Ni
Sư Tenzin Palmo là đối tượng của quyển sách “Trong
Động Tuyết Sơn” của Vicki Mackenzie thuật lại tiểu
sử của Ni Sư Palmo và mười hai năm trong ẩn thất cô tịch
của bà. Năm ngoái, bà đã gặp gỡ những người tham dự
khóa nhập thất Lamrim (1) của Tushita Dharamsala và những hành
giả khác tại Tu viện Tashi Jong bên ngoài Dharamsala, Bắc Ấn
Độ. Bài viết dưới đây thuật lại cuộc trò chuyện của
họ.
TÔI
HY VỌNG LÀ CÁC BẠN NHẬN RA ĐƯỢC RẰNG CÁC BẠN VINH DỰ
BIẾT BAO và hẳn các bạn đã tạo nên một nghiệp phi thường
trong quá khứ nên ngay trong đời này mới có cơ hội thọ
nhận những giáo lý Lam-rim này. Các bạn từ những nơi rất
xa tới đây do hội đủ những nhân duyên, vậy mà những người
sống ở đây, đối với họ đây là một phần của nền
văn hóa của họ, thì thậm chí chẳng bao giờ có nguyện ước
thực hiện những gì các bạn đang làm, đó là thực hiện
một cuộc nhập thất Lam-rim hai tháng.
Một
vài người sau khi tham dự một khóa Lam-rim, đã kết thúc với
cảm nghĩ như – “Whoa! Bất kỳ bạn làm điều gì thì các
cõi địa ngục cũng hiện lờ mờ trước mặt bạn!” Nhưng
không phải thế. Các bạn hết sức may mắn không chỉ vì
có cơ hội thực hành Pháp, mà còn có nguyện ước thực hiện
nó. Nếu các bạn không có một nguyện ước, thì cho dù Pháp
có ở ngay trước mặt các bạn, các bạn cũng không vươn
tay để lấy nó. Tự thân Giáo Pháp rất bao la, và khi người
Tây Tạng thọ nhận nó trọn vẹn từ Ấn Độ, họ đã làm
những sự tuyển chọn.
Thiên
tài của người Tây Tạng chính là cách thức họ sử dụng
những gì họ có và lập ra hệ thống Lam-rim này, và biến
nó thành con đường hợp lý có thể thực hiện được. Giờ
đây hệ thống này đã được sử dụng không thay đổi trong
một ngàn năm. Nhưng điều quan trọng là phải cân nhắc rằng
từ lúc ban đầu cấu trúc Lam-rim được người Tây Tạng
thiết kế cho người Tây Tạng, vì thế không nhất thiết
là mỗi mẩu Lam-rim đều phải được áp dụng một cách rộng
rãi. Điều này nghe có vẻ giống dị giáo, nhưng vấn đề
quan trọng là làm thế nào để Pháp - Lam-rim – chung sống
với các bạn thật hiệu quả, để nó có thể chuyển hóa
đời sống hàng ngày của chúng ta.
Tôi
không nói điều này như một sự phê bình. Hệ thống Lam-rim
này làm việc cho người Tây Tạng và - giống như một dây
chuyền lắp ráp - họ đã sản sinh vô số những bậc giác
ngộ. Thật đáng ngạc nhiên là một nền văn minh nhỏ bé
như thế lại sản sinh ra rất nhiều bậc giác ngộ. Văn hóa
Tây Tạng không có nhiều tác phẩm văn học thế tục – nó
không có những tiểu thuyết, không có Shakespeare, không có
thơ tình yêu mà chỉ nói về Pháp. Hiển nhiên là họ không
có ra-đi-ô, không có máy truyền hình, không có các tạp chí,
không có những tiểu thuyết hấp dẫn, không có gì hết, chỉ
có Pháp.
Về
cơ bản thì tâm con người Tây Tạng cũng hết sức trống
trải, giống như môi trường bên ngoài của họ, vì thế họ
làm tràn đầy nó bằng nhiều hệ thống và những cấp độ
và những quán tưởng rắc rối, những triết học phức tạp,
đó là bởi họ có rất nhiều không gian trống trải ở bên
trong. Nếu các bạn suy nghĩ về xứ Tây Tạng, nó bao la, rộng
lớn và tràn đầy không gian trống trải, thì bạn có thể
hiểu được tại sao khi các bạn nhìn những thangka (tranh cuộn)
của họ, chúng không có không gian! Mỗi một phân vuông đều
được bao phủ bởi cái gì đó. Vì họ đang đối phó với
không gian bao la ở bên ngoài đó, cho nên khi đến với sự
thực hành thì họ phải làm đầy nó càng nhiều càng tốt.
