Bụt tạc ở các núi đá bên bờ suối. Pháp sư Giác Thừa
giám viện chùa Linh Ẩn đã biết Thầy, đã viếng thăm Làng
Mai, cho nên đã tổ chức đón phái đoàn rất long trọng và
cũng rất thân ái. Cùng với các vị chức sắc khác của Hiệp
Hội và của chùa, pháp sư đã đưa tăng đoàn đi tham quan
chùa. Hòa thượng Ngư Mộc trụ trì chùa Linh Ẩn hiện không
có mặt, nhưng pháp sư giám viện là người thực sự điều
hành Phật sự tại chùa. Tăng đoàn được đi tham quan cả
bốn điện lớn kể cả điện Tỳ Lô chưa được hoàn tất,
trong ấy có tượng Bụt Tỳ Lô và bồ tát Phổ Hiền đang
được tạc bằng gỗ quý chở từ núi Căm Pu Chia về. Tăng
đoàn được thấy những người thợ trẻ đang tạc tượng
theo những mẫu tượng nhỏ có sẵn. Pháp sư Giác Thừa cho
biết ngoài phái đoàn chưa có ai được đi viếng thăm diện
Tỳ Lô trong thời gian tạo dựng như thế, chỉ có Thầy hoặc
đức Đạt Lai Lạt Ma mới được đối xử với sự kính
quý và thân tình như thế mà thôi. Tăng đoàn lại được
hướng dẫn đi thăm Ngũ Bách La Hán Đường thật vĩ đại.
Chiều
hôm ấy phái đoàn được đi du ngoạn trên Tây Hồ và về
dùng cơm ở khách sạn Văn Hoa. Tối hôm ấy Thầy họp chúng
trong phòng khách của Thầy. Thầy cho biết trong chuyến đi,
không bước chân nào mà Thầy không bước trong chánh niệm,
rất ý thức là chiến tranh đang tiếp diễn ở A Phú Hãn,
rằng mình đang có tang thầy Giác Thanh, và trong bước chân
nào Thầy cũng chú nguyện cho hòa bình và đi bằng chân của
thầy Giác Thanh. Thầy cũng nhắc mọi người chỉnh đốn lại
sự tu tập, nhớ rằng đại chúng bên làng đang trông chờ
và tin cậy mình trong chuyến đi, và mình phải đem tất cả
trái tim của mình để làm tròn sứ mạng. Thầy nhắc nhở
tổng quát cho từng người trong phái đoàn, và cũng nói đến
những gì đang xảy ra tại tu viện Lộc Uyển và chùa Từ
Nghiêm.
Mây
với suối là một
Ngày
30.10.01, phái đoàn lên máy bay đi Quảng Châu. Tại phi trường,
phái đoàn được rất nhiều vị pháp sư của hiệp hội Phật
Giáo Quảng Đông đi đón như pháp sư Diệu Trí, trụ trì chùa
Đại Phật, phó viện trưởng hiệp hội, pháp sư Quang Minh,
lý sự thường vụ hiệp hội, trụ trì chùa Hoa Lâm, v.v..
Tối hôm ấy, phái đoàn nghỉ tại Quảng Đông Nghinh Tân Quán.
Sáng ngày 31.10.01, phái đoàn lên xe đi Thiều Quang để tới
chùa Vân Môn, nơi sẽ có khóa tu bảy ngày cho tăng sinh. Chùa
Vân Môn là một tổ đình lớn, gốc của thiền phái Vân Môn.
Thiền sư Hư Vân đã trác tích nơi đây, đại trùng tu chùa,
và tháp của ngài được dựng phía sau chùa, trên sườn núi.
Phương trượng chùa Vân Môn là hòa thượng Phật Nguyên vì
đang nằm ở bệnh viện nên không có mặt. Các pháp sư Minh
Lương giám viện, và Minh Thư phụ trách về giáo dục Phật
học viện đã tổ chức đón tiếp phái đoàn từ cổng chùa
với hàng trăm tăng sinh với tràng phan, nghi trượng và âm
nhạc truyền thống.
Ông
Triệu Tài Kim của tôn giáo cuộc Thiều Châu cũng có mặt
để đón tiếp phái đoàn. Tại chùa Vân Môn có Phật học
viện, và chùa cũng đang xây cất phát triển rất mau chóng.
