Ai
đến chùa cũng vào lạy Phật, trừ người hảo tâm đưa giùm
người khác đến cửa chùa, rồi đi. Không người nào lạy
Phật mà không lâm râm khấn vái. Tôi đoan chắc những lời
khấn vái đều là những điều thiện, lành, không cầu phước
cầu lộc cho mình thì cầu cho chồng cho con, cho họ hàng thân
thuộc, bằng hữu xa gần; người có tâm lượng rộng rãi
hơn thì cầu cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình ……
Người lạy Phật bận rộn cầu xin như vậy, chắc ít để
thì giờ chiêm ngưỡng tôn nhan tượng Phật. Bận cầu xin
đã đành, mà vì tin rằng đã cầu thì phải thành tâm Phật
mới chứng, nên trong lúc cầu, ai cũng cúi rạp xuống mà tỏ
lòng kính ngưỡng. Tự suy nghĩ như thế, tôi mới dám kết
luận rằng, khi người Phật tử đến chùa lạy Phật, ít
ai ngước mắt lên CHIÊM NGƯỠNG TÔN NHAN ĐỨC PHẬT, MẮT
KHÔNG TẠM RỜI (như một câu trong Kinh A Di Đà.)
Là
Phật tử sơ cơ nên khi chợt nghiệm ra như thế, tôi sửng
sốt và có cảm tưởng mình chưa từng nhìn rõ tôn nhan
Đức Thế Tôn mà chỉ biết qua Kinh là Ngài có 32 tướng tốt,
80 vẻ đẹp. Biết như thế thì cũng như không biết vì 32
tướng tốt đó thế nào, 80 vẻ đẹp ra sao ? Những lời tả
đó không giúp cho Phật tử “thấy” được Phật hơn là
sự chăm chú chiêm ngưỡng tôn tượng. Tất nhiên, tượng
cũng chẳng chứng thực được tôn nhan Phật nhưng qua hình
tướng chúng ta còn có thể “thấy” Phật. Nghĩ thế, tôi
dọ dẫm, tự kiểm chứng.
Lần
đến chùa sau đó, thay vì quỳ rạp lạy Phật, tôi chắp tay,
lắng tâm thanh tịnh rồi từ từ nhìn lên chánh điện. Tôi
chăm chú ngắm tượng Đức Thích Ca Mâu Ni tọa trên tòa sen.
Mắt tôi chạm vào đôi mắt Ngài trước nhất. Lạ thay, tôi
phảng phất thấy nụ cười từ ái nơi đuôi hai con mắt nhìn
xuống. Nụ cười bằng mắt tỏa ra bát ngát bao dung và thương
xót. Đôi mắt đang nhìn xuống thế gian mà biểu lộ cả tấm
lòng Ngài. Chính đôi mắt đó đã chứng kiến bốn nỗi khổ
Sinh, Lão, Bệnh, Tử của thế gian khi đi dạo ngoài bốn cửa
thành. Những cảnh khổ đó không phải chỉ riêng đôi mắt
Thái Tử Tất Đạt Đa thấy, mà hàng tỷ tỷ đôi mắt nhân
gian đã thấy; nhưng nhân gian thấy chỉ để mà thấy, thấy
rồi lại tiếp tục ngụp lặn trong biển khổ. Chỉ có vị
Thái tử con vua Tịnh Phạn thành Ca Tỳ La Vệ là băn khoăn
ray rứt vì biển khổ triền miên này.
Từ
đôi mắt thấy cảnh thương đau, đôi tai Ngài đã lắng nghe
bao lời rên siết. Tất cả những tôn tượng Đức Phật Thích
Ca Mâu Ni mà tôi từng được nhìn thấy, tuy nét mặt, có khác
đôi chút (có lẽ tùy tâm trạng nghệ nhân khi đúc tượng)
nhưng hai tai Phật đều được thực hiện như nhau. Đó là
vành tai lớn và dài, biểu tượng lòng từ bi lắng nghe hết
thảy thống khổ của nhân gian. Sự thật nhĩ căn của Phật
có như thế hay không, điều đó không quan trọng. Điều quan
trọng chính là lòng Từ Bi và Trí Tuệ tuyệt luân của Ngài.
Lòng từ bi đã thúc đẩy Thái tử từ bỏ cung vàng điện
ngọc trở thành sa-môn Gotama, quyết đi tìm con đường giải
thoát khỏi trói buộc của khổ đau. Với trí tuệ và kiên
cường, sau sáu năm khổ hạnh, sa-môn Gotama đã tìm ra tên
cai ngục cái nhà tù khổng lồ từng triền miên giam hãm, trói
chặt nhân loại trầm luân trong thống khổ. Tên cai ngục đó
là Vô Minh. Vì vô minh mà chúng sanh cho Vô Thường là Thường,
Khổ là Lạc, Vô Ngã là Ngã, Không là Tịnh. Đó là đầu
mối của mọi khổ đau.
Tìm
ra được sự thật đó, sa-môn Gotama lập tức thoát xác !
Bao giây trói vô hình chằng chịt bấy lâu như đều đứt
tung ra ! Bao phiền não như vừa bật rễ, trốc gốc, ào ạt
lăn trôi, mất hút. Chỉ còn vầng thái dương rực rỡ, khai
sinh Đạo Cả cứu độ chúng sanh.