Một
vấn đề khác liên quan tới người Tây Tạng là khi suy nghĩ
về nền văn hóa và môi trường của họ, các bạn phải đe
dọa họ bằng những cõi địa ngục khủng khiếp và những
hình phạt rùng rợn đối với những việc tầm thường nhất
để họ phát triển lương tâm. Nhưng những người Tây phương,
đặc biệt là những người Tây phương đến với Pháp, thì
những cái sọ của họ rất mỏng manh. Chúng thường được
chứa đầy sự tự-ghê tởm và tội lỗi. Nếu bạn đánh
chúngï bằng một chiếc dùi cui, tất cả những gì bạn nhận
được là chiếc sọ người vỡ tan, những khúc xương, máu
và óc ở khắp nơi. Vì thế họ chấm dứt với cảm nghĩ:
“Tôi quá đê tiện, tôi thật đáng sợ.” Họ kết thúc
với ý thức về sự bất lực cực kỳ nặng nề này.
Vấn
đề mà tôi đang nỗ lực nêu ra là đôi khi những điều có
ích lợi cho tâm trí một người Tây Tạng lại không nhất
thiết lợi lạc cho một người Tây phương. Chúng ta phải
sáng suốt. Đức Phật luôn luôn nói rằng các bạn nên sử
dụng Pháp và các bạn nên khảo sát nó. Điều đó đúng,
nhưng các bạn không nên luôn luôn khảo sát nó khiến bạn
có thể không còn đồng ý với những gì vị geshe (2)
nói. Các bạn nên khảo sát nó – chỉ khảo sát nó. Đôi
lúc khi tôi trình những mối nghi ngờ cho Khamtrul Rinpoche, bổn
sư của tôi, ngài chỉ cười và nói: “Con không phải tin
tất cả những gì con đọc trong sách,” hay “Mọi điều
con đọc trong Kinh điển không đúng.” Đấy là Lạt ma của
tôi! Chúng ta phải sáng suốt và ta phải nhìn xem điều gì
ích lợi cho ta trong đời ta.
Những
người Tây phương đến với Pháp với tâm thức đã chật
cứng, hầu hết là với những điều vô nghĩa, và khi chúng
ta cố gắng gieo trồng trên đó những hạt giống Pháp nhỏ
bé của ta, những phiền não sẽ tiếp tục tồn tại ở đó.
Hẳn là khôn ngoan nếu bắt đầu bằng cách quét sạch nó.
Nói cách khác, nếu các bạn mua được một căn nhà đầy
những đồ bỏ đi và không bao giờ được quét dọn, và các
bạn đem vào mọi thangka, những hình tượng Phật khác
thường cùng những gấm thêu kim tuyến và cố gắng treo chúng
trên mọi thứ đồ bỏ đi, thì thậm chí trông chúng còn giống
một đống đồ đồng nát hơn nữa. Điều đầu tiên ta cần
là một căn nhà được quét dọn sạch sẽ – ta cần quét
dọn và cọ rửa, và sau đó ta có thể treo những tấm thangka
và hình ảnh của ta.
Đối
với các thực hành chuẩn bị thì cũng thế, giống như
những sự lễ lạy và cúng dường mạn đà la và v.v.. có
quá nhiều điều để suy nghĩ và quán tưởng với những thực
hành đó, nhưng tâm ta đã bị lèn quá đầy! Chúng ta cần
mở những cánh cửa sổ và cửa ra vào – ta cần đơn giản
hóa. Nếu không thì chúng ta xây dựng những triết học và
thực hành lạ thường và chúng ta rất thông minh, nhưng bên
trong thì không có gì bởi chúng ta không có thì giờ để mắt
tới.
Người
ta bắt đầu mọi thực hành cực kỳ phức tạp này, họ nhận
những sự nhập môn và những hứa nguyện, và khi ấy thay
vì Pháp là một ánh sáng trong tâm họ, nó trở thành một
gánh nặng lớn hơn, giống như các bạn đang lê bước lên
một ngọn đồi với một cái ba lô lớn đựng đầy đá này.
