|
.
TỪ TÂM
VÔ LƯỢNG
Diệu
Trân
 |
 |
Sau
nạn sóng thần khiến hàng trăm ngàn người chết thảm, tôi
siêng “lên lưới” hơn để cập nhật tin tức khắp nơi,
đóng góp những gì hạn hữu mình có thể làm được. Nhưng
đã lên lưới thì sẽ phải đọc đủ mọi loại tin mà hàng
đầu thường là những tin không vui, như tin về Iraq chẳng
hạn. Chiến tranh ở đó cho thấy bom đạn mịt mù hơn, người
chết nhiều hơn, thị trấn nơi nơi hoang tàn đổ nát hơn
! Việc của Trời thì thiên tai cứ giáng; việc của Người
thì nhân tai cứ tạo !Cả thế giới đổ xô đi cứu thiên
tai nhưng đại đa số quốc gia trên thế giới cũng đang cùng
hợp lực nhau tạo…. nhân tai. Những người chết vì thiên
tai thì được thương xót đồng đều, người chết vì nhân
tai, nếu là “phe ta” thì được tuyên dương, còn “phe chúng”
thì bị rủa là đáng đời ! Nhưng tất cả những người
chết đó, sẽ đều vui mừng gặp nhau ở một điểm: “Khỏi
phải làm người nữa”.
Có
lẽ chỉ Đức Phật mới có thể mở từ tâm vô lượng, cứu
độ hết thảy chúng sanh, không phân biệt mầu da, chủng tộc,
Âu Á gì. Đức Phật xót thương nhân loại bằng sự bình
đẳng tuyệt đối. Ngài độ cho vua chúa, vương phi thế nào
thì cũng độ cho người gánh phân, trẻ mục đồng như thế.
Ngài thương thái tử hiền hòa Jivaka thế nào thì cũng thương
tên sát nhân hung bạo Angulimala như thế. Chỉ khác, khi bầy
tỏ lòng thương Angulimala, ngài đã đồng thời giao Angulimala
cho đại đức Sariputta, ráo riết chỉ dạy con đường giác
ngộ để chẳng bao lâu, tên sát nhân khét tiếng đã trở
thành khất sĩ Ahimsaka trong tăng đoàn của Đức Phật, được
đồng môn hết lòng thương mến vì khất sĩ Ahimsaka luôn thể
hiện lục độ Ba La Mật trong đời sống tu học hàng ngày.
Từ
tâm vô lượng như Đức Phật, nay thấy được là bao !
Chẳng
phải chỉ máu đổ đầu rơi như bên Iraq mới là chiến tranh;
trên lưới, tôi còn thấy loại “chiến tranh” khốc liệt
không kém sau mỗi bước chân của tăng đoàn Thầy Nhất Hạnh
trong chuyến về Việt Nam này. Người thuận kẻ chống, người
khen kẻ chê, đã và đang tốn quá nhiều giấy mực rồi. Người
biết rất ít về Thầy như tôi chắc chưa đủ công lực “bàn
ké”, nhưng vì thấy tên Thầy đang được nhắc nhở nhiều
quá khiến tôi muốn viết đôi chút về Thầy ở một lãnh
vực khác. Lãnh vực mà tôi có thể biết “đôi chút”.
Tôi
dùng tiếng “Thầy” vì đối với tôi, danh từ này giản
dị hơn hai tiếng Sư-Ông hay Thiền-Sư, chứ chữ Thầy của
tôi không có nghĩa là thầy trò vì tôi không phải là đệ
tử của Thầy Nhất Hạnh. Suốt hơn 50 năm hoằng pháp của
Thầy, tôi chỉ tình cờ có mặt trong một lần có Thầy thuyết
pháp. Những Sư Cô, Sư Chú thân cận của Thầy thì tôi chỉ
thấy hình trên báo. Nhưng sách của Thầy thì tôi thích lắm.