Điểm đặc biệt là chùa có ruộng, có vườn và một số
các thầy cũng tham dự công tác nông nghiệp. Lúa vừa gặt
xong, được đem phơi trên sân chùa và cả trên sân Phật học
viện. Tăng đoàn trong khóa tu cũng đã tham dự chấp tác và
đi hái quýt với Đại chúng trong chùa.
Cũng
như ở Phổ Đà Sơn, các vị chức sắc trong tổ đình chỉ
nhận được lệnh Trung Ương của Hiệp Hội Phật Giáo để
tổ chức khóa tu bảy ngày mà không được thông báo gì trước
về Thầy và về Mai Thôn Đạo Tràng cả. Có lẽ Hiệp Hội
không có đủ thì giờ chuẩn bị, cho nên sự truyền thông
với địa phương rất nghèo nàn. Có lẽ chùa Vân Môn không
có cảm tình với Hiệp Hội Phật Giáo, họ xem Hiệp Hội
là giáo hội nhà nước và nghĩ rằng giáo hội Làng Mai đã
được lợi dụng để tuyên truyền cho giáo hội nhà nước.
Vì vậy họ cố tình tổ chức khóa tu bảy ngày theo truyền
thống rất khắt khe, rất nghiêm ngặt để cho tăng đoàn không
theo nổi. Cách chùa không xa, có ni viện Tiểu Tây Thiên nổi
tiếng là hành trì giới luật rất nghiêm minh, nên ni sinh tới
xin tòng học rất đông. Sau một cuộc đàm luận, mọi người
đồng ý thỉnh Thầy ban pháp thoại một lần buổi sáng cho
tăng sinh bên nam, rồi dẫn tăng sinh đi thiền hành. Trong khi
buổi chiều Thầy sang ni viện ban pháp thoại cho ni sinh thì
tăng đoàn ở lại chùa Vân Môn thực tập thiền Trung Quốc
với tăng chúng ở đó. Vì một lý do nào đó tất cả tăng
ni sinh của hai bên không cùng học và thực tập chung được,
ngoại trừ trong hai buổi pháp thoại đầu và pháp thoại cuối
cùng. Thầy đã rất kiên nhẫn và đã giảng dạy hết lòng
cho cả hai bên, vì Thầy rất thương tuổi trẻ. Có những
chú điệu chỉ có tám hay chín tuổi, có chú mười một hay
mười hai. Trong khi đi thiền hành, Thầy hay nắm tay các chú,
và đi thiền hành xong các chú còn được Thầy hôn trên trán.
Các chú vì vậy rất thương Thầy. Và các chú cũng rất thương
các thầy và các sư cô Làng Mai. Trong khi đó, theo chương trình
khóa tu, mọi người phải ngồi thiền lúc 3 giờ 30 sáng và
chỉ rời thiền đường lúc 12 giờ rưỡi khuya trong bảy ngày
liên tiếp không được ngưng nghỉ. Trong thiền đường thỉnh
thoảng mọi người lại được ăn bánh bao hay trái cây giữa
những giờ ngồi thiền để xả hơi. Phần lớn thiền sinh
đều ngủ gục trong khi ngồi thiền, kể cả những vị lớn,
những vị có trách vụ hướng dẫn. Phần lớn chưa biết
phép điều thân và điều hơi thở, thế ngồi rất thiếu
vững vàng. Có chú còn đem bánh kẹo và sách báo vào đọc
trong khi ngồi thiền, rồi khi nghe vị giám niệm cầm hương
bản đi gần tới thì giấu xuống dưới tấm mền đắp trên
chân. Trong khi đó thì các thầy các sư cô Làng Mai ngồi rất
thẳng, thực tập rất tinh chuyên, thiền ngồi cũng như thiền
đi hoặc thiền chạy. Thầy dạy rất có phương pháp và rất
thực tế. Thầy dạy phép thực tập chánh niệm, hiện pháp
lạc trú, và sử dụng Kinh Quán Niệm Hơi Thở. Tuy các vị