Hãy
nhìn những hành giả Tây Tạng chân thực – họ thực sự
hài lòng về mọi sự. Không phải là họ không tin những cõi
địa ngục và những việc như thế, nhưng những điều đó
thực sự không làm họ quá lo lắng. Họ biết rằng nếu họ
thành tâm trong việc thực hành thì họ không có gì để lo
lắng và họ nương tựa (quy y) nơi Tam Bảo. Nhưng đối với
nhiều người Tây phương thì điều đó trở nên nặng nề
và nó làm cho chúng ta trở nên hết sức giả tạo.
Điều
quan trọng là có một thực hành đầy ý nghĩa mà các bạn
hoan hỉ khi thực hiện nó. Người ta có hai hay ba giờ thực
hành mỗi ngày, và sau đó họ có gia đình, các công việc
và đời sống xã hội, vì thế thực hành của họ trở thành
gánh nặng mà họ phải làm cho xong. Họ lao qua nó để hoàn
tất hứa nguyện để khỏi bị đi xuống địa ngục. Vấn
đề không phải là như vậy!
Pháp
được cho là chuyển hóa tâm ta và mang lại cho ta niềm vui,
sự trong sáng và khả năng làm lợi lạc những người khác.
Vì thế chúng ta phải xét xem những thực hành mà ta có thể
làm có ích lợi cho ta hay không, đặc biệt là trong đời sống
hàng ngày của ta. Nó hoàn toàn khác biệt nếu ta đang nhập
thất. Ví dụ như những thực hành chuẩn bị được bắt
đầu đối với những người không có việc gì khác để
làm ngoại trừ những thực hành chuẩn bị. Các bạn có thể
tự đằm mình trong thực hành là bởi đó là tất cả những
gì bạn phải làm. Nhưng ở Tây phương là nơi người ta không
có cơ hội để thực hiện những cuộc nhập thất dài hạn,
nếu các bạn chỉ có thể lạy 100 lần mỗi ngày, thì sẽ
phải mất bao lâu để thực hiện 120.000 lễ lạy?
LẠT
MA CỦA TÔI LUÔN NÓI VỚI TÔI: “Chú ý, hãy giữ những
thực hành của con ngắn thôi, nhưng hãy thực hiện chúng.
Nếu con có những thực hành dài, thì vào lúc cuối chúng sẽ
hoàn toàn trở thành một gánh nặng và con sẽ ngưng thực
hành.” Vì thế tốt hơn là các bạn hãy thực hành các thời
khoá ngắn nhưng hãy thực hiện chúng. Ngay cả tới bây giờ
thực hành căn bản của tôi cũng không kéo dài quá một giờ.
Tôi có thể kéo dài nó tới hai hay ba giờ, nhưng tôi không
cần phải làm thế. Tôi không làm gãy bể bất kỳ giới hay
hứa nguyện nào nếu tôi không kéo dài việc thực hành. Vì
thế cho dù các bạn thực hành Quán Thế Âm 20 phút và làm
việc đó với sự thành tâm, thì điều đó tốt hơn việc
thực hiện hàng triệu thực hành Bổn Tôn Kim Cương thừa
cao cấp giờ này sang giờ khác chỉ vì muốn đọc cho xong
quyển sách cầu nguyện. Sẽ thực sự tốt hơn nhiều nếu
bạn làm một thực hành thật đơn giản và thực hiện một
cách chân thành từ trái tim các bạn thay vì tưởng tượng
rằng mình là một yogi hay yogini vĩ đại của thời hiện đại
và kết thúc trong khi bị đè nặng bởi tất cả những hứa
nguyện này và khiếp hãi tới nín thở.
Tôi
nghĩ rằng điều quan trọng là duy trì một sự thực hành
ngắn, không quá một giờ – có thể là nửa giờ nếu các
bạn không thể sắp xếp được một giờ. Bất kỳ số lượng
công việc các bạn làm, điều then chốt là thực sự có thời
gian đó. Nó không kéo dài tới nỗi phải tính đếm, nó không
phải là cấp độ tantra cần quan tâm. Đó là việc các bạn
đang hoàn toàn hiến mình cho sự thực hành trong quãng thời
gian đó. Không có việc gì khác trong thế gian này quan trọng
bằng việc thực hiện thực hành đó. Nó tẩy rửa tâm thức
– tôi không thể nói cho các bạn biết là nó tẩy rửa tới
mức độ nào. Nếu các bạn thực hành với một sự nhất
tâm, một tâm thức rất thư thản và rộng lớn nhưng đồng
thời rất tập trung và hợp nhất với sự thực hành, thì
cho dù thực hành kéo dài bao lâu, khi kết thúc tâm các bạn
sẽ cảm thấy như thể nó hoàn toàn được rửa sạch.