Lời văn trong sáng, bố cục gọn gàng, diễn giải linh động,
khúc triết nên “Thiết Lập Tịnh Độ” giúp tôi hiểu kinh
A Di Đà, “Sen Nở Trời Phương Ngoại” giúp tôi biết được
tư tưởng Kinh Pháp Hoa, “Nẻo Về Của Ý” giúp tôi biết
cách nhận chân được giòng suy tư của mình, “Phép Lạ Của
Sự Tỉnh Thức” giúp tôi thấy rõ giá trị của phút giây
hiện tại để tránh xao nhãng giữ hơi thở trong chánh niệm…v…v…
Và, quan trọng nhất với tôi là cuốn “Đường Xưa Mây Trắng”
giúp tôi theo dõi được bước chân của Phật từ khi đản
sanh tới ngày tịch diệt. Tôi không mấy quan tâm tới Làng
Hồng, Làng Mai hay những tu viện đồ sộ của Thầy trên khắp
thế giới, nhưng những việc làm “nho nhỏ” của Thầy thì
tôi lại hay xúc động. Chẳng hạn như sau biến cố 9-11 năm
2001, Thầy đang có mặt tại Mỹ vì những chương trình thuyết
giảng của Thầy tại đây. Khi đó, chỉ mới 2 tuần, sau biến
cố 9-11 Thầy được mời nói chuyện ở một sảnh đường
ngay chính tại thành phố Nữu Ước, nơi thảm họa khốc liệt
vừa xảy ra, nơi lửa hận còn đang bừng bừng trên từng
góc phố, từng ngả đường, từng hàng quán, từng gia cư.
Vậy mà giữa thời gian, không gian ngùn ngụt căm hờn uất
hận đó, Thầy quyết định giảng về đề tài “Bao bọc
cơn giận” qua tinh thần Từ Bi Trí Tuệ của Đạo Phật.
Với tinh thần đó, kẻ thù của ta không phải là người,
mà kẻ thù ta là bạo động, tham vọng, cuồng tín, hận thù
….Khi đọc tin đó, tôi thực sự ngưỡng phục Thầy, thực
sự thấy nghĩa chữ “Dũng” trong danh từ nhà Phật. Cái
dũng của người tu hành nó thầm lặng, nhẹ nhàng mà khí
phách vô song. Với thanh gươm Bát Nhã, Thầy một mình bước
lên bục giảng sau khi căn dặn những đệ tử thân cận rằng
“Ngay trên bục giảng hôm nay, Thầy có thể lãnh đạn từ
khẩu súng của một người dân Nữu Ước đang điên cuồng
vì đau đớn đến mất lương tri. Nhưng nếu Thầy không có
can đảm nói theo tinh thần Phật dạy thì Thầy cũng chỉ là
một người đã chết trong lòng các con mà thôi.”
Tôi
thực sự nghĩ rằng trong thời điểm và hoàn cảnh như thế,
ít có vị lãnh đạo tôn giáo nào thể hiện tinh thần vô
úy đến thế. Khi đó tôi có người bạn Thái, cùng học lớp
Pháp ngữ, cũng theo dõi tin tức này và hỏi tôi “ Ông thầy
tu nào mà can đảm thế?” Tôi không thể quên được cảm
xúc mình khi hãnh diện trả lời bạn tôi rằng “Đó là Thầy
Nhất Hạnh. Thầy là người Việt Nam”
Theo
tôi, hiện nay có hai vị tu sĩ Phật Giáo có uy tín với thế
giới là Đức Đạt Lai Lạt Ma, người Tây Tạng và Thầy
Nhất Hạnh, người Việt Nam. Tôi nhận thấy phương thức
hoằng pháp, cách thể hiện lòng từ bi, uy tín và ảnh hưởng
của hai vị có nhiều điểm tương đồng. Cả hai vị đều
phải lưu vong, quê hương của hai vị đều bị Cộng sản
cưỡng chiếm, năng lượng của hai vị đều đặt trọng yếu
vào việc đi giáo hóa khắp nơi trên thế giới , kể cả những
nước Cộng Sản.