giám niệm của chùa và các giáo sư của Phật học viện có
được nghe giảng và cảm thấy được nội dung sâu sắc của
pháp môn, nhưng ban đầu họ vẫn cho đó là đạo Bụt tiểu
thừa, cái mà họ không cần học. Pháp sư giám viện có cho
biết là ngày xưa cũng đã có vị pháp sư Nam Tông đến giảng
Kinh An Ban Thủ Ý nhưng không xuất sắc như Thầy giảng bây
giờ. Tuy nhiên pháp sư cũng vẫn còn âm thầm giữ ý niệm
đây là Phật giáo tiểu thừa. Thiền của Trung Quốc là Phật
giáo đại thừa, vĩ đại hơn cả ngàn lần, mình không có
lý do gì phải đi học thiền Nam Tông như thế. Vì vậy những
ngày đầu các pháp sư, giáo thọ chỉ cho 60 tăng sinh tham dự,
số còn lại phải tiếp tục thiền Trung Quốc trên thiền
đường. Nhưng đến ngày thứ ba khi nghe tin đồn nội dung
những buổi pháp thoại quá thâm sâu thì số tăng sinh tăng
dần, cho đến hai ngày chót thì chỉ còn 30 người tham dự
thiền Trung Quốc. Pháp sư Minh Thư phụ trách về giáo dục
Phật Học Viện, theo thầy Pháp Ấn kể lại, càng nghe giảng
dạy thì càng ‘mềm’ ra. Và cuối cùng đến gần hết khóa
tu thì tất cả mọi người đều bị Thầy và tăng đoàn chinh
phục. Họ thấy rằng đây không phải là Phật giáo tiểu
thừa mà là thiền học đại thừa hiện đại hóa để thích
ứng với thời đại. Qua những bài pháp thoại của Thầy,
họ thấy Thầy thông hiểu tường tận lịch sử thiền học
Trung Quốc, thấy được những tinh hoa của truyền thống và
những cái kẹt mà người đương thời mắc phải, những cái
kẹt đã khiến cho đạo Bụt bây giờ không đi được dễ
dàng vào giới trẻ và giới trí thức.
Trong
buổi pháp thoại cuối nói về sinh tử, Thầy đã hoàn toàn
chinh phục được mọi người. Thầy nói rằng nếu chúng ta
đạt được cái thấy vô sinh thì ta không còn sợ hãi sinh
tử nữa, và dầu người ta có đàn áp mình, có đánh mình
tới chết, mình vẫn còn có thể từ bi mà tha thứ được
cho họ. Đối với người chứng đạo tất cả đều là đối
tượng cứu độ của mình, không còn ai mà mình phải xem là
kẻ thù nữa cả.
Các
vị lãnh đạo chùa và Phật học viện biết rất rõ là Thầy
đang nói về pháp sư Hư Vân, vị thiền sư anh hùng của họ.
Thiền sư Hư Vân đã bị cán bộ cọng sản địa phương làm
khó dễ trong công trình hành đạo của ngài. Họ đã đến
đánh ngài chết ba lần, nhưng cả ba lần ngài đều sống
lại. Lúc ấy, tất cả mọi người đều thấy một cách rõ
ràng rằng không ai có thể lợi dụng thiền sư Nhất Hạnh
và tăng đoàn Làng Mai. Chính chư tổ đã gởi Thầy và tăng
đoàn đến để đem lại một nguồn sinh khí mới cho chùa
tổ. Thầy đã nói về cội nguồn của phép thiền thất, về
vua Ung Chính, quốc sư Ngọc Lâm, và thiền sư Thiên Tuệ với
phép thiền đi nhanh chùa Cao Mân. Thầy khai thị rất rõ ràng
về thoại đầu Ai là người niệm Bụt (Niệm Bụt thị thùy?)
Thầy nói rằng người ta có cảm tưởng mình đã biết Bụt
là ai rồi, chỉ nghĩ rằng mình chưa biết mình là ai đó thôi.
