Khái
niệm “Tâm” của đạo Phật bao gồm cả tình cảm và lý
trí, ý chí. Đó là một khái niệm rộng.
Khi
mắt nhìn thấy sắc, thí dụ thấy cái bàn, sách Phật gọi
là nhận thức, đây cũng là tác dụng của tâm, nhưng thông
qua con mắt. Chúng ta cũng có thể nói như vậy về các giác
quan khác như tai, mũi, lưỡi, thân. Sách Phật gọi giác quan
là căn, nghĩa là gốc. Còn sắc (màu sắc, hình sắc như đỏ,
xanh, tím, vàng, hình tròn, hình vuông v.v..), âm thanh, mùi, vị
thì sách Phật gọi chung là Trần, sách Phật còn dùng hợp
từ khách trần, để nói những sự vật, hiện tượng như
sắc, thanh, hương, vị xúc... đều là khách quan, ở bên ngoài
chúng ta.
Do
căn tiếp xúc với trần mà nảy sinh ra tâm thức hay thức,
nếu nói gọn.
Nhưng
cần chú ý là khi nhận thức nhận biết một sự vật, thí
dụ cái hoa, cái bàn thì thông thường, đó không phải là
một sự nhận biết thuần túy. Kèm theo đó, có những cảm
giác vui hay không vui. Nếu vui thì yêu thích, không vui thì ghét
bỏ cũng đều là hoạt động của tâm.
Chính
những hoạt động của tâm như vui, yêu, thích, không vui ghét
bỏ dẫn tới những ý muốn: muốn có cái mình ưa thích, muốn
loại bỏ cái mình ghét. Ý muốn này, cũng là một hoạt động
của tâm. Sách Phật thường gọi là tác ý (Cetana) cũng có
sách gọi là tư.
Phật
nói tác ý chính là Nghiệp (Karma). Bởi vì, do ý muốn vui hay
không vui, yêu thích hay ghét bỏ mà nảy sinh ra những ý nghĩ
lời nói và hành động tương ứng. Anh thích cái hoa thì có
thể anhsẽ có những lời nói khen cái hoa, anh sẽ có những
cử chỉ như lại gần hoa, ngửi hoa, bẻ hoa.
Người
không tu hành, thường buông lỏng cho các niệm nối đuôi nhau
xuất hiện trên bình diện ý thức, một cách tự phát, ít
khi dừng lại suy nghĩ xem mình đang nghĩ gì, nghĩ như vậy
là đúng hay sai, thiện hay ác. Nghệ thuật điều tâm của
đạo Phật chính là ở chỗ biết “dừng lại”, sách Phật
gọi là chỉ, và trên cơ sở chỉ, quán xem đó là niệm gì,
niệm ấy đúng hay sai, thiện hay ác. Đó là thuyết “ba niệm”
của Thiền. Sau niệm thứ nhất, đến niệm thứ hai nhận
mặt và đặt tên cho niệm thứ nhất. Thí dụ, nếu là tham
thì biết là tâm tham. Nếu là si thì biết đó là tâm si, nếu
là tâm tán loạn thì biết là tâm tán loạn, nếu là tâm định
tĩnh thì biết là tâm định tĩnh v.v. và niệm thứ ba đánh
giá niệm thứ hai là thiện hay ác, đúng hay sai.
Từ
niệm thứ tư, người tu hành phải có một nỗ lực nội tâm
lớn để:
1.
Tăng trưởng niệm thiện,nếu đã có.
2.
Có được niệmthiện, nếu chưa có.
3.
Trừ bỏ niệm ác, nếu đã có.
4.
Tránh niệm ác nếu chưa có.
Sách
Phật gọi bốn nỗ lực này là “tứ chánh cần” tức là
bốn siêng năng chân chán. Các niệm được quan sát như vậy,
niệm này diệt, niệm kia sinh, không bao giờ có hai niệm cùng
tồn tại một lúc, một khoảnh khắc (sách Phật gọi đơn
vị thời gian nhỏ nhất là sát na). Như vậy, niệm thiện
không thể cùng tồn tại với niệm ác, và ngược lại cũng
như vậy. Nghệ thuật điều tâm là ở chỗ làm cho trong giòng
niệm luôn luôn chỉ có niệm thiện, niệm ác không còn chỗ
đứng. Nếu có một niệm ác xuất hiện thì lập tức niệm
thứ hai nhận mặt được nó ngay và xua đuổi nó tức thì.