Lời
khuyên của tôi đối với các bạn là hãy duy trì việc thực
hành Pháp thật đơn giản, thật căn bản. Đừng trở nên
giận dữ và nản chí. Hãy nhìn một đứa trẻ đang tập đi.
Nó đứng dậy và bước đi từng chút một và ngã xuống.
Sau đó nó đứng dậy và lại cố gắng và lại té ngã. Điều
gì sẽ xảy ra nếu nó nói: “Ồ, việc bước đi này quả
là một điều khó khăn, tôi sẽ chẳng bao giờ cố gắng bước
đi một lần nữa.”
Nếu
đối với các bạn Pháp chỉ có nghĩa là nhảy xổ vào các
giảng khóa, nhảy xổ vào các cuộc nhập thất, đi tới các
trung tâm Pháp và đọc sách Giáo Pháp, thì sẽ chẳng có điều
gì thay đổi trong đời các bạn. Chúng ta phải nhận ra rằng
mỗi hơi thở duy nhất mà ta sử dụng, nếu ta sử dụng chúng
với sự tỉnh giác, đều là một sự thực hành Pháp. Mỗi
người duy nhất mà ta gặp, nếu ta gặp họ với sự cởi
mở, trong sáng, với tư tưởng này trong tâm: “Cầu mong bạn
an lành và hạnh phúc,” thì đó là một thực hành Pháp. Tôi
nhắc đi nhắc lại rằng Pháp không chỉ là sự thiền định,
Pháp không chỉ là việc trì tụng các thần chú, Pháp không
chỉ là việc lắng nghe những Kinh văn hay đọc những quyển
sách đứng đắn.
Thực
hành chính yếu khác trong Phật Giáo là sáu ba la mật (sáu
sự toàn thiện):
BỐ
THÍ: Ban tặng là sự bố thí – không chỉ những đồ
vật, mà cả thời gian của các bạn, sự chú tâm, bố thí
bản thân các bạn. Cho dù chúng ta ngu đần tới đâu, mê lầm
hay sân hận tới đâu, bị dính mắc tới đâu, chúng ta vẫn
có thể rộng lượng. Không chỉ cho đi những gì ta không thích,
mà còn bố thí những sự vật ta ưa thích bởi ta thích chúng.
Sự bố thí rất quan trọng.
TRÌ
GIỚI: Giới luật được đặt nền trên việc không làm
hại: không sát sinh, không nói dối, không trộm cắp, không
dùng các chất gây say là những chất làm mê mờ tâm thức,
và không tà dâm. Nếu không có tư tưởng không làm tổn hại
bản thân ta và những người khác này, chúng ta không có nền
tảng cho Pháp trong đời sống của ta.
NHẪN
NHỤC: Khi các bạn sống trong ẩn thất cô tịch, có ai
ở đó để các bạn nhẫn nhục với? Những người làm hại
ta, những người thực sự bấm vào những nụ mầm của ta,
họ là những Pháp hữu thực sự của ta. Thật đấy! Khi người
ta bấm vào những nụ mầm của ta, khi ấy ta thấy rằng ta
có những nụ mầm. Những tình huống khó khăn, những con người
khó chịu, thực sự là tờ giấy nhám làm chúng ta trở nên
nhuần nhuyễn. Khi đó chúng ta có thể nhìn vào tâm mình. Vấn
đề không nằm ở bên ngoài. Nó ở ngay đây.
Những
nhà sư và ni cô Tây Tạng đã trải qua rất nhiều năm trong
các ngục tù của người Trung Quốc, mặc dù một số trong
đó bị chấn thương, nhiều người đã ra khỏi tù mà trông
như từng nhập thất và họ chân thành biết ơn sự thực
hành của họ và những kẻ hành hạ họ khi gìn giữ họ trên
con đường Giáo Pháp. Sự nhẫn nhục của họ không còn là
điều lý thuyết suông nữa.