Và
đó là lúc nụ cười mầu nhiệm nở trên môi sa-môn Gotama
khi Ngài đạt Giác Ngộ, thành Phật; nụ cười ban vui, cứu
khổ, nụ cười an ủi, chở che được tạc lại trên hầu
hết tôn tượng Ngài. Chỉ cần tĩnh lặng chiêm ngưỡng nụ
cười ấy, ta sẽ cảm ngay được lạc thọ của giòng suối
trong vắt, ngọt lịm đang từ triền non cao chảy xuống miền
đồng bằng nắng cháy. Nhìn kỹ thêm, hình như ẩn sau nụ
cười đầy thương yêu, là lời dạy: “Ta là Phật đã thành;
các con là Phật sẽ thành”. Lời dạy này cốt nhắc nhở
chúng sanh phản quang tự kỷ, phải biết nhìn lại mình, phải
biết gạn lọc sỏi đá cho hạt minh châu vốn sẵn có, sớm
được hiển lộ.
Từ
khi tự chuyển “Đến chùa lạy Phật” thành “Đến chùa
ngắm Phật”, tôi có được bao nhiêu là an vui hồi nào không
hay. Này nhé, vừa tới trước cổng chùa, tôi đã dặn lòng
“Không cầu xin gì cả, chỉ ngắm Phật thôi”; thế là tâm
mong cầu, hờn giận biến mất. Tôi đã “XẢ” được tâm
thế gian bên ngoài. Sau đó, quỳ trước Phật đài với lòng
nhẹ tênh, với tâm thanh tịnh, tôi thấy được ánh điện
quang Từ Bi của Phật hiển lộ rõ hơn trên mắt, trên môi
Ngài, trên suốt con đường Trung Đạo Ngài đã đi, thể hiện
qua chính bản thân Đức Phật, dũng mãnh mà lặng thầm, uy
nghi mà điềm đạm, trí tuệ mà đơn sơ, nhẹ nhàng mà quyết
liệt ……. Bằng đời sống của chính mình, Đức Phật đã
dung hòa, đã hóa giải mọi trạng thái đối nghịch của thế
gian để từ đó, Ngài dẫn dắt chúng sanh tìm dần về con
đường Giác Ngộ.
“Đến
chùa ngắm Phật” còn vô tình giúp tôi cơ duyên liễu nghĩa
được nhiều bài pháp mà trước đây càng nghe tôi càng mù
tối, vì rõ ràng nghe thế, mà sao không phải thế ? Tri và
Hành nếu chẳng đi đôi được với nhau thì Tri đó chẳng
phải tri, mà Hành kia cũng chẳng phải hành !
Tới
đây tôi mới thấm thía câu Phật dạy: “49 năm qua, ta chưa
nói lời nào”.
Đóa
sen đưa lên.
Nụ
cười Ca Diếp.
Đã
là bài pháp vô ngôn mà bất tận.
Tôi
cứ tiếp tục cách “lạy Phật” của mình như thế. Nghĩa
là, dù đến chùa nào tôi cũng lạy Phật bằng cách “Ngắm
Phật” mà thôi. Chính vì chỉ ngắm Phật tôi mới khám phá
ra rằng, cũng vẫn là tượng Phật Thích Ca với những nét
tiêu biểu đặc thù nhưng thật ra không hề có tượng nào
giống tượng nào cả, cho dù tôn tượng đó có cùng một
xuất xứ. Tôi không cho là lạ vì ngoài nét tinh xảo khác
nhau của mỗi nghệ nhân khi đúc tượng, còn tâm ý của Đức
Thế Tôn trao cho người đúc tượng nữa. Chẳng phải ai cũng
đúc tượng Phật được đâu ! Tại sao có những tác phẩm
nghệ thuật qua nhiều ngàn năm vẫn là vô giá ? Vì đó là
những tác phẩm CÓ HỒN. Với những tác phẩm này, chúng ta
chỉ có thể cảm nhận mà không thể dùng bất cứ loại ngôn
từ nào để giải thích hay diễn đạt được. Tượng Phật,
tự thể đã mang ý nghĩa thiêng liêng, người đúc tượng
Phật nếu còn biết đặt cả lòng thành kính trên việc làm
này thì khi hoàn thành, bức tượng không thể chỉ là sự
kết hợp của đất đá vôi vữa. Bức tượng sẽ mang những
bài thuyết pháp của Đức Thế Tôn, những bài pháp ẩn trong
ánh mắt từ bi, qua môi cười độ lượng, trên vầng trán
trí tuệ, nơi dáng ngồi kiết già vững chãi an nhiên, nơi
vòng tay nhân ái muốn ôm hết muôn loài mà cứu độ ……
Tôi
vô cùng xúc động khi khám phá ra điều đó. Nhờ thế, mỗi
khi ngắm Phật tôi lại có cảm tưởng như đang được nghe
bài pháp mới. Và niềm vui bất tận khi thầm lặng theo dõi
bước chân Phật đã vô tình XẢ cho tôi mọi mong cầu ước
muốn vị kỷ của nhân gian.
Ngay
cả khi phải nhận những oan trái, vạ lây mà nhân thế vô
tình hay cố ý ném vào, tôi cũng chỉ thấy đôi mắt Phật,
nụ cười Phật bảo rằng “Hãy chọn sự im lặng của người
Phật tử. Đó là sự im lặng của giòng sông”.
Diệu
Trân
Tháng
Hai 2005