Biết mình là ai thì chứng ngộ. Nhưng biết Bụt là ai cũng
là tự biết mình là ai. Mà muốn biết Bụt là ai thì mình
phải tự biết mình. Phải quán thực tướng của thân. Phải
thấy được tính vô ngã và tương tức thì mới đạt được
cái thấy vô sinh bất diệt. Mà vô ngã quán và tương tức
quán không phải là những cái gì mơ hồ. Đó là những pháp
môn rất thực tiễn, rất rõ ràng và rất khoa học nữa. Tự
biết mình là ai đó là mấu chốt. Không quán chiếu được
năm uẩn, không biết được tự tánh tương tức của năm
uẩn thì làm sao mình tự biết mình là ai? Mọi người cảm
động nhất là khi phái đoàn đưa ra tặng tổ đình bức bút
pháp ‘Vân Nguyên Tương Tức’ của Thầy. Vân Nguyên Tương
Tức nghĩa là mây và suối là một, nối tiếp nhau, suối ở
trong mây và mây ở trong suối. Vân là Hư Vân, vị thiền sư
lỗi lạc. Nguyên là Phật Nguyên, hòa thượng phương trượng
đương vị của tổ đình.
Trong
suốt thiền thất, mỗi chiều Thầy đều có đi dạy ở ni
viện Tiểu Tây Thiên. Thầy dạy về ba mục tiêu mà người
đời ai cũng muốn đạt tới: sức khỏe, liên hệ nhân sự
và sự thành công. Thầy nói những mục tiêu ấy ở trong cửa
thiền rất khác ở ngoài đời, và tu tập làm sao để có
thể đạt được những mục tiêu ấy để đem lại lợi lạc
cho vạn loại hữu tình. Thầy lại dạy về phương pháp thực
tập dân chủ bằng cách sử dụng phép tăng già yết ma, cách
thức tổ chức tu viện như thế nào để có tình chị em mà
tránh được sự vướng mắc. Thầy cũng dạy về nội dung
tứ vô lượng tâm. Thầy lại cho các sư cô có cơ hội phát
biểu và đặt câu hỏi. Ni sư trú trì cũng phát biểu rất
nhiều và cho biết trong ni viện có rất nhiều khó khăn, hy
vọng nếu áp dụng được những pháp môn Thầy dạy thì sẽ
tạo dựng được ít nhiều hạnh phúc trong ni chúng. Tối hôm
ấy có buổi thiền trà tổ chức chung cho các thầy ở Vân
Môn và tăng đoàn Làng Mai. Sáng ngày 08.11.01, sau khi làm lễ
ở tháp tổ, phái đoàn lên xe đi về chùa Nam Hoa ở Khúc Giang,
cách đó chừng hai giờ xe. Trước đó, các pháp sư Minh Lương
và Minh Thư đã mời Thầy lên phòng khách ở phương trượng
để đảnh lễ và nhân danh tổ đình cúng dường Thầy một
bức thủy tinh có chạm nét chữ thiền sư Hư Vân. Đó là
bốn chữ Ưng Vô Sở Trú. Bức chạm được làm rất công
phu, nhiều thầy đã thức sáng đêm để thực hiện. Các vị
pháp sư tạ ơn Thầy đã tới Vân Môn giảng dạy và xin lỗi
Thầy vì đã không biết Thầy là ai và có những hiểu lầm
lúc ban đầu nên cách hành xử và đón tiếp còn có nhiều
sơ hở và lầm lẫn. Các vị mong Thầy có dịp trở lại Vân
Môn. Thầy nâng các vị dậy, an ủi họ, và nói rằng Thầy
đã học hỏi Phật giáo Trung Quốc gần sáu mươi năm nay,
nói rằng Phật giáo Trung Quốc rất giàu có, vĩ đại, các
vị nên tìm cách thừa hưởng tất cả cái gia sản ấy chứ
không nên chỉ nắm lấy một phần. Và Thầy cũng ân cần
mời các vị có dịp sang quán sát cách học hỏi và thực
tập Phật pháp tại Âu Mỹ. Giờ phút chia tay đầy lưu luyến.
Trước giờ xe chạy, Thầy còn có dịp giúp các sư chú phơi
thóc ngoài sân chùa. Học tăng ở đây rất thương Thầy và
tăng đoàn Làng Mai. Chỉ có các sư cô bên ni viện là không
tới được để đưa tiễn. Có nhiều vị leo lên nóc chùa
để nhìn xuống tiễn đưa. Những khó khăn ban đầu đã hoàn
toàn tan biến và đạo tình bây giờ đã trở nên rất sâu
đậm. Các vị pháp sư đã thực hiện được một bộ băng
Video CD các bài thuyết pháp của Thầy tại Vân Môn, và có
dự định phổ biến bộ băng này trong nước.