Trong kinh An trú tầm (Kinh thứ 20 của Trung bộ Kinh I) Phật
giảng 5 biện pháp xua đuổi, hạn chế niệm ác.
1.
Lấy niệm thiện, xua đuổi niệm ác. Như lấy niệm từ bi
xua đuổi niệm sân giận. Phật lấy ví dụ người thợ mộc
khéo léo dùng cái nêm này (thiện niệm) đánh bật cái nêm
khác (ác niệm).
2.
Nhận thức rõ hậu quả tai hại của niệm ác, để xua đuổi
nó đi. Phật lấy ví dụ một người đeo xác con chó xung quanh
cổ thấy sợ hãi và vứt bỏ đi.
3.
Quên đi, đừng chú ý đến niệm ác nữa, Phật lấy ví dụ
một người không muốn thấy một vật gì đó, bèn nhắm mắt
lại, không nhìn.
4.
Hãy chậm lại giòng niệm ác, khiến cho nó dần dần tan biến,
Phật lấy ví dụ một người đang chạy, nghĩ rằng hãy đi
chậm lại, và trong khi đi chậm, nghĩ rằng sao không đứng
lại, và sau khi đứng lại nghĩ rằng sao không ngồi xuống…
5.
Dùng nghị lực, xua đuổi niệm ác đi. Phật lấy ví dụ một
người khoẻ vật ngã một người yếu vậy.
(Xem
kinh “An trú tầm”, Trung bộ Kinh I trang 197-201).
Điều
tâm là lấy tâm chế ngự tâm, lấy tâm thiện chế ngự tâm
ác, khiến cho tâm trở nên thuần thiện. Và một khi tâm đã
thuần thiện thì sẽ trở nên nhu nhuyễn, dễ sử dụng chứ
không còn tán loạn như trước nữa.
Khi
rèn luyện tâm, chúng ta phải chú ý 4 điều:
Một
là, trên bình diện ý thức, bao giờ cũng chỉ có một niệm
tồn tại, không thể có 2 niệm tồn tại cùng một lúc, một
khoảnh khắc, một sát na.
Hai
là, niệm này diệt, niệm khác mới sinh ra và thay chân vào
được.
Ba
là, niệm ác (niệm 1) được niệm tiếp theo (niệm 2) nhận
mặt là ác, là xấu thì sẽ mất đi mà không xuất hiện lại
nữa ở niệm tiếp theo. Nên nhớ rằng, đó là giòng niệm,
một giòng những niệm nối đuôi nhau, băng qua trên bình diện
ý thức mỗi niệm chỉ tồn tại trong khoảnh khắc.
Bốn
là, niệm thiện mạnh hơn niệm ác, cũng như ánh sáng mạnh
hơn bóng tối. Một cái hầm, dù có tối tăm hàng trăm, ngàn
năm, nhưng một ngọn đèn sáng được đưa vào thì lập tức
sáng ngay.
Nghệ
thuật điều tâm chính là dựa trên sự nhận thức và vận
dụng 4 điều nói trên. Trong quá trình tu tập, những niệm
ác dần dần như vơi đi, các tạp niệm cũng bớt xuất hiện,
tư tưởng dễ tập trung hơn, dễ vào định hơn.
Kinh
Pháp cú (Dhammapada) nói về tâm như sau:
Tâm
hoảng hốt, dao động,
Khó
hộ trì, khó nhiếp
Người
trí thì tâm thằng,
Như
thợ tên làm tên
(Kệ
33)
Như
cá quăng trên bờ,
Vất
ra ngoài thủy giới
Tâm
này vùng vẫy mạnh
Hãy
đoạn thế lực ma
(Kệ
34)
Hai
câu kệ trên của Kinh Pháp Cú ví tâm người như con cá bị
vứt ra khỏi nước luôn luôn vùng vẫy, hoảng hốt, dao động
rất khó kiểm soát, chế ngự, thế nhưng người có trí tuệ
có thể chế ngự được tâm, kiểm soát được tâm theo đúng
các biện pháp mà Phật chỉ bày.