Khi
Trung Cộng xâm chiếm Tây Tạng, ngoài việc giết hại dân
chúng, tàn sát các tu sĩ Phật Giáo, Trung Cộng còn dùng chính
sách di dân, đưa người Trung Hoa sang Tây Tạng với tâm nham
hiểm là sẽ đồng hóa và diệt chủng Tây Tạng. Vậy mà
có ai nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma nói lời thù hận Trung Cộng
hay kêu gọi diệt Tầu Cộng không ? Trái lại, nhiều và rất
rất nhiều lần ngài khẳng định rằng, với lòng từ bi trí
tuệ của một tu sĩ Phật giáo, ngài không thù hận người
Trung quốc mà còn hướng về quốc gia này bằng cái nhìn thương
xót trong tinh thần từ bi hỷ xả của Đạo Phật. Trong một
lần hoằng pháp tại Ấn Độ, ngài gặp một tu sĩ Tây Tạng
từng là một, trong hàng ngàn tu sĩ bị Trung Cộng bắt giam,
tra tấn, đầy đọa khi xưa. Ngài hỏi vị tu sĩ đó rằng
“ Suốt thời gian kinh hoàng bị giam cầm khổ nhục, ông có
sợ hãi không?” thì vị tu sĩ thưa rằng “ Điều lo sợ
nhất của tôi là đánh mất lòng từ bi đối với kẻ thù.”
Đó
chính là sự tranh đấu của đệ tử Phật, tranh đấu bằng
tình thương và sự cảm hóa.
Thầy
Nhất Hạnh cũng làm như thế. Trong nhiều thập niên, Thầy
đã du hành đó đây, chuyển hóa cho biết bao người khổ đau
có lại được đời sống an lạc, giúp đỡ thiết thực cho
bao người cùng khổ, thiếu thốn; và những năm gần đây,
với uy tín ngày càng lớn, Thầy đã tiến tới việc tìm kiếm
hòa bình cho thế giới, đặc biệt là lò lửa Trung Đông lúc
nào cũng sôi sục. Theo những bản tin thỉnh thoảng tôi có
được thì trong những khóa tu ở Làng Mai, Thầy thường cấp
học bổng cho những nhóm dân Do Thái và Ả Rãp là hai dân
tộc có mối thù truyền kiếp. Ngay cả sau khi đã tới làng
với mục đích tu học mà nếu gặp nhau, họ cũng nhìn nhau
với con mắt hận thù. Nhưng chỉ vài tuần sau, qua những bài
giảng, qua cách sống THỂ HIỆN GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC CỦA CON
NGƯỜI, họ đã biết nhìn nhau thiện cảm. Và khi mãn khóa
tu, họ ôm nhau khóc sung sướng trong niềm hy vọng.
Con
đường đó Thầy Nhất Hạnh đã chọn và đã đi từ nửa
thế kỷ qua, không hề sai khác. Với mọi luồng dư luận vừa
tốt xấu, vừa hay dở, vừa khen chê….đang vây quanh bước
chân Thầy, đã vô tình tạo cho Thầy hình ảnh cô đơn của
một ngọn núi hùng vĩ giữa sa mạc. Nhưng tôi nghĩ, với chính
Thầy thì “Sắc bất dị không. Không bất dị sắc. Sắc
tức thị không. Không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức.
Diệc phục như thị…”
Một
vị tu sĩ, trên đường thiền hành bỗng dừng lại, nhìn sâu
sắc một chiếc lá phong vừa lìa cành đang chao lượn trong
gió nhẹ rồi la đà rơi xuống trước mặt. Vị ấy cúi nhặt,
rồi trân trọng đặt lên lòng bàn tay. Giây lâu, vị ấy mỉm
cười. Từ một chiếc lá rơi, vị ấy vừa nhìn thấy cả
đất trời mùa thu trong búp sen tay. Và hân hoan ôm cả mùa
thu vạn hữu, tiếp tục thiền hành.
Cái
tâm thong dong rộng mở, an nhiên tự tại đến thế thì làm
gì có chỗ mà chứa những hẹp hòi của nhân gian.
Diệu
Trân
|