|
.
ĐIẾM
CỎ ĐẦU SƯƠNG
Toại
Khanh
 |
 |
Đêm
cuối cùng ở Thượng Hải. Hắn vừa trở về từ một chuyến
đi xa. Trong chiếc va-li còn lấm bụi phong trần ấy dường
chẳng sót lại gì sau những ngày dài trên đường. Một gói
trà, vài hộp bánh, một thùng mì gói, mấy lon sữa đặc,
và non lít mật ong. Hắn ăn và còn đãi mời thiên hạ, chỉ
trong gần một tháng, gì cũng hết nhẵn. Chỗ trống còn lại
trong rương hành lý buổi về nhờ vậy mà chèn đuợc một
bộ ấm chén đất nung, một bức tượng Đạt Ma Độ Giang
bằng sứ và một nhà sư còm cõi bằng gỗ đã sứt mẻ ít
nhiều mà hắn đã mua được ở Lệ Giang với cái giá rẻ
mạt.
Phòng
ngủ ở một khách sạn rẻ tiền vào những ngày mùa đông
này thật khó khăn cho hắn. Nhiệt độ trong phòng cứ tuột
thấp theo đêm mỗi lúc một khuya. Dốc hết chỗ trà còn sót
lại trong va-li, hắn nấu tí nước sôi và pha một ấm trà
lạt thếch để cầm cự với cái lạnh và hi vọng có thể
chợp mắt được vài tiếng. Ngày mai còn phải ra phi trường
sớm và tiếp đó là hơn mười tiếng ngồi máy bay dật dờ
như con nghiện.
Đang
thiu thiu ngủ, bất chợt, qua ánh sáng của chiếc đèn ngủ
đầu giường, hắn há mồm kinh ngạc khi thấy bức tượng
nhà sư bằng gỗ kia đã yên vị trên bàn tự bao giờ, như
vừa bước ra từ va-li hành lý. Sắc diện bức tượng sống
động linh hoạt như người thật, dù vẫn giữ nguyên kích
thước một gang tay chiều cao!
Hắn
lặng người trong giây lâu khi nghe ra một giọng nói trầm
ấm nhưng xa vắng như vọng lại từ một nơi chốn nào xa
xôi:
“Ngay
khi ngươi chưa đặt chân vào những cuộc viễn hành trên đường,
từng ngày đã là những dặm trùng viễn xứ. Thế giới ba
ngàn cứ bày ra đó trong mỗi bước chân. Mỗi sớm chiều
ngươi đã biết bao lần đi ngang vùng biển lửa dày đặc
của địa ngục khi chính ngươi cứ mịt mùng vướng kẹt
trong một cõi tâm thức đọa đày không lối thoát của hỷ
nộ. Kiếp đời khất thực là một thắng hạnh thiêng liêng,
nhưng đã bị ngươi tục hoá bằng những khao khát tầm thường.
Cứ sau mỗi mong ước vật dục lợi danh, ngươi đã hoá thân
nên một loài ngạ quỷ lấy phẩn niệu làm thực phẩm. Càng
hy cầu, ngươi càng thu hẹp và vùi sâu chính mình, bình bát
truyền thừa lúc này đã ra túi vải hành khất rẻ tiền.
Sở nguyện bất toại, ngươi lại hoá kiếp vào loài A-Tu-La
đêm ngày chìm ngập trong lửa hận. Cứ nhất niệm hưởng
thụ vô tri, ngươi khác chi giống bàng sanh trong chuồng cũi.
Đời sống thường nhật là một chuẩn bị cho sinh thú mai
hậu. Khi phiền não là chỗ ghé, thì đọa lạc là chốn về.
Trăm năm là buổi về, bình sinh là chuỗi ngày dọn cỗ. Đừng
vội tâm đắc với những thành tựu nhãn tiền, khi xuân tàn
hoa héo thì lão viễn khách chỉ còn lại bóng tối trước
mặt. Có đến muôn thứ nhãn tiền, khổ thay ngươi vẫn chọn
lựa vài thứ trong đó như trẻ con ham ngọt.”