Tiếp
đó, Kinh Pháp Cú lại mô tả một cách chi tiết hơn như sau:
Khó
nắm giữ, khinh động
Theo
các dục quay cuồng
Lành
thay điều phục tâm
Tâm
điều an lạc đến
(Kệ
35)
Tâm
khó thấy, tế nhị
Theo
các dục quay cuồng
Người
trí phòng hộ tâm,
Tâm
hộ, an lạc đến.
(Kệ
36)
Kệ
35 giải thích vì sao tâm khó điều phục đó là vì tâm quay
cuồng theo dục vọng. Nói điều phục tâm, chính là điều
phục các dục vọng, không để cho chúng ngự trị tâm, bắt
tâm phải quay cuồng theo chúng. Nói cho đúng ra, dục vọng
cũng là tâm, thuộc về tâm. Sách duy thức gọi chúng là tâm
sở (Cetasikas). Nói điều phục tâm, trên thực tế là điều
phục các tâm sở, gạt bỏ mọi tâm sở bất thiện chỉ để
lại những tâm sở thiện. Nói phòng hộ tâm, tức là phòng
hộ không cho các tâm sở phiền não xuất hiện. Thí dụ, thấy
người đàn bà đẹp, chúng ta phòng hộ tâm, không để cho
tâm sở “tham sắc” khởi lên.
Thân
ngồi đây, mà tâm có thể phóng đi rất xa, chạy theo những
bóng dáng, những hình ảnh mà nó ưa thích. Những bóng dáng
đó, hình dáng đó giống như những ma lực trói buộc tâm,
lôi kéo tâm quay cuồng, vì vậy mà tâm rất khó điều phục,
khó chế ngự. Thế nhưng người nào điều phục được tâm,
thì người đó sẽ được tự do tự tại.
Phẩm
về tâm của kinh Pháp Cú kết thúc bằng 2 câu kệ, khích lệ
và đầy ý nghĩa:
Kẻ
thù hại kẻ thù
Oan
gia hại oan gia
Không
bằng tâm hướng tà
Gây
ác cho tự thân
(Kệ
42)
Điều
mẹ cha, bà con
Không
có thể làm được
Tâm
hướng chánh làm được
Làm
được tốt đẹp hơn
(Kệ
43)
Theo
đạo Phật, người ác tự hại mình, việc ác mình làm trở
lại hại mình. Cũng như vậy, người làm lành tự cứu mình,
tự mình đem lợi lạc lại cho mình. Người ác tự làm hại
mình còn đáng sợ hơn là kẻ thù của họ làm hại họ. Việc
làm thiện đem lợi lạc tới cho người lành, hơn là cha mẹ,
bà con đem lại lợi lạc cho họ. Đó là một chân lý thâm
trầm sâu sắc, chỉ có những người có trí, đầy kinh nghiệm
sống ở đời mới nghiệm thấy được.
Cũng
nói ý tứ ấy, là câu kệ mở đầu kinh Pháp Cú, ở “Phẩm
Song Yếu”.
Ý
dẫn đầu các PhápÝ làm chủ, ý tạo
Nếu
với ý ô nhiễm
Nói
lên hay hành động.
Khổ
não bước theo sau.
Như
xe chân vật kéo
(Kệ
1)
Nếu
tâm nghĩ ác, thì lời nói và hành động cũng ác và túc thì
tâm ác. lời ác và hành vi ác sẽ đem lại đau khổ một cách
tất yếu chẳng khác bánh xe lăn theo vết chân bò, không sai
trệch chút nào. Ngược lại:
Nếu
với tâm thanh tịnh
Nói
lên hay hành động
An
lạc bước theo sau
Như
bóng không rời hình.
Nếu
tâm được trong sạch, nói và hành động thiện lành, thì
an lạc sẽ đến với chúng ta hình như với bóng, không bao
giờ tách rời.
Đó
là lợi ích của phép tu “Điều tâm” của đạo Phật.