Đạo
tình và gốc rễ
Tại
chùa Nam Hoa, chùa Lục Tổ Huệ Năng, hàng trăm vị xuất gia
đã ra sắp hàng với hương án để đón chào phái đoàn. Ngoài
tiếng niệm Bụt còn có tiếng âm nhạc rất đạo vị phát
ra từ nhiều ống loa nhỏ rải rác khắp khuôn viên rất rộng
lớn của chùa. Các vị giám viện và giám đốc Phật học
viện Tào Khê đã hỏi tại sao phái đoàn lại không chọn
chùa Nam Hoa làm nơi tổ chức khóa tu bảy ngày mà lại chọn
chùa Vân Môn? Các vị không biết rằng tất cả đều đã
do Hiệp Hội Trung Ương định đoạt. Có lẽ chùa Vân Môn
đã được chọn vì chùa có thiền đường rất lớn và có
nhiều cư xá.
Chùa
Nam Hoa với các vị lãnh đạo mới đã được trùng tu rất
đẹp, đẹp hơn hai năm về trước gấp bội. Tăng đoàn được
pháp sư Truyền Chính trụ trì Nam Hoa cùng các pháp sư Diệu
Phong và Nhân Không chào mừng tại bảo điện, đưa đi tham
bái nhục thân Lục Tổ và những nơi khác. Buổi chiều, Thầy
thuyết pháp cho tăng sinh Phật học viện. Sau buổi thuyết
pháp này, pháp sư trú trì đã đứng dậy nhân danh tổ đình
cung kính thỉnh cầu Thầy nhận chức Hòa Thượng Thủ Tọa
của chùa Nam Hoa và Viện Trưởng Danh Dự của Viện Phật
Học Tào Khê. Để thiết lập liên hệ tốt giữa đạo tràng
Mai Thôn, Tổ Đình Từ Hiếu và Tổ Đình Nam Hoa, Thầy đã
hoan hỷ chấp nhận trong sự vỗ tay hân hoan của tất cả
mọi người. Thầy cũng trân trọng thỉnh mời pháp sư trú
trì chùa Nam Hoa làm trú trì danh dự của Tu Viện Lộc Uyển
tại Hoa Kỳ. Lại một tràng pháo tay nữa vang lên để tỏ
bày sự mừng vui của mọi người. Đạo tình giữa Nam Hoa
và Mai Thôn từ 1999 đến giờ đã trở nên càng ngày càng
thắm thiết. Sau đó có một buổi thực tập thiền hành rất
đẹp. Đoàn thiền hành đi qua nhiều con đường cỏ cây xanh
tươi, cảnh trí rất ngoạn mục. Phía sau chùa còn có ni viện
tên Vô Tận Am có cả hàng trăm ni sinh cư trú và tu tập. Sau
buổi thiền hành, mọi người lại tập họp trong pháp đường
để dự thiền trà và vấn đáp trao đổi. Thầy Pháp Hải
và sư cô Chân Đức đã đại diện cho tăng đoàn trả lời
nhiều câu hỏi của tăng sinh của chùa và của Phật Học
Viện.
Chùa
thơm ngát hoa mộc (bên Tàu gọi là hoa quế) và ngọc lan. Tối
hôm ấy, tuy đã mệt, Thầy vẫn viết được theo lời yêu
cầu của hai vị pháp sư những bức bút pháp mà các vị sẽ
in vào trong văn tập kỷ niệm 1500 năm ngày thành lập chùa
Nam Hoa. Lễ kỷ niệm sẽ được tổ chức vào mùa Thu năm
2002. Và quý vị pháp sư rất muốn Thầy qua Trung Quốc vào
mùa Thu 2002 để khai mạc buổi lễ. Thầy bảo nếu có một
khóa tu lớn cho người xuất gia trong bảy hôm thì Thầy sẽ
qua. Thời gian thăm viếng chùa tổ chỉ kéo dài được hai
hôm. Sáng hôm sau phái đoàn đã phải lên xe về lại Quảng
Châu. Hiệp Hội Phật giáo Quảng Châu hôm nay sẽ tổ chức
tiệc tiễn hành đưa phái đoàn về nước.