TINH
TẤN: Tất cả những điều này cần tới sự tinh tấn.
Lần đầu tiên khi ta gặp Pháp, ta nghĩ: “Ồ, nó quá hiển
nhiên, tại sao trước đây ta không nghĩ tới nó?” Nó không
phải là trí tuệ vĩ đại, bí mật, nhưng chúng ta không thực
hành nó. Đó là một vấn đề để nghĩ tưởng tới, để
hiểu nó một cách trí thức, và một vấn đề khác để kinh
nghiệm. Để thực sự có nó như một bộ phận của bản
thân ta, tự nhiên như hơi thở của ta, ta cần có sự kiên
trì. Kiên trì và nhẫn nhục là hai thành phần quan trọng nhất.
THIỀN
ĐỊNH: Điều quan trọng là các bạn phải có thì giờ
để có thể đi sâu vào nội tâm. Tôi thành thật khuyên rằng
ngoại trừ bất kỳ thực hành nào các bạn đang làm, như
một phần của hứa nguyện của các bạn, đối với các bạn
có những hứa nguyện, các bạn cũng dùng ít nhất 20 phút
mỗi ngày để thực hành shamatha, thiền định tĩnh lặng,
bởi nó rất quan trọng để có thể đạt được một sự
an tĩnh sâu xa. Chúng ta có trung tâm này trong ta, nó như một
cái hồ yên tĩnh. Nhưng thường thì ta không thể tiếp xúc
với nó. Thiền định là cách thức để có thể tiếp xúc
với trung tâm bên trong của ta.
TRÍ
TUỆ: Trí tuệ là tâm không dính mắc. Tâm ta thường xuyên
dính mắc với mọi người, với những đồ vật, với những
hồi ức, những ý kiến, với nhân dạng của ta, với người
mà ta cho rằng mình là. Có người nói với tôi rằng thị
kiến mà anh ta có trong tâm anh là khắp nơi bị bao phủ bởi
những chiếc ngạnh nhỏ xíu, hay những cái móc nhỏ, và khi
chúng ta xoay tròn, mọi sự vướng vào các cái móc, vì thế
ta mang tất cả chúng theo ta. Như thế điều bí mật là rút
tất cả những cái móc ra. Chúng ta đang xúc chạm tất cả
những điều này, nhưng tất cả đều trượt mất, không có
gì bám vào ta. Các bạn thấy đấy, vấn đề không phải là
các đối tượng. Đó là điều Đức Phật nói đi nói lại
nhiều lần. Những sự việc hay con người không phải là vấn
đề. Vấn đề là sự vướng mắc của ta. Chính sự vướng
mắc của ta đã gây nên nỗi sợ hãi.
Sự
từ bỏ không phải là vấn đề bỏ đi những vật ở bên
ngoài, mặc dù điều đó có thể rất ích lợi. Nhưng sự
từ bỏ thực sự là từ bỏ ở bên trong: trần trụi trong
mọi lúc. Chúng ta thường xuyên khoác lên mình bộ y phục
là những hồi tưởng và những ý niệm: “Ta là phụ nữ,
ta là đàn ông, ta là một thầy giáo, ta là bác sĩ, ta là tài
xế xe buýt, ta là một tu sĩ, ta là cư sĩ, ta đã lập gia đình,
ta còn độc thân, ta là một con người tốt, ta là một người
xấu.”
BẠN
LÀ NGƯỜI TỐT HAY XẤU, ĐIỀU ĐÓ KHÔNG QUAN TRỌNG.
Toàn bộ vấn đề là - cái tôi này là ai? Nó giống như một
cái cây dần dần mất đi những chiếc lá của nó – từ
từ, từ từ. Vấn đề chính là một sự thiền định thực
sự. Trong Phật Pháp, các giáo lý lập đi lập lại về việc
nhìn mọi sự như chúng là. Và Đức Phật đã nói về điều
này rất nhiều bởi hầu như chúng ta không thể nhìn những
sự việc một cách trong sáng. Chúng ta chỉ nhìn thấy cách
diễn giải của riêng ta, cách hiểu của riêng ta, những phóng
chiếu của riêng ta.