“Đừng
vội tự nhận danh xưng sứ giả Như Lai khi chưa kịp nhận
diện đâu là đại nguyện hoằng dương và đâu là hồng đồ
đại lược. Sao có thể tưởng tượng ra việc thiên hạ cẩn
cẩn phụng hành những điều mà chính người trao truyền cho
họ còn đang nghi hoặc? Sao người hoằng dương lại có thể
dễ dàng buồn vui với những thứ chính mình vẫn rêu rao là
phù vân của tạm, để thiên hạ buông ra cho mình nhận vào,
đó chẳng phải dối thế gạt người hay sao? Đừng dại dột
nghĩ mình là minh sư khi có được một số người tín mộ,
bởi kẻ ca kỹ trong dân gian nào đức hạnh chi vẫn được
bao người phục lụy. Cuộc tu là một chiến trận, binh lực
phải được vận dụng để đối phó với những gì thật
sự là đối phương, chẳng để nhằm vào những khóm lau bụi
cỏ để hái hoa bắt bướm. Nếu bẩm sinh may mắn có chút
thông tuệ, hãy dùng khả năng đó để tự tu và độ chúng
thay vì trí trá hiểm độc. Hãy biết trân trọng những vị
Phật tương lai qua những dấu vết Phật chất để tránh những
hành xử bất xứng. Đừng dùng ánh mắt đầy tớ nhà giàu
để nhìn cao sĩ thiên hạ. Hãy biết trên trời cao và giữa
đất rộng vẫn không thiếu những người có được mắt
tuệ.
“Đừng
lấy pháp sự làm áo khoát cho tục sự. Dù có tự trấn an
bằng dăm tình tiết vặt vãnh mang ý nghĩa tinh thần thì đấy
cũng chỉ là lấy chén vàng mà uống rượu độc. Lắm lúc
gạt người quen tay, ta lại tự gạt mình để được yên
tâm rong ruỗi trong cuộc chơi của một minh sư nửa vời. Đừng
lạm dụng chữ ‘mạt pháp’ để vay mượn phương tiện.
Đến kỹ nữ chốn phong trần còn biết chừa lại một phương
để lấy chồng, thì nói gì kẻ tự nhận sứ mạng độ sinh
cớ sao không có riêng một góc tôn nghiêm của lòng tự trọng.”
Tiếng
nói của nhà sư bằng gỗ kia nhỏ dần rồi mất hẳn như
để trở lại hình hài một bức tượng vô tri. Hắn bàng
hoàng nhớ lại một ngày ghé chân cổ thành Lệ Giang. Hắn
đã cố nài để mua bằng được bức tượng nhà sư vì tình
cờ phát hiện một chuyện lạ là càng nhìn, bức tượng nom
càng giống một lão tăng đạo hạnh mà hắn đã từng gặp
qua ở quê nhà ngày chưa xa xứ. Ngài đã viên tịch hơn hai
mươi năm rồi, chẳng lẽ ngài đã từ ngàn trùng cố quận
đến đây để nhắn nhủ với hắn mấy lời giáo hối thống
thiết mà cũng khốc liệt đó.