Về
tới Quảng Châu, phái đoàn được dừng lại tham quan lăng
mộ của Triệu Việt Vương nước Nam Việt trong đời Tây
Hán. Lăng mộ này chỉ mới được khai quật khoảng 10 năm
trước đây. Mọi người có dịp nhìn thấy một phần hài
cốt của vua nước Nam Việt, và rất nhiều di tích khác, trong
đó có ấn tín của vua, những đồ dùng ngày xưa vua từng
sử dụng, có cả xương cốt của những quan ngự y, những
người cận sự và những cô cung nữ được hy sinh chôn với
vua cùng một lúc.
Tại
chùa Quang Hiếu, phái đoàn được đưa đi tham quan khắp nơi
kể cả ngôi tháp cất giữ mớ tóc của Lục Tổ Huệ Năng
ngày Tổ được xuống tóc làm người xuất gia. Chùa Quang
Hiếu đã được phép mua lại những vùng đất trước và
bên hông chùa để phục hồi khuôn viên cũ. Công cuộc trùng
tu đi tới với một tốc độ mau lẹ lạ thường. Chùa Quang
Hiếu được xây dựng từ thế kỷ thứ năm Tây Lịch, ngay
trên vùng đất cung điện của Triệu Việt Vương vua nước
Nam Việt ngày xưa. Sau tiệc tiễn hành, phái đoàn ra phi trường
để bay qua Hương Cảng. Ông Trương Khai Cần đại diện Hiệp
Hội Trung Ương cùng với chư thiền đức đại diện Phật
giáo Quảng Đông và chùa Quang Hiếu đã đưa tiễn phái đoàn
đến tận cửa kiểm soát an ninh. Chỉ một giờ đồng hồ
sau phái đoàn đã tới Hương Cảng.
Nhu
yếu làm mới đạo Bụt
Tại
Hương Cảng, phái đoàn được lưu trú tại thiền viện Bảo
Liên ở đảo Lantau, nơi có tượng Bụt Thích Ca vĩ đại,
mỗi ngày có hàng chục ngàn du khách tới thăm viếng. Ngày
10.11.01 bắt đầu khóa tu hai ngày tại chùa Liên Trì. Cùng
với Phật tử Hương Cảng có nhiều thiền sinh ngoại quốc
tới tham dự. Có cả những người công giáo, đệ tử của
cha Thomas Guang, người đã từng tu học và thọ năm giới ở
Làng Mai. Khóa tu tuy kéo dài được có hai ngày nhưng thiền
sinh có thật nhiều hạnh phúc. Tuy pháp thoại có được dịch
ra tiếng Quảng Đông nhưng hầu hết đều hiểu được tiếng
Anh. Vào giữa mỗi buổi thiền hành, khi Đại chúng ngồi xuống,
Thầy thường đề nghị tất cả đặt chung lời Quảng Đông
những bài hát của Làng Mai. Hôm 10.11.01, Đại chúng làm và
hát được bài ‘happiness is here and now’, và hôm 11.11.01,
làm thêm được bài ‘no coming, no going’. Chiều hôm 10.11.01,
Thầy giảng tại trường đại học Hương Cảng về đề tài
Tiếp xúc với An Lạc. Hôm ấy Thầy giảng trực tiếp tiếng
Anh không cần người thông dịch. Chiều ngày hôm sau, cũng
tại trường đại học Hương Cảng, Thầy lại giảng và có
đại đức Hiển Không dịch ra tiếng Quảng Đông. Người
Cơ Đốc tới nghe rất đông, phần lớn là bạn hữu và đệ
tử của cha Thomas Guang. Những người đi nghe Thầy đều thuộc
về giới trẻ và trí thức. Pháp sư Tịnh Nhân xử lý thường
vụ giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Phật Học tại trường
đại học Hương Cảng là người đứng ra tổ chức khóa tu
và những buổi diễn thuyết với sự cọng tác của những
người trẻ có lòng. Chiều hôm 12.11.01, Thầy lại giảng tại
trường đại học kỹ thuật. Hôm nay Thầy giảng về đề
tài Living Buddha, Living Christ. Buổi giảng rất hào hứng, người
Cơ Đốc giáo đến nghe rất đông. Trong những buổi thuyết
pháp tại Hương Cảng, ngoài đề tài tu tập chánh niệm và
hiện pháp lạc trú, Thầy còn nói đến nhu yếu làm mới đạo
Bụt, xây dựng những tăng thân xuất gia biểu trưng được
những pháp môn hành trì có năng lực chuyển hóa và trị liệu,
đáp ứng được nhu yếu đích thực của xã hội mới. Thầy
cũng nói qua về những công tác hành đạo tại Âu Mỹ. Những
điều Thầy nói đã đánh động đến tâm tư của thính chúng.