Ở
một mức độ nào đó toàn bộ cuộc sống của Phật tử
chỉ là vấn đề buông xuống những gánh nặng của ký ức,
ý kiến, nhân dạng mà chúng ta mang đi đây đó như chiếc
áo giáp nặng nề. Nhưng tại sao lại khoác áo giáp đi đây
đó? Chúng ta cho rằng nó bảo vệ ta nhưng thật ra nó cách
ly ta với những người khác cũng đang mặc áo giáp. Ta có
thể tưởng tượng được hai hiệp sĩ trong bộ áo giáp đang
cố gắng ôm chầm lấy nhau? Đây là điều chúng ta đang làm
trong mọi lúc và khi đó chúng ta tự hỏi tại sao những mối
quan hệ của ta không tiến triển. Khi đó Pháp trở thành một
hình thức khác của áo giáp. Giáo Pháp phải là một cách
thức mang lại cho ta sự xác tín sâu xa để bắt đầu việc
buông bỏ xuống, để nhận ra rằng có một cái gì khác vượt
lên nhân dạng bản ngã này, đó là chân tánh của ta, và việc
từ bỏ mọi sự nhận dạng khác này là điều cần thiết.
Trong
việc thực hành chúng ta nên có những khoảng thời gian và
thậm chí những cuộc nhập thất là lúc ta tự dành cho mình
một không gian để thực sự đặt ra câu hỏi: “Ta là ai?”
Một trong những mục đích của thực hành Bổn Tôn, của việc
coi bản thân các bạn là Bổn Tôn, là việc nó giúp ta đối
phó với vấn đề ta là ai. Chẳng hạn như chúng ta đang ngồi
đây và nghĩ: “Bây giờ tôi là Quán Thế Âm, tôi có màu
trắng, rực rỡ, tôi có bốn tay,” và v.v.. Điều này hết
sức quan trọng, nhưng chúng ta không thực sự tin nó. Chính
bởi sự mê lầm nền tảng của ta mà ta ngồi ở đó và nghĩ
rằng thực ra ta là Mary Smith, giả đò rằng ta là Quán Thế
Âm – trong khi dĩ nhiên sự thật là ta là Quán Thế Âm giả
bộ là Mary Smith.
Tôi
nghĩ rằng trong mọi thiền định của ta, đặc biệt là trong
những sự quán tưởng, điều quan trọng là đi vào trái tim
để nó không chỉ trở thành một sự luyện tập trong tâm.
Vì thế nó rất quan trọng, chẳng hạn như nếu nói rằng
một người đang lễ lạy và họ đang quán tưởng toàn bộ
Cây Quy y với hàng ngàn và hàng ngàn người và Bổn Tôn và
tất cả những thứ này. Người ta hoàn toàn phát khùng khi
cố gắng quán tưởng tất cả những điều này và lưu giữ
tất cả chúng. Điều thực sự quan trọng là có sự xác tín
rằng mặc dù các bạn không thể nhìn thấy các ngài, nhưng
các ngài có ở đó – sự xác quyết tuyệt đối rằng do
bởi vô minh, do những che chướng của tri giác bất tịnh của
ta, vào lúc này ta không thể nhìn thấy tất cả chư Phật
và Bồ Tát trước mặt ta, nhưng các ngài có ở đó và luôn
luôn có mặt ở đó.
Việc
các ngài thực sự có mặt ở đó là một sự cảm nhận,
nhưng điều quan trọng là chớ quá lo lắng. Ở chính giữa
là Dorje Chang (Đức Kim Cương Trì), và chính nhờ sự cảm
nhận này mà tất cả những gì còn lại cũng hiện diện ở
đó. Các bạn có hiểu không? Khi các bạn đang nhìn bản thân
mình là một Bổn Tôn thì cũng thế, điều quan trọng là xác
tín rằng các bạn là Bổn Tôn, là ý thức về điều các
ngài gọi là sự tự hào linh thánh, sự tự hào của Bổn
Tôn, cảm thức rằng mặc dù tôi không thực sự nhận ra linh
thánh, sự tự hào của Bổn Tôn, ý thức rằng mặc dù tôi
không thể nhận ra điều đó thật rõ ràng, nhưng tôi thực
sự có cảm xúc đó, một cảm xúc chân thực. Các bạn cảm
nhận toàn bộ xương sống của các bạn, toàn thân các bạn
đảm nhận toàn bộ sự vật khác này như thể các bạn thực
sự là Bổn Tôn.