Giữa
cơn tỉnh mê chập chờn, hắn lại nghe một luồng khí lạnh
chạy dọc sống lưng khi bức tượng nhà sư lúc này đã được
thế chỗ bằng một tổ sư Đạt Ma sứ trắng. Vài vết lạc
tinh trên áo tượng càng khiến ngài thêm vẻ phong sương lãng
bạt với một ánh mắt sáng ngời như có ngọn lửa đang cháy
trong đồng tử. Một giọng nói như tiếng chuông đồng:
“Người
xưa từ Đông Độ sang Tây Thiên thỉnh kinh cầu pháp, hay từ
Tây Thiên tìm về Đông Độ để gióng trống đại hùng, tìm
kẻ truyền đăng. Nay người từ nơi gọi Tây Phương kia lại
tìm sang Đông thổ hầu hết chỉ là hạng khách nhàn du, cũng
mang tiếng thỉnh tượng thỉnh chuông nhưng cơ hồ chỉ như
mua sắm cổ ngoạn. Chỉ riêng tên gọi Tây Phương nay cũng
thành nghĩa khác. Ta bình sinh sống trong những ngộ nhận phũ
phàng của thiên hạ đương thời, nhưng có lẽ không một
ngộ nhận nào thảm hại bằng của thiên hạ bây giờ đang
nghĩ về cổ đức thánh hiền xưa. Họ rao bán ta trên phố
cho phường tục tử sờ nắn định giá rồi mang ta về cho
đứng chung với bao thứ ấm chén phồn tạp. Họ ký họa ảnh
ta bằng tất cả những tưởng tượng kinh khiếp nhất và
tha hồ suy tư phóng túng với những hoang tưởng không căn
cội rồi áp đặt là tư tưởng Thiền Tông gì ấy, một tên
gọi mà thuở sinh tiền ta chưa hề biết đến. Ai cũng có
thể nói, viết, tán nhảm về cái gọi là Thiền ấy rồi
bỏ mặc cho mấy học giả nghiêm túc tha hồ bình ta chẳng
tiếc lời. Sao lại có thể thế được, gã du tăng mang tiếng
về từ Tây Phương kia ?
“Ngày
đó ta đã không ít lần bè cỏ qua sông, nhưng phải hiểu,
bè cỏ ấy chính là những gì ta dẫm lên mà đi. Và những
dòng sông kia chính là những nhục vinh thành bại, đắc thất
phù trầm, doanh hư tiêu trưởng. Nói cho cùng, hành trình nào
cũng là sự vượt qua chính mình. Chưa thắng vuợt bản thân,
có đi muôn núi ngàn sông cũng là một cách quẩn quanh kéo
dài, mở rộng. Kẻ học Thiền thời nay ai cũng mong có một
tranh vẽ về ta để treo trong thiền thất như một cách cầu
chứng. Họ luôn miệng nhắc đến mấy chữ Thiệp Giang, Độ
Giang, nhưng nghĩ mà tội, họ cứ một đời bó gối bờ này.
Trong nếp nghĩ của nhánh Nam Truyền, ta chỉ là một khách
lạ. Ấy vậy mà ngươi cũng ráng theo chân thiên hạ tìm rước
ta về để mai này ăn nói sao với thiên hạ bên ấy. Cho vui
à? Ngươi có nhiều thời gian và tiền bạc đến vậy sao?
Chuyến này về, nếu có chút tình tưởng tiếc lão Hồ Tăng
mắt xanh này, hãy học lại phép sang sông. Hãy biến các sở
hữu ra bè cỏ rồi mai này có dịp trở sang Đông Độ, ngươi
sẽ đường đường một kẻ pháp du đúng nghĩa và ta hứa
khi đó sẽ điểm thêm chút lửa vào bất cứ tranh tượng
nào của ta mà ngươi mua được. Đừng tốn kém cho những
tranh tượng vô hồn, ngắm xác mà chẳng hiểu lòng.”
Một
tiếng còi xe từ dưới đường vọng lên, hắn choàng tỉnh
giấc. Hắn ngó chiếc đồng hồ reo đặt ở đầu giường,
bốn giờ sáng. Chiếc va-li hành lý vẫn đóng chặt, kín kẽ.
Về
Mỹ lâu rồi, hắn chưa bao giờ mộng thấy chuyện gì nữa.
Hai bức tượng nhà sư và tổ Đạt Ma vẫn im lặng trên giá
sách, như chưa bao giờ lên tiếng. Nhưng hắn đã nghe thấy
họ. Một lần thôi cũng quá đủ. Có người hỏi hắn bao
giờ trở lại Trung quốc, hắn cười buồn. Mình vẫn chưa
học hết phép qua sông!
(Trích:
Phương Trời Cao Rộng: SỐ
14, THÁNG 07/2007
07-23-2007
11:34:12
|