Phật tử ai cũng muốn làm mới đạo Bụt, đem đạo Bụt
vào sự sống của giới thanh niên và trí thức, nhưng công
việc làm mới phải được thực hiện ngay trong tăng đoàn
của người xuất gia và phải thể hiện ngay trong khung cảnh
chùa chiền và tu viện. Chỉ viết sách và làm báo để chứng
minh đạo Bụt là hiện đại thì chưa đủ. Nếu đại đa
số quần chúng Phật tử tới chùa chỉ để đốt nhang lễ
lạy và cầu nguyện thì đạo Bụt chưa hiển lộ được tầm
vóc chân thực và vĩ đại của nó. Cho nên hiện đại hóa
đạo Bụt ngay trong sự học hỏi và thực tập của người
xuất gia trong tự viện và trong những khóa tu mở cho người
tại gia là điều rất cần thiết.
Sáng
ngày 13.11.01 tại chùa Bảo Liên, Thầy gặp gỡ các hãng thông
tấn và báo chí. Tối hôm ấy tăng đoàn đáp máy bay về và
tới Paris vào thứ tư. Sáng thứ năm, lúc 7 giờ 30, Thầy đã
nói pháp thoại cho ba xóm tại xóm Hạ về đề tài "thực
tập hạnh phúc, đừng để rơi vào cái bẫy của sự thực
tập hình thức".
Tân
niên đại cát
Ngày
24.11.01 Đại chúng ba chùa Pháp Vân, Từ Nghiêm và Cam Lộ tập
họp tại xóm Thượng để làm lễ đối thú an cư. Cũng cùng
một ngày tại các tu viện Lộc Uyển và Rừng Phong, đại
chúng cũng làm lễ đối thú an cư. Hòa thượng Minh Cảnh từ
Việt Nam qua cũng đã tham dự vào lễ này tại chùa Pháp Vân.
Mùa an cư kết Đông năm nay, Đại chúng được học Trung Quán
Luận.
ĐẠI
GIỚI ĐÀN KỶ NGUYÊN MỚI
Ngày
16.12.01 Đại Giới Đàn Kỷ Nguyên Mới được khai mạc tại
chùa Từ Nghiêm, xóm Mới. Trời rất lạnh. Tất cả các mặt
hồ đều đóng băng dày đặc. Vào 7 giờ 30 sáng đã có lễ
rước Giới Bản Ba La Đề Mộc Xoa từ Phật Đường sang Thiền
Đường. Có hơn 150 vị xuất gia có mặt trong buổi lễ rước,
vị nào cũng đắp y nhưng ngoài y còn phải có áo ngự hàn.
Phật tử cư sĩ từ các nước về dự giới đàn đông trên
300 vị. Trong giới đàn này có lễ truyền đăng phó pháp cho
29 vị giáo thọ, vừa xuất gia vừa tại gia. Lễ truyền đăng
kéo dài từ ngày 19 đến ngày 22.12.01. Sau đây là danh sách
các vị giáo thọ mới, xuất gia và tại gia, với những bài
kệ truyền đăng mà họ đã tiếp nhận:
Thượng
tọa Thích Nguyên Chơn:
Châu
về Hợp phố nhập nguyên lưu
Chơn
nghĩa viên dung ý thượng thừa
Non
xưa trăng sáng soi lòng Tháp
Ngày
về một gọi có ngàn thưa
Ni
trưởng Thích Nữ Tịnh Thường:
Tịnh
Tâm sen nở đóa chân thường
Năm
sắc mây lành chiếu một phương
Trái
tim Thích nữ ngời Hoa Tạng
Tông
phong một nếp khéo thừa đương
Sư
cô Thích Nữ Chân Trung Ý:
Trung
thực xưa nay vẫn một lòng
Ý
thơ về ấm ngọn đông phong
Một
cây sinh biết bao cành lá
Tuệ
nghiệp viên thành rạng tổ tông.