Đó
là toàn bộ vấn đề của tantra – mà chúng ta đang thực
hiện những sự nhận dạng sai lầm toàn bộ con đường từ
đầu tới cuối. Đó là sự mê lầm của ta. Đó là lý do
tại sao trong tantra, nếu chúng ta thực hiện nó một cách đúng
đắn, không chỉ trong khi chúng ta ngồi cầu nguyện một thời
gian ngắn, mà trong suốt cả ngày chúng ta nhìn thấy tất cả
chúng sinh là Quán Thế Âm. Nó không giống như chúng ta trở
nên hoang tưởng và nói: “Ồ, may quá, ta là Quán Thế Âm
và như thế tất cả đều là những kẻ khờ khạo nhỏ bé
đáng thương.” Tất cả chúng sinh đều là Quán Thế Âm.
Chúng ta tôn kính Phật tánh bẩm sinh của họ. Mọi âm thanh
đều là Om mani padme hung. Mọi tư tưởng – những tư tưởng
tốt, những tư tưởng xấu, những tư tưởng ngu si, những
tư tưởng minh triết – đều là sự phô diễn của dharmakaya
(Pháp Thân), trí tuệ của chư Phật. Nếu chúng ta có thể
duy trì cái nhìn này suốt ngày, thì có lẽ điều gì đó sẽ
xảy ra. Các bạn có hiểu không? Chúng ta phải làm điều này.
Nhưng chúng ta không thực hiện nó một cách cứng nhắc, nhưng
với một tâm thức thật bao la và đồng thời rất tập trung,
thanh tịnh và với một trái tim thực sự rộng mở. Sự chuyển
hóa xảy ra tận trong trái tim, nó không xảy ra trong cái đầu.
Chẳng thành vấn đề gì cho dù ta có tài giỏi tới đâu hay
chói sáng tới đâu khi ban những bài Pháp thoại, hay ta đã
đọc bao nhiêu cuốn sách hoặc nghiên cứu sâu rộng tới đâu.
Tất cả rồi cũng dẫn tới chỗ này. Điều gì đang xảy
ra trong trái tim chúng ta? Tất cả những điều đó được
kết toán vào lúc cuối cùng, khi chúng ta chết. Điều gì sẽ
giúp đỡ ta? Ta có được bao nhiêu trong đầu ta? Tất cả
không còn nữa.
Chúng
ta phải sử dụng Pháp và hoàn toàn hòa nhập nó với đời
sống hàng ngày của ta tới nỗi không có sự khác biệt nào
giữa chúng. Chúng ta luôn luôn cầu nguyện rằng cầu mong cuộc
đời tôi và Pháp có thể đồng nhất, cầu mong chúng là một.
Mọi điều chúng ta làm, mọi hành vi chúng ta thực hiện, mọi
người chúng ta gặp, mọi hơi thở ta sử dụng, nếu chúng
ta tỉnh giác, nếu tâm ta ở trong trạng thái rộng lớn đó,
sự tỉnh giác đó, với phẩm tính thấu suốt đó, thì mọi
sự sẽ viên mãn. Đức Phật đã luôn luôn nói về Trung Đạo,
trạng thái ở giữa sự thái quá khi lên dây đàn quá căng
khiến chúng phát ra âm thanh chát chúa, hoặc lên dây đàn quá
chùng khiến chúng chẳng phát ra âm thanh nào. Chúng ta cần
lên dây thật chính xác khiến nó tạo nên một giai điệu
hết sức ngọt ngào. Nếu chúng ta cố gắng thì cuộc đời
chúng ta cũng có thể tươi đẹp, cũng có thể là là một
giai điệu đẹp đẽ./.
Tenzin
Palmo
Nguyên
tác: “Tuning the Mind to Make a Sweet Melody” Mandala, 3/2001
Bản
dịch Việt ngữ của Thanh Liên
Chú
thích:
1.
Lamrim (Lam-rim): nghĩa đen: “những giai đoạn của con đường,”
con đường tiệm thứ dẫn tới Giác ngộ.
2.
Geshe: Thiện tri thức. Thuật ngữ thường dùng cho một vị
Thầy Kadampa. Về sau nó được dùng để chỉ một tiến sĩ
triết học trong phái Gelugpa.
Xem:
Trong
động Tuyết Sơn