Sư
cô Thích Nữ Chân Thuần Tiến:
Nước
đi thuần nhất một dòng trong
Tinh
tiến công phu hãy một lòng
Chúm
chím sen cười trang ngoại sử
Sáng
ngời ánh mắt ngộ chân không
Sư
cô Thích Nữ Chân Bích Nghiêm:
Bích
nham sóng vỗ tiếng âu bay
Nghiêm
hộ tương lai chính phút này
Sông
mở lòng ra, về với biển
Biển
sông ôm trọn cả trời mây
Thầy
Thích Chân Pháp Trí:
Pháp
môn vừa hé, hạnh môn theo
Trí
giác lên cao ngọt cánh diều
Người
ở trong ta, luôn vững chãi
Mắt
thần soi thấu vượt cao siêu
Thầy
Thích Chân Pháp Độ:
Pháp
ấy ngày đêm thường rạng rỡ
Độ
người khéo vượt biển trầm luân
Bến
xưa đã mấy thu chờ đợi
Sáu
chiếc tay chèo hãy nhất tâm
Sư
cô Thích Nữ Chân Thiều Nghiêm:
Trời
Xuân rực rỡ ánh thiều quang
Nghiêm
hộ mây cao cánh phượng hoàng
Trăm
sông rồi cũng về biển lớn
Đường
về hoa trái ngọt trời thương
Sư
cô Thích Nữ Chân Phúc Nghiêm:
Đất
tổ từng năm vun cội phúc
Ngày
về hoa hạnh nở nghiêm trang
Bản
môn Xuân ấy còn nguyên vẹn
Gót
nhỏ gieo vui vạn nẻo đường
Sư
cô Thích Nữ Chân Giới Nghiêm:
Hoa
nở đồi cao ngát giới hương
Trang
nghiêm đất Bụt nét chân thường
Cát
bụi đường xa không để vướng
Quê
nhà từng bước ngọt yêu thương
Sư
cô Thích Nữ Chân Thục Nghiêm:
Một
trái trăng tròn gương thục nữ
Rừng
thu đứng lặng vẻ nghiêm trang
Cười
dấu chân ai trên bến Đục
Thuyền
từ phút chốc đã sang ngang
Sư
cô Thích Nữ Chân Hà Nghiêm:
Mỗi
bước hà hoa nở gót chân
Uy
nghiêm năm sắc áng mây hồng
Nụ
cười trên mắt quan âm nữ
Pháp
giới phơi bày thể tính không
Thầy
Thích Chân Pháp Hiền:
Pháp
của hiền nhân tự thuở xưa
Hải
triều cao vút vạn lời thơ
Là
huynh là đệ trong bao kiếp
Hành
môn nắm vững cỗ chân thừa
Sư
cô Thích Nữ Chân Hỷ Nghiêm:
Ngàn
tay công đức nâng tùy hỷ
Giọt
nước cành dương cõi tịnh nghiêm
Liễu
lục hoa hồng lên tiếng gọi
Tan
sương đầu ngõ bước chân hiền
Chị
Chân Bản Nguyên Peggy Rowe
Bản
môn nở giữa lòng sen thắm
Nguyên
vẹn trăng thề trải mấy thu
Tuyết
chở sương che tường giới định
Hoa
đào năm ngoái thắm như xưa
Anh
Chân Đại Âm Larry Ward
Đại
cổ vừa rung, tiếng sấm ran
Âm
thanh chấn động ánh trăng vàng
Bốn
phương chiếu dụng tâm thuần nhất
Tiếng
cầm tiếng sắt vẫn hiên ngang
Chị
Chân Đại Kiều Lisi Hà Vĩnh
Đại
nghĩa xưa nay vững một lòng
Vượt
muôn kiều lộ bước thong dong
Hành
vân lưu thủy chân thường tại
Hát
khúc vô sinh mỗi sáng hồng
Anh
Chân Đại Tuệ Hà Vĩnh Thọ
Chí
lớn nam nhi hướng đại đồng
Tài
bồi tuệ nghiệp rạng tông phong
Lòng
đất hạt Thương lên tiếng gọi
Rực
rỡ hoa đào đón gió đông
Anh
Chân Đại Ứng Jerry Brazza
Đại
bi suối ấy đã lên đường